tham khảo 7

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Hồng Thanh
Ngày gửi: 15h:27' 28-08-2022
Dung lượng: 15.5 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Hồng Thanh
Ngày gửi: 15h:27' 28-08-2022
Dung lượng: 15.5 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
“BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TRÒ CHƠI ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP CHO HỌC SINH LỚP 6A KHI HỌC MÔN TOÁN 6 TẠI TRƯỜNG THCS CHIỀNG KHOONG, HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA NĂM HỌC 2021 – 2022”.
I. Phần mở đầu
1. Lý do chọn biện pháp
Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hoà đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống; tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hoá dần ở các lớp học trên; thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh, các phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục và phương pháp giáo dục để đạt được mục tiêu đó.
Chương trình giáo dục trung học cơ sở giúp học sinh phát triển các phẩm chất, năng lực đã được hình thành và phát triển ở cấp tiểu học, tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực chung của xã hội, biết vận dụng các phương pháp học tập tích cực để hoàn chỉnh tri thức và kĩ năng nền tảng, có những hiểu biết ban đầu về các ngành nghề và có ý thức hướng nghiệp để tiếp tục học lên trung học phổ thông, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động.
Chương trình môn Toán chú trọng tính ứng dụng, gắn kết với thực tiễn hay các môn học, hoạt động giáo dục khác, đặc biệt với các môn học nhằm thực hiện giáo dục STEM, gắn với xu hướng phát triển hiện đại của kinh tế, khoa học, đời sống xã hội và những vấn đề cấp thiết có tính toàn cầu (như biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, giáo dục tài chính,...). Điều này còn được thể hiện qua các hoạt động thực hành và trải nghiệm trong giáo dục toán học với nhiều hình thức như: thực hiện những đề tài, dự án học tập về Toán, đặc biệt là những đề tài và dự án về ứng dụng toán học trong thực tiễn; tổ chức trò chơi học toán, câu lạc bộ toán học, diễn đàn, hội thảo, cuộc thi về Toán,... tạo cơ hội giúp học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm của bản thân vào thực tiễn một cách sáng tạo.
Vai trò của biện pháp đối với học sinh:
Trò chơi học tập bao gồm các quy tắc gắn với kiến thức kĩ năng có được trong hoạt động học tập, gắn với nội dung bài học, giúp học sinh khai thác rèn kinh nghiệm của bản thân để chơi. Thông qua chơi học sinh được vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học vào các tình huống của trò chơi và học sinh được thực hành củng cố, mở rộng kiến thức, kĩ năng đã học đưa vào trò chơi.
Trò chơi toán học làm thay đổi hình thức hoạt động của học sinh, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự giác, tích cực. Giúp học sinh rèn luyện,
củng cố kiến thức đồng thời phát triển các kinh nghiệm được tích lũy trong hoạt động chơi.
Trò chơi Toán học rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, thúc đẩy hoạt động trí tuệ. Sử dụng trò chơi học tập giúp quá trình học trở thành một hoạt động vui và hấp dẫn hơn, cơ hội học tập đa dạng hơn.
Qua tìm hiểu một số đồng nghiệp ở trường và học sinh, tôi nhận thấy rất ít giáo viên sử dụng phương pháp trò chơi vào giảng dạy nguyên nhân do phương phương pháp này mất nhiều thời gian chuẩn bị, giáo viên còn ngại chưa dành nhiều thời gian cho phương pháp tổ chức này, có một số ít giáo viên đưa phương pháp trò chơi vào tiết dạy thì cũng chưa vận dụng linh hoạt được việc tổ chức thực hiện. Vì vậy mà giờ học toán trở nên khô khan, học sinh không tập trung vào bài học. Từ lí do trên, tôi đã mạnh dạn đưa ra “Biện pháp sử dụng trò chơi để nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh lớp 6A khi học môn toán 6 tại trường THCS Chiềng Khoong, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La năm học 2021 – 2022”.
2. Phạm vi, đối tượng và thời gian áp dụng
Phạm vi áp dụng: Trường THCS Chiềng Khoong.
Đối tượng áp dụng: Áp dụng tại lớp 6A Trường THCS Chiềng Khoong.
Thời gian áp dụng: Từ ngày 13/9/2021 – 15/10/2021 năm học 2021 - 2022.
II. Nội dung biện pháp
1. Thực trạng biện pháp
Đầu năm học 2021 – 2022 tôi được nhà trường phân công giảng dạy 02 lớp toán 6A và 6C trong đó lớp 6A có 46 học sinh, lớp 6C có 50 học sinh. Qua giảng dạy 1 tuần học đầu tôi nhận thấy học sinh rất căng thẳng, mệt mỏi, chán nản khi học toán nguyên nhân do bộ môn Toán là một môn học khó đối với học sinh, học sinh chưa nắm vững kiến thức cơ bản, chưa thấy được mối liên hệ giữa toán học với cuộc sống thực tế, chưa có kỹ năng ghi nhớ tốt, học toán thường mắc nhiều lỗi sai, dẫn đến học sinh sợ hãi, không thích học môn toán. Đầu năm học tôi đã thực hiện khảo sát mức độ hứng thú của học sinh lớp 6A, 6C với môn Toán qua câu hỏi: Em có thích học môn Toán không?
A. Thích B. Không thích
Bảng 1: Kết quả khảo sát mức độ hứng thú của học sinh khi chưa áp dụng biện pháp:
Lớp
Sĩ số
Đáp án A
Đáp án B
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
6A
46
15
32,6%
31
67,4%
6C
50
10
20%
40
80%
Qua số liệu khảo sát ta thấy mức độ hứng thú của học sinh với môn Toán là rất thấp, dẫn đến học sinh ít chú ý, ít tự học, tự tìm hiểu ở nhà. Vì vậy, khi học trên lớp các em khó hiểu bài, từ đó lơ là, chểnh mảng trong học tập, thậm chí có học sinh trốn học, ảnh hưởng tới sự tiếp thu kiến thức.
Bảng 2: Kết quả khảo sát môn Toán đầu năm học 2021 - 2022 của các lớp 6A, 6C:
Lớp
Sĩ số
Giỏi
Khá
TB
Yếu
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
6A
46
5
10,9%
13
28,3%
19
41,3%
9
19,5%
6C
50
0
0
4
8%
25
50%
21
42%
Từ những số liệu trên đòi hỏi trong quá trình dạy học phải có những cải tiến sao cho phù hợp. Lúc này, tôi cảm thấy cần phải có sự thay đổi phương pháp dạy học để kích thích hứng thú học tập của học sinh thay vì những tiết giảng chỉ sử dụng phương pháp truyền thụ theo lối thuyết trình, vấn đáp tôi đã sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo nhằm khơi dậy cho các em sự hứng thú trong học tập bộ môn. Từ đó nâng cao chất lượng học sinh.
2. Nội dung biện pháp
a) Mục đích của biện pháp:
- Đối với hoạt động mở đầu: Giúp học sinh xác định được vấn đề học tập.
- Hình thành cho các em kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tương tác giữa các cá nhân với nhau.
- Giúp quá trình truyền thụ kiến thức được nhuần nhuyễn, học sinh chủ động tiếp thu kiến thức.
- Tạo hứng thú cho học sinh trong tiết học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Khi học sinh có hứng thú với tiết học thì sẽ yêu thích môn học hơn, trong lớp sẽ hăng hái phát biểu xây dựng bài, ý thức trong các tiết học và tự học sẽ được nâng lên. Khi ý thức học của học sinh được nâng lên thì chất lượng dạy và học cũng sẽ được nâng lên.
b) Những điểm khác biệt, tính mới của biện pháp so với biện pháp đã và đang được áp dụng:
* Điểm mới trong biện pháp:
Biện pháp dạy học thông qua trò chơi gây hứng thú cho học sinh từ việc xây dựng môi trường học tập thân thiện, để gây thiện cảm với các em ngay từ đầu tiết học; gây tò mò, hào hứng, tạo cảm giác thoải mái, không bị gò ép trong quá trình học tập.
Lựa chọn thiết kế các trò chơi phù hợp với tiết học vừa để truyền tải kiến thức mới đến học sinh hoặc củng cố, luyện tập lại một nội dung kiến thức nào đó, đồng thời gây cho các em hứng thú, làm cho các em cuốn hút vào bài học hơn, từ đó các em sẽ yêu thích môn học hơn, giúp nâng cao ý thức học tập nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
Đồng thời khai thác sử dụng phương tiện dạy học hiệu quả, để giúp học sinh lĩnh hội tri thức một cách trực quan hơn, dễ dàng nắm bắt kiến thức mới, chú trọng việc áp dụng công nghệ thông tin, dạy học trình chiếu.
Trò chơi còn cập nhật kiến thức mang tính “thời sự”, tính “nóng” của các vấn đề xã hội.
* Các bước, quy trình thực hiện giải pháp:
- Lựa chọn nội dung kiến thức trong chương trình để xây dựng trò chơi phù hợp: Mỗi nội dung kiến thức khác nhau phải lựa chọn trò chơi, hình thức chơi khác nhau để việc truyền tải kiến thức mới hay củng cố kiến thức một cách tốt nhất, phù hợp nhất, học sinh tiếp nhận trò chơi dễ dàng, dễ lĩnh hội kiến thức được truyền tải.
- Thiết kế trò chơi theo các bước cụ thể như sau:
+ Bước 1: Xác định mục tiêu bài học để chọn trò chơi phù hợp.
+ Bước 2: Chuẩn bị trò chơi:
Xác định rõ ràng số nhóm chơi, số người chơi trong nhóm, các đồ dùng, thiết bị phục vụ trò chơi, hệ thống câu hỏi phù hợp để tổ chức trò chơi.
Xây dựng luật chơi.
+ Bước 3: Thực hiện trò chơi:
Giáo viên hướng dẫn học sinh cách chơi, nêu tiêu chí đánh giá, thang điểm cho từng trò chơi.
Có những trò chơi tôi sẽ tìm ra 1 - 2 bạn học sinh khá - giỏi trong lớp thường là cán bộ lớp làm “trọng tài” để giám sát các đội chơi để trò chơi diễn ra khách quan nhất, tránh việc học sinh ý kiến là giáo viên thiên vị các nhóm tham gia trò chơi khi điều khiển.
Yêu cầu học sinh dừng trò chơi đúng lúc khi đội chơi đã có kết quả thắng thua rõ ràng hay vi phạm thời gian quy định của trò chơi hoặc khi học sinh có dấu hiệu mệt mỏi, chán nản, vừa đảm bảo hiệu quả, đảm bảo thời gian.
Khi trò chơi đang diễn ra, giáo viên cần quan sát học sinh chơi để biết thái độ, hành vi, cử chỉ, phong cách của từng học sinh để điều chỉnh cho phù hợp. Đôi khi trong quá trình chơi giáo viên cũng có thể chuyển hướng với những dự kiến để làm không khí lớp học sôi nổi, vui vẻ hơn.
+ Bước 4: Kết thúc, đánh giá trò chơi:
Dựa vào hình thức trò chơi mà giáo viên đưa ra cách đánh giá khác nhau
Giáo viên là người đóng vai trò quan trọng nhất trong hoạt động trò chơi, phải xử lý tình huống một cách khách quan, không thiên vị, không dễ dãi.
Giáo viên công bố kết quả chung cuộc của trò chơi, khen thưởng các thành viên của đội thắng cuộc bằng quà tặng hoặc khen thưởng bằng điểm số để động viên, khích lệ học sinh.
- Một số trò chơi trong dạy học môn Toán đã được áp dụng vào giảng dạy môn Toán 6 tại trường THCS Chiềng Khoong:
+ Trò chơi 1: Trò chơi “Trò chơi ô chữ”:
Ví dụ: Tiết dạy Ôn tập giữa kỳ I – Số học 6 tôi có thể cho các em học sinh cùng chơi trò chơi ô chữ để củng cố kiến thức về số tự nhiên.
Luật chơi: Chọn 2 học sinh (lớp trưởng, lớp phó học tập) làm “trọng tài”, cả lớp sẽ cùng tham gia trò chơi, học sinh sẽ trả lời các câu hỏi hàng ngang bằng hình thức viết ra bảng con và giơ lên, học sinh nào nhanh nhất sẽ giành được điểm 10. Học sinh trả lời hết các câu hỏi hàng ngang và tìm câu trả lời để tìm ra từ khóa hàng dọc. Nếu các từ hàng ngang chưa lật mở hết mà học sinh trả lời đúng từ khóa hàng dọc sẽ được phần thưởng đặc biệt.
Từ hàng dọc:
Gợi ý: Gồm 9 chữ cái.
Hàng ngang:
Câu hỏi 1: Số tự nhiên lớn hơn 1, chỉ có 2 ước là 1 và chính nó?
Đáp án: SỐ NGUYÊN TỐ
Câu hỏi 2: Các số I, V, X, XII, XVI là các .…..
Đáp án: SỐ LA MÃ
Câu hỏi 3: Phép nhân nhiều thừa số bằng nhau gọi là phép nâng lên…..
Đáp án: LŨY THỪA
Câu hỏi 4: Khi thực hiện phép tính cần chú ý đến……
Đáp án: THỨ TỰ
Câu hỏi 5: Cho tập hợp A = {1; 2; 3; 4; 5}. Các số 1; 2; 3; 4; 5 gọi là các………….của tập hợp.
Đáp án: PHẦN TỬ
Câu hỏi 6: Số tự nhiên lớn hơn 1, có nhiều hơn 2 ước?
Đáp án: HỢP SỐ
Câu hỏi 7: Nếu tất cả các số hạng của tổng đều…………..cho cùng một số thì tổng……..cho số đó.
Đáp án: CHIA HẾT
Câu hỏi 8: Một trong hai cách để viết một tập hợp?
Đáp án: LIỆT KÊ
Câu hỏi 9: Một tính chất của phép nhân số tự nhiên?
Đáp án: GIAO HOÁN
Sau khi học sinh trả lời được từ khóa hàng dọc, tôi chốt lại: Các kiến thức về tập hợp, số La Mã, số nguyên tố, hợp số, lũy thừa, tính chất của phép cộng, phép nhân số tự nhiên, thứ tự thực hiện phép tính, quan hệ chia hết là các kiến thức trọng tâm của chương I “Số tự nhiên”.
Đối với hình thức tổ chức trò chơi này phù hợp với các tiết luyện tập, ôn tập hệ thống hóa kiến thức, củng cố nội dung bài học. Hình thức trò chơi này học sinh cả lớp đều được tham gia giúp phát triển óc thông minh, sự nhanh nhẹn, có khả năng phân tích, phán đoán. Kích thích hứng thú học tập của học sinh.
+ Trò chơi 2: Trò chơi “Lật mảnh ghép”:
Ví dụ: Trong tiết dạy “So sánh các số tự nhiên” tôi thiết kế các câu hỏi để củng cố kiến thức về so sánh số tự nhiên. Đồng thời tích hợp liên môn qua bài toán thực tế, giới thiệu khoa học tự nhiên giúp các em có những hiểu biết thêm về khoa học tự nhiên.
Luật chơi: chọn 2 đội chơi, mỗi đội 3 thành viên, mỗi đội lần lượt chọn miếng ghép có số thứ tự từ 1 đến 6, mỗi miếng ghép tương ứng với 1 câu hỏi, trả lời đúng được 10 điểm, thời gian suy nghĩ mỗi câu là 15 giây, hết thời gian đội chọn không trả lời được thì đội kia có quyền trả lời. Nếu 2 đội không trả lời được thì miếng ghép sẽ không được lật mở. Nếu chưa lật hết các miếng ghép mà đội nào trả lời được tên bức hình thì sẽ được 20 điểm.
Số 1: Sắp xếp các số 4 879; 12 104; 12 756; 6 792; 142 984; 120 536; 51 118; 49 528 theo thứ tự tăng dần?
Đáp án: Thứ tự tăng dần 4 879; 6 792; 12 104; 12 756; 49 528; 51 118; 120 536; 142 984.
Số 2: Tìm số tự nhiên lớn nhất có 3 chữ số khác nhau?
Đáp án: 987
Số 3: Tìm số tự nhiên chẵn nhỏ nhất có 5 chữ số?
Đáp án: 10 000
Số 4: Tìm số tự nhiên chẵn lớn nhất có 5 chữ số khác nhau?
Đáp án: 98 764
Số 5: Tìm số tự nhiên lẻ nhỏ nhất có 5 chữ số khác nhau?
Đáp án: 10 235
Số 6: Tìm chữ số thích hợp ở dấu * sao cho: 12 345 < 123*5 < 12 365
Đáp án: * = 5
Bức tranh là hình ảnh về Hệ Mặt Trời.
Sau khi bức tranh được lật mở tôi giới thiệu về các hành tinh trong Hệ Mặt Trời: Hệ Mặt Trời gồm 8 hành tinh, đó là: Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương. Các hành tinh trong Hệ Mặt Trời chia thành 2 nhóm. Nhóm trong gồm: Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hỏa. Nhóm ngoài gồm: Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương. Các hành tinh nhóm trong có khối lượng và kích thước khá nhỏ so với các hành tinh nhóm ngoài. Hai nhóm hành tinh ngăn cách nhau bởi một vành đai tiểu hành tinh và vô số các thiên thạch nhỏ cùng quay quanh Mặt Trời.
+ Trò chơi 3: Trò chơi “Bảo vệ môi trường”:
Ví dụ: Sau khi dạy xong bài “Phép tính lũy thừa với số mũ tự nhiên”, tôi thiết kế trò chơi “Bảo vệ môi trường” để củng cố kiến thức của bài học. Qua trò chơi, tôi muốn gửi đến các em thông điệp “Môi trường sống của chúng ta đang bị đe dọa mỗi ngày bởi hàng tấn rác thải, hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu…”. Dù nhận thức được sự biến đổi ngày càng tệ của môi trường nhưng không phải ai cũng lắng nghe và phản ứng lại với tiếng kêu cứu từ thiên nhiên. Chúng ta hãy cùng đi tìm lại sự kết nối với thiên nhiên qua những hành động nhỏ của mỗi người”. Với trò chơi này ngoài việc giáo dục cho các em nội dung môn học thì trò chơi còn mang ý nghĩa giúp các em yêu thiên nhiên, yêu môi trường hơn, giúp các em có ý thức bảo vệ môi trường.
Luật chơi: Cả lớp cùng tham gia trò chơi, khi câu hỏi xuất hiện, bạn nào giơ tay nhanh nhất và trả lời đúng thì đã góp phần công sức của mình để cứu cá voi, nếu trả lời sai thì bạn khác giơ tay giành quyền trả lời.
Các em học sinh sẽ giải cứu chú cá voi bằng cách trả lời các câu hỏi:
Câu hỏi 1: Viết kết quả của hai lũy thừa sau thành một lũy thừa 68:63?
Đáp án: 68 : 63 = 68 – 3 = 65
Câu hỏi 2: Viết tích của hai lũy thừa sau thành một lũy thừa 43 . 45?
Đáp án: 43 . 45 = 43+5 = 48
Câu hỏi 3: Hãy cho biết giá trị của lũy thừa 23?
Đáp án: 23 = 2.2.2 = 8
Câu hỏi 4: So sánh hai lũy thừa sau: 23 và 32 ?
Đáp án: 23 < 32
Sau khi học sinh trả lời hết 4 câu hỏi thì chú cá voi được giải cứu về với biển.
+ Trò chơi 4: Trò chơi “Diệt virus”:
Khi dạy xong bài “Hình chữ nhật”, tôi thiết kế trò chơi “Diệt virus” để củng cố kiến thức về hình chữ nhật. Trò chơi cũng giúp học sinh cập nhật được các tin tức “thời sự”, tính “nóng” của xã hội. “Dịch virus corona Vũ Hán 2019, còn được gọi là dịch viêm phổi cấp do chủng mới của virus corona hay dịch viêm phổi Vũ Hán (bệnh được gọi chính thức là COVID-19 bởi WHO) là một dịch bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus SARS 2 (SARS-CoV 2) đang ảnh hưởng và thiệt hại nghiêm trọng trên toàn thế giới”. Thông qua trò chơi, gửi tới các em thông điệp “Bảo vệ chính mình” bằng cách thực hiện tốt quy tắc 5K.
Luật chơi: Cả lớp cùng tham gia chơi, khi câu hỏi bắt đầu, bạn nào giơ tay nhanh nhất và trả lời đúng thì sẽ tiêu diệt được một con virus corona. Trường hợp trả lời không đúng thì bạn khác sẽ giơ tay giành quyền trả lời. Thời gian suy nghĩ cho mỗi câu trả lời là 20 giây.
Đáp án: Hình 1
Đáp án: B. 9
Đáp án: D. MP = NQ
Đáp án: C. 8cm
+ Trò chơi 5: Trò chơi “Giúp đỡ nhà nông”:
Sau khi học xong bài “Phép cộng, phép trừ các số tự nhiên”, tôi thiết kế trò chơi “Giúp đỡ nhà nông” để củng cố kiến thức cho học sinh. Qua trò chơi cũng giúp học sinh yêu thích lao động, biết quý trọng người nông dân.
Luật chơi: Cả lớp cùng tham gia trò chơi, khi câu hỏi bắt đầu, bạn nào giơ tay nhanh nhất được quyền trả lời, trả lời đúng được phần thưởng, trả lời sai học sinh khác giành quyền trả lời. Mỗi câu trả lời đúng tức là đã giúp được nhà nông nhặt được 1 quả trứng.
+ Trò chơi 6: Trò chơi “Hái táo”:
Khi dạy bài “Ôn tập giữa kỳ I”, tôi thiết kế trò chơi “Hái táo” vừa ôn tập củng cố kiến thức vừa tạo không khí học tập vui vẻ, thoải mái.
+ Trò chơi 7: Trò chơi “Ai nhanh hơn”:
Sau khi dạy xong bài “Dấu hiệu chia hết cho 2, cho 5” (mục luyện tập, vận dụng), tôi thiết kế trò chơi “Ai nhanh hơn” để củng cố khắc sâu kiến thức cho học sinh về dấu hiệu chia hết cho 2, cho 5. Trò chơi này tạo cho các em tinh thần đoàn kết, phát triển năng lực hợp tác nhóm, năng lực tính toán, năng lực tư duy.
Luật chơi: Chia lớp thành 4 đội (mỗi đội 3 học sinh): Monkey, Tiger; Panda; Bear. Khi câu hỏi xuất hiện, đội nào nhanh tay nhất giành được quyền trả lời. Đội nào có thành viên trả lời đúng thì sẽ được tiến lên 1 thanh gỗ để đến được bờ. Nếu sai thì đội khác có quyền trả lời. Đội nào qua sông (đến khúc gỗ số 5) trước hoặc đi được nhiều nhất thì đội đó giành chiến thắng.
3. Ưu điểm, nhược điểm của biện pháp mới.
* Ưu điểm:
Gây hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em xác định rõ động cơ học tập, từ đó ý thức học tập các giờ chính khóa và tự học sẽ được nâng lên.
Giúp các em tiếp cận môn học tốt hơn để mỗi giờ học Toán là một tiết học được các em mong chờ, từ đó các em cũng chủ động hơn trong việc lĩnh hội tri thức, nhờ đó nâng cao chất lượng dạy và học.
Tiết học vui vẻ, sôi nổi, thoải mái, không bị gò ép khi học sinh vừa được học vừa được chơi.
Học sinh mạnh dạn, tự tin tham gia hoạt động học tập, không còn lo lắng, sợ hãi khi học tiết toán.
* Nhược điểm:
Biện pháp yêu cầu giáo viên phải dành nhiều thời gian nghiên cứu và chuẩn bị hơn cho từng nội dung bài học.
Phải có điều kiện áp dụng công nghệ thông tin.
4. Hiệu quả áp dụng biện pháp.
Từ những hình thức tổ chức trò chơi như trên đã giúp học sinh tiếp thu một cách dễ dàng hơn, không khí lớp học sôi nổi, vui tươi hơn, môn Toán sẽ không còn quá khô khan, thay vào đó là sự yêu thích môn học, nhờ đó nâng cao hiệu quả học tập, chất lượng dạy và học.
Bảng 3: Bảng so sánh các nội dung khi chưa áp dụng biện pháp và sau khi áp dụng biện pháp:
Nội dung so sánh
Khi chưa áp dụng giải pháp
Sau khi áp dụng giải pháp
Mức độ yêu thích môn học
Ít học sinh yêu thích bộ môn.
Đa số học sinh yêu thích môn học.
Sự chủ động của học sinh
Học sinh tiếp thu kiến thức, tiếp nhận nhiệm vụ còn chậm.
Chủ động tiếp thu kiến thức hơn, nhiều em chủ động hỏi giáo viên khi có thắc mắc hay cần giúp đỡ.
Việc học trên lớp
Học sinh còn trầm.
Học sinh hăng hái phát biểu.
Việc tự học ở nhà
Học sinh lười học, lười làm bài tập.
Học sinh có ý thức học tập và làm bài tập.
Không khí lớp học
Trầm
Không khí vui tươi, lớp học sôi nổi.
Chất lượng dạy và học
Chất lượng giảng dạy còn thấp.
Chất lượng được nâng dần lên.
Sau khi thực hiện biện pháp tại lớp 6A trường THCS Chiềng Khoong, tôi thấy học sinh hứng thú, yêu thích môn học hơn, các tiết học sôi nổi, không khí vui vẻ hơn. Học sinh háo hức chờ đón tiết học Toán. Cụ thể qua kết quả khảo sát mức độ yêu thích môn học và kết quả kiểm tra giữa kỳ:
Bảng 4: Kết quả khảo sát mức độ yêu thích môn học của học sinh sau khi áp dụng biện pháp:
Lớp
Sĩ số
Đáp án A
Đáp án B
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
6A
46
40
87%
6
13%
6C
50
10
20%
40
80%
Bảng 5: Kết quả kiểm tra giữa kỳ I:
Lớp
Sĩ số
Giỏi
Khá
TB
Yếu
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
6A
46
9
19,6%
25
54,3%
11
23,9%
1
2,2%
6C
50
0
0
5
10%
28
56%
17
34%
* Một số hình ảnh tham gia trò chơi:
III. Kết luận
1. Ý nghĩa của biện pháp:
- Biện pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo hứng thú học tâp cho học sinh, tạo ra quá trình tương tác giữa các học sinh với nhau. Giúp học sinh tự khẳng định mình, tự đánh giá lẫn nhau, từ đó nâng cao chất lượng bộ môn. Biện pháp được nhà trường và các đồng nghiệp trong trường đánh giá khả quan, mang lại hiệu quả cao, dễ dàng thực hiện, phù hợp với đối tượng HS, với thực tiễn nhà trường và địa phương.
- Biện pháp này đã được áp dụng lần đầu đối với học sinh lớp 6A bộ môn Toán năm học 2021 – 2021 của trường THCS Chiềng Khoong và kết quả đạt được rất khả quan.
- Biện pháp áp dụng trong lĩnh vực giáo dục, cụ thể là phương pháp dạy học. Biện pháp có thể áp dụng mở rộng đối với các trường học khác trong địa bàn huyện, trong tỉnh để nâng cao hơn nữa hiệu quả giáo dục nói chung và chất lượng dạy học môn toán nói riêng.
2. Đề xuất, kiến nghị:
* Đối với nhà trường: tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học để tạo điều kiện tốt nhất cho giáo viên phát huy hết khả năng của mình.
* Đối với cấp trên: Những giải pháp có tính khả thi cao nên được phổ biến và áp dụng rộng rãi.
Chiềng Khoong, ngày 16 tháng 10 năm 2021
NGƯỜI BÁO CÁO
Bạc Thị Thương
I. Phần mở đầu
1. Lý do chọn biện pháp
Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hoà đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống; tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hoá dần ở các lớp học trên; thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh, các phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục và phương pháp giáo dục để đạt được mục tiêu đó.
Chương trình giáo dục trung học cơ sở giúp học sinh phát triển các phẩm chất, năng lực đã được hình thành và phát triển ở cấp tiểu học, tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực chung của xã hội, biết vận dụng các phương pháp học tập tích cực để hoàn chỉnh tri thức và kĩ năng nền tảng, có những hiểu biết ban đầu về các ngành nghề và có ý thức hướng nghiệp để tiếp tục học lên trung học phổ thông, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động.
Chương trình môn Toán chú trọng tính ứng dụng, gắn kết với thực tiễn hay các môn học, hoạt động giáo dục khác, đặc biệt với các môn học nhằm thực hiện giáo dục STEM, gắn với xu hướng phát triển hiện đại của kinh tế, khoa học, đời sống xã hội và những vấn đề cấp thiết có tính toàn cầu (như biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, giáo dục tài chính,...). Điều này còn được thể hiện qua các hoạt động thực hành và trải nghiệm trong giáo dục toán học với nhiều hình thức như: thực hiện những đề tài, dự án học tập về Toán, đặc biệt là những đề tài và dự án về ứng dụng toán học trong thực tiễn; tổ chức trò chơi học toán, câu lạc bộ toán học, diễn đàn, hội thảo, cuộc thi về Toán,... tạo cơ hội giúp học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm của bản thân vào thực tiễn một cách sáng tạo.
Vai trò của biện pháp đối với học sinh:
Trò chơi học tập bao gồm các quy tắc gắn với kiến thức kĩ năng có được trong hoạt động học tập, gắn với nội dung bài học, giúp học sinh khai thác rèn kinh nghiệm của bản thân để chơi. Thông qua chơi học sinh được vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học vào các tình huống của trò chơi và học sinh được thực hành củng cố, mở rộng kiến thức, kĩ năng đã học đưa vào trò chơi.
Trò chơi toán học làm thay đổi hình thức hoạt động của học sinh, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự giác, tích cực. Giúp học sinh rèn luyện,
củng cố kiến thức đồng thời phát triển các kinh nghiệm được tích lũy trong hoạt động chơi.
Trò chơi Toán học rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, thúc đẩy hoạt động trí tuệ. Sử dụng trò chơi học tập giúp quá trình học trở thành một hoạt động vui và hấp dẫn hơn, cơ hội học tập đa dạng hơn.
Qua tìm hiểu một số đồng nghiệp ở trường và học sinh, tôi nhận thấy rất ít giáo viên sử dụng phương pháp trò chơi vào giảng dạy nguyên nhân do phương phương pháp này mất nhiều thời gian chuẩn bị, giáo viên còn ngại chưa dành nhiều thời gian cho phương pháp tổ chức này, có một số ít giáo viên đưa phương pháp trò chơi vào tiết dạy thì cũng chưa vận dụng linh hoạt được việc tổ chức thực hiện. Vì vậy mà giờ học toán trở nên khô khan, học sinh không tập trung vào bài học. Từ lí do trên, tôi đã mạnh dạn đưa ra “Biện pháp sử dụng trò chơi để nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh lớp 6A khi học môn toán 6 tại trường THCS Chiềng Khoong, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La năm học 2021 – 2022”.
2. Phạm vi, đối tượng và thời gian áp dụng
Phạm vi áp dụng: Trường THCS Chiềng Khoong.
Đối tượng áp dụng: Áp dụng tại lớp 6A Trường THCS Chiềng Khoong.
Thời gian áp dụng: Từ ngày 13/9/2021 – 15/10/2021 năm học 2021 - 2022.
II. Nội dung biện pháp
1. Thực trạng biện pháp
Đầu năm học 2021 – 2022 tôi được nhà trường phân công giảng dạy 02 lớp toán 6A và 6C trong đó lớp 6A có 46 học sinh, lớp 6C có 50 học sinh. Qua giảng dạy 1 tuần học đầu tôi nhận thấy học sinh rất căng thẳng, mệt mỏi, chán nản khi học toán nguyên nhân do bộ môn Toán là một môn học khó đối với học sinh, học sinh chưa nắm vững kiến thức cơ bản, chưa thấy được mối liên hệ giữa toán học với cuộc sống thực tế, chưa có kỹ năng ghi nhớ tốt, học toán thường mắc nhiều lỗi sai, dẫn đến học sinh sợ hãi, không thích học môn toán. Đầu năm học tôi đã thực hiện khảo sát mức độ hứng thú của học sinh lớp 6A, 6C với môn Toán qua câu hỏi: Em có thích học môn Toán không?
A. Thích B. Không thích
Bảng 1: Kết quả khảo sát mức độ hứng thú của học sinh khi chưa áp dụng biện pháp:
Lớp
Sĩ số
Đáp án A
Đáp án B
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
6A
46
15
32,6%
31
67,4%
6C
50
10
20%
40
80%
Qua số liệu khảo sát ta thấy mức độ hứng thú của học sinh với môn Toán là rất thấp, dẫn đến học sinh ít chú ý, ít tự học, tự tìm hiểu ở nhà. Vì vậy, khi học trên lớp các em khó hiểu bài, từ đó lơ là, chểnh mảng trong học tập, thậm chí có học sinh trốn học, ảnh hưởng tới sự tiếp thu kiến thức.
Bảng 2: Kết quả khảo sát môn Toán đầu năm học 2021 - 2022 của các lớp 6A, 6C:
Lớp
Sĩ số
Giỏi
Khá
TB
Yếu
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
6A
46
5
10,9%
13
28,3%
19
41,3%
9
19,5%
6C
50
0
0
4
8%
25
50%
21
42%
Từ những số liệu trên đòi hỏi trong quá trình dạy học phải có những cải tiến sao cho phù hợp. Lúc này, tôi cảm thấy cần phải có sự thay đổi phương pháp dạy học để kích thích hứng thú học tập của học sinh thay vì những tiết giảng chỉ sử dụng phương pháp truyền thụ theo lối thuyết trình, vấn đáp tôi đã sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo nhằm khơi dậy cho các em sự hứng thú trong học tập bộ môn. Từ đó nâng cao chất lượng học sinh.
2. Nội dung biện pháp
a) Mục đích của biện pháp:
- Đối với hoạt động mở đầu: Giúp học sinh xác định được vấn đề học tập.
- Hình thành cho các em kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tương tác giữa các cá nhân với nhau.
- Giúp quá trình truyền thụ kiến thức được nhuần nhuyễn, học sinh chủ động tiếp thu kiến thức.
- Tạo hứng thú cho học sinh trong tiết học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Khi học sinh có hứng thú với tiết học thì sẽ yêu thích môn học hơn, trong lớp sẽ hăng hái phát biểu xây dựng bài, ý thức trong các tiết học và tự học sẽ được nâng lên. Khi ý thức học của học sinh được nâng lên thì chất lượng dạy và học cũng sẽ được nâng lên.
b) Những điểm khác biệt, tính mới của biện pháp so với biện pháp đã và đang được áp dụng:
* Điểm mới trong biện pháp:
Biện pháp dạy học thông qua trò chơi gây hứng thú cho học sinh từ việc xây dựng môi trường học tập thân thiện, để gây thiện cảm với các em ngay từ đầu tiết học; gây tò mò, hào hứng, tạo cảm giác thoải mái, không bị gò ép trong quá trình học tập.
Lựa chọn thiết kế các trò chơi phù hợp với tiết học vừa để truyền tải kiến thức mới đến học sinh hoặc củng cố, luyện tập lại một nội dung kiến thức nào đó, đồng thời gây cho các em hứng thú, làm cho các em cuốn hút vào bài học hơn, từ đó các em sẽ yêu thích môn học hơn, giúp nâng cao ý thức học tập nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
Đồng thời khai thác sử dụng phương tiện dạy học hiệu quả, để giúp học sinh lĩnh hội tri thức một cách trực quan hơn, dễ dàng nắm bắt kiến thức mới, chú trọng việc áp dụng công nghệ thông tin, dạy học trình chiếu.
Trò chơi còn cập nhật kiến thức mang tính “thời sự”, tính “nóng” của các vấn đề xã hội.
* Các bước, quy trình thực hiện giải pháp:
- Lựa chọn nội dung kiến thức trong chương trình để xây dựng trò chơi phù hợp: Mỗi nội dung kiến thức khác nhau phải lựa chọn trò chơi, hình thức chơi khác nhau để việc truyền tải kiến thức mới hay củng cố kiến thức một cách tốt nhất, phù hợp nhất, học sinh tiếp nhận trò chơi dễ dàng, dễ lĩnh hội kiến thức được truyền tải.
- Thiết kế trò chơi theo các bước cụ thể như sau:
+ Bước 1: Xác định mục tiêu bài học để chọn trò chơi phù hợp.
+ Bước 2: Chuẩn bị trò chơi:
Xác định rõ ràng số nhóm chơi, số người chơi trong nhóm, các đồ dùng, thiết bị phục vụ trò chơi, hệ thống câu hỏi phù hợp để tổ chức trò chơi.
Xây dựng luật chơi.
+ Bước 3: Thực hiện trò chơi:
Giáo viên hướng dẫn học sinh cách chơi, nêu tiêu chí đánh giá, thang điểm cho từng trò chơi.
Có những trò chơi tôi sẽ tìm ra 1 - 2 bạn học sinh khá - giỏi trong lớp thường là cán bộ lớp làm “trọng tài” để giám sát các đội chơi để trò chơi diễn ra khách quan nhất, tránh việc học sinh ý kiến là giáo viên thiên vị các nhóm tham gia trò chơi khi điều khiển.
Yêu cầu học sinh dừng trò chơi đúng lúc khi đội chơi đã có kết quả thắng thua rõ ràng hay vi phạm thời gian quy định của trò chơi hoặc khi học sinh có dấu hiệu mệt mỏi, chán nản, vừa đảm bảo hiệu quả, đảm bảo thời gian.
Khi trò chơi đang diễn ra, giáo viên cần quan sát học sinh chơi để biết thái độ, hành vi, cử chỉ, phong cách của từng học sinh để điều chỉnh cho phù hợp. Đôi khi trong quá trình chơi giáo viên cũng có thể chuyển hướng với những dự kiến để làm không khí lớp học sôi nổi, vui vẻ hơn.
+ Bước 4: Kết thúc, đánh giá trò chơi:
Dựa vào hình thức trò chơi mà giáo viên đưa ra cách đánh giá khác nhau
Giáo viên là người đóng vai trò quan trọng nhất trong hoạt động trò chơi, phải xử lý tình huống một cách khách quan, không thiên vị, không dễ dãi.
Giáo viên công bố kết quả chung cuộc của trò chơi, khen thưởng các thành viên của đội thắng cuộc bằng quà tặng hoặc khen thưởng bằng điểm số để động viên, khích lệ học sinh.
- Một số trò chơi trong dạy học môn Toán đã được áp dụng vào giảng dạy môn Toán 6 tại trường THCS Chiềng Khoong:
+ Trò chơi 1: Trò chơi “Trò chơi ô chữ”:
Ví dụ: Tiết dạy Ôn tập giữa kỳ I – Số học 6 tôi có thể cho các em học sinh cùng chơi trò chơi ô chữ để củng cố kiến thức về số tự nhiên.
Luật chơi: Chọn 2 học sinh (lớp trưởng, lớp phó học tập) làm “trọng tài”, cả lớp sẽ cùng tham gia trò chơi, học sinh sẽ trả lời các câu hỏi hàng ngang bằng hình thức viết ra bảng con và giơ lên, học sinh nào nhanh nhất sẽ giành được điểm 10. Học sinh trả lời hết các câu hỏi hàng ngang và tìm câu trả lời để tìm ra từ khóa hàng dọc. Nếu các từ hàng ngang chưa lật mở hết mà học sinh trả lời đúng từ khóa hàng dọc sẽ được phần thưởng đặc biệt.
Từ hàng dọc:
Gợi ý: Gồm 9 chữ cái.
Hàng ngang:
Câu hỏi 1: Số tự nhiên lớn hơn 1, chỉ có 2 ước là 1 và chính nó?
Đáp án: SỐ NGUYÊN TỐ
Câu hỏi 2: Các số I, V, X, XII, XVI là các .…..
Đáp án: SỐ LA MÃ
Câu hỏi 3: Phép nhân nhiều thừa số bằng nhau gọi là phép nâng lên…..
Đáp án: LŨY THỪA
Câu hỏi 4: Khi thực hiện phép tính cần chú ý đến……
Đáp án: THỨ TỰ
Câu hỏi 5: Cho tập hợp A = {1; 2; 3; 4; 5}. Các số 1; 2; 3; 4; 5 gọi là các………….của tập hợp.
Đáp án: PHẦN TỬ
Câu hỏi 6: Số tự nhiên lớn hơn 1, có nhiều hơn 2 ước?
Đáp án: HỢP SỐ
Câu hỏi 7: Nếu tất cả các số hạng của tổng đều…………..cho cùng một số thì tổng……..cho số đó.
Đáp án: CHIA HẾT
Câu hỏi 8: Một trong hai cách để viết một tập hợp?
Đáp án: LIỆT KÊ
Câu hỏi 9: Một tính chất của phép nhân số tự nhiên?
Đáp án: GIAO HOÁN
Sau khi học sinh trả lời được từ khóa hàng dọc, tôi chốt lại: Các kiến thức về tập hợp, số La Mã, số nguyên tố, hợp số, lũy thừa, tính chất của phép cộng, phép nhân số tự nhiên, thứ tự thực hiện phép tính, quan hệ chia hết là các kiến thức trọng tâm của chương I “Số tự nhiên”.
Đối với hình thức tổ chức trò chơi này phù hợp với các tiết luyện tập, ôn tập hệ thống hóa kiến thức, củng cố nội dung bài học. Hình thức trò chơi này học sinh cả lớp đều được tham gia giúp phát triển óc thông minh, sự nhanh nhẹn, có khả năng phân tích, phán đoán. Kích thích hứng thú học tập của học sinh.
+ Trò chơi 2: Trò chơi “Lật mảnh ghép”:
Ví dụ: Trong tiết dạy “So sánh các số tự nhiên” tôi thiết kế các câu hỏi để củng cố kiến thức về so sánh số tự nhiên. Đồng thời tích hợp liên môn qua bài toán thực tế, giới thiệu khoa học tự nhiên giúp các em có những hiểu biết thêm về khoa học tự nhiên.
Luật chơi: chọn 2 đội chơi, mỗi đội 3 thành viên, mỗi đội lần lượt chọn miếng ghép có số thứ tự từ 1 đến 6, mỗi miếng ghép tương ứng với 1 câu hỏi, trả lời đúng được 10 điểm, thời gian suy nghĩ mỗi câu là 15 giây, hết thời gian đội chọn không trả lời được thì đội kia có quyền trả lời. Nếu 2 đội không trả lời được thì miếng ghép sẽ không được lật mở. Nếu chưa lật hết các miếng ghép mà đội nào trả lời được tên bức hình thì sẽ được 20 điểm.
Số 1: Sắp xếp các số 4 879; 12 104; 12 756; 6 792; 142 984; 120 536; 51 118; 49 528 theo thứ tự tăng dần?
Đáp án: Thứ tự tăng dần 4 879; 6 792; 12 104; 12 756; 49 528; 51 118; 120 536; 142 984.
Số 2: Tìm số tự nhiên lớn nhất có 3 chữ số khác nhau?
Đáp án: 987
Số 3: Tìm số tự nhiên chẵn nhỏ nhất có 5 chữ số?
Đáp án: 10 000
Số 4: Tìm số tự nhiên chẵn lớn nhất có 5 chữ số khác nhau?
Đáp án: 98 764
Số 5: Tìm số tự nhiên lẻ nhỏ nhất có 5 chữ số khác nhau?
Đáp án: 10 235
Số 6: Tìm chữ số thích hợp ở dấu * sao cho: 12 345 < 123*5 < 12 365
Đáp án: * = 5
Bức tranh là hình ảnh về Hệ Mặt Trời.
Sau khi bức tranh được lật mở tôi giới thiệu về các hành tinh trong Hệ Mặt Trời: Hệ Mặt Trời gồm 8 hành tinh, đó là: Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương. Các hành tinh trong Hệ Mặt Trời chia thành 2 nhóm. Nhóm trong gồm: Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hỏa. Nhóm ngoài gồm: Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương. Các hành tinh nhóm trong có khối lượng và kích thước khá nhỏ so với các hành tinh nhóm ngoài. Hai nhóm hành tinh ngăn cách nhau bởi một vành đai tiểu hành tinh và vô số các thiên thạch nhỏ cùng quay quanh Mặt Trời.
+ Trò chơi 3: Trò chơi “Bảo vệ môi trường”:
Ví dụ: Sau khi dạy xong bài “Phép tính lũy thừa với số mũ tự nhiên”, tôi thiết kế trò chơi “Bảo vệ môi trường” để củng cố kiến thức của bài học. Qua trò chơi, tôi muốn gửi đến các em thông điệp “Môi trường sống của chúng ta đang bị đe dọa mỗi ngày bởi hàng tấn rác thải, hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu…”. Dù nhận thức được sự biến đổi ngày càng tệ của môi trường nhưng không phải ai cũng lắng nghe và phản ứng lại với tiếng kêu cứu từ thiên nhiên. Chúng ta hãy cùng đi tìm lại sự kết nối với thiên nhiên qua những hành động nhỏ của mỗi người”. Với trò chơi này ngoài việc giáo dục cho các em nội dung môn học thì trò chơi còn mang ý nghĩa giúp các em yêu thiên nhiên, yêu môi trường hơn, giúp các em có ý thức bảo vệ môi trường.
Luật chơi: Cả lớp cùng tham gia trò chơi, khi câu hỏi xuất hiện, bạn nào giơ tay nhanh nhất và trả lời đúng thì đã góp phần công sức của mình để cứu cá voi, nếu trả lời sai thì bạn khác giơ tay giành quyền trả lời.
Các em học sinh sẽ giải cứu chú cá voi bằng cách trả lời các câu hỏi:
Câu hỏi 1: Viết kết quả của hai lũy thừa sau thành một lũy thừa 68:63?
Đáp án: 68 : 63 = 68 – 3 = 65
Câu hỏi 2: Viết tích của hai lũy thừa sau thành một lũy thừa 43 . 45?
Đáp án: 43 . 45 = 43+5 = 48
Câu hỏi 3: Hãy cho biết giá trị của lũy thừa 23?
Đáp án: 23 = 2.2.2 = 8
Câu hỏi 4: So sánh hai lũy thừa sau: 23 và 32 ?
Đáp án: 23 < 32
Sau khi học sinh trả lời hết 4 câu hỏi thì chú cá voi được giải cứu về với biển.
+ Trò chơi 4: Trò chơi “Diệt virus”:
Khi dạy xong bài “Hình chữ nhật”, tôi thiết kế trò chơi “Diệt virus” để củng cố kiến thức về hình chữ nhật. Trò chơi cũng giúp học sinh cập nhật được các tin tức “thời sự”, tính “nóng” của xã hội. “Dịch virus corona Vũ Hán 2019, còn được gọi là dịch viêm phổi cấp do chủng mới của virus corona hay dịch viêm phổi Vũ Hán (bệnh được gọi chính thức là COVID-19 bởi WHO) là một dịch bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus SARS 2 (SARS-CoV 2) đang ảnh hưởng và thiệt hại nghiêm trọng trên toàn thế giới”. Thông qua trò chơi, gửi tới các em thông điệp “Bảo vệ chính mình” bằng cách thực hiện tốt quy tắc 5K.
Luật chơi: Cả lớp cùng tham gia chơi, khi câu hỏi bắt đầu, bạn nào giơ tay nhanh nhất và trả lời đúng thì sẽ tiêu diệt được một con virus corona. Trường hợp trả lời không đúng thì bạn khác sẽ giơ tay giành quyền trả lời. Thời gian suy nghĩ cho mỗi câu trả lời là 20 giây.
Đáp án: Hình 1
Đáp án: B. 9
Đáp án: D. MP = NQ
Đáp án: C. 8cm
+ Trò chơi 5: Trò chơi “Giúp đỡ nhà nông”:
Sau khi học xong bài “Phép cộng, phép trừ các số tự nhiên”, tôi thiết kế trò chơi “Giúp đỡ nhà nông” để củng cố kiến thức cho học sinh. Qua trò chơi cũng giúp học sinh yêu thích lao động, biết quý trọng người nông dân.
Luật chơi: Cả lớp cùng tham gia trò chơi, khi câu hỏi bắt đầu, bạn nào giơ tay nhanh nhất được quyền trả lời, trả lời đúng được phần thưởng, trả lời sai học sinh khác giành quyền trả lời. Mỗi câu trả lời đúng tức là đã giúp được nhà nông nhặt được 1 quả trứng.
+ Trò chơi 6: Trò chơi “Hái táo”:
Khi dạy bài “Ôn tập giữa kỳ I”, tôi thiết kế trò chơi “Hái táo” vừa ôn tập củng cố kiến thức vừa tạo không khí học tập vui vẻ, thoải mái.
+ Trò chơi 7: Trò chơi “Ai nhanh hơn”:
Sau khi dạy xong bài “Dấu hiệu chia hết cho 2, cho 5” (mục luyện tập, vận dụng), tôi thiết kế trò chơi “Ai nhanh hơn” để củng cố khắc sâu kiến thức cho học sinh về dấu hiệu chia hết cho 2, cho 5. Trò chơi này tạo cho các em tinh thần đoàn kết, phát triển năng lực hợp tác nhóm, năng lực tính toán, năng lực tư duy.
Luật chơi: Chia lớp thành 4 đội (mỗi đội 3 học sinh): Monkey, Tiger; Panda; Bear. Khi câu hỏi xuất hiện, đội nào nhanh tay nhất giành được quyền trả lời. Đội nào có thành viên trả lời đúng thì sẽ được tiến lên 1 thanh gỗ để đến được bờ. Nếu sai thì đội khác có quyền trả lời. Đội nào qua sông (đến khúc gỗ số 5) trước hoặc đi được nhiều nhất thì đội đó giành chiến thắng.
3. Ưu điểm, nhược điểm của biện pháp mới.
* Ưu điểm:
Gây hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em xác định rõ động cơ học tập, từ đó ý thức học tập các giờ chính khóa và tự học sẽ được nâng lên.
Giúp các em tiếp cận môn học tốt hơn để mỗi giờ học Toán là một tiết học được các em mong chờ, từ đó các em cũng chủ động hơn trong việc lĩnh hội tri thức, nhờ đó nâng cao chất lượng dạy và học.
Tiết học vui vẻ, sôi nổi, thoải mái, không bị gò ép khi học sinh vừa được học vừa được chơi.
Học sinh mạnh dạn, tự tin tham gia hoạt động học tập, không còn lo lắng, sợ hãi khi học tiết toán.
* Nhược điểm:
Biện pháp yêu cầu giáo viên phải dành nhiều thời gian nghiên cứu và chuẩn bị hơn cho từng nội dung bài học.
Phải có điều kiện áp dụng công nghệ thông tin.
4. Hiệu quả áp dụng biện pháp.
Từ những hình thức tổ chức trò chơi như trên đã giúp học sinh tiếp thu một cách dễ dàng hơn, không khí lớp học sôi nổi, vui tươi hơn, môn Toán sẽ không còn quá khô khan, thay vào đó là sự yêu thích môn học, nhờ đó nâng cao hiệu quả học tập, chất lượng dạy và học.
Bảng 3: Bảng so sánh các nội dung khi chưa áp dụng biện pháp và sau khi áp dụng biện pháp:
Nội dung so sánh
Khi chưa áp dụng giải pháp
Sau khi áp dụng giải pháp
Mức độ yêu thích môn học
Ít học sinh yêu thích bộ môn.
Đa số học sinh yêu thích môn học.
Sự chủ động của học sinh
Học sinh tiếp thu kiến thức, tiếp nhận nhiệm vụ còn chậm.
Chủ động tiếp thu kiến thức hơn, nhiều em chủ động hỏi giáo viên khi có thắc mắc hay cần giúp đỡ.
Việc học trên lớp
Học sinh còn trầm.
Học sinh hăng hái phát biểu.
Việc tự học ở nhà
Học sinh lười học, lười làm bài tập.
Học sinh có ý thức học tập và làm bài tập.
Không khí lớp học
Trầm
Không khí vui tươi, lớp học sôi nổi.
Chất lượng dạy và học
Chất lượng giảng dạy còn thấp.
Chất lượng được nâng dần lên.
Sau khi thực hiện biện pháp tại lớp 6A trường THCS Chiềng Khoong, tôi thấy học sinh hứng thú, yêu thích môn học hơn, các tiết học sôi nổi, không khí vui vẻ hơn. Học sinh háo hức chờ đón tiết học Toán. Cụ thể qua kết quả khảo sát mức độ yêu thích môn học và kết quả kiểm tra giữa kỳ:
Bảng 4: Kết quả khảo sát mức độ yêu thích môn học của học sinh sau khi áp dụng biện pháp:
Lớp
Sĩ số
Đáp án A
Đáp án B
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
6A
46
40
87%
6
13%
6C
50
10
20%
40
80%
Bảng 5: Kết quả kiểm tra giữa kỳ I:
Lớp
Sĩ số
Giỏi
Khá
TB
Yếu
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
6A
46
9
19,6%
25
54,3%
11
23,9%
1
2,2%
6C
50
0
0
5
10%
28
56%
17
34%
* Một số hình ảnh tham gia trò chơi:
III. Kết luận
1. Ý nghĩa của biện pháp:
- Biện pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo hứng thú học tâp cho học sinh, tạo ra quá trình tương tác giữa các học sinh với nhau. Giúp học sinh tự khẳng định mình, tự đánh giá lẫn nhau, từ đó nâng cao chất lượng bộ môn. Biện pháp được nhà trường và các đồng nghiệp trong trường đánh giá khả quan, mang lại hiệu quả cao, dễ dàng thực hiện, phù hợp với đối tượng HS, với thực tiễn nhà trường và địa phương.
- Biện pháp này đã được áp dụng lần đầu đối với học sinh lớp 6A bộ môn Toán năm học 2021 – 2021 của trường THCS Chiềng Khoong và kết quả đạt được rất khả quan.
- Biện pháp áp dụng trong lĩnh vực giáo dục, cụ thể là phương pháp dạy học. Biện pháp có thể áp dụng mở rộng đối với các trường học khác trong địa bàn huyện, trong tỉnh để nâng cao hơn nữa hiệu quả giáo dục nói chung và chất lượng dạy học môn toán nói riêng.
2. Đề xuất, kiến nghị:
* Đối với nhà trường: tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học để tạo điều kiện tốt nhất cho giáo viên phát huy hết khả năng của mình.
* Đối với cấp trên: Những giải pháp có tính khả thi cao nên được phổ biến và áp dụng rộng rãi.
Chiềng Khoong, ngày 16 tháng 10 năm 2021
NGƯỜI BÁO CÁO
Bạc Thị Thương
 








Các ý kiến mới nhất