Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

NHỮNG NGÔI CHÙA NỔI TIẾNG VIỆT NAM

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 10h:58' 26-01-2024
Dung lượng: 7.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
PGS.TS. PHẠM VĂN LINH
Phó Chủ tịch Hội đồng
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
TS. NGUYỄN ĐỨC TÀI
TS. NGUYỄN AN TIÊM
NGUYỄN VŨ THANH HẢO

LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam,
ngôi chùa làng luôn là nơi gửi gắm niềm tin, một biểu
tượng tín ngưỡng cộng đồng theo ảnh hưởng của Phật
giáo. Người Việt quan niệm “Đất vua, chùa làng,
phong cảnh Bụt”. Theo các nhà nghiên cứu, Phật giáo
du nhập vào nước ta vào khoảng đầu Công nguyên.
Từ đó, các ngôi chùa đã dần dần xuất hiện trong
không gian văn hóa của người Việt Nam. Là một thiết
chế tôn giáo, ngôi chùa có vai trò là trung tâm sinh
hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng, mặt khác, nó
còn có vai trò tích hợp, bảo lưu và phát huy những giá
trị văn hóa truyền thống của người Việt Nam qua
hàng ngàn năm lịch sử. Chùa Việt Nam là nơi thờ
Phật, và trong nhiều trường hợp thờ cả thần, thờ
Mẫu... Tìm hiểu về những ngôi chùa, không chỉ giúp
chúng ta thấy được đặc điểm của Phật giáo Việt Nam
nói riêng, đặc điểm của tôn giáo và tín ngưỡng Việt
Nam nói chung, mà còn giúp chúng ta hiểu được một
mặt quan trọng của lịch sử văn hóa và tư tưởng Việt
Nam... Theo thống kê, hiện nay nước ta có khoảng
15.000 ngôi chùa, chiếm hơn 1/3 tổng số di tích trên
lãnh thổ Việt Nam, trong đó hàng ngàn ngôi chùa đã

5

được Nhà nước xếp hạng di tích cấp quốc gia đặc biệt,
cấp quốc gia và cấp tỉnh.
Nhằm cung cấp cho bạn đọc một tài liệu về những
ngôi chùa đặc sắc ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia Sự thật phối hợp với Nhà xuất bản Văn
học xuất bản cuốn sách Những ngôi chùa nổi tiếng
Việt Nam. Cuốn sách giới thiệu 23 ngôi chùa tiêu
biểu ở ba miền Bắc - Trung - Nam. Các bài viết về
những ngôi chùa này chủ yếu được tuyển chọn và lược
trích từ các bài viết trong một số cuốn sách và tạp chí
đã xuất bản.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 9 năm 2016
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

6

LỜI GIỚI THIỆU
Phật giáo du nhập vào Việt Nam khoảng đầu
Công nguyên. Điều này đã được minh chứng qua
truyền thuyết Chử Đồng Tử đi tìm thầy học đạo,
hay Truyền thuyết về Man Nương... Trải qua quá
trình du nhập, tiếp thu và bản địa hóa, Phật giáo
Việt Nam đã có những thời kỳ phát triển rực rỡ (ở
đời Lý), cực thịnh (ở đời Trần) và cùng với thời
gian, đạo Phật ngày càng có sức lan tỏa mãnh liệt
trong tâm thức nhân dân.
Để phục vụ cho việc truyền bá và phát triển
đạo Phật, những ngôi chùa được dựng nên. Ban
đầu, mới chỉ là những am thảo nhỏ, về sau chùa
được xây dựng ngày càng quy mô và kiên cố.
Thường, mỗi làng đều có một ngôi chùa riêng,
chẳng thế mà ông cha ta đã có câu: “Đất vua,
chùa làng”. Trước đây, phía trước mỗi ngôi chùa
còn là nơi họp chợ của dân làng, chùa và chợ đã
gắn kết với nhau, thể hiện rõ sự gắn kết giữa đạo
Phật và cuộc sống của người dân. Vì vậy, có thể
nói, Phật giáo đã cắm rễ vào tư tưởng, tình cảm
của nhân dân để tồn tại và phát triển.
7

Chùa là chốn linh thiêng trong đời sống tâm
linh của người Việt. Đi lễ chùa đã trở thành một
tục lệ, một sinh hoạt văn hóa dân gian không thể
thiếu. Chùa, chính là nơi con người có thể hướng
thiện, cầu mong sự bình an yên ổn trong tâm hồn
cho bản thân và những người thân yêu trong gia
đình. Chùa còn là nơi diễn ra các sinh hoạt văn
hóa làng xã, gắn kết tinh thần tập thể của cộng
đồng. Trải qua bao biến cố thời gian, sự hưng suy của đạo Phật, ảnh hưởng của chiến tranh,
nhiều ngôi chùa không còn giữ được nguyên thể
ban đầu. Nhiều ngôi chùa đã được sửa sang,
chỉnh sửa nhưng cũng có rất nhiều ngôi chùa cổ
không còn nữa hoặc đã xuống cấp cần được tu bổ.
Hiện nay ở nước ta có khoảng 15.000 ngôi
chùa, mỗi ngôi chùa đều có một gốc tích riêng,
mang đậm giá trị văn hóa và giá trị tâm linh. Vì
khuôn khổ sách có hạn, chúng tôi không thể giới
thiệu hết với bạn đọc, chỉ xin chọn lọc giới thiệu
23 ngôi chùa tiêu biểu ở ba miền Bắc - Trung Nam, một con số còn ít ỏi trong những ngôi chùa
đặc sắc nổi bật khác.
Về tiêu chí, thứ nhất chúng tôi lựa chọn theo
cách thức điểm tên, cố gắng ba miền Bắc, Trung,
Nam đều có chùa hiện diện. Thứ hai, có những
ngôi chùa có thể hiện tại được ít người biết đến
nhưng trong quá khứ lại là cái nôi phát triển
quan trọng của Phật giáo thì vẫn được chúng tôi
8

giới thiệu trong cuốn sách này. Có nhiều người sẽ
còn thắc mắc tại sao vẫn còn một số chùa nổi
tiếng lại không được xuất hiện trong cuốn sách
này thì chúng tôi đành hẹn các bạn ở một cuốn
sách khác vì dung lượng cuốn sách có hạn. Mỗi
ngôi chùa Việt Nam đều có những nét đặc sắc
riêng, mang đậm giá trị tinh hoa văn hóa của dân
tộc. Việc không giới thiệu được hết cũng là điều
tiếc nuối của chúng tôi.
Về kết cấu cuốn sách, chúng tôi sắp xếp tên
chùa theo thứ tự bảng chữ cái tiếng Việt để độc
giả tiện theo dõi.
Dù người biên soạn đã rất cố gắng, song cuốn
sách khó tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
được sự góp ý từ độc giả, để những lần tái bản tiếp
theo cuốn sách được hoàn thiện hơn.
Trân trọng cảm ơn!

9

10

CHÙA BÍCH ĐỘNG
NGUYỄN ĐẠI ĐỒNG

Từ thành phố Ninh Bình xuôi quốc lộ 1A
khoảng 3-4km, rẽ tay phải khoảng 5km đường
nhựa là vào tới danh thắng Bích Động.
Chùa Bích Động thuộc thôn Đam Khê, xã
Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Theo
văn bia và lời kể của các cụ cao niên trong làng
thì dưới thời Lê Thái Tổ (ở ngôi: 1428 - 1433),
niên hiệu Thuận Thiên, có hai hòa thượng quê ở
Nam Định, một vị pháp danh là Trí Kiên ở Vọng
Doanh, huyện Ý Yên, vị kia pháp danh là Trí Thể
ở Đông Xuyên, huyện Nghĩa Hưng, trên đường đi
gặp nhau, hai người kết nghĩa anh em. Vì lòng mộ
đạo Phật, hai vị rủ nhau đi tìm cảnh ngoạn mục,
trên non dưới nước, rồi quyết định lập thảo am
thờ Phật. Sau đó chùa được dựng lên dựa vào
sườn núi, chia làm ba nếp: Hạ, Trung, Thượng.
Chùa Hạ
Chùa Hạ được xây dựng trên khu đất bằng
phẳng rộng chừng ba mẫu dưới chân núi. Khi
11

vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng (1740 1786), tuần du qua đây thấy cảnh chùa đẹp
nhưng chỉ là một am nhỏ đơn sơ. Về Kinh thành,
vua bèn sai một viên quan trong triều đi khuyến
thiện các nơi, lại sai người đem tiền, vật liệu về
xây dựng nên cảnh chùa nguy nga và đặt tên
hiệu là “Bạch Ngọc Thạch Sơn Đồng”, nghĩa là
một ngôi chùa bằng đá đẹp trắng như ngọc ở nơi
sơn cùng thủy tận.
Muốn vào chùa phải đi qua cây cầu đá, bắc
trên đầm sen. Vào mùa hạ mùi hương sen thơm
ngát tỏa ra từ vô số bông sen hồng sắc trước cửa
Phật. Sau tam quan1 là một sân gạch rộng mới
vào tới khu chùa. Nền chùa cao 2m, tường xây đá
phiến, cột cao 5m, mái ngói rêu phong cổ kính.
Hai dãy giải vũ hai bên, mỗi dãy bảy gian. Trong
chùa có bức đại tự lớn, ghi chữ Hán: “Thanh
Thản Cổ Mộ”, nghĩa là ngôi chùa này có tiếng là
thanh bạch từ xưa tới nay. Trong chính điện, tầng
cao nhất đặt tòa Tam thế, gồm tượng Phật A Di
Đà (đại diện cho quá khứ), Thích Ca Mâu Ni (đại
diện cho hiện tại), Di Lặc (đại diện cho vị lai tương lai), tầng thứ hai là bộ tượng Di Đà Tam
_____________
1. Tam quan chùa được bà con công đức, dựng lại
năm 1994.

12

tôn: chính giữa là Phật A Di Đà - chủ cõi Tây
phương cực lạc và hai vị Bồ Tát tiếp dẫn chúng
sinh là Quan Thế Âm (bên phải), Đại Thế Chí
(bên trái). Tầng thứ ba có tượng mặt trắng, đội
vương miện là Bà Chúa Ba - công chúa thứ ba
đời vua Trang Vương đi tu đắc đạo thành Phật.
Tầng thứ tư là tượng Thích Ca sơ sinh mặc áo đỏ,
một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất. Các
tùy tùng ngồi hai bên là Già Lam, Thánh Tăng,
Thổ Địa... Vị đứng bên trái là đại diện cho Tứ
trực Công tào soi xét việc chính sự trong giới nhà
Phật. Vị mặc võ phục đứng bên phải là một trong
tám vị Kim Cương coi việc Hộ pháp. Ba vị ngồi
bên trái là các Hòa thượng Trí Kiên, Trí Thể, Trí
Tâm có công xây dựng và thành lập chùa Bích
Động. Hai vị bên ngoài là Nam Tào và Bắc Đẩu
coi xét sổ sinh tử.
Chùa có bia đá, bia công đức ghi tên những
người đóng góp xây dựng chùa từ năm 1428 đến
năm 1786. Bên phải chùa là cây thị hơn trăm
tuổi. Chùa Hạ có bảy ngôi tháp lưu giữ xá lị của
các nhà sư từng trụ trì ở đây.
Hiện nay ở sân trước chùa Hạ, bên trái là nhà
đón khách thập phương, bên phải là chùa Hạ mới
xây thay thế chùa cũ bị xuống cấp nghiêm trọng,
cả hai đều bằng gỗ, lợp ngói khang trang.
13

Chùa Trung
Từ sân chùa Hạ đi qua cây mít hơn 160 tuổi
đứng sừng sững bên đường từng trải bao mưa
nắng gió sương nhưng cây vẫn cho ra hoa thơm
quả ngọt, bước lên 78 bậc theo con đường vòng
quanh hình chữ S tới lưng chừng núi Ngũ Nhạc
(tương truyền vì năm quả núi có hình cái chuông
úp nên gọi là Ngũ Nhạc) qua hàng bao lơn là đến
cửa chùa Trung. Xưa, khi nghe thấy tên chùa quá
rườm rà, vua Lê Hiển Tông bèn sai quan Tham
tụng Xuân quận công Nguyễn Nghiễm (1755 - 1798,
thân phụ của đại thi hào Nguyễn Du) về đây đặt
lại tên chùa là Bích Động (Động Biếc) (đây là một
cách chơi chữ kỳ tài: “Bạch Ngọc Thạch” ghép
thành chữ “Bích”, “Sơn Đồng” ghép thành chữ
“Động”), rồi khắc hai chữ “Bích Động” trên vách đá
cheo leo trước cửa động, khuôn chữ 1,5m, có dòng
lạc khoản “Nguyễn Nghiễm phụng đề”. Phía trên
chùa có một bia đá dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 6
thời nhà Lê (1710), bên phải sườn động có một bia
đá đời Lê Cảnh Hưng.
Chùa Trung là một dãy nhà nằm ngang, nửa
gắn vào hang đá, nửa lộ thiên. Phía trên mái chùa
có mười chữ Hán: “Già Lam thần Đại Hùng bảo
điện Nam thiên tổ”. Phía trong chùa bài trí thờ
Phật giống như chùa Hạ, chỉ khác là tượng Đức
Thích Ca Mâu Ni có cửu long phù giá. Hai vị Bồ Tát
14

ngồi phía ngoài, bên phải là Văn Thù, bên trái là
Phổ Hiền. Vị ngồi trong cùng bên tay trái là
Thánh Hiền (tức A Nan), vốn là Đại đệ tử sáng dạ
nhất của Đức Phật, ai muốn học hành thành đạt
thì phải cầu tới ngài; trong cùng bên phải là Đức
Ông, ai bị oan trái cầu đến ngài thì tai qua nạn
khỏi. Đền bên trái thờ Mẫu, miếu bên phải thờ
Quan Thế Âm Bồ Tát.
Từ chùa Trung lên 22 bậc đá là vào hang tối.
Đường lên hang tối đi dưới cầu Giải Oan có tấm
bia đá đề năm chữ “Bích Sơn thiền tự bi ký” bằng
chữ Hán ghi lại lịch sử chùa Bích Động từ năm
1428 đến năm 1786. Trong hang tối có một quả
chuông đồng lớn được chạm trổ tinh xảo, là di vật
của Hòa thượng Trí Kiên và Hòa thượng Trí Thể;
nhìn ra ngoài là cầu Giải Oan, khách qua đây
thỉnh lên ba tiếng chuông ngân tức thì những oan
ức trong người được giải. Cách cửa động chừng 4m
có ba pho tượng đá, chính giữa là Phật A Di Đà,
hai bên là Văn Thù và Quan Thế Âm Bồ Tát. Bên
phải có rùa đá quay đầu chầu vào Đức Phật, xa
hơn một chút là tượng Cô, tượng Cậu, lão Thọ
đứng ung dung. Ai cầu sống lâu, sinh con trai con
gái thì thắp hương bái niệm ở đây. Bên trái có
hình rùa đá, đại bàng đá, một bàn cô tiên uống
chè có hai cốc to và tám cốc nhỏ. Phía trong có
tượng thờ Bà Chúa Thượng Ngàn (bà chúa rừng).
Ra khỏi động là Cổng trời.
15

Chùa Thượng
Rời chùa Trung lên tiếp 43 - 45 bậc đá và
gạch là lên đến chùa Thượng. Chùa xưa đã bị đổ
nát, chỉ còn trơ cột đá và tường xây với ba chữ
“Ngũ Đài Sơn”. Mùa thu năm 1991, chùa được sửa
lại như cũ với sự đóng góp của gia đình ông Mạch
Quang Tục, người ở thành phố Ninh Bình và
nhân dân Hợp tác xã Liên Trung, xã Ninh Hải,
huyện Hoa Lư. Chùa thờ Phật Bà Quan Âm.
Trong chùa treo một chuông đồng nhỏ và có bia
ghi việc trùng tu chùa, bên phải có miếu thờ Thổ
địa, bên trái là miếu thờ Sơn thần. Bên trái chùa
còn có bể nước cam lồ của Phật Bà Quan Âm, ai
ốm đau bệnh tật thì thắp hương xin nước ở đây.
Đứng ở đây nhìn xa xa, năm ngọn núi Ngũ Nhạc
chầu vào cửa động như một đóa hoa sen; khung
cảnh một màu xanh núi, xanh rừng, hòa màu
xanh đồng lúa... thực xứng với cái tên Bích Động
(Động Biếc).
Ông vua - nhà thơ Tự Đức (1848 - 1883) khi
ra Bắc vào thăm Bích Động, ngẩn ngơ trước vẻ
đẹp kỳ thú của thiên nhiên, đã hạ bút đề danh
hiệu “Nam thiên đệ nhị động” (nghĩa là động đẹp
thứ nhì trời Nam, sau động Hương Tích).
Không chỉ là danh thắng, Bích Động còn là
một di tích lịch sử. Theo lịch sử cách mạng ở địa
16

phương thì năm 1929, đồng chí Tạ Uyên1 đã lấy
chùa Bích làm cơ sở in truyền đơn tố cáo thực dân
Pháp. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp
(1946 - 1954), chùa là nơi làm việc của Tỉnh ủy
Ninh Bình. Động Bích còn là cơ sở của công binh
xưởng Phan Đình Phùng, là căn cứ của bộ đội chủ
lực trong chiến dịch Quang Trung (năm 1951) và
chiến dịch Tây Nam Ninh Bình (năm 1953).
Vào những ngày hè nóng bức và ồn ào, đến
thăm Bích Động, giữa cảnh núi biếc mây xanh,
lên chùa chiêm ngưỡng cảnh Phật trong khói
hương lan tỏa mờ ảo để thấy mình như nhập vào
cảnh thiền, mọi ưu phiền được rũ sạch, mọi ý ác
đều tiêu tan và trong tâm chỉ một niệm cầu mong
tích đức hiền...
Trích tạp chí Nghiên cứu Phật học,
Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam,
số 5, 2004.

_____________
1. Đồng chí Tạ Uyên sinh năm 1898, quê làng Côi
Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình; tham gia Hội Việt
Nam cách mạng thanh niên từ năm 1927. Năm 1929,
đồng chí hoạt động tại Ninh Bình, bị bắt và đày ra Côn
Đảo; năm 1934 vượt ngục về hoạt động ở Hậu Giang.
Năm 1940, đồng chí là Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, trực tiếp
chỉ đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, bị địch bắt và sát hại
ngày 10-12-1940.

17

CHÙA CÔN SƠN
NGUYỄN THỊ THÙY LIÊN

Chùa Côn Sơn nhìn về hướng đông nam, tên
chữ Hán là Thiên Tư Phúc tự, nghĩa là ngôi chùa
được trời ban phúc lành, thời Trần thuộc xã Chi
Ngại, huyện Phượng Sơn, nay thuộc xã Cộng Hòa,
huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đây là nơi tụ
hội khí thiêng của trời đất để ban phát cho dân
lành, nhất là cho chúng sinh có phật quả. Nhân
dân thường gọi là chùa Hun, với ý nghĩa giả định
như sau: Theo sự tích truyền lại thì Côn Sơn xưa
rừng rậm um tùm, dân quanh vùng thường vào
đốt củi lấy than, khói bụi mù mịt cả vùng nên
được gọi là núi Hun. Một thuyết khác lưu truyền
rằng: Vào thế kỷ X, trong quá trình dẹp loạn 12
sứ quân, thống nhất quốc gia, Đinh Bộ Lĩnh đã
sai tướng Nguyễn Bặc dùng kế hỏa công vây bắt
sứ quân Phạm Phòng Át (tức Phạm Bạch Hổ),
làm cả vùng núi Côn khói mù mịt nên gọi là núi
Hun và tên chùa được gọi theo tên núi.
18

Ngay trước ngôi chùa là một hồ nước, vốn dưới
dạng tự nhiên, được coi như “não thủy”, “minh
đường”. Vượt qua một sân rộng đến tam quan với
ba cửa vào. Tam quan chùa ít nhiều theo dáng
mẫu từ chùa Kim Liên (Hà Nội), giống như một
“tam sơn” với “núi giữa” cao, “núi bên” thấp. Song,
ở một khía cạnh khác, từ kết cấu hai lớp mái cho
thấy, ngoài ý nghĩa gắn với đạo Phật, hình dáng
tam quan chùa còn mang ý nghĩa dung hòa với
Dịch học của Nho giáo: tạm coi mái trên nhẹ,
tượng Dương; mái dưới nặng, tượng Âm; bốn phía
mái ứng với Tứ tượng (Thái âm, Thái dương,
Thiếu dương, Thiếu âm); tám lá mái tượng cho
Bát quái... Nhìn chung, trong kết cấu này, đã
chứa đựng một tư duy nông nghiệp để cầu phát
sinh, phát triển, cầu mùa màng tốt tươi, phản
ánh ước vọng ngàn đời của con người, mong sao
sức mạnh của những siêu lực vũ trụ góp phần vào
sự đối đãi âm dương sinh ra muôn loài, muôn vật,
đảm bảo cho hạnh phúc trường tồn. Tuy nhiên, đã
là tam quan của chùa thì kiến trúc này vẫn như
một “tuyên ngôn” của Phật pháp để chỉ về “Không
quan” nhằm nói về bản thể cốt lõi, “Giả quan” để
nói đến quy luật vô thường (không tồn tại vĩnh
viễn của muôn vật) và “Trung quan” là lối nhìn trí
tuệ đi đến giải thoát dẫn về cõi Niết bàn. Rõ ràng,
với ý nghĩa ấy, chúng ta có thể tạm hiểu, tam
quan của chùa Hun tuy mới dựng, song về hình
19

thức vẫn theo kiểu cách truyền thống và vẫn giữ
được những ý nghĩa cơ bản để nói lên tinh thần
văn hóa Việt muôn đời, muôn thuở.
Sau tam quan là nhất chính đạo, con đường
dẫn vào cõi thiêng liêng. Từ xa xưa, con đường
này được để tự nhiên, mộc mạc, đặc biệt hai bên
có trồng những cây thông (cổ thụ), nhắn nhủ
rằng, đây là con đường trí tuệ, dẫn đến giác ngộ
và đi tới giải thoát. Đứng trước con đường này,
phật tử như cảm thấy mình đứng bên bờ của giác
ngộ, tự dẹp lòng trần (sự giày vò của kiếp đời) mà
khởi lòng tĩnh để vượt qua chính mình, tiến đến
không phân biệt giữa ngã nhân và tha nhân (ta
và người). Bởi thông có nghĩa là thông hiểu, để từ
đầu con đường đến cuối con đường là sự tăng
trưởng của nhận thức dẫn tới “lậu tận thông” (sự
thông hiểu đến tột độ). Cuối đường thông là tòa
gác chuông với kết cấu hai tầng tám mái, với ý
nghĩa cũng phần nào tương đồng như ở tam quan.
Song, trước kia ở nơi đây có treo một quả đại hồng
chung để “sáng chiêu” làm thức tỉnh lòng người
trước khi chìm vào sự giày vò của kiếp đời nhân
thế; và mỗi chiều muộn, cũng lại 108 tiếng
chuông, rung lên theo những lời kinh, để diệt trừ
toàn bộ phiền não cho thế gian, nhắc con người
luôn hướng tới thiện tâm. Các cụ cao niên còn nói
rằng, tòa nhà cùng với đại hồng chung là một sự
hòa quyện chặt chẽ giữa hai hệ tư tưởng lớn Phật
20

giáo và Nho giáo để ban phúc cho đời (kiến trúc
theo tinh thần Dịch học và tiếng chuông mang tư
cách chân lý thuộc Phật pháp). Nơi đây cũng biểu
hiện tâm Bồ Tát “từ, bi, hỷ, xả”, bởi mỗi khi tiếng
đại hồng chung rung lên thì những linh hồn tội lỗi
có thể trở về miền thánh thiện, nghe tiếng
chuông, hưởng tuần hương mà giác ngộ rồi phiêu
diêu vào cõi vĩnh hằng.
Qua gác chuông vào sân với những cây cối
linh thiêng như cây đại mang tư cách “thiên
mệnh thụ”, rồi những cây thông... cả một miền
thánh thiện tràn xuống trần gian để những chúng
sinh có tâm Phật bước vào cõi thiêng liêng - nơi
thờ các đức Phật và các thần linh liên quan.
Hiện nay, trên sân trước cửa chùa còn nhiều
tấm bia quý như: “Thanh Hư động” có từ thế
kỷ XIII, XIV. Song bia đứng trên rùa và đường
diềm hoa dây đơn, đặc biệt là rồng gãy khúc ở
mặt trước..., với hình thức kể trên, một nhà
nghiên cứu dân tộc học mỹ thuật truyền thống
đã nhận ra bia mang phong cách Mạc, niên đại
vào năm 1602 (niên hiệu Hoằng Định thứ 3)... Nơi
đây còn tấm bia trụ đề “Côn Sơn tự” với tạo dáng
khó tìm thấy ở nơi khác, được làm năm 1607. Khi
Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Côn Sơn (ngày
15-2-1965), Người đã dừng chân chiêm ngưỡng
tấm bia này, cho thấy sự trân trọng văn hóa
truyền thống của vị lãnh tụ tối cao của dân tộc.
21

Ngoài ra, ở sân chùa còn một tấm bia bẹt được
chạm trổ đạt tới nghệ thuật cao ở giữa thế kỷ XVII
(niên hiệu Thịnh Đức thứ 1-1653). Một tấm bia
trụ khác đề: “Côn Sơn Tư Phúc tự bi” được làm
vào năm 1607, mang giá trị nghệ thuật dân gian
với những mặt rồng ngang có vẻ đẹp đặc biệt, đầy
phóng khoáng. Mặt rồng như mặt người kèm theo
sừng trâu lớn. Hai tấm bia trụ này có hình thức
như ẩn chứa ý nghĩa của Phật đạo, như một “trục
vũ trụ”, nối tầng dưới với tầng trên, mà búp trụ
tượng trưng cho thế giới giải thoát với dáng gần
gũi chiếc tịnh bình chứa nước cam lồ; thân trụ sáu
mặt nhắc ta nghĩ tới lục căn, lục trần, lục đạo
trong tinh thần Phật pháp vô biên.
Từ sân chùa, bước qua bảy bậc đá lên tiền
đường. Con số bảy là số phiếm chỉ, tức số nhiều,
người ta dễ nghĩ tới bảy bước đi của đức Thích Ca
khi mới lọt lòng bà Magia, để đem hạnh phúc
vĩnh cửu đến cho toàn thế gian. Chùa chính xây
theo hình chữ Công (工), gồm tiền đường, nhà
cầu, thượng điện. Có thể nhận ra mặt bằng
thượng điện đã có từ thời Trần (thế kỷ XIV), với
một số chân tảng đá mài. Tòa tiền đường là một
kiến trúc năm gian hai chái, dựng trên nền cao,
được xây kiểu đầu hồi bít đốc tay ngai, với cửa
bức bàn theo lối thượng song hạ bản. Hai chái
lớn bưng tường, mặt trước trổ cửa sổ hình chữ
Thọ (lẽ ra phải vòng tròn sắc - không) để lấy ánh
22

sáng từ ngoài vào. Nghệ thuật trang trí trên kiến
trúc chủ yếu là “tứ linh quần hùng”, “tứ quý
uyên ương”, hàm chứa triết lý nhân sinh sâu sắc.
Kiến trúc này mới được tu sửa lại trong thời gian
gần đây. Có thể thấy được rằng, ít nhất từ
khoảng thời Mạc trở về trước, trọng tâm chính
của chùa là nơi thượng điện hiện nay, bởi nơi đây
vẫn còn nền cao hơn hẳn tiền đường và nhà cầu.
Đó là kiểu thức kết cấu chung của những ngôi
chùa cổ hiện còn thấy rải rác khắp châu thổ Bắc
Bộ. Tất cả phần cấu trúc bên trên của tòa tiền
đường hiện nay đều được làm lại gần như hoàn
toàn. Chùa theo phái Trúc Lâm, thờ cả Trúc Lâm
tam tổ, nên ngoài tính chất phật đơn thuần thì
chùa cũng mang tính chất đền, vì ở kiểu kiến
trúc mặt bằng đã có sự chuyển hóa “não thủy”
thành hồ bán nguyệt và tượng thờ không còn đầy
đủ như các ngôi chùa khác.
Cũng như nhiều ngôi chùa Việt cổ khác, mở
đầu, phật tử vào lễ Đức Ông như một hình thức
xin phép, để sau đó được tiếp cận với Phật, chư vị
Bồ Tát và thần linh liên quan. Đức Ông là ngài
Cấp Cô Độc, được Phật thọ ký cai quản mọi cảnh
chùa. Vì vậy, vào chùa phải lễ Đức Ông trước. Ở
chùa Côn Sơn, tượng Đức Ông đội mũ cánh chuồn,
mặc long bào có bổ tử chạm rồng ngang uốn lượn
trong mây. Pho tượng ngồi trên ngai (không phải
trên bệ), nhằm tăng thêm oai phong của ngài.
23

Khuôn mặt ngài nhiều nét chân dung, hiền từ,
đang chìm trong suy tư với lẽ đạo lẽ đời, vì thế so
với các chùa khác ngài như gần gũi hơn, chuẩn
mực hơn.
Cũng tại tòa tiền đường còn đặt hai pho tượng
Kim Cương. Pho Khuyến Thiện đề cao đạo pháp
bằng viên ngọc sáng đặt trên bệ mây cuộn, pho
Trừng Ác cầm pháp giới chùy. Cả hai pho đều mặc
áo võ tướng, với nhiều biểu tượng trên thân áo
như hổ phù, vân xoắn tượng trưng cho quyền uy
và sức mạnh thiêng liêng gắn với ước vọng cầu
mùa, cầu phúc của cư dân nông nghiệp... Áo
tượng mặc được gọi là áo giáp “nhẫn nhục” nhằm
diệt trừ tham, sân, si, ái, ố, hỷ, nộ - tức dục vọng,
để giữ cho thân tâm trong sáng như kim cương,
nên gọi là tượng Kim Cương; với chức năng bảo hộ
Phật pháp, nên cũng gọi là tượng Hộ Pháp.
Ở gian kề bên phải là tượng Thánh Tăng
(thánh là vị thần linh gắn với trí tuệ, mà đạo Phật
lại lấy trí tuệ làm trọng), Thánh Tăng đối với người
Việt được hội tụ vào vị Tổ thứ hai, em họ của đức
Thích Ca, đó là A Nan (Tăng - một trong tam bảo,
là những người đem Phật pháp giáo hóa chúng
sinh). Cũng giống như chùa khác, Thánh Tăng
chùa Côn Sơn đầu đội mũ tỳ lư bảy múi, đó là bảy
cánh sen, lòng mỗi cánh sen là một cánh hoa cúc,
đế cánh sen là một đài sen nhỏ (âm), hoa cúc
(dương) tạo thành một cặp phạm trù âm dương đối
24

đãi. Bảy cánh sen biểu tượng âm dương đối đãi
trong toàn vũ trụ. Tay trái ngài đỡ bát nước cam
lồ, tay phải kết ấn “gia trì bổn tôn”. Như vậy,
tượng Thánh Tăng ở đây ít nhiều có nét riêng so
với nhiều chùa khác ở vùng châu thổ Bắc Bộ.
Tại tòa thượng điện, hiện nay không còn
nhiều tượng, song cách thức bày biện không được
chuẩn xác như nguyên gốc. Đáng kể nhất là bộ
Tam thế Phật, một trong những bộ tượng đẹp
nhất nước ta, được làm vào thế kỷ thứ XVII.
Tượng to ngang người thực, ngồi trên đài sen,
song đáng quan tâm là bộ tượng ít nhiều gắn với
hệ thống tượng phương Nam, với hình thức trật
vai hữu1 và có vòng đeo khít ở bắp tay. Hiện tượng
trật vai hữu khiến cho mọi Phật tử nhớ tới tích
Phật khi thành đạo. Hồi đó, nhóm Kiều Trần
Như2 đã bỏ Thích Ca, vì cho rằng ngài không tuân
theo tôn chỉ định sẵn, tới nay đức Phật đắc đạo
thì các ngài quay trở lại, được nghe Phật thuyết
pháp mà giác ngộ, nên trật vai hữu ra để biểu
hiện sự tôn kính. Có lẽ, từ tích này mà các đức
Phật tự cho rằng, bản thân mình vẫn là những
hiện hữu vô thường, chỉ có Phật pháp vô biên là
_____________
1. Trật vai áo bên phải (B.T).
2. Kiều Trần Như: Tên phiên âm từ tiếng Phạn của
vị đệ tử xuất gia và chứng quả A La Hán đầu tiên của
Đức Phật (B.T).

25

vĩnh cửu, nên đức Phật trật vai hữu để tôn trọng
Phật pháp. Các tượng này đều có ngực nở, bụng
thon, mặt ít nhiều thoáng nét Ấn Độ, ngực chạm
nổi những hoa thiêng. Một pho kết ấn "vô úy", pho
thứ hai kết ấn “tam muội”, pho thứ ba theo kiểu
“đất chứng giám”. Ba pho tượng này lẽ ra phải
được xếp cùng một hàng, nhưng vào nửa cuối thế
kỷ XIX, người ta đã bổ sung pho tượng A Di Đà
ngồi kết ấn “tam muội” cao gần ba mét vào không
gian này, khiến cho vị trí của Tam thế bị thay đổi.
Đó là biểu hiện suy lạc của nhận thức đối với Phật
giáo, khiến cho một pho thuộc bộ Tam thế (pho
hiện tại) bị đẩy lên phía trước.
Tiếp dưới các tượng này là bộ Hoa Nghiêm
tam thánh, chính tâm là đức Thích Ca cầm bông
hoa để nhắc nhở chúng sinh vào chùa thì phải “tự
tính trạm viên”, có nghĩa là phải tự mình giác ngộ
lấy mình (hãy vén mây mù ngu tối che đậy thân
tâm, thì tự nhiên ánh sáng trí tuệ sẽ rọi tới). Như
vậy, với chùa Côn Sơn bằng tượng Hoa Nghiêm,
người xưa muốn dạy chúng sinh rằng, hãy đừng
quên bản chất tốt đẹp của chính mình mà đến
chùa là để tìm lại Phật tâm ẩn tàng ở đằng sau
cái vỏ vô thường của xác thân... Hai bên của
Thích Ca là tượng Văn Thù và Phổ Hiền, sản
phẩm của nghệ thuật cuối thế kỷ XVII. Tuy
nhiên, phần nào đài sen của hai tượng này lại có
niên đại sớm hơn. Đằng trước tượng Hoa Nghiêm
26

là hai đại đệ tử của Ngài, đó là Ca Diếp (mặt già)
kết ấn “mật phùng” để giữ cho tâm thanh lòng
tĩnh và Ananđà (mặt trẻ) kết ấn “liên hoa” biểu
hiện cho lý - trí, âm - dương, phàm và thánh cùng
một thể một cội nguồn. Đây cũng là bộ tượng khá
đẹp mang nét chân dung. Ở phía trước là tượng
Thích Ca sơ sinh gắn với tích Phật khi xuất thế
đã bước bảy bước trên bảy bông sen để đem hạnh
phúc đến cho muôn loài trên cõi đời này. Hiện
nay, trên tòa thượng điện vẫn lưu giữ được một
vài chân tảng đá mài chạm nổi đài sen trơn... Sự
hiện diện của chúng cho thấy có khả năng nơi đây
vào thời Lý đã có một ngôi chùa nhỏ, rồi tới thời
Trần với sự phát triển của phái Trúc Lâm, chùa
Côn Sơn mới được dựng lại thành một chốn tổ linh
thiêng thu hút phật tử gần xa.
Sau Phật điện qua khoảng sân gạch là tổ
đường, kiến trúc kiểu chữ Đinh (丁), gồm tiền bái
và hậu đường. Hình thức thờ ở đây phần nào khác
với các ngôi chùa thông thường, bởi lấy việc thờ
Tam tổ làm trọng tâm, đồng thời phối thờ những
vị tổ khác ngồi ở hàng ghế dưới nhưng lại được đội
mũ theo dạng tỳ lư và cả dạng ít nhiều mang tính
Đạo giáo: ngoài các vị Trần Nhân Tông, Pháp
Loa, Huyền Quang, thì trên ban thờ còn có tượng
của Đại Tư đồ Trần Nguyên Đán với khuôn mặt
đầy nét chân dung, nhiều quý tướng, phục trang
có mũ và áo là sản phẩm của nghệ thuật đầu thế
27

kỷ XVIII. Có thể coi đây là một pho tượng chuẩn
mực về danh nhân, gợi ý cho chúng ta tạo tác các
tượng danh nhân khác.
Phía sau nhà tổ là hòn non bộ, trước đây vốn
là một ao nhỏ, nước từ mạch núi Kỳ Lân tụ lại,
quanh năm nước tràn đầy trong xanh, mát mẻ.
Đàn rùa tụ hội sinh sống ở đây đã bao đời, bởi vậy
có tên là ao rùa. Bên ao rùa là khu vườn tháp,
đáng chú ý là tháp tổ Huyền Quang (Đăng Minh
bảo tháp), được tạo dáng trụ, mái tạo kiểu ngói
ống điểm hoa mai mãn khai.
Đến Côn Sơn là một dịp tìm về cõi thanh hư,
để gần hơn với phật tâm, nghe tiếng chuông mà
nhập vào miền thánh thiện.
Trích tạp chí Di sản văn hóa,
Cục Di sản văn hóa - Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch, số 1, 2006.

28

CHÙA DIỆU ĐẾ*
HỒNG TIỆP

Đông Ba, Gia Hội hai cầu,
Ngó qua Diệu Đế bốn lầu hai chuông.
(Ca dao Huế)
Chốn xưa, nguyên là chỗ tiềm để1 của Hoàng
tử Miên Tông, trưởng tử của Thánh Tổ (Minh
Mệnh, ở ngôi: 1820 - 1841). Lên ngôi năm 1841, ba
năm sau, tức năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), Hiến Tổ
(Thiệu Trị, ở ngôi: 1841 - 1847) đã cho đại trùng
tu, biến nơi đây thành một ngôi chùa lớn; đồng
thời, sắc phong Diệu Đế thành Quốc tự và biệt liệt
vào một trong hai mươi thắng cảnh của Đế kinh.
Chùa tọa lạc phía đông thành, xóm Ngự Viên
xưa. Đối diện chùa là Hộ Thành hà (tục gọi là
sông Đông Ba hay Gia Hội) với hai hàng bồ đề cổ
thụ soi bóng nước Hàng Bè, Kẻ Vạn, giữa hai cây
_____________
Chùa Diệu Đế tọa lạc tại số 100B đường Bạch Đằng,
thành phố Huế.
1. Ngôi nhà của vua lúc chưa lên ngôi.
*

29

cầu Đông Ba, Gia Hội đón đưa mấy nhịp đời vui
buồn dâu bể.
Chùa xưa cảnh sắc tú lệ, cây cỏ phồn mậu,
kiến trúc nguy nga. Theo văn bia Hiến Tổ soạn,
chùa có tổng thể kiến trúc gồm chính điện, phía
trước dựng Đạo Nguyên các, cùng hai lầu chuông
trống. Chính giữa là lầu Hộ Pháp. Sân trước có
hai nhà lục giác, trái là lầu chuông, phải là bi
đình. Xung quanh chùa có hệ thống la thành kiên
cố, chính điện là cổng tam quan ngó mặt xuống
bến đò cùng hai cổng nhỏ trổ hai bên hông chùa.
Và còn có Trí Tuệ tịnh xá, Cát Tường từ thất xứng
danh quy mô Quốc tự của vương triều.
Năm 1885, biến cố thất thủ Kinh đô đã đưa
vương triều nhà Nguyễn vào một cuộc tang
thương cùng bao con dân nước Việt. Vua Hàm
Nghi (ở ngôi 1884 - 1885) xuất bôn khởi đầu cho
công cuộc trường kỳ kháng Pháp. Lịch sử Việt
Nam sang trang mới đầy bi hùng và máu lệ. Đất
Phật cũng không tránh khỏi việc dự phần. Cuối
năm 1885, chùa Diệu Đế bị trưng dụng, phục vụ
cho vài cơ quan thuộc bộ máy hành chính Nam
triều. Cát Tường từ thất được sử dụng làm Sở Đúc
tiền, Trí Tuệ tịnh xá là Thừa Thiên phủ đường.
Hai dãy tăng phòng, một làm nhà lao, một là trụ
sở Khâm Thiên Giám cùng nhà kho chứa những
di vật của Quốc tự Giác Hoàng bị triệt hạ cùng
trong biến cố này.
30

Cho đến năm 1887, phần lớn công trình kiến
trúc của chùa đã bị phá hủy.
Năm 1889, Hòa thượng Tâm Truyền được vua
Thành Thái (ở ngôi: 1889 - 1907) ban tiền để tổ
chức trùng tu chùa nhưng đến năm Giáp Thìn
(1904), lại bị cơn bão dữ lại một lần nữa làm điêu
tàn... Mãi đến năm 1953, chùa mới được trùng tu
có cảnh chùa như hiện tại.
Trong lịch sử, chùa Diệu Đế ngoài vai trò là
Quốc tự của triều đình, còn là “chứng nhân” quan
trọng cho mấy độ thịnh suy của Phật giáo suốt
chiều dài lịch sử. Từ thập niên 60 của thế kỷ XX,
nơi đây là điểm xuất phát cho lộ trình rước Phật
Diệu Đế - Từ Đàm vào dịp lễ Phật đản hằng năm.
Và, cũng trong những năm tháng của thập kỷ bi
hùng ấy, Diệu Đế còn là một trong những nơi diễn
ra phong trào đấu tranh của Phật giáo đồ chống
lại chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.
Du khách đến Huế có thể ngắm cảnh chùa
thanh u soi mình trên gương nước con sông đào
nho nhỏ rợp bóng cây. Chỗ nay thuộc phường Phú
Cát, số 100B Bạch Đằng, gần bên cầu Gia Hội,
trên vùng đất hào hoa nơi biết bao tài tử văn
nhân tài huấn từng lưu ngụ.
Năm 2008, chùa Diệu Đế lại như thêm một
lần “sống lại” trong không khí tưng bừng của mấy
chục nghìn người con Phật hân hoan trên con
31

đường rước Phật vào dịp Đại lễ Phật đản Vesak
2008 sau bốn thập kỷ gián đoạn.
Xin dẫn ra đây một khổ thơ trong bài thơ liên
hoàn của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, được viết dưới
một thời mà quang âm còn chưa kịp làm mờ phai
trong tâm trí:
Huế đô sợi tóc buộc ngàn cân,
Thành nội vang rền súng ngoại nhân,
Sườn núi mở tung gan phật tử,
Lòng sông nghẹn uất máu lương dân.
Nhưng chùa Diệu Đế còn cao vút,
Thì bóng ma vương phải xóa dần.
Mình chẳng giết mình ai giết nổi,
Ngàn thu văng vẳng tiếng chuông ngân...
(Trích: Chuông chùa Diệu Đế,
Vũ Hoàng Chương, 1966).
Rút từ tạp chí Văn hóa Phật giáo,
Giáo hội Phật giáo Việt Nam,
số 69, 2003.

32

CHÙA GIÁC LÂM*
TRẦN ĐÌNH SƠN

Đầu thế kỷ XVIII, dân Việt Nam khai phá mở
mang vùng đất đến tận Đồng Nai - Gia Định.
Theo truyền thống từ x...
 
Gửi ý kiến