Tìm kiếm Giáo án
Bài 9. Chương trình địa phương (phần Văn)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Ngọc Nhất
Ngày gửi: 16h:58' 14-11-2022
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 12
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Ngọc Nhất
Ngày gửi: 16h:58' 14-11-2022
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 12
Số lượt thích:
0 người
Trang: 1
MỤC LỤC
NỘI DUNG
1. Đặt vấn đề
1. 1. Lý do chọn đề tài
1.2. Xác định mục đích nghiên cứu.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
1.4. Đối tượng khảo sát, thực nghiệm.
1.5. Phương pháp nghiên cứu.
1.6. Phạm vi và thời gian nghiên cứu (bắt đầu, kết thúc).
2. Nội dung
2.1. Những nội dung lý luận có liên quan trực tiếp đến vấn
đề nghiên cứu.
2.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu.
2.3. Mô tả, phân tích các giải pháp
2.4. Kết quả thực hiện
3. Kết luận và khuyến nghị
3.1. Những kết luận đánh giá cơ bản nhất về sáng kiến
3.2. Các đề xuất khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
TRANG
3
3
6
6
7
7
8
9
9
9
10
47
51
51
51
53
Trang: 2
1. Đặt vấn đề
1.1 Lý do chọn đề tài
a) Cơ sở lí luận
Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong bối cảnh toàn cầu
hóa hiện nay đã đặt ra những yêu cầu đổi mới đối với người lao động, do đó
cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo
nguồn nhân lực. Giáo dục cần đào tạo đội ngũ nhân lực có khả năng đáp ứng
được đòi hỏi mới của xã hội và thị trường lao động, đặc biệt là năng lực hành
động, tính năng động, sáng tạo, tính tự lực và trách nhiệm cũng như năng lực
công tác làm việc, năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp. Vì thế mà trong
những năm gần đây Bộ Giáo dục đã tiến hành đổi mới phương pháp dạy học,
hướng tới phát huy tính chủ động tích cực, sáng tạo của học sinh.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học ấy đã được xác định trong
Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VII
(12/1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12/1998), được cụ thể hóa
trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4/1999)
Về phương pháp dạy học Luật giáo dục quy định “phương pháp giáo dục
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học;
bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học
tập và ý chí vươn lên”. (Luật Giáo dục 2005, trích điều 5).
Luật Giáo dục cũng đưa ra những quy định về mục tiêu, nội dung và
phương pháp giáo dục phổ thông cho từng cấp học. Về nội dung dạy học, Điều
28 Luật Giáo dục quy định "Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính
phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn
cuộc sống, phù hợp với tâm lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục
ở mỗi cấp học" (Luật Giáo dục 2005). Về phương pháp giáo dục phổ thông,
Điều 28 Luật giáo dục có quy định: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm
việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động
đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh" (Luật Giáo dục
2005).
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII
và lần thứ 7 khóa IX đã xác định mục tiêu cơ bản của giáo dục: "Nhằm xây dựng
những con người và thế hệ tha thiết gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị
văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy
tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy
tích cực cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghiệp hiện đại, có tư duy
sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức
kỷ luật; có sức khỏe, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa
"hồng" vừa "chuyên" như lời căn dặn của Bác Hồ".
b) Cơ sở thực tiễn
Trang: 3
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 khoá 8
(tháng 2 năm 1997) đã khẳng định vai trò của môn Ngữ văn cùng các môn khoa
học khác trong công tác giáo dục. Cũng như các môn học khác, với đặc điểm và
chức năng của mình, việc học tập Ngữ văn cần phát huy năng lực tích cực, chủ
động của học sinh. Tuy nhiên trong thực tế, khi đi vào thực hiện chương trình
giáo dục vẫn còn những hạn chế nhất định. Trong "Đề án Đổi mới chương trình,
sách giáo khoa giáo dục phổ thông" của chính phủ (tháng 10/2014) đã chỉ ra
những bài học kinh nghiệm, những hạn chế của chương trình giáo dục hiện hành
là: “Một trong những hạn chế cơ bản của chương trình hiện hành là chưa giải
quyết hài hòa giữa yêu cầu và điều kiện chung của toàn quốc với yêu cầu và
điều kiện riêng của mỗi địa phương, nhà trường” (tr.11)…. Điều này dẫn đến
“chưa khuyến khích được sự tự chủ, tính năng động, sáng tạo của các địa
phương, cơ sở giáo dục; chưa phát huy được sở trường của mỗi học sinh”
(tr.12). Ý thức được điều đó, trong định hướng đổi mới giáo dục hiện nay,
chương trình giáo dục đã có tính mở và chú trọng đến tính vùng, miền và đặc
thù của địa phương. Cụ thể, đề án cũng chỉ rõ: một trong những vấn đề cơ bản
trong nội dung đổi mới chương trình sách giáo khoa của chính phủ là: “Quản lý
quá trình xây dựng và thực hiện chương trình đảm bảo tính khả thi, linh hoạt,
phù hợp địa phương và đối tượng học sinh”.
Từ những vấn đề đã rút ra kết luận trên chúng ta có thể nhận thấy hiện
nay chương trình địa phương đã không được nhìn nhận thấu đáo. Việc xây dựng
một chương trình địa phương chuẩn dựa trên chương trình sách giáo khoa thống
nhất trên toàn quốc cho bộ môn Ngữ văn cũng như một số bộ môn khác (Lịch
sử, Địa lí, Âm nhạc, ...) là vô cùng cần thiết. Điều này sẽ góp phần thể hiện rõ
tính linh hoạt của các địa phương và nhà trường. Nhà trường, giáo viên từ thực
hiện theo chuẩn phân phối chương trình và sách giáo khoa sang trao quyền cho
các địa phương tự chủ trong việc xây dựng kế hoạch, định hướng nội dung, cách
thức tổ chức giáo dục chương trình địa phương trong nhà trường.
Phân phối chương trình THCS hiện hành những tiết có bài học địa
phương còn chiếm số lượng ít. Những bài học về chương trình địa phương
thường đặt ở cuối mỗi học kì, cuối năm học đã gây cho một số bộ phận giáo
viên, học sinh có cái nhìn không đúng về vị trí, chức năng, nhiệm vụ mà chương
trình này mang lại. Việc hướng dẫn giảng dạy cũng còn chung chung chưa thống
nhất. Kế hoạch, nội dung giảng dạy các tiết còn phụ thuộc khá nhiều vào việc
xây dựng, lựa chọn của giáo viên. Từ việc chưa có chuẩn kiến thức giảng dạy
chương trình địa phương cho từng tiết học, đến hạn chế về tài liệu giảng dạy, nội
dung giảng dạy, cách thức tổ chức chính khóa hay ngoại khóa,... đã góp phần
gây khó khăn cho người giáo viên khi lên lớp. Từ việc chưa có mục đích học tập
đúng, tài liệu tham khảo khan hiếm, ít ỏi, không được cập nhật thường xuyên
đến khả năng tiếp nhận tri thức, trình bày kết quả của học sinh vừa thiếu vừa yếu
đã dẫn đến việc học sinh cảm thấy "ngại" khi thực hiện các tiết học này. Trên
thực tế, hầu hết giáo viên thực hiện độc lập, còn mang tính tự phát, chưa bài bản,
sự phối hợp của các em là rất thiếu tích cực. Các em chưa mấy hứng thú với
mảng đề tài này. Việc hiểu biết những vấn đề của địa phương cũng trở nên hạn
chế, không đáp ứng với mục tiêu chương trình đã đề ra. Cho nên không tránh
Trang: 4
khỏi những khó khăn cho giáo viên trong việc sưu tầm và lựa chọn nội dung
dạy- học mang tính địa phương, tổ chức cho học sinh học tập những nội dung
mang tính địa phương, khả năng tích hợp giữa các môn học với nhau. Vấn đề đặt
ra là mỗi giáo viên phải lựa chọn, xác định cho mình những nội dung và cách
thức dạy - học phù hợp. Vậy làm thế nào để giáo viên, học sinh có những nhận
thức tích cực hơn, đúng đắn hơn, toàn diện hơn để đáp ứng yêu cầu đổi mới
chương trình giáo dục địa phương hiện nay? Trong sáng kiến này, tôi xin mạnh
dạn nêu ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy các tiết Chương
trình địa phương môn Ngữ văn cấp THCS.
Như đã thể hiện ở phần trên một trong những mục tiêu của phương pháp
dạy học tích cực là nhằm tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học
tập cho học sinh. Đổi mới phương pháp dạy học bao gồm đổi mới cả nội dung
và hình thức hoạt động của giáo viên và học sinh, đổi mới hình thức tổ chức dạy
học, đổi mới kỉ thuật dạy học,... theo định hướng chung.
Trong quá trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy,
lại vừa là chủ thể của hoạt động. Thông qua hoạt động dưới sự chỉ đạo của
người thầy, người học phải tích cực chủ động cải biến chính mình về kiến thức,
kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách.
D
H
D
H
Dạy cũ
Dạy mới
Khâu "kích thích" của người thầy giúp trò tự tìm đến chân lí là điều khác
cơ bản so với trước. Muốn cho trò phát huy chủ thể, thầy phải cho xuất hiện tình
huống và nhu cầu. Vấn đề đầu tiên với ngành nghệ thuật là phải có cảm xúc
"không có cảm xúc thì không và không bao giờ con người có khát vọng đi tìm
chân lí" (Lênin). Cảm xúc sẽ khêu gợi các em một trạng thái tâm lí mới, gây
kích thích đến việc tìm hiểu hay đòi thỏa mãn những cái đẹp trong nghệ thuật.
Do vậy, muốn các em có sự hứng thú với các bài Chương trình Ngữ văn địa
phương, việc kích thích tạo cảm xúc là vô cùng cần thiết.
Việc chủ đạo của người dạy là hết sức phức tạp và càng phức tạp hơn đối
với việc giảng dạy Chương trình địa phương. Trong khi hầu hết bài khác đều có
hướng dẫn cụ thể thì các bài Chương trình địa phương đều không hoặc ít làm
được việc này. Việc định hướng hội dung giảng dạy cũng phụ thuộc khá nhiều
vào sự lựa chọn của giáo viên và học sinh. Tâm lí của học sinh luôn biến động
và phát triển theo các lứa tuổi khác nhau. Vì vậy, nó cũng đòi hỏi sự biến đổi
linh hoạt của các biện pháp tác động kích thích khác nhau của mỗi giai đoạn.
Ngay trong văn học địa phương cũng có nhiều thể loại khác nhau nên mỗi biện
pháp khi vận dụng vào từng tác phẩm cụ thể lại có màu sắc riêng.
Năm 2009 - 2010, Bộ Giáo dục và đào tạo phát động chủ đề: "Đổi mới
công tác quản lí, nâng cao chất lượng giáo dục" với mục tiêu "nâng cao dân trí,
đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài". Với vị trí của một người giáo
viên, bản thân chúng tôi cũng nhiều trăn trở suy ngẫm làm thế nào để giúp nâng
cao chất lượng các giờ dạy Ngữ văn nói chung và Chương trình Ngữ văn phần
địa phương nói riêng. Một trong số đó là giúp các em hiểu về vai trò, vị trí của
chương trình, có cái nhìn đúng đắn, biết phát hiện, khám phá, bày tỏ ý kiến, ...
Trang: 5
đối với các vấn đề có liên quan đến địa phương Bình Định. Từ đó học sinh có
một hứng thú đặc biệt với bộ phận văn học này. Nếu làm được việc này chắc
hẳn sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của mình. Bản thân tôi cũng đã
tìm tòi nhiều biện pháp để cải thiện tình hình học tập của học sinh và chất lượng
của bộ phận chương trình này.
1.2. Xác định mục đích nghiên cứu.
Như đã trình bày ở trên, trong phạm vi bài viết này tôi chỉ xin trình bày
một số giải pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy các tiết Chương trình địa
phương môn Ngữ văn cấp THCS. Việc thể hiện kinh nghiệm này nhằm:
- Giúp các em hiểu về vai trò, vị trí của môn Ngữ văn nói chung, chương
trình Ngữ văn địa phương Bình Định nói riêng trong chương trình giáo dục phổ
thông.
- Giới thiệu những phương pháp, cách thức tiến hành; những kiến thức về
địa phương Bình Định để giáo viên dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho
quá trình dạy học.
- Cung cấp cho học sinh những tài liệu tham khảo về văn học, lịch sử, địa
lí để phục vụ cho quá trình học tập.
- Tạo hứng thú cho học sinh khi tìm hiểu, trình bày về mảng đề tài địa
phương Bình Định. Từ đó học sinh có tình yêu về quê hương, đất nước.
Với ý nghĩa và tác dụng đó hi vọng sáng kiến này sẽ giúp cho giáo viên
và học sinh thuận lợi hơn trong quá trình dạy - học phần chương trình địa
phương Bình Định mà nhỏ hơn là các đơn vị huyện, xã.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Một thực trạng đáng buồn trong công tác dạy học Ngữ văn hiện nay là
tâm lý xem thường bộ môn. Xuất phát từ nhu cầu nghề nghiệp của xã hội nên
không ít bậc cha mẹ học sinh có nhận thức thiên lệch về vị trí, vai trò của bộ
môn trong nhà trường phổ thông. Học sinh không quan tâm hay ít quan tâm đến
môn học cho nên đến lớp không cần chuẩn bị bài. Từ khó tiếp thu nội dung bài
học do không chuẩn bị đến sinh ra tâm lí chán học, học đối phó theo yêu cầu thi
cử. Nội dung chương trình các bài chính khóa đã như vậy, chương trình địa
phương càng trở nên thê thảm hơn. Nội dung thi thường là các bài chính khóa,
đề ít khi có liên quan đến các vấn đề địa phương. Kiến thức địa phương càng trở
nên xa vời, lạ lẫm. Các em không thấy hứng thú với bộ phận văn học này. Kiến
thức về Địa lí, Lịch sử, Văn học ở địa phương Bình Định (nhỏ hơn là huyện, xã)
là hoàn toàn xa lạ đối với các em. Chúng ta không khỏi xót xa khi một học sinh
không biết gì về địa danh, lịch sử, phong tục, tập quán, văn hóa, văn nghệ, lời ăn
tiếng nói... của quê hương ngay tại chính nơi các em đang sinh sống. Nhà văn Ili-a E- ren-bua từng viết "Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào đại trường giang
Vôn-ga, con sông Vôn-ga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê
trở nên lòng yêu Tổ quốc". Lòng yêu quê hương là biểu hiện quan trọng nhất của
lòng yêu Tổ quốc. Từ thuở bé thơ mỗi chúng ta đều biết về con người, cảnh vật,
quá khứ nơi chôn nhau, cắt rốn của mình. Những câu ca dao, những lời hát ru,
những mẩu chuyện cổ tích của bà, của mẹ, của chị có một phần không nhỏ nói
về gia đình, quê hương, xứ sở đã sớm in đậm vào tâm trí các em, làm tăng thêm
Trang: 6
lòng yêu quê hương da diết và là tri thức ban đầu về quê hương, đất nước.
Không có tình yêu quê hương thì làm sao có tình yêu đất nước!
Từ nhận thức trên, tôi đã tập trung nghiên cứu mảng đề tài về thực trạng
dạy – học các bài Chương trình địa phương Bình Định được thực hiện trong
sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành (cụ thể chuyên sâu vào các lớp 6,7).
1.4. Đối tượng khảo sát, thực nghiệm.
Đề tài được nghiên cứu từ thực tiễn về tình hình giảng dạy môn Ngữ văn
của giáo viên và học tập của học sinh đối với việc thực hiện các tiết Chương
trình Ngữ văn địa phương cấp Trung học cơ sở.
Đối tượng tham gia khảo sát, đánh giá: tập trung vào đối tượng học sinh
các khối lớp 6,7.
1.5. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu luận:
+ Trên cơ sở nghiên cứu luận và thực trạng học môn Ngữ văn nói chung
và Chương trình địa phương nói riêng để đề ra những giải pháp hợp lý nhằm
giúp học sinh hiểu được vai trò, vị trí của nội dung chương trình từ đó góp phần
nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, chất lượng giáo dục trong nhà trường.
+ Nghiên cứu lý luận về yêu cầu của công tác đổi mới phương pháp dạy
học, lấy học sinh làm trung tâm để "phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư
duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả
năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên" đòi hỏi người học phải
chuẩn bị chu đáo và nắm được những đơn vị kiến thức cơ bản của từng bài học.
+ Rút ra được những bài học kinh nghiệm từ việc trải nghiệm thực tế.
+ Thu thập những thông tin lý luận về vị trí, vai trò của người giáo viên
trong công tác dạy học trên các cổng thông tin đại chúng.
+ Nắm bắt những thông tin lý luận về trách nhiệm và quyền hạn của giáo
viên bộ môn và nhiệm vụ, quyền hạn của người học sinh trong các văn bản quy
định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
+ Trên cơ sở Sách giáo khoa hiện hành, các văn bản chỉ đạo thực hiện, các
bản báo cáo đánh giá, các nhận xét khi thực hiện chương trình, các tài liệu có
liên quan, giáo viên đã tổng hợp, so sánh,… từ đó đưa ra các giải pháp, biện
pháp tích cực khi cụ thể hóa đề tài.
+ Tham khảo những sáng kiến dạy tốt của giáo viên trong tổ bộ môn.
+ Tham khảo sáng kiến giảng dạy của các trường bạn qua các tiết dạy
chuyên đề.
+ Tham khảo những sáng kiến những bài viết về vấn đề giảng dạy bộ môn
trong các sách, báo, trên mạng Internet...
- Phương pháp kiểm tra
Kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh: cách soạn bài, ghi bài và làm bài
tập của các đối tượng học sinh, từ đó rút ra đặc điểm chung. Kiểm tra việc chia
nhóm, hoạt động của các cá nhân trong nhóm,…
- Phương pháp điều tra
+ Trao đổi trò chuyện với các giáo viên bộ môn (Ngữ văn, Lịch sử, Địa
lí,...) về tình hình giảng dạy Chương trình địa phương ở các khối lớp.
Trang: 7
+ Trò chuyện, trao đổi với học sinh về những thuận lợi, khó khăn, thái độ
của các em khi thực hiện các tiết học về Chương trình địa phương.
- Phương pháp trắc nghiệm
Cá nhân tôi đã dùng một số câu hỏi trắc nghiệm trước và sau khi thực
hiện đề tài để đánh giá tính tích cực của sáng kiến.
Khi sử dụng phương pháp này cá nhân tôi đã có sự so sánh đối chiếu giữa
các năm học với nhau để có cái nhín toàn diện về vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê toán học
+ Tham khảo những bản báo cáo tổng kết từng năm của tổ và nhà trường
về bộ môn.
+ Tổng hợp đánh giá tính tích cực trước và sau khi thực hiện đề tài (có đối
chiếu, so sánh)
Trong các phương pháp trên, phương pháp nghiên cứu tài liệu và phương
pháp thống kê toán học là phương pháp chủ đạo; các phương pháp còn lại là bổ
trợ cho hai phương pháp trên.
1.6. Phạm vi và thời gian nghiên cứu (bắt đầu, kết thúc).
Thử áp dụng giải pháp vào việc giảng dạy Chương trình Ngữ văn địa
phương Bình Định cho học sinh các khối lớp 6,7,8,9 tại trường THCS Cát Trinh
mà tôi đang công tác, trong đó tập trung ở hai khối lớp 6,7.
Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu từ tháng 09/1999, kết thúc: tháng 12/2016
Thời gian áp dụng, đánh giá: năm học 2014- 2015; năm học 2015 - 2016
2. Nội dung
Trang: 8
cứu.
2.1. Những nội dung lý luận có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên
Chương trình Ngữ văn THCS là một chương trình đồng tâm được xây
dựng trên cơ sở tiếp nối, mở rộng và nâng cao từ môn học Tiếng Việt và Tập
làm văn của chương trình Tiểu học. Ở chương trình THCS môn Ngữ văn là sự
phức hợp của ba phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn. Mỗi phân môn
cung cấp cho học sinh những kiến thức và rèn luyện kĩ năng khác nhau nhưng
chúng lại gắn bó hỗ trợ mật thiết cho nhau. Nếu như Văn học giúp các em tiếp
xúc với các tác phẩm văn chương qua việc tìm hiểu các hình tượng nghệ thuật
được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ. Từ những hình tượng đó tác động đến
tâm hồn, trí tuệ của các em. Hình tượng nghệ thuật là nội dung mà hình thức tồn
tại của nó là ngôn từ. Cùng với vốn từ riêng của mình, mỗi học sinh có những
diễn tả suy nghĩ, cảm xúc về nhân vật, tác phẩm. Vốn từ ấy được phân môn
Tiếng Việt cung cấp. Những kiến thức về từ vựng, ngữ pháp giúp các em tìm
hiểu giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Đối với phân môn Tập làm văn
giúp các em rèn luyện khả năng vận dụng những kiến thức đã học từ phân môn
Văn học, kết hợp phần Tiếng Việt để tạo ra những tác phẩm cho riêng mình.
Trong chương trình Ngữ văn địa phương THCS đều chú ý đề cập đến cả ba phân
môn này cũng như có sự sắp xếp khá rõ ràng.
Nếu như văn học địa phương là những sáng tác văn học (văn học dân gian
và văn học viết) trong một khu vực địa lý cụ thể, nó phản ánh đời sống văn hóa
tinh thần của cộng đồng dân cư ở một địa bàn cư trú nhất định và mang bản sắc
riêng, độc đáo có tính chất đặc thù của vùng, miền, địa phương thì phần Tiếng
Việt đề cập đến cơ sở phát âm, sử dụng ngôn ngữ đặc trưng của vùng miền mà
chủ yếu tập trung đi sâu vào rèn luyện chính tả. Trong khi đó, phần Tập làm văn
tập trung rèn luyện học sinh trình bày, giới thiệu, bàn luận những vấn đề có tính
lịch sử, văn hóa nghệ thuật, phong tục tập quán, tính thời sự, ... xảy ra ở địa
phương. Hình thức thể hiện cũng khá phong phú từ tự sự, biểu cảm đến thuyết
minh, nghị luận.
2.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu.
Chương trình Ngữ văn địa phương là nội dung mới và khó được đưa vào
sách giáo khoa Ngữ văn THCS. Cho nên không tránh khỏi những khó khăn cho
giáo viên, học sinh trong việc sưu tầm và lựa chọn nội dung dạy- học. Vấn đề
đặt ra là mỗi giáo viên, học sinh phải lựa chọn xác định cho mình những nội
dung và cách thức học tập phù hợp. Từ đó có hứng thú, yêu thích đối với nội
dung chương trình. Có thể nói đây là một trong những phần chương trình có khả
năng dung nạp lớn nhất mọi hình thức học tập (trên lớp, ở nhà, ngoại khoá, tọa
đàm,...); cũng là phần có điều kiện thuận lợi nhất trong việc phát huy tính năng
động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với phương pháp dạy - học tích cực. Tuy
nhiên, một số giáo viên có nhận thức không đúng về mục đích, vị trí, vai trò, tác
dụng của chương trình nên thực hiện một cách qua loa, đại khái các tiết Ngữ văn
địa phương. Tâm lý học tập của nhiều học sinh còn chủ quan, xem thường,
không tích cực, …
Trang: 9
Từ những thực trạng đó, trong quá trình giảng dạy của mình, tôi đã tích
lũy một số giải pháp, kinh nghiệm và kiến thức để giúp các em thay đổi cách
nhìn về chương trình; có một sở thích đặc biệt khi học tập các tiết Chương trình
địa phương, nhất là địa phương Bình Định.
Ở đây, tôi xin đưa ra một số giải pháp, phương hướng dạy - học bài Ngữ
văn địa phương (cho cả ba phân môn) theo phương pháp dạy học tích cực có
tích hợp mà qua thực tế tôi thấy phát huy được tính năng động, sáng tạo của học
sinh.
2.3. Mô tả, phân tích các giải pháp (hoặc biện pháp, các cách ứng
dụng, cách làm mới) mà tác giả đã thực hiện, đã sử dụng nhằm làm cho
công việc có hiệu quả cao hơn.
2.3.1) Yêu cầu chung:
a) Đối với học sinh:
Cần có ý thức về việc học tập bộ môn. Thấy được vai trò, tầm quan trọng
của bộ phận văn học này. Do đặc điểm bài học mang tính địa phương cụ thể, do
đặc điểm tâm lý lứa tuổi, điều kiện kinh tế, khả năng đi lại, tài liệu tham khảo...
nên học sinh phải chuẩn bị bài kĩ hơn, thời gian chuẩn bị phải lâu hơn. Học sinh
cần có kĩ năng tìm tòi, sưu tầm, ghi chép, trình bày, đánh giá,... các vấn đề có
liên quan đến địa phương theo sự hướng dẫn của giáo viên.
Về kiến thức: Học sinh phải có những kiến thức về địa phương nhất định:
những tác phẩm văn học (văn học dân gian, văn học viết), những tác giả của địa
phương, ngoài địa phương viết về quê hương Bình Định (trước 1975, sau 1975);
từ ngữ địa phương, cách sử dụng từ ngữ địa phương trong lời ăn tiếng nói (có so
sánh, đối chiếu với ngôn ngữ toàn dân, ngôn ngữ ở các địa phương khác); những
vấn đề về con người, văn hóa, xã hội, điều kiện tự nhiên, môi trường sống, ...
Về kĩ năng: Học sinh phải có kĩ năng sưu tầm, trình bày các vấn đề có liên
quan đến bài học. Từ việc lựa chọn đơn vị kiến thức trong phạm vi cho phép của
giáo viên đến cách thức trình bày bằng bài viết hay trước tập thể. Kĩ năng tích
hợp với các bộ môn khác (Lịch sử, Địa lí,...) trong việc giải quyết vấn đề.
Về thái độ: Học sinh hứng thú trước các vấn đề đặt ra của giáo viên.
Tham gia tích cực các hoạt động tiết học. Hình thành tình yêu quê hương, đất
nước; yêu tiếng nói dân tộc.
b) Đối với giáo viên:
Cần xác định được vai trò, vị trí, nhiệm vụ của chương trình. Mối liên hệ
giữa các phân môn, các môn học có liên quan. Xác định được mục đích, yêu cầu
cơ bản của mỗi tiết dạy. Xác định được thời gian tổ chức, nội dung, cách thức
tiến hành trong mỗi giờ lên lớp. Giáo viên phải là người thấy được những khó
khăn, vướng mắt mà học sinh gặp phải khi thực hiện các các tiết học về Ngữ văn
địa phương từ đó tìm cách khắc phục những mặc còn tồn tại, hạn chế, nâng cao
chất lượng bài dạy. Đối với bài Chương trình địa phương giáo viên cần có sự
chuẩn bị kĩ hơn, lâu dài hơn.
2.3.2) Giải pháp, biện pháp cụ thể:
Giải pháp 1: Giáo viên nghiên cứu kĩ chương trình và hướng dẫn
thực hiện chương trình.
Trang: 10
Giáo viên phải tìm hiểu kĩ chương trình để nắm bắt được số tiết chương
trình địa phương của từng khối lớp mà mình đang giảng dạy. Việc nghiên cứu kĩ
chương trình giúp giáo viên xác định được mục đích yêu cầu, cách thức thực
hiện cho từng bài dạy. Từ đó định hướng chương trình, lựa chọn nội dung thực
hiện. Tìm hiểu những yêu cầu, hướng dẫn giảng dạy trong phân phối chương
trình, trong sách giáo khoa và sách giáo viên. Giáo viên sẽ xác định được những
kĩ năng, kiến thức nào học sinh đã được học; những kĩ năng, kiến thức nào còn
mới. Từ đó xây dựng cho mình một kế hoạch giảng dạy cụ thể cho từng bài học,
từng nội dung học. Giáo viên cần xã định những nội dung nào ở sách giáo khoa
cần phải thực hiện, những nội dung nào có thể bỏ qua (do thuộc về địa phương
khác, vùng khác). Định hướng tìm hiểu, bổ sung nội dung mà sách giáo khoa
còn thiếu hay chưa được hướng dẫn thực hiện cụ thể. Khi thực hiện được giải
pháp này sẽ giúp giáo viên tránh tình trạng trước đây thường hay lúng túng, bị
động khi thực hiện loại bài dạy này.
Cụ thể:
Tiết theo
Tổng
phân phối
Lớp
số
Nội dung cụ thể
chương
tiết
trình
Lớp 6
5
Tiết 70
Bài 16: Chương trình địa phương (phần Tiếng
Việt): Rèn luyện chính tả
Tiết 71
Bài 17: Chương trình địa phương (phần Văn và
Tập làm văn): Sưu tầm, kể chuyện dân gian, trò
chơi dân gian, sinh hoạt dân gian.
Tiết 87
Bài 21: Chương trình địa phương (phần tiếng
Việt): Rèn luyện chính tả
Tiết 139, Bài 33: Chương trình địa phương (phần Văn và
140
Tập làm văn): Giới thiệu di tích lịch sử, bảo vệ
gìn giữ môi trường
Lớp 7
6
Tiết 69
Bài 17: Rèn luyện chính tả.
Tiết 74
Bài 18 và bài 33: Chương trình địa phương
Tiết 133, (phần Văn và Tập làm văn): Sưu tầm tục ngữ,
134
ca dao, dân ca; cảm nhận vẻ đẹp của địa phương
qua các câu tục ngữ, ca dao, dân ca tìm được.
Tiết
Bài 34: Chương trình địa phương (phần tiếng
137,138
Việt): Rèn luyện chính tả.
Lớp 8
5
Tiết 31
Bài 8: Chương trình địa phương (phần tiếng
Việt): Từ ngữ chỉ người có quan hệ ruột thịt và
việc sử dụng từ ngữ xưng hô
Tiết 52
Bài 14: Chương trình địa phương (phần Văn):
Giới thiệu các nhà thơ, nhà văn Bình Định hoặc
có tác phẩm viết về Bình Định trước 1975
Tiết 92
Bài 31: Chương trình địa phương (phần Tập
làm văn): Giới thiệu, thuyết minh danh lam
Trang: 11
thắng cảnh, di tích lịch sử ở địa phương
Tiết 121
Bài 30: Chương trình địa phương (phần Văn):
Trình bày những vấn đề về môi trường, dân số,
tệ nạn xã hội ở địa phương
Tiết 138
Bài 33: Chương trình địa phương (phần tiếng
Việt): Tìm và so sánh từ ngữ xưng hô địa
phương và toàn dân
Lơp 9
5
Tiết 40
Bài 9: Chương trình địa phương (phần Văn):
Giới thiệu các nhà thơ, nhà văn Bình Định hoặc
có tác phẩm viết về Bình Định sau 1975.
Tiết 63
Bài 13: Chương trình địa phương (phần tiếng
Việt): Giới thiệu một số từ ngữ địa phương có
so sánh đối chiếu với từ toàn dân tương ứng.
Tiết 102
Bài 19: Chương trình địa phương (phần Tập
làm văn): Hướng dẫn tìm hiểu, suy ngẫm và viết
bài về tình hình địa phương: môi trường, những
đổi mới của quê hương, quyền trẻ em, an sinh
xã hội,...
Tiết 135
Bài 26: Chương trình địa phương (phần tiếng
Việt): Làm các bài tập có sử dụng từ địa
phương Nam bộ, có đối chiếu với từ toàn dân
tương ứng.
Tiết 145
Bài 28: Chương trình địa phương (phần tập làm
văn) (tiếp theo): Thực hiện công việc đã chuẩn
bị ở tiết 102.
* Theo Phân phối chương trình THCS, hướng dẫn giảng dạy phần Ngữ
văn địa phương như sau:
- Sở GD - ĐT ủy nhiệm cho các Phòng GD - ĐT các huyện, thành phố lựa
chọn nội dung cho các tiết thực hành ngoại khóa dựa trên các vấn đề sau:
+ Vận dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống thực tiễn.
+ Những vấn đề đạo đức và pháp luật của địa phương tương ứng với các
bài đã học.
+ Những vấn đề bức xúc cần giáo dục ở địa phương như: trật tự an toàn
giao thông, giáo dục môi trường, phòng chống HIV/AIDS, ma túy, tệ nạn xã hội,
...
+ Những gương người tốt, việc tốt, những học sinh chăm ngoan, vượt
khó, học giỏi.
+ Các hoạt động chính trị, xã hội của địa phương
- Nội dung tiết thực hành ngoại khóa có thể thay đổi từng năm.
- Hình thức thể hiện: tổ chức trao đổi, thảo luận, liên hệ với thực tế nhà
trường; có thể tham quan, tổ chức thi tìm hiểu, có thể mời cán bộ, chuyên gia
đến nói chuyện, trao đổi, tổ chức diễn đàn, câu lạc bộ văn học nghệ thuật, sân
khấu hóa các tác phẩm văn học dân gian ở địa phương, ...
Qua bảng thống kê và hướng dẫn thực hiện chương trình địa phương trên
chúng ta có thể thấy, nếu không có sự phối hợp, thống nhất giữa các phân môn
Trang: 12
rất có thể cùng một nội dung nhưng lặp lại hai hay nhiều lần dẫn đến chống lấn
nhau (ví dụ khi thực hiện tiết Rèn luyện chính tả, nội dung viết chính tả phụ âm
cuối t/c , n/ng, thanh hỏi ( ) , ngã ( ), nguyên âm i/iê phụ âm đầu v/d/gi
đều được thực hiện ở lớp 6,7 nếu không có kế hoạch rất có thể bị trùng lặp);
cũng như các môn học khác rất có thể bị trùng lặp, hay bỏ sót kiến thức về địa
phương. Tuy nhiên nếu chúng ta biết khai thác hợp lý những kiến thức có liên
quan theo hướng tích hợp từ đó xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp thì học sinh
sẽ có một kiến thức khá toàn vẹn về địa phương. Nếu tích hợp tốt, thì các môn
học hoàn toàn có thể hỗ trợ cho nhau. Ví dụ những kiến thức về Địa lí, Lịch sử
có thể giúp học sinh làm tốt các bài thuyết minh về địa danh, sự kiện lịch sử hay
truyền thống, văn hóa,... (các tiết 139-140, bài 33 của lớp 6 và tiết 92, bài 31của
lớp 8); nghị luận về các vấn đề có liên quan đến tình hình tự nhiên, môi trường,
dân số, kinh tế,....(các tiết 102, bài 19 và 145, bài 28 của lớp 9) ở địa phương.
Ngược lại những kiến thức về Ngữ văn, Lịch sử có thể hỗ trợ cho môn Địa lí
trong việc xác định những kiến thức về địa danh, địa giới hành chính, lịch sử
phát triển của các vùng, miền,... (tiết 50, bài 44, Địa lí 8; tiết 47, 48, 49, 50 bài
41, 42, 43, 54, Địa lí 9). Hoặc những kiến thức của môn Địa lí, Ngữ văn sẽ hỗ
trợ cho bộ môn Lịch sử trong việc xác định địa giới hành chính, trình bày những
giá trị văn hóa, nghệ thuật,... (tiết 32, Lịch sử, lớp 6; tiết 32, 57, 65, Lịch sử 7;
tiết 43, Lịch sử 8; tiết 37, 47, Lịch sử 9).
Như vậy, việc nghiên cứu kĩ chương trình sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc
thực hiện các tiết giảng dạy Chương trình địa phương Bình Định trong nhà
trường THCS.
Giải pháp 2: Giao việc cụ thể cho học sinh trước khi học bài
Chương trình địa phương.
Đây là một trong những bước rất quan trọng, khắc phục tình trạng không
hợp tác giữa học sinh với giáo viên, sự thiếu hứng thú của học sinh khi học tiết
Chương trình địa phương. Chính bước này sẽ góp phần làm nên một tiết Chương
trình địa phương thành công, đúng ý nghĩa của nó.
Để thực hiện việc này, đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị từ trước.
Giáo viên phải yêu cầu học sinh chuẩn bị kĩ cho tiết Chương trình địa phương
như mục đích bài học, xác định chủ đề, nội dung kiến thức sẽ được thực hiện
trong tiết học, cách thức tiến hành, phân nhóm, chuẩn bị đồ dùng, dụng cụ học
tập, gợi ý địa chỉ một số nguồn tài liệu tham khảo,... cho tiết học mà học sinh có
thể chuẩn bị được.
Sau đây là một số biện pháp giúp thực hiện tốt giải pháp này:
Biện pháp 1: Chia nhóm hợp lí.
Điểm khác biệt củ...
MỤC LỤC
NỘI DUNG
1. Đặt vấn đề
1. 1. Lý do chọn đề tài
1.2. Xác định mục đích nghiên cứu.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
1.4. Đối tượng khảo sát, thực nghiệm.
1.5. Phương pháp nghiên cứu.
1.6. Phạm vi và thời gian nghiên cứu (bắt đầu, kết thúc).
2. Nội dung
2.1. Những nội dung lý luận có liên quan trực tiếp đến vấn
đề nghiên cứu.
2.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu.
2.3. Mô tả, phân tích các giải pháp
2.4. Kết quả thực hiện
3. Kết luận và khuyến nghị
3.1. Những kết luận đánh giá cơ bản nhất về sáng kiến
3.2. Các đề xuất khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
TRANG
3
3
6
6
7
7
8
9
9
9
10
47
51
51
51
53
Trang: 2
1. Đặt vấn đề
1.1 Lý do chọn đề tài
a) Cơ sở lí luận
Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong bối cảnh toàn cầu
hóa hiện nay đã đặt ra những yêu cầu đổi mới đối với người lao động, do đó
cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo
nguồn nhân lực. Giáo dục cần đào tạo đội ngũ nhân lực có khả năng đáp ứng
được đòi hỏi mới của xã hội và thị trường lao động, đặc biệt là năng lực hành
động, tính năng động, sáng tạo, tính tự lực và trách nhiệm cũng như năng lực
công tác làm việc, năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp. Vì thế mà trong
những năm gần đây Bộ Giáo dục đã tiến hành đổi mới phương pháp dạy học,
hướng tới phát huy tính chủ động tích cực, sáng tạo của học sinh.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học ấy đã được xác định trong
Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VII
(12/1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12/1998), được cụ thể hóa
trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4/1999)
Về phương pháp dạy học Luật giáo dục quy định “phương pháp giáo dục
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học;
bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học
tập và ý chí vươn lên”. (Luật Giáo dục 2005, trích điều 5).
Luật Giáo dục cũng đưa ra những quy định về mục tiêu, nội dung và
phương pháp giáo dục phổ thông cho từng cấp học. Về nội dung dạy học, Điều
28 Luật Giáo dục quy định "Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính
phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn
cuộc sống, phù hợp với tâm lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục
ở mỗi cấp học" (Luật Giáo dục 2005). Về phương pháp giáo dục phổ thông,
Điều 28 Luật giáo dục có quy định: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm
việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động
đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh" (Luật Giáo dục
2005).
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII
và lần thứ 7 khóa IX đã xác định mục tiêu cơ bản của giáo dục: "Nhằm xây dựng
những con người và thế hệ tha thiết gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị
văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy
tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy
tích cực cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghiệp hiện đại, có tư duy
sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức
kỷ luật; có sức khỏe, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa
"hồng" vừa "chuyên" như lời căn dặn của Bác Hồ".
b) Cơ sở thực tiễn
Trang: 3
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 khoá 8
(tháng 2 năm 1997) đã khẳng định vai trò của môn Ngữ văn cùng các môn khoa
học khác trong công tác giáo dục. Cũng như các môn học khác, với đặc điểm và
chức năng của mình, việc học tập Ngữ văn cần phát huy năng lực tích cực, chủ
động của học sinh. Tuy nhiên trong thực tế, khi đi vào thực hiện chương trình
giáo dục vẫn còn những hạn chế nhất định. Trong "Đề án Đổi mới chương trình,
sách giáo khoa giáo dục phổ thông" của chính phủ (tháng 10/2014) đã chỉ ra
những bài học kinh nghiệm, những hạn chế của chương trình giáo dục hiện hành
là: “Một trong những hạn chế cơ bản của chương trình hiện hành là chưa giải
quyết hài hòa giữa yêu cầu và điều kiện chung của toàn quốc với yêu cầu và
điều kiện riêng của mỗi địa phương, nhà trường” (tr.11)…. Điều này dẫn đến
“chưa khuyến khích được sự tự chủ, tính năng động, sáng tạo của các địa
phương, cơ sở giáo dục; chưa phát huy được sở trường của mỗi học sinh”
(tr.12). Ý thức được điều đó, trong định hướng đổi mới giáo dục hiện nay,
chương trình giáo dục đã có tính mở và chú trọng đến tính vùng, miền và đặc
thù của địa phương. Cụ thể, đề án cũng chỉ rõ: một trong những vấn đề cơ bản
trong nội dung đổi mới chương trình sách giáo khoa của chính phủ là: “Quản lý
quá trình xây dựng và thực hiện chương trình đảm bảo tính khả thi, linh hoạt,
phù hợp địa phương và đối tượng học sinh”.
Từ những vấn đề đã rút ra kết luận trên chúng ta có thể nhận thấy hiện
nay chương trình địa phương đã không được nhìn nhận thấu đáo. Việc xây dựng
một chương trình địa phương chuẩn dựa trên chương trình sách giáo khoa thống
nhất trên toàn quốc cho bộ môn Ngữ văn cũng như một số bộ môn khác (Lịch
sử, Địa lí, Âm nhạc, ...) là vô cùng cần thiết. Điều này sẽ góp phần thể hiện rõ
tính linh hoạt của các địa phương và nhà trường. Nhà trường, giáo viên từ thực
hiện theo chuẩn phân phối chương trình và sách giáo khoa sang trao quyền cho
các địa phương tự chủ trong việc xây dựng kế hoạch, định hướng nội dung, cách
thức tổ chức giáo dục chương trình địa phương trong nhà trường.
Phân phối chương trình THCS hiện hành những tiết có bài học địa
phương còn chiếm số lượng ít. Những bài học về chương trình địa phương
thường đặt ở cuối mỗi học kì, cuối năm học đã gây cho một số bộ phận giáo
viên, học sinh có cái nhìn không đúng về vị trí, chức năng, nhiệm vụ mà chương
trình này mang lại. Việc hướng dẫn giảng dạy cũng còn chung chung chưa thống
nhất. Kế hoạch, nội dung giảng dạy các tiết còn phụ thuộc khá nhiều vào việc
xây dựng, lựa chọn của giáo viên. Từ việc chưa có chuẩn kiến thức giảng dạy
chương trình địa phương cho từng tiết học, đến hạn chế về tài liệu giảng dạy, nội
dung giảng dạy, cách thức tổ chức chính khóa hay ngoại khóa,... đã góp phần
gây khó khăn cho người giáo viên khi lên lớp. Từ việc chưa có mục đích học tập
đúng, tài liệu tham khảo khan hiếm, ít ỏi, không được cập nhật thường xuyên
đến khả năng tiếp nhận tri thức, trình bày kết quả của học sinh vừa thiếu vừa yếu
đã dẫn đến việc học sinh cảm thấy "ngại" khi thực hiện các tiết học này. Trên
thực tế, hầu hết giáo viên thực hiện độc lập, còn mang tính tự phát, chưa bài bản,
sự phối hợp của các em là rất thiếu tích cực. Các em chưa mấy hứng thú với
mảng đề tài này. Việc hiểu biết những vấn đề của địa phương cũng trở nên hạn
chế, không đáp ứng với mục tiêu chương trình đã đề ra. Cho nên không tránh
Trang: 4
khỏi những khó khăn cho giáo viên trong việc sưu tầm và lựa chọn nội dung
dạy- học mang tính địa phương, tổ chức cho học sinh học tập những nội dung
mang tính địa phương, khả năng tích hợp giữa các môn học với nhau. Vấn đề đặt
ra là mỗi giáo viên phải lựa chọn, xác định cho mình những nội dung và cách
thức dạy - học phù hợp. Vậy làm thế nào để giáo viên, học sinh có những nhận
thức tích cực hơn, đúng đắn hơn, toàn diện hơn để đáp ứng yêu cầu đổi mới
chương trình giáo dục địa phương hiện nay? Trong sáng kiến này, tôi xin mạnh
dạn nêu ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy các tiết Chương
trình địa phương môn Ngữ văn cấp THCS.
Như đã thể hiện ở phần trên một trong những mục tiêu của phương pháp
dạy học tích cực là nhằm tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học
tập cho học sinh. Đổi mới phương pháp dạy học bao gồm đổi mới cả nội dung
và hình thức hoạt động của giáo viên và học sinh, đổi mới hình thức tổ chức dạy
học, đổi mới kỉ thuật dạy học,... theo định hướng chung.
Trong quá trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy,
lại vừa là chủ thể của hoạt động. Thông qua hoạt động dưới sự chỉ đạo của
người thầy, người học phải tích cực chủ động cải biến chính mình về kiến thức,
kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách.
D
H
D
H
Dạy cũ
Dạy mới
Khâu "kích thích" của người thầy giúp trò tự tìm đến chân lí là điều khác
cơ bản so với trước. Muốn cho trò phát huy chủ thể, thầy phải cho xuất hiện tình
huống và nhu cầu. Vấn đề đầu tiên với ngành nghệ thuật là phải có cảm xúc
"không có cảm xúc thì không và không bao giờ con người có khát vọng đi tìm
chân lí" (Lênin). Cảm xúc sẽ khêu gợi các em một trạng thái tâm lí mới, gây
kích thích đến việc tìm hiểu hay đòi thỏa mãn những cái đẹp trong nghệ thuật.
Do vậy, muốn các em có sự hứng thú với các bài Chương trình Ngữ văn địa
phương, việc kích thích tạo cảm xúc là vô cùng cần thiết.
Việc chủ đạo của người dạy là hết sức phức tạp và càng phức tạp hơn đối
với việc giảng dạy Chương trình địa phương. Trong khi hầu hết bài khác đều có
hướng dẫn cụ thể thì các bài Chương trình địa phương đều không hoặc ít làm
được việc này. Việc định hướng hội dung giảng dạy cũng phụ thuộc khá nhiều
vào sự lựa chọn của giáo viên và học sinh. Tâm lí của học sinh luôn biến động
và phát triển theo các lứa tuổi khác nhau. Vì vậy, nó cũng đòi hỏi sự biến đổi
linh hoạt của các biện pháp tác động kích thích khác nhau của mỗi giai đoạn.
Ngay trong văn học địa phương cũng có nhiều thể loại khác nhau nên mỗi biện
pháp khi vận dụng vào từng tác phẩm cụ thể lại có màu sắc riêng.
Năm 2009 - 2010, Bộ Giáo dục và đào tạo phát động chủ đề: "Đổi mới
công tác quản lí, nâng cao chất lượng giáo dục" với mục tiêu "nâng cao dân trí,
đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài". Với vị trí của một người giáo
viên, bản thân chúng tôi cũng nhiều trăn trở suy ngẫm làm thế nào để giúp nâng
cao chất lượng các giờ dạy Ngữ văn nói chung và Chương trình Ngữ văn phần
địa phương nói riêng. Một trong số đó là giúp các em hiểu về vai trò, vị trí của
chương trình, có cái nhìn đúng đắn, biết phát hiện, khám phá, bày tỏ ý kiến, ...
Trang: 5
đối với các vấn đề có liên quan đến địa phương Bình Định. Từ đó học sinh có
một hứng thú đặc biệt với bộ phận văn học này. Nếu làm được việc này chắc
hẳn sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của mình. Bản thân tôi cũng đã
tìm tòi nhiều biện pháp để cải thiện tình hình học tập của học sinh và chất lượng
của bộ phận chương trình này.
1.2. Xác định mục đích nghiên cứu.
Như đã trình bày ở trên, trong phạm vi bài viết này tôi chỉ xin trình bày
một số giải pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy các tiết Chương trình địa
phương môn Ngữ văn cấp THCS. Việc thể hiện kinh nghiệm này nhằm:
- Giúp các em hiểu về vai trò, vị trí của môn Ngữ văn nói chung, chương
trình Ngữ văn địa phương Bình Định nói riêng trong chương trình giáo dục phổ
thông.
- Giới thiệu những phương pháp, cách thức tiến hành; những kiến thức về
địa phương Bình Định để giáo viên dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho
quá trình dạy học.
- Cung cấp cho học sinh những tài liệu tham khảo về văn học, lịch sử, địa
lí để phục vụ cho quá trình học tập.
- Tạo hứng thú cho học sinh khi tìm hiểu, trình bày về mảng đề tài địa
phương Bình Định. Từ đó học sinh có tình yêu về quê hương, đất nước.
Với ý nghĩa và tác dụng đó hi vọng sáng kiến này sẽ giúp cho giáo viên
và học sinh thuận lợi hơn trong quá trình dạy - học phần chương trình địa
phương Bình Định mà nhỏ hơn là các đơn vị huyện, xã.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Một thực trạng đáng buồn trong công tác dạy học Ngữ văn hiện nay là
tâm lý xem thường bộ môn. Xuất phát từ nhu cầu nghề nghiệp của xã hội nên
không ít bậc cha mẹ học sinh có nhận thức thiên lệch về vị trí, vai trò của bộ
môn trong nhà trường phổ thông. Học sinh không quan tâm hay ít quan tâm đến
môn học cho nên đến lớp không cần chuẩn bị bài. Từ khó tiếp thu nội dung bài
học do không chuẩn bị đến sinh ra tâm lí chán học, học đối phó theo yêu cầu thi
cử. Nội dung chương trình các bài chính khóa đã như vậy, chương trình địa
phương càng trở nên thê thảm hơn. Nội dung thi thường là các bài chính khóa,
đề ít khi có liên quan đến các vấn đề địa phương. Kiến thức địa phương càng trở
nên xa vời, lạ lẫm. Các em không thấy hứng thú với bộ phận văn học này. Kiến
thức về Địa lí, Lịch sử, Văn học ở địa phương Bình Định (nhỏ hơn là huyện, xã)
là hoàn toàn xa lạ đối với các em. Chúng ta không khỏi xót xa khi một học sinh
không biết gì về địa danh, lịch sử, phong tục, tập quán, văn hóa, văn nghệ, lời ăn
tiếng nói... của quê hương ngay tại chính nơi các em đang sinh sống. Nhà văn Ili-a E- ren-bua từng viết "Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào đại trường giang
Vôn-ga, con sông Vôn-ga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê
trở nên lòng yêu Tổ quốc". Lòng yêu quê hương là biểu hiện quan trọng nhất của
lòng yêu Tổ quốc. Từ thuở bé thơ mỗi chúng ta đều biết về con người, cảnh vật,
quá khứ nơi chôn nhau, cắt rốn của mình. Những câu ca dao, những lời hát ru,
những mẩu chuyện cổ tích của bà, của mẹ, của chị có một phần không nhỏ nói
về gia đình, quê hương, xứ sở đã sớm in đậm vào tâm trí các em, làm tăng thêm
Trang: 6
lòng yêu quê hương da diết và là tri thức ban đầu về quê hương, đất nước.
Không có tình yêu quê hương thì làm sao có tình yêu đất nước!
Từ nhận thức trên, tôi đã tập trung nghiên cứu mảng đề tài về thực trạng
dạy – học các bài Chương trình địa phương Bình Định được thực hiện trong
sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành (cụ thể chuyên sâu vào các lớp 6,7).
1.4. Đối tượng khảo sát, thực nghiệm.
Đề tài được nghiên cứu từ thực tiễn về tình hình giảng dạy môn Ngữ văn
của giáo viên và học tập của học sinh đối với việc thực hiện các tiết Chương
trình Ngữ văn địa phương cấp Trung học cơ sở.
Đối tượng tham gia khảo sát, đánh giá: tập trung vào đối tượng học sinh
các khối lớp 6,7.
1.5. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu luận:
+ Trên cơ sở nghiên cứu luận và thực trạng học môn Ngữ văn nói chung
và Chương trình địa phương nói riêng để đề ra những giải pháp hợp lý nhằm
giúp học sinh hiểu được vai trò, vị trí của nội dung chương trình từ đó góp phần
nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, chất lượng giáo dục trong nhà trường.
+ Nghiên cứu lý luận về yêu cầu của công tác đổi mới phương pháp dạy
học, lấy học sinh làm trung tâm để "phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư
duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả
năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên" đòi hỏi người học phải
chuẩn bị chu đáo và nắm được những đơn vị kiến thức cơ bản của từng bài học.
+ Rút ra được những bài học kinh nghiệm từ việc trải nghiệm thực tế.
+ Thu thập những thông tin lý luận về vị trí, vai trò của người giáo viên
trong công tác dạy học trên các cổng thông tin đại chúng.
+ Nắm bắt những thông tin lý luận về trách nhiệm và quyền hạn của giáo
viên bộ môn và nhiệm vụ, quyền hạn của người học sinh trong các văn bản quy
định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
+ Trên cơ sở Sách giáo khoa hiện hành, các văn bản chỉ đạo thực hiện, các
bản báo cáo đánh giá, các nhận xét khi thực hiện chương trình, các tài liệu có
liên quan, giáo viên đã tổng hợp, so sánh,… từ đó đưa ra các giải pháp, biện
pháp tích cực khi cụ thể hóa đề tài.
+ Tham khảo những sáng kiến dạy tốt của giáo viên trong tổ bộ môn.
+ Tham khảo sáng kiến giảng dạy của các trường bạn qua các tiết dạy
chuyên đề.
+ Tham khảo những sáng kiến những bài viết về vấn đề giảng dạy bộ môn
trong các sách, báo, trên mạng Internet...
- Phương pháp kiểm tra
Kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh: cách soạn bài, ghi bài và làm bài
tập của các đối tượng học sinh, từ đó rút ra đặc điểm chung. Kiểm tra việc chia
nhóm, hoạt động của các cá nhân trong nhóm,…
- Phương pháp điều tra
+ Trao đổi trò chuyện với các giáo viên bộ môn (Ngữ văn, Lịch sử, Địa
lí,...) về tình hình giảng dạy Chương trình địa phương ở các khối lớp.
Trang: 7
+ Trò chuyện, trao đổi với học sinh về những thuận lợi, khó khăn, thái độ
của các em khi thực hiện các tiết học về Chương trình địa phương.
- Phương pháp trắc nghiệm
Cá nhân tôi đã dùng một số câu hỏi trắc nghiệm trước và sau khi thực
hiện đề tài để đánh giá tính tích cực của sáng kiến.
Khi sử dụng phương pháp này cá nhân tôi đã có sự so sánh đối chiếu giữa
các năm học với nhau để có cái nhín toàn diện về vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê toán học
+ Tham khảo những bản báo cáo tổng kết từng năm của tổ và nhà trường
về bộ môn.
+ Tổng hợp đánh giá tính tích cực trước và sau khi thực hiện đề tài (có đối
chiếu, so sánh)
Trong các phương pháp trên, phương pháp nghiên cứu tài liệu và phương
pháp thống kê toán học là phương pháp chủ đạo; các phương pháp còn lại là bổ
trợ cho hai phương pháp trên.
1.6. Phạm vi và thời gian nghiên cứu (bắt đầu, kết thúc).
Thử áp dụng giải pháp vào việc giảng dạy Chương trình Ngữ văn địa
phương Bình Định cho học sinh các khối lớp 6,7,8,9 tại trường THCS Cát Trinh
mà tôi đang công tác, trong đó tập trung ở hai khối lớp 6,7.
Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu từ tháng 09/1999, kết thúc: tháng 12/2016
Thời gian áp dụng, đánh giá: năm học 2014- 2015; năm học 2015 - 2016
2. Nội dung
Trang: 8
cứu.
2.1. Những nội dung lý luận có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên
Chương trình Ngữ văn THCS là một chương trình đồng tâm được xây
dựng trên cơ sở tiếp nối, mở rộng và nâng cao từ môn học Tiếng Việt và Tập
làm văn của chương trình Tiểu học. Ở chương trình THCS môn Ngữ văn là sự
phức hợp của ba phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn. Mỗi phân môn
cung cấp cho học sinh những kiến thức và rèn luyện kĩ năng khác nhau nhưng
chúng lại gắn bó hỗ trợ mật thiết cho nhau. Nếu như Văn học giúp các em tiếp
xúc với các tác phẩm văn chương qua việc tìm hiểu các hình tượng nghệ thuật
được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ. Từ những hình tượng đó tác động đến
tâm hồn, trí tuệ của các em. Hình tượng nghệ thuật là nội dung mà hình thức tồn
tại của nó là ngôn từ. Cùng với vốn từ riêng của mình, mỗi học sinh có những
diễn tả suy nghĩ, cảm xúc về nhân vật, tác phẩm. Vốn từ ấy được phân môn
Tiếng Việt cung cấp. Những kiến thức về từ vựng, ngữ pháp giúp các em tìm
hiểu giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Đối với phân môn Tập làm văn
giúp các em rèn luyện khả năng vận dụng những kiến thức đã học từ phân môn
Văn học, kết hợp phần Tiếng Việt để tạo ra những tác phẩm cho riêng mình.
Trong chương trình Ngữ văn địa phương THCS đều chú ý đề cập đến cả ba phân
môn này cũng như có sự sắp xếp khá rõ ràng.
Nếu như văn học địa phương là những sáng tác văn học (văn học dân gian
và văn học viết) trong một khu vực địa lý cụ thể, nó phản ánh đời sống văn hóa
tinh thần của cộng đồng dân cư ở một địa bàn cư trú nhất định và mang bản sắc
riêng, độc đáo có tính chất đặc thù của vùng, miền, địa phương thì phần Tiếng
Việt đề cập đến cơ sở phát âm, sử dụng ngôn ngữ đặc trưng của vùng miền mà
chủ yếu tập trung đi sâu vào rèn luyện chính tả. Trong khi đó, phần Tập làm văn
tập trung rèn luyện học sinh trình bày, giới thiệu, bàn luận những vấn đề có tính
lịch sử, văn hóa nghệ thuật, phong tục tập quán, tính thời sự, ... xảy ra ở địa
phương. Hình thức thể hiện cũng khá phong phú từ tự sự, biểu cảm đến thuyết
minh, nghị luận.
2.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu.
Chương trình Ngữ văn địa phương là nội dung mới và khó được đưa vào
sách giáo khoa Ngữ văn THCS. Cho nên không tránh khỏi những khó khăn cho
giáo viên, học sinh trong việc sưu tầm và lựa chọn nội dung dạy- học. Vấn đề
đặt ra là mỗi giáo viên, học sinh phải lựa chọn xác định cho mình những nội
dung và cách thức học tập phù hợp. Từ đó có hứng thú, yêu thích đối với nội
dung chương trình. Có thể nói đây là một trong những phần chương trình có khả
năng dung nạp lớn nhất mọi hình thức học tập (trên lớp, ở nhà, ngoại khoá, tọa
đàm,...); cũng là phần có điều kiện thuận lợi nhất trong việc phát huy tính năng
động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với phương pháp dạy - học tích cực. Tuy
nhiên, một số giáo viên có nhận thức không đúng về mục đích, vị trí, vai trò, tác
dụng của chương trình nên thực hiện một cách qua loa, đại khái các tiết Ngữ văn
địa phương. Tâm lý học tập của nhiều học sinh còn chủ quan, xem thường,
không tích cực, …
Trang: 9
Từ những thực trạng đó, trong quá trình giảng dạy của mình, tôi đã tích
lũy một số giải pháp, kinh nghiệm và kiến thức để giúp các em thay đổi cách
nhìn về chương trình; có một sở thích đặc biệt khi học tập các tiết Chương trình
địa phương, nhất là địa phương Bình Định.
Ở đây, tôi xin đưa ra một số giải pháp, phương hướng dạy - học bài Ngữ
văn địa phương (cho cả ba phân môn) theo phương pháp dạy học tích cực có
tích hợp mà qua thực tế tôi thấy phát huy được tính năng động, sáng tạo của học
sinh.
2.3. Mô tả, phân tích các giải pháp (hoặc biện pháp, các cách ứng
dụng, cách làm mới) mà tác giả đã thực hiện, đã sử dụng nhằm làm cho
công việc có hiệu quả cao hơn.
2.3.1) Yêu cầu chung:
a) Đối với học sinh:
Cần có ý thức về việc học tập bộ môn. Thấy được vai trò, tầm quan trọng
của bộ phận văn học này. Do đặc điểm bài học mang tính địa phương cụ thể, do
đặc điểm tâm lý lứa tuổi, điều kiện kinh tế, khả năng đi lại, tài liệu tham khảo...
nên học sinh phải chuẩn bị bài kĩ hơn, thời gian chuẩn bị phải lâu hơn. Học sinh
cần có kĩ năng tìm tòi, sưu tầm, ghi chép, trình bày, đánh giá,... các vấn đề có
liên quan đến địa phương theo sự hướng dẫn của giáo viên.
Về kiến thức: Học sinh phải có những kiến thức về địa phương nhất định:
những tác phẩm văn học (văn học dân gian, văn học viết), những tác giả của địa
phương, ngoài địa phương viết về quê hương Bình Định (trước 1975, sau 1975);
từ ngữ địa phương, cách sử dụng từ ngữ địa phương trong lời ăn tiếng nói (có so
sánh, đối chiếu với ngôn ngữ toàn dân, ngôn ngữ ở các địa phương khác); những
vấn đề về con người, văn hóa, xã hội, điều kiện tự nhiên, môi trường sống, ...
Về kĩ năng: Học sinh phải có kĩ năng sưu tầm, trình bày các vấn đề có liên
quan đến bài học. Từ việc lựa chọn đơn vị kiến thức trong phạm vi cho phép của
giáo viên đến cách thức trình bày bằng bài viết hay trước tập thể. Kĩ năng tích
hợp với các bộ môn khác (Lịch sử, Địa lí,...) trong việc giải quyết vấn đề.
Về thái độ: Học sinh hứng thú trước các vấn đề đặt ra của giáo viên.
Tham gia tích cực các hoạt động tiết học. Hình thành tình yêu quê hương, đất
nước; yêu tiếng nói dân tộc.
b) Đối với giáo viên:
Cần xác định được vai trò, vị trí, nhiệm vụ của chương trình. Mối liên hệ
giữa các phân môn, các môn học có liên quan. Xác định được mục đích, yêu cầu
cơ bản của mỗi tiết dạy. Xác định được thời gian tổ chức, nội dung, cách thức
tiến hành trong mỗi giờ lên lớp. Giáo viên phải là người thấy được những khó
khăn, vướng mắt mà học sinh gặp phải khi thực hiện các các tiết học về Ngữ văn
địa phương từ đó tìm cách khắc phục những mặc còn tồn tại, hạn chế, nâng cao
chất lượng bài dạy. Đối với bài Chương trình địa phương giáo viên cần có sự
chuẩn bị kĩ hơn, lâu dài hơn.
2.3.2) Giải pháp, biện pháp cụ thể:
Giải pháp 1: Giáo viên nghiên cứu kĩ chương trình và hướng dẫn
thực hiện chương trình.
Trang: 10
Giáo viên phải tìm hiểu kĩ chương trình để nắm bắt được số tiết chương
trình địa phương của từng khối lớp mà mình đang giảng dạy. Việc nghiên cứu kĩ
chương trình giúp giáo viên xác định được mục đích yêu cầu, cách thức thực
hiện cho từng bài dạy. Từ đó định hướng chương trình, lựa chọn nội dung thực
hiện. Tìm hiểu những yêu cầu, hướng dẫn giảng dạy trong phân phối chương
trình, trong sách giáo khoa và sách giáo viên. Giáo viên sẽ xác định được những
kĩ năng, kiến thức nào học sinh đã được học; những kĩ năng, kiến thức nào còn
mới. Từ đó xây dựng cho mình một kế hoạch giảng dạy cụ thể cho từng bài học,
từng nội dung học. Giáo viên cần xã định những nội dung nào ở sách giáo khoa
cần phải thực hiện, những nội dung nào có thể bỏ qua (do thuộc về địa phương
khác, vùng khác). Định hướng tìm hiểu, bổ sung nội dung mà sách giáo khoa
còn thiếu hay chưa được hướng dẫn thực hiện cụ thể. Khi thực hiện được giải
pháp này sẽ giúp giáo viên tránh tình trạng trước đây thường hay lúng túng, bị
động khi thực hiện loại bài dạy này.
Cụ thể:
Tiết theo
Tổng
phân phối
Lớp
số
Nội dung cụ thể
chương
tiết
trình
Lớp 6
5
Tiết 70
Bài 16: Chương trình địa phương (phần Tiếng
Việt): Rèn luyện chính tả
Tiết 71
Bài 17: Chương trình địa phương (phần Văn và
Tập làm văn): Sưu tầm, kể chuyện dân gian, trò
chơi dân gian, sinh hoạt dân gian.
Tiết 87
Bài 21: Chương trình địa phương (phần tiếng
Việt): Rèn luyện chính tả
Tiết 139, Bài 33: Chương trình địa phương (phần Văn và
140
Tập làm văn): Giới thiệu di tích lịch sử, bảo vệ
gìn giữ môi trường
Lớp 7
6
Tiết 69
Bài 17: Rèn luyện chính tả.
Tiết 74
Bài 18 và bài 33: Chương trình địa phương
Tiết 133, (phần Văn và Tập làm văn): Sưu tầm tục ngữ,
134
ca dao, dân ca; cảm nhận vẻ đẹp của địa phương
qua các câu tục ngữ, ca dao, dân ca tìm được.
Tiết
Bài 34: Chương trình địa phương (phần tiếng
137,138
Việt): Rèn luyện chính tả.
Lớp 8
5
Tiết 31
Bài 8: Chương trình địa phương (phần tiếng
Việt): Từ ngữ chỉ người có quan hệ ruột thịt và
việc sử dụng từ ngữ xưng hô
Tiết 52
Bài 14: Chương trình địa phương (phần Văn):
Giới thiệu các nhà thơ, nhà văn Bình Định hoặc
có tác phẩm viết về Bình Định trước 1975
Tiết 92
Bài 31: Chương trình địa phương (phần Tập
làm văn): Giới thiệu, thuyết minh danh lam
Trang: 11
thắng cảnh, di tích lịch sử ở địa phương
Tiết 121
Bài 30: Chương trình địa phương (phần Văn):
Trình bày những vấn đề về môi trường, dân số,
tệ nạn xã hội ở địa phương
Tiết 138
Bài 33: Chương trình địa phương (phần tiếng
Việt): Tìm và so sánh từ ngữ xưng hô địa
phương và toàn dân
Lơp 9
5
Tiết 40
Bài 9: Chương trình địa phương (phần Văn):
Giới thiệu các nhà thơ, nhà văn Bình Định hoặc
có tác phẩm viết về Bình Định sau 1975.
Tiết 63
Bài 13: Chương trình địa phương (phần tiếng
Việt): Giới thiệu một số từ ngữ địa phương có
so sánh đối chiếu với từ toàn dân tương ứng.
Tiết 102
Bài 19: Chương trình địa phương (phần Tập
làm văn): Hướng dẫn tìm hiểu, suy ngẫm và viết
bài về tình hình địa phương: môi trường, những
đổi mới của quê hương, quyền trẻ em, an sinh
xã hội,...
Tiết 135
Bài 26: Chương trình địa phương (phần tiếng
Việt): Làm các bài tập có sử dụng từ địa
phương Nam bộ, có đối chiếu với từ toàn dân
tương ứng.
Tiết 145
Bài 28: Chương trình địa phương (phần tập làm
văn) (tiếp theo): Thực hiện công việc đã chuẩn
bị ở tiết 102.
* Theo Phân phối chương trình THCS, hướng dẫn giảng dạy phần Ngữ
văn địa phương như sau:
- Sở GD - ĐT ủy nhiệm cho các Phòng GD - ĐT các huyện, thành phố lựa
chọn nội dung cho các tiết thực hành ngoại khóa dựa trên các vấn đề sau:
+ Vận dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống thực tiễn.
+ Những vấn đề đạo đức và pháp luật của địa phương tương ứng với các
bài đã học.
+ Những vấn đề bức xúc cần giáo dục ở địa phương như: trật tự an toàn
giao thông, giáo dục môi trường, phòng chống HIV/AIDS, ma túy, tệ nạn xã hội,
...
+ Những gương người tốt, việc tốt, những học sinh chăm ngoan, vượt
khó, học giỏi.
+ Các hoạt động chính trị, xã hội của địa phương
- Nội dung tiết thực hành ngoại khóa có thể thay đổi từng năm.
- Hình thức thể hiện: tổ chức trao đổi, thảo luận, liên hệ với thực tế nhà
trường; có thể tham quan, tổ chức thi tìm hiểu, có thể mời cán bộ, chuyên gia
đến nói chuyện, trao đổi, tổ chức diễn đàn, câu lạc bộ văn học nghệ thuật, sân
khấu hóa các tác phẩm văn học dân gian ở địa phương, ...
Qua bảng thống kê và hướng dẫn thực hiện chương trình địa phương trên
chúng ta có thể thấy, nếu không có sự phối hợp, thống nhất giữa các phân môn
Trang: 12
rất có thể cùng một nội dung nhưng lặp lại hai hay nhiều lần dẫn đến chống lấn
nhau (ví dụ khi thực hiện tiết Rèn luyện chính tả, nội dung viết chính tả phụ âm
cuối t/c , n/ng, thanh hỏi ( ) , ngã ( ), nguyên âm i/iê phụ âm đầu v/d/gi
đều được thực hiện ở lớp 6,7 nếu không có kế hoạch rất có thể bị trùng lặp);
cũng như các môn học khác rất có thể bị trùng lặp, hay bỏ sót kiến thức về địa
phương. Tuy nhiên nếu chúng ta biết khai thác hợp lý những kiến thức có liên
quan theo hướng tích hợp từ đó xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp thì học sinh
sẽ có một kiến thức khá toàn vẹn về địa phương. Nếu tích hợp tốt, thì các môn
học hoàn toàn có thể hỗ trợ cho nhau. Ví dụ những kiến thức về Địa lí, Lịch sử
có thể giúp học sinh làm tốt các bài thuyết minh về địa danh, sự kiện lịch sử hay
truyền thống, văn hóa,... (các tiết 139-140, bài 33 của lớp 6 và tiết 92, bài 31của
lớp 8); nghị luận về các vấn đề có liên quan đến tình hình tự nhiên, môi trường,
dân số, kinh tế,....(các tiết 102, bài 19 và 145, bài 28 của lớp 9) ở địa phương.
Ngược lại những kiến thức về Ngữ văn, Lịch sử có thể hỗ trợ cho môn Địa lí
trong việc xác định những kiến thức về địa danh, địa giới hành chính, lịch sử
phát triển của các vùng, miền,... (tiết 50, bài 44, Địa lí 8; tiết 47, 48, 49, 50 bài
41, 42, 43, 54, Địa lí 9). Hoặc những kiến thức của môn Địa lí, Ngữ văn sẽ hỗ
trợ cho bộ môn Lịch sử trong việc xác định địa giới hành chính, trình bày những
giá trị văn hóa, nghệ thuật,... (tiết 32, Lịch sử, lớp 6; tiết 32, 57, 65, Lịch sử 7;
tiết 43, Lịch sử 8; tiết 37, 47, Lịch sử 9).
Như vậy, việc nghiên cứu kĩ chương trình sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc
thực hiện các tiết giảng dạy Chương trình địa phương Bình Định trong nhà
trường THCS.
Giải pháp 2: Giao việc cụ thể cho học sinh trước khi học bài
Chương trình địa phương.
Đây là một trong những bước rất quan trọng, khắc phục tình trạng không
hợp tác giữa học sinh với giáo viên, sự thiếu hứng thú của học sinh khi học tiết
Chương trình địa phương. Chính bước này sẽ góp phần làm nên một tiết Chương
trình địa phương thành công, đúng ý nghĩa của nó.
Để thực hiện việc này, đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị từ trước.
Giáo viên phải yêu cầu học sinh chuẩn bị kĩ cho tiết Chương trình địa phương
như mục đích bài học, xác định chủ đề, nội dung kiến thức sẽ được thực hiện
trong tiết học, cách thức tiến hành, phân nhóm, chuẩn bị đồ dùng, dụng cụ học
tập, gợi ý địa chỉ một số nguồn tài liệu tham khảo,... cho tiết học mà học sinh có
thể chuẩn bị được.
Sau đây là một số biện pháp giúp thực hiện tốt giải pháp này:
Biện pháp 1: Chia nhóm hợp lí.
Điểm khác biệt củ...
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓









Các ý kiến mới nhất