TÌNH BÁC SÁNG ĐỜI TA

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:07' 15-01-2024
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:07' 15-01-2024
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
LÊ MẠNH HÙNG
Phó Chủ tịch Hội đồng
Q. Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
PHẠM THỊ THINH
NGUYỄN ĐỨC TÀI
TRẦN THANH LÂM
NGUYỄN HOÀI ANH
2
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
C
hủ tịch Hồ Chí Minh là người con ưu tú của dân
tộc Việt Nam, là một vĩ nhân của thời đại. Người
đã cống hiến trọn cuộc đời cho sự nghiệp chiến đấu
giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp
phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc trên
thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ
xã hội, trở thành biểu tượng cao đẹp của công lý và
tình yêu con người. Trong kho tàng di sản tư tưởng
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nổi bật lên là lòng yêu
thương con người của Bác: “Ôm cả non sông, mọi kiếp
người”1. Lòng yêu thương đồng bào của Người được thể
hiện sâu sắc qua mỗi lời nói, việc làm và cả trong
những lời căn dặn của Bác trong bản Di chúc thiêng
liêng. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng cũng như
trong đời sống hằng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đối xử
với con người, với công việc luôn có lý, có tình. Người
dành “muôn vàn tình thương yêu” cho đồng bào, đồng
chí mình. Người thương yêu, quan tâm mọi tầng lớp
đồng bào: trai gái, già trẻ, đồng bào các dân tộc, thuộc
_______________
1. Tố Hữu: “Bác ơi!” trong tập thơ Ra trận, Nxb. Văn
học, Hà Nội, 1972.
5
mọi tôn giáo, kiều bào ta ở nước ngoài... Với trái tim
bao la, rộng mở của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
dành trọn cuộc đời cho nhân dân Việt Nam, quyết tâm
giải phóng dân tộc, đưa con thuyền cách mạng Việt
Nam vượt qua mọi phong ba bão táp, đi từ thắng lợi
này đến thắng lợi khác, cập bến bờ vinh quang. Và
chính lòng yêu thương con người đã trở thành động
lực to lớn, thôi thúc Bác hoạt động không ngừng nghỉ,
không mệt mỏi vì nước, vì dân.
Nhằm giúp bạn đọc hiểu sâu sắc hơn tư tưởng cũng
như lòng thương yêu nhân dân vô hạn của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự
thật phối hợp cùng Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất
bản cuốn sách Tình Bác sáng đời ta (Kể chuyện
Bác Hồ). Cuốn sách tập hợp những mẩu chuyện về cuộc
sống thường ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những
mẩu chuyện nhỏ được diễn đạt giản dị và súc tích chứa
đựng tình cảm kính trọng, mến yêu và biết ơn sâu sắc
của đồng bào các dân tộc Việt Nam đối với Bác.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 9 năm 2020
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
LỜI NÓI ĐẦU
tịch Hồ Chí Minh được nhân dân Việt Nam
Chủ
kính trọng, yêu mến và gọi Người bằng nhiều cái
tên thân mật: Người Kinh gọi là Bác Hồ, người Nùng
gọi là Củng Hồ, người Tày gọi là Ông Ké, người Ba-na
gọi là Boh Hồ, người Pa-co gọi là Avoóc Hồ... Tất cả
những tên gọi ấy thể hiện sự giản dị, gần gũi và thân
thiết như Ông, như Bác, như người Cha trong gia đình.
Trong “Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền
Nam tại Plâycu” ngày 19/4/1946, Bác Hồ đã căn dặn:
“Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai
hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số
khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột
thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng
nhau, no đói giúp nhau...”1.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là
vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành công
của cách mạng. Cách mạng muốn thành công phải có
lực lượng đủ mạnh để chiến thắng kẻ thù và xây dựng
xã hội mới. Vì vậy, Người chủ trương đoàn kết rộng rãi,
chặt chẽ và lâu dài toàn dân tộc thành một khối.
_______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2011, t.4, tr.249.
7
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi “Nhân tài và
kiến quốc”, trong đó Người viết: “Nay muốn giữ vững
nền độc lập thì chúng ta phải đem hết lòng hăng hái
đó vào con đường kiến quốc. Kháng chiến phải đi đôi
với kiến quốc... Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài
nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta
khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân
tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”1.
Quan điểm, tư tưởng trọng dụng nhân tài của Chủ
tịch Hồ Chí Minh một lần nữa được nhấn mạnh trong
Chỉ thị “Tìm người tài đức”. Trong bài viết này, Người
khẳng định: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết
cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc
không thiếu người có tài có đức”2.
Với tư tưởng dùng người, cách sử dụng nhân tài,
xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đặt niềm tin vào
nhân dân, tin ở lòng yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã trọng dụng rất nhiều người tài năng, nhất
là các bậc nhân sĩ, trí thức vào công cuộc kiến thiết
và bảo vệ nền độc lập của dân tộc.
Cuốn sách Tình Bác sáng đời ta (Kể chuyện
Bác Hồ) góp phần khích lệ mạnh mẽ để cộng đồng
các dân tộc Việt Nam một lòng ghi tạc và thực hiện
tốt lời dạy của Bác Hồ kính yêu.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và mong nhận
được những ý kiến đóng góp!
NHÓM BIÊN SOẠN
_______________
1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.114, 504.
8
QUÊ HƯƠNG VÀ GIA ĐÌNH*
T
huở nhỏ, Chủ tịch Hồ Chí Minh có tên gọi
là Nguyễn Sinh Cung, sau đó mang tên là
Nguyễn Tất Thành.
Quê hương của Người là một vùng đất nghèo
thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Người dân
nơi đây luôn phải sống trong cảnh nghèo khổ,
thường xuyên phải chống chọi với thiên tai khắc
nghiệt, quanh năm ruộng đất khô cằn, mới nắng đã
hạn, mới mưa đã lũ, mất mùa thường xuyên, cuộc
sống vất vả, lam lũ đã in đậm trong tiềm thức của
người dân Nam Đàn nói riêng và quê hương xứ
Nghệ nói chung. Những khó khăn vất vả ấy được
đọng lại trong câu ca dao:
“Làng Sen đóng khố thay quần
Ít cơm, nhiều cháo, tảo tần quanh năm”.
Mặc dù điều kiện tự nhiên vô cùng khắc nghiệt
nhưng người dân xứ Nghệ rất giàu truyền thống
_______________
* Phần lớn tư liệu trong bài viết này chúng tôi trích từ
Trần Ngọc Linh, Lương Văn Phú tuyển chọn: Kể chuyện
Bác Hồ, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2016, tập 1;
Nguyễn Huy Hoan (Chủ biên): Bác Hồ - người Việt Nam
đẹp nhất, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1987.
9
văn hóa và đánh giặc, giữ nước. Nơi đây hội tụ
nhiều di tích lịch sử - văn hóa gắn liền với tên tuổi
và chiến công của các bậc anh hùng dân tộc, nêu
cao chí khí chống ngoại xâm từ bao đời nay.
Hai làng Kim Liên và Hoàng Trù1 (quê nội và
quê ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh) thuộc xã
Chung Cự, nay là xã Kim Liên, là một miền quê
giàu cảnh sắc, với một nền văn hóa dân gian đa
dạng và phong phú. Biết bao làn điệu dân ca nơi
đây đã đi vào lòng người, đậm đà bản sắc dân tộc
như: hát ví giặm, hát đò đưa, hát phường vải...
Trải qua biết bao biến động, thăng trầm của lịch
sử, truyền thống văn hóa đặc sắc của miền quê
Kim Liên vẫn không ngừng tỏa sáng, tự hào.
Thân phụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nguyễn
Sinh Sắc, còn gọi là Nguyễn Sinh Huy (1862 - 1929),
sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo,
chất phác. Cha mẹ mất sớm, tuổi thơ chịu cảnh
mồ côi, phải vất vả lao động kiếm sống và có ý chí
học hành. Thuở nhỏ, vốn hiền lành, thông minh,
ham học, Nguyễn Sinh Huy được nhà Nho Hoàng
Xuân Đường đưa về nuôi, cho học hành tử tế và gả
con gái đầu là Hoàng Thị Loan cho.
Chẳng bao lâu, chàng thanh niên Nguyễn Sinh
Sắc đã tham dự kỳ thi Hương, đỗ cử nhân tại
trường thi Nghệ An (1894). Được gia đình và
người vợ trẻ động viên, cùng ý chí kiên cường của
_______________
1. Làng Hoàng Trù còn có tên gọi khác là làng Trùa.
10
mình, cụ cử Sắc đã tiếp tục tham dự các kỳ thi Hội
của triều đình nhưng không đỗ, đến kỳ thi Hội
năm 1901 ông mới đỗ Phó bảng. Với phẩm chất
liêm khiết của một nhà nho, trong cuộc sống cụ
Sắc luôn dạy dỗ con cái có ý thức lao động, học tập
để hiểu “đạo lý làm người”. Sau khi đỗ Phó bảng,
bị triều đình phong kiến thúc ép nhiều lần, buộc
cụ phải ra làm quan, nhưng bất hợp tác với bọn đế
quốc, tay sai. Với quan điểm của mình, cụ Sắc
thường nói “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ,
hựu nô lệ” (nghĩa là: Quan trường là nô lệ trong
những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn).
Vốn có lòng yêu nước, khảng khái, cụ thường
chống đối bọn quan trường và thực dân Pháp xâm
lược. Vì vậy, sau một thời gian làm quan rất ngắn,
cụ bị bãi chức. Cụ vào Nam Bộ làm thầy thuốc
giúp dân nghèo, sống cuộc đời thanh bạch cho đến
lúc qua đời (1929), được nhân dân mến mộ và
thương tiếc. Thi hài và lăng mộ yên nghỉ của cụ
hiện nằm tại tỉnh Đồng Tháp.
Thân mẫu của Hồ Chí Minh là bà Hoàng Thị
Loan (1868 - 1901), một người phụ nữ hiền hậu,
đảm đang, yêu chồng, thương con hết mực, cần cù
lao động. Hằng ngày, cụ làm ruộng và dệt vải, lao
động vất vả để nuôi dạy con cái. Bằng cả tấm lòng
yêu thương, cụ Hoàng Thị Loan đã hy sinh tất cả
vì chồng con.
Nếu ảnh hưởng của người cha Nguyễn Sinh Sắc
đối với con cái là nền văn hóa bác học xuyên thấm
11
qua một nhân cách yêu nước thương nòi mang
màu sắc nhân đạo, thì ảnh hưởng từ người mẹ là
nền văn hóa dân gian mang đậm truyền thống
dân tộc và những phẩm chất của tầng lớp lao
động bình dân qua tình mẫu tử. Cụ đã nêu một
tấm gương sáng về nhân cách đạo đức cho con cái
học tập. Ở đâu cụ cũng thể hiện một lối sống
trong sáng, có nghĩa, có tình, được mọi người hết
sức yêu mến và kính trọng. Bằng tấm lòng trách
nhiệm và sự mẫn cảm của người mẹ, cụ đã vun
trồng, uốn nắn, dạy dỗ cho các con những bài học
đầu tiên về cách sống, về đạo lý làm người. Vì
vậy, ngay từ thuở ấu thơ, những đứa con ngoan
của bà đã biết kính trọng người trên, sống chan
hòa với bè bạn, giàu lòng vị tha, nhân ái, biết
nhường nhịn mọi người1...
Sinh sống và lớn lên ở vùng quê có những làn
điệu dân ca mượt mà và giàu truyền thống yêu
nước nên cụ Hoàng Thị Loan bằng những lời ru,
đã nhen nhóm vào tâm hồn con cái tình yêu quê
hương, đất nước mặn nồng:
Làm người đói sạch rách thơm,
Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền.
Tuy nhiên, vì cuộc sống cơ cực, lao động vất vả
quá sức, thiếu thốn..., cụ đã trút hơi thở cuối
cùng tại kinh thành Huế ở tuổi 33 (1901) để lại
_______________
1. Theo Trần Minh Siêu: Quê hương và gia thế Chủ tịch
Hồ Chí Minh, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2017.
12
niềm tiếc thương vô hạn cho gia đình, người thân
và bà con lối xóm. Cuộc đời người mẹ ấy quá đỗi
ngắn ngủi, vốn là con một thầy dạy chữ nho ở xứ
Nghệ, cụ đã vui lòng nhận lấy sự vất vả, tần tảo
về mình để cho chồng con được ăn học tử tế. Khi
bà qua đời, không có người thân bên cạnh, chỉ có
cậu bé Nguyễn Sinh Cung (Bác Hồ) tuổi mới lên
10 và em bé Xin đang khát sữa. Được bà con, bạn
bè đùm bọc, giúp đỡ, thi hài bà Loan được đưa
lên an táng tại núi Tam Tầng, Huế.
*
*
*
Một trong những đức tính cao quý nhất của
Bác Hồ của chúng ta là rất khiêm tốn. Người luôn
tránh nhắc đến bản thân và những người trong
gia đình mình, thế nhưng có một lần Người đã
nhắc đến mẹ.
Hôm ấy, chiếc ôtô chở Bác đang bon bon trên
đường. Khi đi ngang qua cổng một trường học thì
cũng là lúc tan buổi học, học sinh ríu rít đổ ra các
ngả đường trở về nhà. Nhìn đoàn học sinh, số
cháu gái rất đông, với những bộ quần áo đủ màu
sắc, nét mặt hân hoan hồn nhiên, Bác bỗng nói với
những người cùng đi, giọng trầm hẳn xuống: “Các
cháu gái ngày nay được học hành sung sướng thật.
Các chú biết không, mẹ của Bác là con một thầy
13
giáo ở nông thôn, thế mà không được đến trường
đi học đâu”. Nói xong Bác lặng đi suy nghĩ, Bác
đang nhớ tới người mẹ đã qua đời khi Bác còn nhỏ.
Chính vì thế mà Bác luôn canh cánh ước mong
đất nước được hoàn toàn độc lập, đồng bào được
hoàn toàn tự do, ai cũng được học hành.
Về sau, có lần Bác nói: “Nhân dân ta rất biết ơn
các bà mẹ cả hai miền Nam - Bắc đã sinh đẻ và
nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta”1.
Chúng ta càng biết ơn người mẹ của Bác Hồ, biết
ơn đức hy sinh cao cả của cụ, Người đã có công sinh
thành và giáo dục một người Việt Nam đẹp nhất2.
*
*
*
Đến năm 1922, hài cốt của cụ Hoàng Thị Loan
được con gái Nguyễn Thị Thanh đưa về an táng
tại quê nhà (xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh
Nghệ An) và năm 1942, hài cốt cụ được đưa lên
núi Đại Huệ. Năm 1984, lăng mộ cụ Hoàng Thị
Loan được xây dựng khang trang, đẹp đẽ để tỏ
lòng biết ơn của người dân đối với công lao to lớn
của người mẹ có công sinh thành, nuôi dưỡng
_______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, t.15, tr.172.
2. Trích Bác Hồ - người Việt Nam đẹp nhất, Nxb. Giáo
dục, Hà Nội, 1987.
14
Chủ tịch Hồ Chí Minh - bậc đại trí, đại nhân, đại
dũng, Nhà văn hóa kiệt xuất, Anh hùng giải phóng
dân tộc, vị lãnh tụ vĩ đại, đáng kính của cả dân tộc
Việt Nam.
*
*
*
Chủ tịch Hồ Chí Minh có chị gái là bà Nguyễn
Thị Thanh (1884 - 1954) còn gọi là Nguyễn Thị
Bạch Liên, anh trai là Nguyễn Sinh Khiêm, tức
Nguyễn Tất Đạt (1888 - 1950). Em trai của Chủ
tịch Hồ Chí Minh sinh năm 1900, thường gọi là bé
Xin, đã sớm qua đời do quá yếu. Cả chị gái và anh
trai của Người đều có chí hướng tiến bộ, yêu nước,
thương người và tích cực tham gia các phong trào
chống Pháp, đã nhiều lần bị thực dân Pháp kết án
tù đày.
Nhờ sự giáo dục về những bài học đạo đức,
nhân cách của gia đình, cả bà Thanh và ông
Khiêm đều không màng danh lợi, hy sinh cả tuổi
thanh xuân của mình cho sự nghiệp cứu dân, cứu
nước, trở thành tấm gương đáng kính cho nhân
dân về sự cao cả, nghĩa khí và lòng vị tha.
15
BÁC HỒ VỚI VIỆC
SỬ DỤNG NHÂN TÀI
L
ần đầu tiên Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa
được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh là năm 1946,
lúc ông cùng kiều bào ta ở Pháp ra sân bay đón
Bác. Khi ấy Người sang thăm nước Cộng hòa Pháp
với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp.
Ông có vinh dự được tham gia đoàn đại biểu
thay mặt Hội Việt kiều tại Pháp đến thăm Bác,
nghe Bác kể về tình hình trong nước và đề nghị
kiều bào ta báo cáo tình hình hoạt động. Ông đã
cùng với Bác đi thăm bà con Việt kiều, thăm Đảng
Cộng sản Pháp và các danh lam, thắng cảnh.
Trong các cuộc đi thăm đó, Bác ăn mặc rất giản dị.
Bác đi dép cao su, nơi nào có sân sạch là Bác ngồi
xuống, nhân dân lao động và trẻ em quây quần
xung quanh Bác. Bà con Việt kiều ở Pháp lúc đó
rất tin tưởng ở Người.
Sau một thời gian cùng Bác đi thăm các nơi,
một hôm Bác nói với ông:
- Ngày kia Bác về nước, chú có về cùng Bác không?
Bác không hỏi là ông có muốn về hay không.
Tuy vậy, đối với ông, việc về nước đã được chuẩn
16
bị từ lâu, nên không có gì cập rập. Ngoài ông ra,
còn có ba kỹ sư là: Võ Quý Huân, Phạm Quang Lễ,
Võ Đình Quỳnh và bác sĩ Trần Hữu Tước cùng về
với Bác.
Bác cháu cùng nhau về nước trên một chiếc
tàu chiến của Pháp. Sau khi về nước một thời
gian ngắn, Bác giao cho ông chức Cục trưởng
Cục Quân giới.
Trong kháng chiến chống Pháp, những năm
đầu Bác gửi thư cho ông, động viên và nhắc nhở là
trong chiến tranh nhân dân phải làm sao để các
địa phương có thể tự túc lương thực và huy động
được lực lượng tại chỗ, có vũ khí tiêu diệt Pháp.
Chúng ta phải tự sản xuất lấy vũ khí. Đó là quan
điểm chiến tranh nhân dân.
Năm 1950, Bác chỉ định ông kiêm chức Thứ
trưởng Bộ Công Thương, ông có dịp gặp Bác
thường xuyên ở các phiên họp của Hội đồng Chính
phủ. Có lần, Bác nói với ông, đại ý:
- Nếu vì những lý do nào đó mà cản trở công
việc của chú, thì chú hãy báo cáo cho Bác biết.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp và đế quốc Mỹ, những ý kiến do ông đề xuất
đều được Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng
Văn Tiến Dũng chấp nhận, tạo điều kiện thuận lợi
để làm việc.
Khi chúng ta đang tiến hành cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước, Bác nói:
17
- Tôi đem chú Nghĩa về để kháng chiến. Bây
giờ cuộc kháng chiến vô cùng ác liệt, chưa biết
diễn biến sẽ ra sao, chú Nghĩa đang ở Hà Nội, tại
sao không mời chú ấy tham gia quốc phòng.
Sau đó, Bác chỉ định ông làm Phó Chủ
nhiệm Tổng cục Hậu cần, với tư cách là Thư ký
quốc phòng.
Ba tháng sau, đồng chí Lê Đức Thọ mời ông tới
nhà riêng và nói:
- Anh làm ba nhiệm vụ một lúc thì nặng quá,
cho nên chức vụ “Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học kỹ
thuật nhà nước” để trên cử người khác thay.
Sau này, ông mới biết là Bác không đồng ý. Bác
nói với các đồng chí trong Bộ Chính trị:
- Chú Nghĩa hồi kháng chiến chống Pháp làm
bao nhiêu nhiệm vụ mà cũng làm được (Cục
trưởng Cục Quân giới, Cục trưởng Cục Pháo binh,
Thứ trưởng Bộ Công Thương). Tại sao sau mấy
chục năm chú ấy lại không làm được ba việc?
Cách đối xử của Bác với đồng chí Trần Đại
Nghĩa đã thể hiện sự chung thủy, có trước có
sau - một trong những đức tính quý báu của
Người. Đức tính quý báu ấy là tấm gương để
chúng ta học tập...
Lược dẫn theo Kỷ niệm về Bác,
Nxb. Thông tấn, Hà Nội, 2005, tr.71.
18
BÁC ĐẾN BẢN TÔI
N
gày 28/01/1941, Bác Hồ về nước lãnh đạo
phong trào cách mạng. Bác chỉ đạo tổ chức
ra các đoàn thể: Nông dân, Thanh niên, Phụ nữ,...
và là người sáng lập ra Mặt trận Việt Minh.
Mỗi lời nói, mỗi hành động của Bác có sức mạnh
đẩy lùi mọi lực lượng, mọi mưu mô của quân cướp
nước và bán nước. Hình ảnh của Bác có sức cảm
hóa và thúc đẩy mọi người từ cán bộ đến nhân dân
“ngăn sông lấp biển”. Bác về chưa đầy hai tháng,
nhân dân các dân tộc vùng dậy theo cách mạng; cả
một số cường hào, tổng lý cũng quy thuận và tình
nguyện tham gia phong trào cứu nước.
Trước tình hình phong trào cách mạng lên cao,
các cán bộ, chiến sĩ phấn khởi hoạt động, Bác chỉ
thị cho mọi người phải chuẩn bị chống địch
khủng bố. Khi nhận được chỉ thị, bản thân anh
em chúng tôi vẫn chủ quan và nói với nhau:
“Phong trào lên phơi phới thế này làm gì phải
chống khủng bố nữa, tổng lý, kỳ hào đều theo ta
cả, chính quyền địa phương từ thôn tới xã đều
trong tay cách mạng chỉ huy...”. Ý nghĩ ấy đến tai
Bác, Bác gọi ngay chúng tôi lại và bảo: “Nước với
19
lửa bao giờ cũng mâu thuẫn với nhau, các đồng
chí phải thận trọng: Thắng không được kiêu, bại
không được nản; giặc sắp mở một cuộc khủng bố
lớn, cơ sở có thể bị tan vỡ, các đồng chí không
được bi quan, phải luôn luôn tin tưởng vào nhân
dân, vào cách mạng,...”.
Đúng như dự đoán của Bác, hai tháng sau
giặc lùng ráp và khủng bố gắt gao. Nhân dân
địa phương và gia đình thân thuộc của chúng tôi
đều phải chuyển đến sống tạm ở Khum Đắc,
Khum Lự (một thung lũng thuộc tỉnh Quảng
Tây, Trung Quốc) và tiếp tục hoạt động trong
khi Bác sang Trung Quốc tìm cách liên lạc với
quân Đồng minh.
Vào khoảng tháng 8, 9/1942, tin Bác bị quân
Tưởng Giới Thạch bắt giữ ở phố Túc Vinh, huyện
Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây đưa về, tất cả nhân dân
và chúng tôi đều vô cùng lo lắng.
Trong suốt hơn một năm trời, ai nấy đều mong
ngóng, chúng tôi cố gắng tìm mọi cách nắm bắt
thông tin về Bác. Hôm ấy tôi đang chữa lại cái cọn
nước thì đằng xa một đồng chí cùng hoạt động gọi
và bảo tôi chuẩn bị mang quần áo đi đón Bác.
Được tin, tôi mừng quá, không kịp thay quần áo
mà chỉ vơ vội mấy bộ quần áo, theo lệnh của chi bộ
đi đón Bác. Tôi vừa đi vừa chạy, được chừng hai
cây số thì tôi gặp Bác trong bộ quân phục đã cũ và
đội chiếc nón Nùng. Cùng về với Bác có vài đồng
chí nữa. Gặp Bác, tôi mừng mừng tủi tủi, vai đeo
20
gói quần áo để Bác thay mà tôi cũng quên mất,
mãi tới khi về đến Cột Mà, Bác mới thay quần áo.
Tôi nhìn Bác không chớp mắt. Bác gầy và xanh
quá, đôi mắt trũng sâu, đôi gò má nhô lên, chân
Bác thấm đầy máu vì dây rơm của đôi giày “hải
sảo” cứa vào mu bàn chân và gót chân.
Trên đường về tôi đi sau Bác, nghe Bác thở rất
mạnh. Biết Bác mệt nên tôi vội đi lên trước với ý
định đi chậm lại để giữ sức cho Bác, nhưng không
đầy mười thước Bác lại vượt lên trước. Về đến nhà,
tuy rất mệt nhưng Bác vẫn bảo chúng tôi đi triệu
tập tất cả đồng bào lại để Bác nói chuyện.
Khi nói chuyện, Bác lấy mẹt và than vẽ bản đồ
thế giới để giải thích những thắng lợi của phe
Đồng minh, giải thích Chiến tranh thế giới thứ
hai sắp đến ngày kết thúc. Bác lấy thúng cái và
đèn dầu giải thích hiện tượng tối tăm của Tổ quốc
Việt Nam. Nghe Bác nói chuyện, ai nấy đều hiểu
và thấy căm thù giặc Pháp, vì giặc Pháp nên nhân
dân phải điêu đứng khổ cực, con mất cha, vợ mất
chồng, ai nấy đều thấy sôi sục lòng căm thù quân
giặc, muốn vùng lên xông thẳng vào đồn giặc để
quét sạch quân cướp nước và bán nước.
Bác lại lấy cây đèn để vào trong cái thúng và
nói: Mặt trời hiện nay đang nằm bên kia trái đất,
nên bên này trái đất của chúng ta đang bị tối tăm.
Ngày mai mặt trời sẽ về với Việt Nam, các cụ cùng
đồng bào đã khổ cực nhưng hãy cố gắng, nay mai
Việt Nam sẽ sáng sủa.
21
Sáng sớm ngày hôm sau, vừa ngủ dậy Bác đã
ra ngoài bờ suối xem xét rồi quay vào gọi chúng
tôi ra sửa sang lại chỗ lấy nước ăn. Hoàn thành
công việc, Bác nhờ mấy người khiêng cái loỏng ra
suối. Bác cọ sạch, múc nước đổ đầy vào rồi gọi một
đàn cháu nhỏ ra xếp hàng để Bác tắm cho từng
cháu một.
Bà tôi ở trong nhà thấy Bác hết tắm cho cháu
này xong lại tắm cho cháu khác từ sáng đến gần
trưa, bà thương Bác lắm, nên bảo với bố tôi:
- Ông cụ già này thương người lắm! Hôm qua
đi đường sá mệt thế mà hôm nay đã dậy sớm để
tắm cho trẻ nhỏ, sửa sang cho làng. Trong nhà
mà có một ông cụ như thế thì chẳng lo gì đói
khát...! Chả biết vợ con ông cụ ở đâu, ông cụ
thương người quá thôi!
Bố tôi đun lại nồi cháo. Bác về, bố tôi đánh
trứng vào cháo và bưng lại mời Bác ăn. Tay bưng
bát cháo, Bác run run hỏi lại bố tôi:
- Ở đây đều ăn thế này hay là chỉ có mình tôi?
Bố tôi thật thà đáp:
- Thưa cụ, bà mẹ tôi bảo cụ mệt, chân lại đau,
cụ làm việc suốt từ sáng đến giờ, nên chúng tôi lấy
trứng làm cháo để cụ ăn cho đỡ mệt.
- Tôi không mệt. - Bác trả lời.
Bà tôi từ trong nhà, nói với ra:
- Mời cụ xơi rồi nằm nghỉ cho khỏi mệt, chúng
tôi chẳng có gì. Cụ thương người lắm!
22
Bác bưng cháo vào trong nhà mời bà tôi. Khi
quay ra, Bác bảo chúng tôi:
- Từ nay không được làm như thế. Bây giờ
không còn ai có sự đặc biệt như thế.
Nói xong, Bác ra ngoài ăn cơm trưa với chúng
tôi. Bác dặn đi dặn lại chúng tôi: Phải ở lại chăm
lo và tổ chức cái tết này cho bà con ăn tết thật
vui vẻ.
Dặn xong mọi việc, chiều hôm ấy đồng chí
Quảng Ba và Bác rời đi. Chân Bác hãy còn sưng.
Tôi nhắc đồng chí Quảng Ba thuê ngựa cho Bác
cưỡi. Bác nhất định không cưỡi và nói:
- Tiền quỹ của chúng ta hiện nay còn hiếm.
Nếu Bác đi ngựa thì chú Ba cũng phải đi ngựa,
chú Ba đi ngựa thì không lẽ để những tay chân
của Nguyễn Hải Thần và Trương Bội Công phải đi
bộ ư? (đây là những kẻ đứng đầu những tổ chức
phản cách mạng lưu vong ở Trung Quốc lúc bấy
giờ). Thôi, ta cùng đi bộ cả...
Hồi ức của đồng chí Dương Đại Lâm,
nguyên Phó Chính ủy Quân khu Việt Bắc,
in trong Những câu chuyện kể về Bác Hồ,
Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2016, t.2.
23
KHỔ TẬN CAM LAI
Nnhiều khó khăn, Bác phải lo trăm công nghìn
hững năm đầu cách mạng, đất nước còn
việc. Nhân dân ta ai cũng lo cho sức khỏe của Bác.
Nhiều người với tư cách cá nhân, tập thể đã dành
thời giờ đến Bắc Bộ phủ - nơi ở và làm việc của
Chính phủ ta thời kỳ đó - thăm sức khỏe của Bác.
Chuyện kể rằng, nhân một chuyến công tác
Thanh Hóa, nữ thi sĩ Hằng Phương nảy ra ý định
mua quà để biếu Bác.
Tại Thanh Hóa có loại cam làng Giàng ngon nổi
tiếng, Hằng Phương liền chọn mua chục quả về
biếu Bác.
Ngồi trên xe trở về Hà Nội, vừa khư khư ôm túi
cam quý, vừa nghĩ đến ngày mai vào Bắc Bộ phủ
gặp Bác thì sẽ nên nói câu gì và nói thế nào cho phải
phép với Bác, Hằng Phương nhẩm ngay một bài thơ:
Cam ngon Thanh Hóa vốn dòng,
Kính dâng Chủ tịch tỏ lòng mến yêu.
Đắng cay cụ nếm đã nhiều
Ngọt bùi trời trả đủ điều từ đây.
Cùng quốc dân hưởng những ngày,
Tự do, Hạnh phúc tràn đầy trời Nam.
Anh hùng mở mặt giang sơn,
Lưu danh thiên cổ vẻ vang giống nòi.
24
Sáng hôm sau, nhà thơ Hằng Phương cẩn thận
gói cam vào giấy đẹp, trân trọng chép lại bài thơ
và đến Bắc Bộ phủ thăm Bác.
Đến cổng, bà được đồng chí bảo vệ chỉ đường
vào phòng làm việc của Bác. Nhưng lúc đó, Bác
còn bận tiếp một vị khách nước ngoài ở phòng tiếp
khách. Đồng chí văn phòng bảo nhà thơ ngồi chờ
một lát. Thấy Bác bận quá, không muốn làm
phiền Bác, Hằng Phương bèn gửi cam và bài thơ
lại, rồi xin phép ra về.
Sau khi tiễn chân vị khách nước ngoài, Bác trở
lại văn phòng và được biết là bà khách đã về rồi.
Nhìn gói cam và đọc bài thơ, Bác rất cảm động,
nhưng lại không biết tên và địa chỉ của khách, Bác
liền làm bài thơ gửi đăng báo Tiếng gọi phụ nữ để
trả lời.
Bài thơ đề là “Cảm ơn người tặng cam”:
Cảm ơn bà biếu gói cam,
Nhận thì không đúng, từ làm sao đây!
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai?
Bài thơ bày tỏ lời cảm ơn, đồng thời nhân đó
nêu lên bài học đạo đức từ một câu tục ngữ rất
quen thuộc và khẳng định một niềm tin vững chắc
vào thắng lợi sắp đến.
Mấy chục năm qua, bài thơ đi vào lòng người,
đặc biệt gây ấn tượng là chi tiết “bà biếu gói cam”,
một chi tiết gợi cảm hứng cho sự ra đời một bài
thơ có giá trị vừa bình dị vừa chứa đựng những
hàm ý sâu sắc của Bác.
Theo “Hồi ký của Vũ Ngọc Phan”,
báo Văn nghệ, số tháng 5/1985.
25
“ĐỒNG BÀO MÁN, THỔ LÀ ANH CHỊ EM
TRONG MỘT NHÀ”
(Trích)
T
heo giấy mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày
23/11/1945, 18 đại biểu của các đồng bào dân
tộc Việt Bắc đã về thăm Thủ đô Hà Nội và được
Bác Hồ đón tiếp1.
Trong buổi gặp mặt thân mật như anh chị em
trong gia đình, Bác nói: “Trước khi nước ta được
độc lập, các đồng bào trên đó ai nấy đã nhiệt
tâm yêu nước, yêu nòi, đã gắng sức giúp anh em
Việt Minh trong cuộc vận động giải phóng dân
tộc rất nhiều. Chính tôi có đi qua các miền anh
em ở, tới đâu tôi cũng nhận thấy anh em Thổ,
Mán ai nấy đều một lòng mong Tổ quốc độc lập,
ghét oán bọn xâm lăng... Bây giờ nước ta được
độc lập, tôi thay mặt đồng bào Kinh cảm ơn anh
chị em”.
_______________
1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hồ
Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng: Hồ Chí Minh - Biên
niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, t.3,
tr.71-72.
26
Tiếp đó, Bác trò chuyện với các đại biểu rằng
tuy nước nhà đã được độc lập nhưng dân ta còn
gặp rất nhiều khó khăn, còn phải hy sinh, phấn
đấu nhiều hơn nữa. Bác mong rằng từ người giàu
cho chí người nghèo cần phải một lòng giữ vững
nền độc lập chống lại bọn thực dân Pháp đang
muốn trở lại xâm lược nước ta một lần nữa.
Bác nói: “Bao giờ bọn Pháp không trở lại được
nữa, đồng bào Kinh sẽ rảnh rang giúp đồng bào
Thổ, Mán nhiều hơn, Chính phủ sẽ giúp cho đồng
bào Thổ, Mán cũng như sẽ giúp cho các dân tộc
khác được có đủ ruộng làm, đủ trâu bò cày”.
Cuối buổi gặp gỡ, Bác ân cần nói: “Tôi nhờ anh
chị em về nói lại với đồng bào trên ấy biết rằng
đồng bào Kinh và Chính phủ rất thương mến đồng
bào Mán, Thổ, coi như anh chị em trong một nhà,
và khuyên anh chị em gắng sức để đi tới thái bình,
để cùng hưởng chung”.
Trước khi chia tay với các đại biểu, Bác đã
mời anh chị em ra chụp ảnh lưu niệm với Bác
tại Bắc Bộ phủ.
Theo N.V.K: Những chuyện kể về Bác Hồ
với đồng bào dân tộc, Nxb. Lao động,
Hà Nội, 2009.
27
MỘT GIỜ VỚI ĐỒNG CHÍ HỒ CHÍ MINH
(Trích)
N
gày 15/7 năm nay (1969), hồi 7 giờ sáng, tại
một trong những ngôi nhà nhỏ, xinh xắn
xây dựng chung quanh Phủ Chủ tịch, tôi ngồi đợi
Chủ tịch Hồ Chí Minh tới. Người đã nhận lời cho
tôi phỏng vấn. Người đến, mặc một bộ quần áo
nâu - bao giờ người ta cũng thấy Người mặc thứ
quần áo này, như tất cả mọi nông dân Việt Nam và đầu đội mũ vải, tay chống gậy nhỏ. Giọng nói
của Người yếu hơn so với những lần trước, tôi được
gặp hồi năm 1964 - 1965, nhưng con mắt vẫn tinh
nhanh như xưa, vừa hóm hỉnh, sâu sắc, vừa hiền
từ. Thấy tôi, Người nói đùa một câu về mái tóc
ngày càng bạc trắng của tôi.
Giọng nói của Người rất tự chủ, lúc nào cũng đi
thẳng vào vấn đề, không một chút nghi thức.
Chúng tôi cùng ngồi xuống bên cạnh nhau trước
một cái bàn bày bánh ngọt và cà phê mà tôi không
lúc nào thấy Người đụng tới. Chúng tôi bắt đầu
vào công việc.
Cũng vẫn là con người tôi đã được biết cách
đây mấy năm, mà sự hiện diện và khí chất phi
28
thường của Người choán hết cả gian phòng, có
thể nói làm xóa nhòa sự có mặt của những người
khác; nhưng thái độ săn sóc ân cần hết sức lịch
thiệp và hòa nhã của Người đối với khách làm
cho người ta trong những phút đầu thấy đôi chút
lúng túng nhưng sau đó lại tạo ra một bầu không
khí thân mật, thoải mái ngay.
Nếu không có đôi mắt sáng ngời và chòm râu
dài, nét mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh trông có vẻ rất
trai trẻ. Có lẽ ở Người, hình hài hình như thu lại
đến mức nhỏ nhất chỉ còn toát ra ý chí và trí tuệ
là những cái tuy đã thoát ra ngoài thể xác nhưng
vẫn hoàn toàn hiện thực.
... Giờ phút tôi được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh
hôm ấy là một trong những giờ phút đáng trân
trọng và ghi nhớ nhất trong cuộc đời. Người
không để lộ với tôi những bí mật nhà nước trong
khi chúng tôi nói chuyện về Lênin; Người không
tìm cách dạy tôi một bài học nào về đạo đức hay
chính trị. Người chỉ kể lại những chuyện cũ năm
xưa - thế nhưng càng nghe tôi càng thấy Người
nói về một vấn đề lớn của nhà nước, vừa dạy cho
tôi một bài học luân lý và chính trị cao siêu nhất.
... Trong đề cương mà tôi gửi tới Người, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã gạch tất cả những công thức
tiêu cực để thay bằng những công thức tích cực
cùng nghĩa, Người không viết: “Không có chủ
nghĩa xã hội thì các dân tộc không thể đi đến giải
phóng hoàn toàn” mà viết: “Chỉ có chủ nghĩa xã
29
hội mới có thể bảo đảm cho các dân tộc được giải
phóng hoàn toàn”... Đây không phải là một thói
quen trong cách sử dụng ngôn ngữ, mà đây chính
là một nếp suy nghĩ của Người, nếp suy nghĩ ấy
thể hiện làm cho người ta thấy rằng tất cả mọi
tình huống dù là đen tối nhất, Người đã phân biệt
rõ cái gì là tích cực, cái gì hướng về cuộc sống và
tương lai.
Sáclơ Phuốcniô, bài đăng trên Báo Nhân đạo,
cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp,
số ra ngày 04/9/1969, in trong Thế giới ca ngợi
và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật,
Hà Nội, 1971.
30
THẤU HIỂU LÒNG DÂN
N
ăm 1957, Bác Hồ về thăm tỉnh Hà Tĩnh.
Sáng hôm ấy Bác nói chuyện tại hội trường
lớn với đại biểu đồng bào và cán bộ của tỉnh, của
huyện và các cụ già tiêu biểu của nhiều địa phương
trong tỉnh.
Nói chuyện xong, Bác dùng cơm trưa rồi về nghỉ
trong phòng riêng. Bỗng nhiên ở ngoài trạm gác có
một cụ già đòi xin được gặp Bác cho kỳ được. Tiếng
đối đáp tuy nhỏ nhẹ nhưng khá quyết liệt. Cụ già
trình bày với đồng chí bảo vệ:
- Chú thông cảm cho, tôi từ một xã ở sát biển
phải đi ngót ba chục cây số mới tới được đây. Đi
đánh lưới đêm, bước chân lên bờ, tôi mới biết huyện
có giấy triệu tập tôi lên tỉnh để nghe Bác Hồ nói
chuyện. Nghe tin là tôi vội chạy đến, chỉ mong được
nhìn thấy Bác. Tôi không còn sống bao lâu nữa cho
nên nếu được như ý muốn thì khi nhắm mắt tôi
cũng thỏa lòng.
Đồng chí bảo vệ nói:
- Bác đã nói chuyện sáng hôm nay rồi, cụ nên
tìm cán bộ để được truyền đạt lại...
31
Cụ già ngắt lời:
- Nếu chỉ cần có thế thì cứ ở nhà tôi cũng sẽ
được nghe truyền đạt. Nhưng tôi đã già rồi, muốn
được tận mắt trông thấy Bác một lần. Anh cứ cho
tôi đứng đây để chờ trông thấy Bác đi qua. Thế là
được. Bằng chưa ...
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
LÊ MẠNH HÙNG
Phó Chủ tịch Hội đồng
Q. Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
PHẠM THỊ THINH
NGUYỄN ĐỨC TÀI
TRẦN THANH LÂM
NGUYỄN HOÀI ANH
2
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
C
hủ tịch Hồ Chí Minh là người con ưu tú của dân
tộc Việt Nam, là một vĩ nhân của thời đại. Người
đã cống hiến trọn cuộc đời cho sự nghiệp chiến đấu
giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp
phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc trên
thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ
xã hội, trở thành biểu tượng cao đẹp của công lý và
tình yêu con người. Trong kho tàng di sản tư tưởng
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nổi bật lên là lòng yêu
thương con người của Bác: “Ôm cả non sông, mọi kiếp
người”1. Lòng yêu thương đồng bào của Người được thể
hiện sâu sắc qua mỗi lời nói, việc làm và cả trong
những lời căn dặn của Bác trong bản Di chúc thiêng
liêng. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng cũng như
trong đời sống hằng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đối xử
với con người, với công việc luôn có lý, có tình. Người
dành “muôn vàn tình thương yêu” cho đồng bào, đồng
chí mình. Người thương yêu, quan tâm mọi tầng lớp
đồng bào: trai gái, già trẻ, đồng bào các dân tộc, thuộc
_______________
1. Tố Hữu: “Bác ơi!” trong tập thơ Ra trận, Nxb. Văn
học, Hà Nội, 1972.
5
mọi tôn giáo, kiều bào ta ở nước ngoài... Với trái tim
bao la, rộng mở của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
dành trọn cuộc đời cho nhân dân Việt Nam, quyết tâm
giải phóng dân tộc, đưa con thuyền cách mạng Việt
Nam vượt qua mọi phong ba bão táp, đi từ thắng lợi
này đến thắng lợi khác, cập bến bờ vinh quang. Và
chính lòng yêu thương con người đã trở thành động
lực to lớn, thôi thúc Bác hoạt động không ngừng nghỉ,
không mệt mỏi vì nước, vì dân.
Nhằm giúp bạn đọc hiểu sâu sắc hơn tư tưởng cũng
như lòng thương yêu nhân dân vô hạn của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự
thật phối hợp cùng Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất
bản cuốn sách Tình Bác sáng đời ta (Kể chuyện
Bác Hồ). Cuốn sách tập hợp những mẩu chuyện về cuộc
sống thường ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những
mẩu chuyện nhỏ được diễn đạt giản dị và súc tích chứa
đựng tình cảm kính trọng, mến yêu và biết ơn sâu sắc
của đồng bào các dân tộc Việt Nam đối với Bác.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 9 năm 2020
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
LỜI NÓI ĐẦU
tịch Hồ Chí Minh được nhân dân Việt Nam
Chủ
kính trọng, yêu mến và gọi Người bằng nhiều cái
tên thân mật: Người Kinh gọi là Bác Hồ, người Nùng
gọi là Củng Hồ, người Tày gọi là Ông Ké, người Ba-na
gọi là Boh Hồ, người Pa-co gọi là Avoóc Hồ... Tất cả
những tên gọi ấy thể hiện sự giản dị, gần gũi và thân
thiết như Ông, như Bác, như người Cha trong gia đình.
Trong “Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền
Nam tại Plâycu” ngày 19/4/1946, Bác Hồ đã căn dặn:
“Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai
hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số
khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột
thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng
nhau, no đói giúp nhau...”1.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là
vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành công
của cách mạng. Cách mạng muốn thành công phải có
lực lượng đủ mạnh để chiến thắng kẻ thù và xây dựng
xã hội mới. Vì vậy, Người chủ trương đoàn kết rộng rãi,
chặt chẽ và lâu dài toàn dân tộc thành một khối.
_______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2011, t.4, tr.249.
7
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi “Nhân tài và
kiến quốc”, trong đó Người viết: “Nay muốn giữ vững
nền độc lập thì chúng ta phải đem hết lòng hăng hái
đó vào con đường kiến quốc. Kháng chiến phải đi đôi
với kiến quốc... Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài
nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta
khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân
tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”1.
Quan điểm, tư tưởng trọng dụng nhân tài của Chủ
tịch Hồ Chí Minh một lần nữa được nhấn mạnh trong
Chỉ thị “Tìm người tài đức”. Trong bài viết này, Người
khẳng định: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết
cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc
không thiếu người có tài có đức”2.
Với tư tưởng dùng người, cách sử dụng nhân tài,
xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đặt niềm tin vào
nhân dân, tin ở lòng yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã trọng dụng rất nhiều người tài năng, nhất
là các bậc nhân sĩ, trí thức vào công cuộc kiến thiết
và bảo vệ nền độc lập của dân tộc.
Cuốn sách Tình Bác sáng đời ta (Kể chuyện
Bác Hồ) góp phần khích lệ mạnh mẽ để cộng đồng
các dân tộc Việt Nam một lòng ghi tạc và thực hiện
tốt lời dạy của Bác Hồ kính yêu.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và mong nhận
được những ý kiến đóng góp!
NHÓM BIÊN SOẠN
_______________
1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.114, 504.
8
QUÊ HƯƠNG VÀ GIA ĐÌNH*
T
huở nhỏ, Chủ tịch Hồ Chí Minh có tên gọi
là Nguyễn Sinh Cung, sau đó mang tên là
Nguyễn Tất Thành.
Quê hương của Người là một vùng đất nghèo
thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Người dân
nơi đây luôn phải sống trong cảnh nghèo khổ,
thường xuyên phải chống chọi với thiên tai khắc
nghiệt, quanh năm ruộng đất khô cằn, mới nắng đã
hạn, mới mưa đã lũ, mất mùa thường xuyên, cuộc
sống vất vả, lam lũ đã in đậm trong tiềm thức của
người dân Nam Đàn nói riêng và quê hương xứ
Nghệ nói chung. Những khó khăn vất vả ấy được
đọng lại trong câu ca dao:
“Làng Sen đóng khố thay quần
Ít cơm, nhiều cháo, tảo tần quanh năm”.
Mặc dù điều kiện tự nhiên vô cùng khắc nghiệt
nhưng người dân xứ Nghệ rất giàu truyền thống
_______________
* Phần lớn tư liệu trong bài viết này chúng tôi trích từ
Trần Ngọc Linh, Lương Văn Phú tuyển chọn: Kể chuyện
Bác Hồ, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2016, tập 1;
Nguyễn Huy Hoan (Chủ biên): Bác Hồ - người Việt Nam
đẹp nhất, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1987.
9
văn hóa và đánh giặc, giữ nước. Nơi đây hội tụ
nhiều di tích lịch sử - văn hóa gắn liền với tên tuổi
và chiến công của các bậc anh hùng dân tộc, nêu
cao chí khí chống ngoại xâm từ bao đời nay.
Hai làng Kim Liên và Hoàng Trù1 (quê nội và
quê ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh) thuộc xã
Chung Cự, nay là xã Kim Liên, là một miền quê
giàu cảnh sắc, với một nền văn hóa dân gian đa
dạng và phong phú. Biết bao làn điệu dân ca nơi
đây đã đi vào lòng người, đậm đà bản sắc dân tộc
như: hát ví giặm, hát đò đưa, hát phường vải...
Trải qua biết bao biến động, thăng trầm của lịch
sử, truyền thống văn hóa đặc sắc của miền quê
Kim Liên vẫn không ngừng tỏa sáng, tự hào.
Thân phụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nguyễn
Sinh Sắc, còn gọi là Nguyễn Sinh Huy (1862 - 1929),
sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo,
chất phác. Cha mẹ mất sớm, tuổi thơ chịu cảnh
mồ côi, phải vất vả lao động kiếm sống và có ý chí
học hành. Thuở nhỏ, vốn hiền lành, thông minh,
ham học, Nguyễn Sinh Huy được nhà Nho Hoàng
Xuân Đường đưa về nuôi, cho học hành tử tế và gả
con gái đầu là Hoàng Thị Loan cho.
Chẳng bao lâu, chàng thanh niên Nguyễn Sinh
Sắc đã tham dự kỳ thi Hương, đỗ cử nhân tại
trường thi Nghệ An (1894). Được gia đình và
người vợ trẻ động viên, cùng ý chí kiên cường của
_______________
1. Làng Hoàng Trù còn có tên gọi khác là làng Trùa.
10
mình, cụ cử Sắc đã tiếp tục tham dự các kỳ thi Hội
của triều đình nhưng không đỗ, đến kỳ thi Hội
năm 1901 ông mới đỗ Phó bảng. Với phẩm chất
liêm khiết của một nhà nho, trong cuộc sống cụ
Sắc luôn dạy dỗ con cái có ý thức lao động, học tập
để hiểu “đạo lý làm người”. Sau khi đỗ Phó bảng,
bị triều đình phong kiến thúc ép nhiều lần, buộc
cụ phải ra làm quan, nhưng bất hợp tác với bọn đế
quốc, tay sai. Với quan điểm của mình, cụ Sắc
thường nói “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ,
hựu nô lệ” (nghĩa là: Quan trường là nô lệ trong
những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn).
Vốn có lòng yêu nước, khảng khái, cụ thường
chống đối bọn quan trường và thực dân Pháp xâm
lược. Vì vậy, sau một thời gian làm quan rất ngắn,
cụ bị bãi chức. Cụ vào Nam Bộ làm thầy thuốc
giúp dân nghèo, sống cuộc đời thanh bạch cho đến
lúc qua đời (1929), được nhân dân mến mộ và
thương tiếc. Thi hài và lăng mộ yên nghỉ của cụ
hiện nằm tại tỉnh Đồng Tháp.
Thân mẫu của Hồ Chí Minh là bà Hoàng Thị
Loan (1868 - 1901), một người phụ nữ hiền hậu,
đảm đang, yêu chồng, thương con hết mực, cần cù
lao động. Hằng ngày, cụ làm ruộng và dệt vải, lao
động vất vả để nuôi dạy con cái. Bằng cả tấm lòng
yêu thương, cụ Hoàng Thị Loan đã hy sinh tất cả
vì chồng con.
Nếu ảnh hưởng của người cha Nguyễn Sinh Sắc
đối với con cái là nền văn hóa bác học xuyên thấm
11
qua một nhân cách yêu nước thương nòi mang
màu sắc nhân đạo, thì ảnh hưởng từ người mẹ là
nền văn hóa dân gian mang đậm truyền thống
dân tộc và những phẩm chất của tầng lớp lao
động bình dân qua tình mẫu tử. Cụ đã nêu một
tấm gương sáng về nhân cách đạo đức cho con cái
học tập. Ở đâu cụ cũng thể hiện một lối sống
trong sáng, có nghĩa, có tình, được mọi người hết
sức yêu mến và kính trọng. Bằng tấm lòng trách
nhiệm và sự mẫn cảm của người mẹ, cụ đã vun
trồng, uốn nắn, dạy dỗ cho các con những bài học
đầu tiên về cách sống, về đạo lý làm người. Vì
vậy, ngay từ thuở ấu thơ, những đứa con ngoan
của bà đã biết kính trọng người trên, sống chan
hòa với bè bạn, giàu lòng vị tha, nhân ái, biết
nhường nhịn mọi người1...
Sinh sống và lớn lên ở vùng quê có những làn
điệu dân ca mượt mà và giàu truyền thống yêu
nước nên cụ Hoàng Thị Loan bằng những lời ru,
đã nhen nhóm vào tâm hồn con cái tình yêu quê
hương, đất nước mặn nồng:
Làm người đói sạch rách thơm,
Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền.
Tuy nhiên, vì cuộc sống cơ cực, lao động vất vả
quá sức, thiếu thốn..., cụ đã trút hơi thở cuối
cùng tại kinh thành Huế ở tuổi 33 (1901) để lại
_______________
1. Theo Trần Minh Siêu: Quê hương và gia thế Chủ tịch
Hồ Chí Minh, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2017.
12
niềm tiếc thương vô hạn cho gia đình, người thân
và bà con lối xóm. Cuộc đời người mẹ ấy quá đỗi
ngắn ngủi, vốn là con một thầy dạy chữ nho ở xứ
Nghệ, cụ đã vui lòng nhận lấy sự vất vả, tần tảo
về mình để cho chồng con được ăn học tử tế. Khi
bà qua đời, không có người thân bên cạnh, chỉ có
cậu bé Nguyễn Sinh Cung (Bác Hồ) tuổi mới lên
10 và em bé Xin đang khát sữa. Được bà con, bạn
bè đùm bọc, giúp đỡ, thi hài bà Loan được đưa
lên an táng tại núi Tam Tầng, Huế.
*
*
*
Một trong những đức tính cao quý nhất của
Bác Hồ của chúng ta là rất khiêm tốn. Người luôn
tránh nhắc đến bản thân và những người trong
gia đình mình, thế nhưng có một lần Người đã
nhắc đến mẹ.
Hôm ấy, chiếc ôtô chở Bác đang bon bon trên
đường. Khi đi ngang qua cổng một trường học thì
cũng là lúc tan buổi học, học sinh ríu rít đổ ra các
ngả đường trở về nhà. Nhìn đoàn học sinh, số
cháu gái rất đông, với những bộ quần áo đủ màu
sắc, nét mặt hân hoan hồn nhiên, Bác bỗng nói với
những người cùng đi, giọng trầm hẳn xuống: “Các
cháu gái ngày nay được học hành sung sướng thật.
Các chú biết không, mẹ của Bác là con một thầy
13
giáo ở nông thôn, thế mà không được đến trường
đi học đâu”. Nói xong Bác lặng đi suy nghĩ, Bác
đang nhớ tới người mẹ đã qua đời khi Bác còn nhỏ.
Chính vì thế mà Bác luôn canh cánh ước mong
đất nước được hoàn toàn độc lập, đồng bào được
hoàn toàn tự do, ai cũng được học hành.
Về sau, có lần Bác nói: “Nhân dân ta rất biết ơn
các bà mẹ cả hai miền Nam - Bắc đã sinh đẻ và
nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta”1.
Chúng ta càng biết ơn người mẹ của Bác Hồ, biết
ơn đức hy sinh cao cả của cụ, Người đã có công sinh
thành và giáo dục một người Việt Nam đẹp nhất2.
*
*
*
Đến năm 1922, hài cốt của cụ Hoàng Thị Loan
được con gái Nguyễn Thị Thanh đưa về an táng
tại quê nhà (xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh
Nghệ An) và năm 1942, hài cốt cụ được đưa lên
núi Đại Huệ. Năm 1984, lăng mộ cụ Hoàng Thị
Loan được xây dựng khang trang, đẹp đẽ để tỏ
lòng biết ơn của người dân đối với công lao to lớn
của người mẹ có công sinh thành, nuôi dưỡng
_______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, t.15, tr.172.
2. Trích Bác Hồ - người Việt Nam đẹp nhất, Nxb. Giáo
dục, Hà Nội, 1987.
14
Chủ tịch Hồ Chí Minh - bậc đại trí, đại nhân, đại
dũng, Nhà văn hóa kiệt xuất, Anh hùng giải phóng
dân tộc, vị lãnh tụ vĩ đại, đáng kính của cả dân tộc
Việt Nam.
*
*
*
Chủ tịch Hồ Chí Minh có chị gái là bà Nguyễn
Thị Thanh (1884 - 1954) còn gọi là Nguyễn Thị
Bạch Liên, anh trai là Nguyễn Sinh Khiêm, tức
Nguyễn Tất Đạt (1888 - 1950). Em trai của Chủ
tịch Hồ Chí Minh sinh năm 1900, thường gọi là bé
Xin, đã sớm qua đời do quá yếu. Cả chị gái và anh
trai của Người đều có chí hướng tiến bộ, yêu nước,
thương người và tích cực tham gia các phong trào
chống Pháp, đã nhiều lần bị thực dân Pháp kết án
tù đày.
Nhờ sự giáo dục về những bài học đạo đức,
nhân cách của gia đình, cả bà Thanh và ông
Khiêm đều không màng danh lợi, hy sinh cả tuổi
thanh xuân của mình cho sự nghiệp cứu dân, cứu
nước, trở thành tấm gương đáng kính cho nhân
dân về sự cao cả, nghĩa khí và lòng vị tha.
15
BÁC HỒ VỚI VIỆC
SỬ DỤNG NHÂN TÀI
L
ần đầu tiên Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa
được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh là năm 1946,
lúc ông cùng kiều bào ta ở Pháp ra sân bay đón
Bác. Khi ấy Người sang thăm nước Cộng hòa Pháp
với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp.
Ông có vinh dự được tham gia đoàn đại biểu
thay mặt Hội Việt kiều tại Pháp đến thăm Bác,
nghe Bác kể về tình hình trong nước và đề nghị
kiều bào ta báo cáo tình hình hoạt động. Ông đã
cùng với Bác đi thăm bà con Việt kiều, thăm Đảng
Cộng sản Pháp và các danh lam, thắng cảnh.
Trong các cuộc đi thăm đó, Bác ăn mặc rất giản dị.
Bác đi dép cao su, nơi nào có sân sạch là Bác ngồi
xuống, nhân dân lao động và trẻ em quây quần
xung quanh Bác. Bà con Việt kiều ở Pháp lúc đó
rất tin tưởng ở Người.
Sau một thời gian cùng Bác đi thăm các nơi,
một hôm Bác nói với ông:
- Ngày kia Bác về nước, chú có về cùng Bác không?
Bác không hỏi là ông có muốn về hay không.
Tuy vậy, đối với ông, việc về nước đã được chuẩn
16
bị từ lâu, nên không có gì cập rập. Ngoài ông ra,
còn có ba kỹ sư là: Võ Quý Huân, Phạm Quang Lễ,
Võ Đình Quỳnh và bác sĩ Trần Hữu Tước cùng về
với Bác.
Bác cháu cùng nhau về nước trên một chiếc
tàu chiến của Pháp. Sau khi về nước một thời
gian ngắn, Bác giao cho ông chức Cục trưởng
Cục Quân giới.
Trong kháng chiến chống Pháp, những năm
đầu Bác gửi thư cho ông, động viên và nhắc nhở là
trong chiến tranh nhân dân phải làm sao để các
địa phương có thể tự túc lương thực và huy động
được lực lượng tại chỗ, có vũ khí tiêu diệt Pháp.
Chúng ta phải tự sản xuất lấy vũ khí. Đó là quan
điểm chiến tranh nhân dân.
Năm 1950, Bác chỉ định ông kiêm chức Thứ
trưởng Bộ Công Thương, ông có dịp gặp Bác
thường xuyên ở các phiên họp của Hội đồng Chính
phủ. Có lần, Bác nói với ông, đại ý:
- Nếu vì những lý do nào đó mà cản trở công
việc của chú, thì chú hãy báo cáo cho Bác biết.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp và đế quốc Mỹ, những ý kiến do ông đề xuất
đều được Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng
Văn Tiến Dũng chấp nhận, tạo điều kiện thuận lợi
để làm việc.
Khi chúng ta đang tiến hành cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước, Bác nói:
17
- Tôi đem chú Nghĩa về để kháng chiến. Bây
giờ cuộc kháng chiến vô cùng ác liệt, chưa biết
diễn biến sẽ ra sao, chú Nghĩa đang ở Hà Nội, tại
sao không mời chú ấy tham gia quốc phòng.
Sau đó, Bác chỉ định ông làm Phó Chủ
nhiệm Tổng cục Hậu cần, với tư cách là Thư ký
quốc phòng.
Ba tháng sau, đồng chí Lê Đức Thọ mời ông tới
nhà riêng và nói:
- Anh làm ba nhiệm vụ một lúc thì nặng quá,
cho nên chức vụ “Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học kỹ
thuật nhà nước” để trên cử người khác thay.
Sau này, ông mới biết là Bác không đồng ý. Bác
nói với các đồng chí trong Bộ Chính trị:
- Chú Nghĩa hồi kháng chiến chống Pháp làm
bao nhiêu nhiệm vụ mà cũng làm được (Cục
trưởng Cục Quân giới, Cục trưởng Cục Pháo binh,
Thứ trưởng Bộ Công Thương). Tại sao sau mấy
chục năm chú ấy lại không làm được ba việc?
Cách đối xử của Bác với đồng chí Trần Đại
Nghĩa đã thể hiện sự chung thủy, có trước có
sau - một trong những đức tính quý báu của
Người. Đức tính quý báu ấy là tấm gương để
chúng ta học tập...
Lược dẫn theo Kỷ niệm về Bác,
Nxb. Thông tấn, Hà Nội, 2005, tr.71.
18
BÁC ĐẾN BẢN TÔI
N
gày 28/01/1941, Bác Hồ về nước lãnh đạo
phong trào cách mạng. Bác chỉ đạo tổ chức
ra các đoàn thể: Nông dân, Thanh niên, Phụ nữ,...
và là người sáng lập ra Mặt trận Việt Minh.
Mỗi lời nói, mỗi hành động của Bác có sức mạnh
đẩy lùi mọi lực lượng, mọi mưu mô của quân cướp
nước và bán nước. Hình ảnh của Bác có sức cảm
hóa và thúc đẩy mọi người từ cán bộ đến nhân dân
“ngăn sông lấp biển”. Bác về chưa đầy hai tháng,
nhân dân các dân tộc vùng dậy theo cách mạng; cả
một số cường hào, tổng lý cũng quy thuận và tình
nguyện tham gia phong trào cứu nước.
Trước tình hình phong trào cách mạng lên cao,
các cán bộ, chiến sĩ phấn khởi hoạt động, Bác chỉ
thị cho mọi người phải chuẩn bị chống địch
khủng bố. Khi nhận được chỉ thị, bản thân anh
em chúng tôi vẫn chủ quan và nói với nhau:
“Phong trào lên phơi phới thế này làm gì phải
chống khủng bố nữa, tổng lý, kỳ hào đều theo ta
cả, chính quyền địa phương từ thôn tới xã đều
trong tay cách mạng chỉ huy...”. Ý nghĩ ấy đến tai
Bác, Bác gọi ngay chúng tôi lại và bảo: “Nước với
19
lửa bao giờ cũng mâu thuẫn với nhau, các đồng
chí phải thận trọng: Thắng không được kiêu, bại
không được nản; giặc sắp mở một cuộc khủng bố
lớn, cơ sở có thể bị tan vỡ, các đồng chí không
được bi quan, phải luôn luôn tin tưởng vào nhân
dân, vào cách mạng,...”.
Đúng như dự đoán của Bác, hai tháng sau
giặc lùng ráp và khủng bố gắt gao. Nhân dân
địa phương và gia đình thân thuộc của chúng tôi
đều phải chuyển đến sống tạm ở Khum Đắc,
Khum Lự (một thung lũng thuộc tỉnh Quảng
Tây, Trung Quốc) và tiếp tục hoạt động trong
khi Bác sang Trung Quốc tìm cách liên lạc với
quân Đồng minh.
Vào khoảng tháng 8, 9/1942, tin Bác bị quân
Tưởng Giới Thạch bắt giữ ở phố Túc Vinh, huyện
Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây đưa về, tất cả nhân dân
và chúng tôi đều vô cùng lo lắng.
Trong suốt hơn một năm trời, ai nấy đều mong
ngóng, chúng tôi cố gắng tìm mọi cách nắm bắt
thông tin về Bác. Hôm ấy tôi đang chữa lại cái cọn
nước thì đằng xa một đồng chí cùng hoạt động gọi
và bảo tôi chuẩn bị mang quần áo đi đón Bác.
Được tin, tôi mừng quá, không kịp thay quần áo
mà chỉ vơ vội mấy bộ quần áo, theo lệnh của chi bộ
đi đón Bác. Tôi vừa đi vừa chạy, được chừng hai
cây số thì tôi gặp Bác trong bộ quân phục đã cũ và
đội chiếc nón Nùng. Cùng về với Bác có vài đồng
chí nữa. Gặp Bác, tôi mừng mừng tủi tủi, vai đeo
20
gói quần áo để Bác thay mà tôi cũng quên mất,
mãi tới khi về đến Cột Mà, Bác mới thay quần áo.
Tôi nhìn Bác không chớp mắt. Bác gầy và xanh
quá, đôi mắt trũng sâu, đôi gò má nhô lên, chân
Bác thấm đầy máu vì dây rơm của đôi giày “hải
sảo” cứa vào mu bàn chân và gót chân.
Trên đường về tôi đi sau Bác, nghe Bác thở rất
mạnh. Biết Bác mệt nên tôi vội đi lên trước với ý
định đi chậm lại để giữ sức cho Bác, nhưng không
đầy mười thước Bác lại vượt lên trước. Về đến nhà,
tuy rất mệt nhưng Bác vẫn bảo chúng tôi đi triệu
tập tất cả đồng bào lại để Bác nói chuyện.
Khi nói chuyện, Bác lấy mẹt và than vẽ bản đồ
thế giới để giải thích những thắng lợi của phe
Đồng minh, giải thích Chiến tranh thế giới thứ
hai sắp đến ngày kết thúc. Bác lấy thúng cái và
đèn dầu giải thích hiện tượng tối tăm của Tổ quốc
Việt Nam. Nghe Bác nói chuyện, ai nấy đều hiểu
và thấy căm thù giặc Pháp, vì giặc Pháp nên nhân
dân phải điêu đứng khổ cực, con mất cha, vợ mất
chồng, ai nấy đều thấy sôi sục lòng căm thù quân
giặc, muốn vùng lên xông thẳng vào đồn giặc để
quét sạch quân cướp nước và bán nước.
Bác lại lấy cây đèn để vào trong cái thúng và
nói: Mặt trời hiện nay đang nằm bên kia trái đất,
nên bên này trái đất của chúng ta đang bị tối tăm.
Ngày mai mặt trời sẽ về với Việt Nam, các cụ cùng
đồng bào đã khổ cực nhưng hãy cố gắng, nay mai
Việt Nam sẽ sáng sủa.
21
Sáng sớm ngày hôm sau, vừa ngủ dậy Bác đã
ra ngoài bờ suối xem xét rồi quay vào gọi chúng
tôi ra sửa sang lại chỗ lấy nước ăn. Hoàn thành
công việc, Bác nhờ mấy người khiêng cái loỏng ra
suối. Bác cọ sạch, múc nước đổ đầy vào rồi gọi một
đàn cháu nhỏ ra xếp hàng để Bác tắm cho từng
cháu một.
Bà tôi ở trong nhà thấy Bác hết tắm cho cháu
này xong lại tắm cho cháu khác từ sáng đến gần
trưa, bà thương Bác lắm, nên bảo với bố tôi:
- Ông cụ già này thương người lắm! Hôm qua
đi đường sá mệt thế mà hôm nay đã dậy sớm để
tắm cho trẻ nhỏ, sửa sang cho làng. Trong nhà
mà có một ông cụ như thế thì chẳng lo gì đói
khát...! Chả biết vợ con ông cụ ở đâu, ông cụ
thương người quá thôi!
Bố tôi đun lại nồi cháo. Bác về, bố tôi đánh
trứng vào cháo và bưng lại mời Bác ăn. Tay bưng
bát cháo, Bác run run hỏi lại bố tôi:
- Ở đây đều ăn thế này hay là chỉ có mình tôi?
Bố tôi thật thà đáp:
- Thưa cụ, bà mẹ tôi bảo cụ mệt, chân lại đau,
cụ làm việc suốt từ sáng đến giờ, nên chúng tôi lấy
trứng làm cháo để cụ ăn cho đỡ mệt.
- Tôi không mệt. - Bác trả lời.
Bà tôi từ trong nhà, nói với ra:
- Mời cụ xơi rồi nằm nghỉ cho khỏi mệt, chúng
tôi chẳng có gì. Cụ thương người lắm!
22
Bác bưng cháo vào trong nhà mời bà tôi. Khi
quay ra, Bác bảo chúng tôi:
- Từ nay không được làm như thế. Bây giờ
không còn ai có sự đặc biệt như thế.
Nói xong, Bác ra ngoài ăn cơm trưa với chúng
tôi. Bác dặn đi dặn lại chúng tôi: Phải ở lại chăm
lo và tổ chức cái tết này cho bà con ăn tết thật
vui vẻ.
Dặn xong mọi việc, chiều hôm ấy đồng chí
Quảng Ba và Bác rời đi. Chân Bác hãy còn sưng.
Tôi nhắc đồng chí Quảng Ba thuê ngựa cho Bác
cưỡi. Bác nhất định không cưỡi và nói:
- Tiền quỹ của chúng ta hiện nay còn hiếm.
Nếu Bác đi ngựa thì chú Ba cũng phải đi ngựa,
chú Ba đi ngựa thì không lẽ để những tay chân
của Nguyễn Hải Thần và Trương Bội Công phải đi
bộ ư? (đây là những kẻ đứng đầu những tổ chức
phản cách mạng lưu vong ở Trung Quốc lúc bấy
giờ). Thôi, ta cùng đi bộ cả...
Hồi ức của đồng chí Dương Đại Lâm,
nguyên Phó Chính ủy Quân khu Việt Bắc,
in trong Những câu chuyện kể về Bác Hồ,
Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2016, t.2.
23
KHỔ TẬN CAM LAI
Nnhiều khó khăn, Bác phải lo trăm công nghìn
hững năm đầu cách mạng, đất nước còn
việc. Nhân dân ta ai cũng lo cho sức khỏe của Bác.
Nhiều người với tư cách cá nhân, tập thể đã dành
thời giờ đến Bắc Bộ phủ - nơi ở và làm việc của
Chính phủ ta thời kỳ đó - thăm sức khỏe của Bác.
Chuyện kể rằng, nhân một chuyến công tác
Thanh Hóa, nữ thi sĩ Hằng Phương nảy ra ý định
mua quà để biếu Bác.
Tại Thanh Hóa có loại cam làng Giàng ngon nổi
tiếng, Hằng Phương liền chọn mua chục quả về
biếu Bác.
Ngồi trên xe trở về Hà Nội, vừa khư khư ôm túi
cam quý, vừa nghĩ đến ngày mai vào Bắc Bộ phủ
gặp Bác thì sẽ nên nói câu gì và nói thế nào cho phải
phép với Bác, Hằng Phương nhẩm ngay một bài thơ:
Cam ngon Thanh Hóa vốn dòng,
Kính dâng Chủ tịch tỏ lòng mến yêu.
Đắng cay cụ nếm đã nhiều
Ngọt bùi trời trả đủ điều từ đây.
Cùng quốc dân hưởng những ngày,
Tự do, Hạnh phúc tràn đầy trời Nam.
Anh hùng mở mặt giang sơn,
Lưu danh thiên cổ vẻ vang giống nòi.
24
Sáng hôm sau, nhà thơ Hằng Phương cẩn thận
gói cam vào giấy đẹp, trân trọng chép lại bài thơ
và đến Bắc Bộ phủ thăm Bác.
Đến cổng, bà được đồng chí bảo vệ chỉ đường
vào phòng làm việc của Bác. Nhưng lúc đó, Bác
còn bận tiếp một vị khách nước ngoài ở phòng tiếp
khách. Đồng chí văn phòng bảo nhà thơ ngồi chờ
một lát. Thấy Bác bận quá, không muốn làm
phiền Bác, Hằng Phương bèn gửi cam và bài thơ
lại, rồi xin phép ra về.
Sau khi tiễn chân vị khách nước ngoài, Bác trở
lại văn phòng và được biết là bà khách đã về rồi.
Nhìn gói cam và đọc bài thơ, Bác rất cảm động,
nhưng lại không biết tên và địa chỉ của khách, Bác
liền làm bài thơ gửi đăng báo Tiếng gọi phụ nữ để
trả lời.
Bài thơ đề là “Cảm ơn người tặng cam”:
Cảm ơn bà biếu gói cam,
Nhận thì không đúng, từ làm sao đây!
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai?
Bài thơ bày tỏ lời cảm ơn, đồng thời nhân đó
nêu lên bài học đạo đức từ một câu tục ngữ rất
quen thuộc và khẳng định một niềm tin vững chắc
vào thắng lợi sắp đến.
Mấy chục năm qua, bài thơ đi vào lòng người,
đặc biệt gây ấn tượng là chi tiết “bà biếu gói cam”,
một chi tiết gợi cảm hứng cho sự ra đời một bài
thơ có giá trị vừa bình dị vừa chứa đựng những
hàm ý sâu sắc của Bác.
Theo “Hồi ký của Vũ Ngọc Phan”,
báo Văn nghệ, số tháng 5/1985.
25
“ĐỒNG BÀO MÁN, THỔ LÀ ANH CHỊ EM
TRONG MỘT NHÀ”
(Trích)
T
heo giấy mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày
23/11/1945, 18 đại biểu của các đồng bào dân
tộc Việt Bắc đã về thăm Thủ đô Hà Nội và được
Bác Hồ đón tiếp1.
Trong buổi gặp mặt thân mật như anh chị em
trong gia đình, Bác nói: “Trước khi nước ta được
độc lập, các đồng bào trên đó ai nấy đã nhiệt
tâm yêu nước, yêu nòi, đã gắng sức giúp anh em
Việt Minh trong cuộc vận động giải phóng dân
tộc rất nhiều. Chính tôi có đi qua các miền anh
em ở, tới đâu tôi cũng nhận thấy anh em Thổ,
Mán ai nấy đều một lòng mong Tổ quốc độc lập,
ghét oán bọn xâm lăng... Bây giờ nước ta được
độc lập, tôi thay mặt đồng bào Kinh cảm ơn anh
chị em”.
_______________
1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hồ
Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng: Hồ Chí Minh - Biên
niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, t.3,
tr.71-72.
26
Tiếp đó, Bác trò chuyện với các đại biểu rằng
tuy nước nhà đã được độc lập nhưng dân ta còn
gặp rất nhiều khó khăn, còn phải hy sinh, phấn
đấu nhiều hơn nữa. Bác mong rằng từ người giàu
cho chí người nghèo cần phải một lòng giữ vững
nền độc lập chống lại bọn thực dân Pháp đang
muốn trở lại xâm lược nước ta một lần nữa.
Bác nói: “Bao giờ bọn Pháp không trở lại được
nữa, đồng bào Kinh sẽ rảnh rang giúp đồng bào
Thổ, Mán nhiều hơn, Chính phủ sẽ giúp cho đồng
bào Thổ, Mán cũng như sẽ giúp cho các dân tộc
khác được có đủ ruộng làm, đủ trâu bò cày”.
Cuối buổi gặp gỡ, Bác ân cần nói: “Tôi nhờ anh
chị em về nói lại với đồng bào trên ấy biết rằng
đồng bào Kinh và Chính phủ rất thương mến đồng
bào Mán, Thổ, coi như anh chị em trong một nhà,
và khuyên anh chị em gắng sức để đi tới thái bình,
để cùng hưởng chung”.
Trước khi chia tay với các đại biểu, Bác đã
mời anh chị em ra chụp ảnh lưu niệm với Bác
tại Bắc Bộ phủ.
Theo N.V.K: Những chuyện kể về Bác Hồ
với đồng bào dân tộc, Nxb. Lao động,
Hà Nội, 2009.
27
MỘT GIỜ VỚI ĐỒNG CHÍ HỒ CHÍ MINH
(Trích)
N
gày 15/7 năm nay (1969), hồi 7 giờ sáng, tại
một trong những ngôi nhà nhỏ, xinh xắn
xây dựng chung quanh Phủ Chủ tịch, tôi ngồi đợi
Chủ tịch Hồ Chí Minh tới. Người đã nhận lời cho
tôi phỏng vấn. Người đến, mặc một bộ quần áo
nâu - bao giờ người ta cũng thấy Người mặc thứ
quần áo này, như tất cả mọi nông dân Việt Nam và đầu đội mũ vải, tay chống gậy nhỏ. Giọng nói
của Người yếu hơn so với những lần trước, tôi được
gặp hồi năm 1964 - 1965, nhưng con mắt vẫn tinh
nhanh như xưa, vừa hóm hỉnh, sâu sắc, vừa hiền
từ. Thấy tôi, Người nói đùa một câu về mái tóc
ngày càng bạc trắng của tôi.
Giọng nói của Người rất tự chủ, lúc nào cũng đi
thẳng vào vấn đề, không một chút nghi thức.
Chúng tôi cùng ngồi xuống bên cạnh nhau trước
một cái bàn bày bánh ngọt và cà phê mà tôi không
lúc nào thấy Người đụng tới. Chúng tôi bắt đầu
vào công việc.
Cũng vẫn là con người tôi đã được biết cách
đây mấy năm, mà sự hiện diện và khí chất phi
28
thường của Người choán hết cả gian phòng, có
thể nói làm xóa nhòa sự có mặt của những người
khác; nhưng thái độ săn sóc ân cần hết sức lịch
thiệp và hòa nhã của Người đối với khách làm
cho người ta trong những phút đầu thấy đôi chút
lúng túng nhưng sau đó lại tạo ra một bầu không
khí thân mật, thoải mái ngay.
Nếu không có đôi mắt sáng ngời và chòm râu
dài, nét mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh trông có vẻ rất
trai trẻ. Có lẽ ở Người, hình hài hình như thu lại
đến mức nhỏ nhất chỉ còn toát ra ý chí và trí tuệ
là những cái tuy đã thoát ra ngoài thể xác nhưng
vẫn hoàn toàn hiện thực.
... Giờ phút tôi được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh
hôm ấy là một trong những giờ phút đáng trân
trọng và ghi nhớ nhất trong cuộc đời. Người
không để lộ với tôi những bí mật nhà nước trong
khi chúng tôi nói chuyện về Lênin; Người không
tìm cách dạy tôi một bài học nào về đạo đức hay
chính trị. Người chỉ kể lại những chuyện cũ năm
xưa - thế nhưng càng nghe tôi càng thấy Người
nói về một vấn đề lớn của nhà nước, vừa dạy cho
tôi một bài học luân lý và chính trị cao siêu nhất.
... Trong đề cương mà tôi gửi tới Người, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã gạch tất cả những công thức
tiêu cực để thay bằng những công thức tích cực
cùng nghĩa, Người không viết: “Không có chủ
nghĩa xã hội thì các dân tộc không thể đi đến giải
phóng hoàn toàn” mà viết: “Chỉ có chủ nghĩa xã
29
hội mới có thể bảo đảm cho các dân tộc được giải
phóng hoàn toàn”... Đây không phải là một thói
quen trong cách sử dụng ngôn ngữ, mà đây chính
là một nếp suy nghĩ của Người, nếp suy nghĩ ấy
thể hiện làm cho người ta thấy rằng tất cả mọi
tình huống dù là đen tối nhất, Người đã phân biệt
rõ cái gì là tích cực, cái gì hướng về cuộc sống và
tương lai.
Sáclơ Phuốcniô, bài đăng trên Báo Nhân đạo,
cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp,
số ra ngày 04/9/1969, in trong Thế giới ca ngợi
và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật,
Hà Nội, 1971.
30
THẤU HIỂU LÒNG DÂN
N
ăm 1957, Bác Hồ về thăm tỉnh Hà Tĩnh.
Sáng hôm ấy Bác nói chuyện tại hội trường
lớn với đại biểu đồng bào và cán bộ của tỉnh, của
huyện và các cụ già tiêu biểu của nhiều địa phương
trong tỉnh.
Nói chuyện xong, Bác dùng cơm trưa rồi về nghỉ
trong phòng riêng. Bỗng nhiên ở ngoài trạm gác có
một cụ già đòi xin được gặp Bác cho kỳ được. Tiếng
đối đáp tuy nhỏ nhẹ nhưng khá quyết liệt. Cụ già
trình bày với đồng chí bảo vệ:
- Chú thông cảm cho, tôi từ một xã ở sát biển
phải đi ngót ba chục cây số mới tới được đây. Đi
đánh lưới đêm, bước chân lên bờ, tôi mới biết huyện
có giấy triệu tập tôi lên tỉnh để nghe Bác Hồ nói
chuyện. Nghe tin là tôi vội chạy đến, chỉ mong được
nhìn thấy Bác. Tôi không còn sống bao lâu nữa cho
nên nếu được như ý muốn thì khi nhắm mắt tôi
cũng thỏa lòng.
Đồng chí bảo vệ nói:
- Bác đã nói chuyện sáng hôm nay rồi, cụ nên
tìm cán bộ để được truyền đạt lại...
31
Cụ già ngắt lời:
- Nếu chỉ cần có thế thì cứ ở nhà tôi cũng sẽ
được nghe truyền đạt. Nhưng tôi đã già rồi, muốn
được tận mắt trông thấy Bác một lần. Anh cứ cho
tôi đứng đây để chờ trông thấy Bác đi qua. Thế là
được. Bằng chưa ...
 








Các ý kiến mới nhất