VÕ NGUYÊN GIÁP MỘT CUỘC ĐỜI

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 16h:21' 28-02-2024
Dung lượng: 6.6 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 16h:21' 28-02-2024
Dung lượng: 6.6 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Q. GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PHẠM CHÍ THÀNH
Chịu trách nhiệm nội dung:
PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
TS. ĐỖ QUANG DŨNG
Biên tập nội dung:
ThS. LÊ THỊ THANH HUYỀN
ThS. NGUYỄN THỊ HẢI BÌNH
NGUYỄN THU HƯỜNG
ThS. NGUYỄN VIỆT HÀ
Trình bày bìa:
NGUYỄN MẠNH HÙNG
NGUYỄN THU THẢO
Chế bản vi tính:
Đọc sách mẫu:
NGUYỄN THU HƯỜNG
BÍCH LIỄU
Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 892-2020/CXBIPH/16-295/CTQG.
Số quyết định xuất bản: 4881-QĐ/NXBCTQG, ngày 16/04/2020.
Nộp lưu chiểu: tháng 5 năm 2020.
Mã ISBN: 978-604-57-5558-7.
Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm
cña Th− viÖn Quèc gia ViÖt Nam
Ruscio, Alain
Vâ Nguyªn Gi¸p - Mét cuéc ®êi : S¸ch tham kh¶o / Alain
Ruscio ; NguyÔn V¨n Sù dÞch. - XuÊt b¶n lÇn thø 3. - H. : ChÝnh trÞ
Quèc gia, 2018. - 132tr. ; 19cm
1. Vâ Nguyªn Gi¸p, 1911-2013, §¹i t−íng, ViÖt Nam 2. TiÓu
sö 3. Sù nghiÖp 4. S¸ch tham kh¶o
959.704092 - dc23
CTL0111p-CIP
Lời Nhà xuất bản
Trong thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam đã lập nên hai chiến
công chói lọi: đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
lược. Mỗi khi nói về hai chiến công vẻ vang ấy, Nhân dân
Việt Nam và thế giới thường nhắc tới hình ảnh của vị Đại
tướng - Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam Võ
Nguyên Giáp. Cuộc đời huyền thoại của ông đã được tổng
kết: đánh bại 8 tướng Pháp, 4 tướng Mỹ và là một trong
những nhà chỉ huy quân sự lừng danh của thế giới hiện đại.
Để tưởng nhớ vị Đại tướng của Nhân dân, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản lần thứ ba cuốn sách “Võ
Nguyên Giáp - Một cuộc đời”, được dịch từ cuốn “Vo Nguyen
Giap, Une vie” của Giáo sư sử học người Pháp Alain Ruscio,
Nhà xuất bản Indes Savantes.
Cuốn sách được Giáo sư Alain Ruscio biên soạn qua các
cuộc phỏng vấn Đại tướng, từ năm 1979 đến 2008. Tác giả từng
được gặp Đại tướng khi còn là phóng viên thường trú, đặc
phái viên của báo Nhân đạo (L'Humanité) tại Hà Nội năm 1979,
nhân dịp kỷ niệm 25 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Sau này,
ông Alain Ruscio còn có nhiều lần được gặp lại Đại tướng...
6
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
Các cuộc trò chuyện giữa Giáo sư Alain Ruscio và Đại
tướng Võ Nguyên Giáp đã được ghi lại như những thước phim
sống động về cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng trong tiến
trình phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Tuy nhiên, như Giáo sư Alain Ruscio đã nêu ở lời nói
đầu, vì “tuổi cao, sức khỏe giảm sút dần, ông (Đại tướng Võ
Nguyên Giáp - BT) không có thì giờ đọc lại những ghi chép
của tôi” và để xuất bản “tôi đã phải thu gọn lại - toàn bộ
phần nói về thời kỳ rất gần đây - đại thể là từ sau năm 1975 đã không thể đưa vào cuốn sách này”. Cho nên có những
đánh giá, phân tích của Đại tướng về một số nhân vật, sự
kiện quan trọng được Giáo sư Alain Ruscio ghi trong sách
nhưng chưa được Đại tướng xem lại.
Trong cuốn sách, Giáo sư Alain Ruscio cũng đưa ra những
suy nghĩ, đánh giá của riêng ông, của các học giả phương Tây
về một số nhân vật và sự kiện có liên quan tới Cách mạng
Tháng Tám, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ của dân tộc Việt Nam. Để bạn đọc thuận tiện khi nghiên
cứu, tham khảo, chúng tôi giữ nguyên các luận chứng của Giáo
sư Alain Ruscio và coi đây là các quan điểm riêng. Nhân đây,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật cũng xin cảm ơn Giáo
sư sử học Alain Ruscio vì đã trao tặng bản quyền cuốn sách.
Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 7 năm 2018
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Lời nói đầu
Dạo đó vào tháng 3 năm 1979 tại Hà Nội, đất nước
Việt Nam đang trải qua những thời khắc khó khăn nhất
trong lịch sử của mình. Những hy vọng - có thể là quá
mức - của mùa Xuân 1975 chưa đem lại kết quả mong
muốn. Quân đội Trung Quốc vừa chịu thất bại, chắc hẳn
rồi, nhưng vẫn còn đang ở biên giới phía Bắc, luôn luôn
uy hiếp Việt Nam. Người Việt Nam còn ở Campuchia
và dù tự cho là mình đang ở thế phòng ngự chính đáng,
vẫn không được dư luận thế giới thông cảm. Phương
Tây đang tính bắt Việt Nam phải trả giá đắt cho chiến
thắng 1975, áp đặt một cuộc bao vây kinh tế và chính trị
hữu hiệu. Nước Pháp dưới thời Giscard d'Estaing
không phải là nước cuối cùng phun nọc độc vào thuộc
địa cũ của mình. Nước Việt Nam đang gắn bó, mà chắc
có lẽ họ muốn tránh, với Liên Xô và Hội đồng Tương trợ
kinh tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa đang suy yếu
trong thập niên cuối cùng tồn tại của mình.
Thời kỳ đó tôi đang ở Việt Nam. Là nhà báo, đặc
phái viên thường trú của báo L'Humanité, nhưng là
8
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
nhà sử học được đào tạo làm nghề, thật sự tôi không
quên ngày kỷ niệm lần thứ 25 chiến thắng Điện Biên
Phủ (7 tháng 5) sắp đến gần, tôi thấy đó là một động
cơ cũng như một… cái cớ để xin được gặp Đại tướng
Võ Nguyên Giáp. Lời thỉnh cầu được tiếp nhận. Tuy
nhiên, Vụ Báo chí - Bộ Ngoại giao đã yêu cầu tôi chỉ
được phỏng vấn trong khoảng một giờ vì Đại tướng
rất bận. Tôi hiểu cụm từ “rất bận” này theo một ý
khác: Tướng Giáp không còn là Tổng Tư lệnh Quân
đội nhân dân Việt Nam vẫn thường cho ý kiến về các
vấn đề quân sự ở biên giới phía Bắc.
Hôm đó trên phố phường Hà Nội nghèo khó, đầy
xe đạp và cái tàu điện già nua thời thuộc địa để lại,
tôi nghĩ rằng tôi sắp đến Cuộc hẹn với Lịch sử. Và cuối
cùng, tuy cách dùng chữ của tôi hơi hoa mỹ, sự thật
cũng gần đúng như thế. Tôi không nhớ chính xác chỗ
hẹn lần đầu tiên ấy là chỗ nào, ngược lại, tôi vẫn nhớ
như in trong tâm trí hình ảnh đầu tiên về Tướng
Giáp đứng đợi tôi ở đầu cầu thang và đôi mắt tôi
không thể rời khỏi bóng dáng ông trong khi tôi thong
thả bước lên các bậc thang. Cuộc tiếp xúc đầu tiên đã
diễn ra rất nồng nhiệt. Vị “Đại tướng chỉ tiếp được
khoảng một tiếng” và chúng tôi đã ở bên nhau ba
tiếng đồng hồ. Việc mang hai danh nghĩa - nhà báo
của tờ L'Humanité và nhà sử học chuyên nghiên cứu
về chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất - rõ ràng đã
giúp tôi rất nhiều.
LỜI NÓI ĐẦU
9
Lễ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ lần thứ 25
đó… rồi đến kỷ niệm lần thứ 50 cũng đã qua đi… Từ
ba mươi năm nay tôi đã gặp lại ông trong mỗi lần
đến thăm Việt Nam - và cũng đã nhiều lần rồi -, chỉ
có một ngoại lệ là gần đây vào tháng 1 năm 2010, ông
không thể tiếp tôi vì đã yếu quá rồi ở cái tuổi ngót
nghét một trăm…
Cứ mỗi lần được ông tiếp, tôi ghi chép hàng
trang… hàng trang trong cuốn sổ tay. Cũng hoàn toàn
tự nhiên tôi nảy ra ý tưởng cho ra đời một cuốn sách về
những cuộc trò chuyện với Tướng Giáp. Nhưng không
dễ chút nào. Vị Đại tướng cũng như những người Việt
Nam khác, những người cộng sản thường như vậy,
không thích xưng “tôi” trong khi trò chuyện. Không
phải là sự khiêm nhường giả tạo, khi ông khẳng định
“chính là quần chúng nhân dân đã làm nên Lịch sử”, là
một nhà mácxít chân chính, ông tin vào điều mình nói.
Ông không phải là người cha của Quân đội nhân dân
Việt Nam hay sao? Không phải là người chiến thắng ở
Điện Biên Phủ, không phải là nhà chiến lược trong cuộc
chiến tranh chống lại đế quốc Mỹ? Chắc chắn là phải
như thế.
Tôi đã phải năn nỉ để ông nhận lời tiếp chuyện tôi.
Rồi sau đó, cũng phải đợi để ông cho phép công bố.
Giữa hai chúng tôi đã có lúc nói vui với nhau:
- Khi nào thì được công bố, thưa ông?
- Đến lúc nào thời gian cho phép…
10
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
Trung thành với lời nói của mình, tôi đã đợi đến lúc
thời gian cho phép…
Cuối cùng tôi đã phải thu gọn lại - toàn bộ phần nói
về thời kỳ rất gần đây - đại thể là từ sau năm 1975 - đã
không thể đưa vào cuốn sách này. Tướng Giáp là một
người rất ưa hoạt động nhưng tuổi cao, sức khỏe giảm
sút dần, ông không có thì giờ đọc lại những bản ghi
chép của tôi…
Vì vậy, đây là cuốn tư liệu vốn như thế nào thì nay
vẫn như thế, đã đến với bạn đọc. Đó là một tượng đài
của lịch sử thế giới đang nói chuyện với bạn đọc. Tất
nhiên là cách phát biểu, thường hay được sử dụng nên
đôi khi không đúng với ý nghĩa thật sự phải có. Nhưng
chỉ cần vài giây suy nghĩ cũng thấy có người nào đã có
thể hòa lẫn cuộc đời của mình với bao sự kiện lớn lao
của lịch sử nhân loại ở thế kỷ XX, trong đó phần trọng
yếu là thuộc lịch sử của Việt Nam!
Giáo sư dạy sử
Trước khi đi vào thời kỳ mà cuộc đời ông gắn chặt
với những thời điểm quyết định của lịch sử đất nước
ông - và lịch sử thế giới - tôi muốn ông nhớ lại thời còn
trẻ, ông đã lên lớp giảng dạy môn Lịch sử, như tôi được
biết, đó là tại Trường Thăng Long?
Đúng là như vậy. Ngôi trường này không có mùi vị
thánh thiện gì với nhà cầm quyền thuộc địa! Nhưng
phải nói rằng vị Hiệu trưởng là ông Hoàng Minh
Giám1, một nhà yêu nước chân chính, đảng viên Đảng
Xã hội, và các thầy giáo đứng lớp được xem như thường là đúng - những người cộng sản, và như thế họ
được Sở Mật thám giám sát chặt chẽ, trong đó có cụ
Đặng Thai Mai, sau này là ông nhạc tôi…
_________
1. Năm 1945, ông Hoàng Minh Giám là Bộ trưởng Ngoại
giao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (TG).
Có lẽ tác giả có sự nhầm lẫn về thời gian. Tháng 3 năm
1947, ông Hoàng Minh Giám mới giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại
giao và đảm nhiệm cương vị này đến năm 1954 (theo Bộ Ngoại
giao: Chân dung năm cố Bộ trưởng Ngoại giao, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 24) (BT).
12
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
Và cả chính ông nữa?
Tôi chỉ bị “chú ý” chút đỉnh thôi1...
Chúng ta trở lại vài thập niên nhé. Hãy tưởng tượng
tôi là học trò của ông. Ông sẽ dạy tôi những gì về quá
khứ của đất nước ông?
Ông nói rất đúng là hãy bắt đầu bằng Lịch sử Việt
Nam, thời gian lâu, rất lâu trước khi tổ tiên người Pháp
các ông đến (Việt Nam…). Ông biết câu: “Lịch sử là mẹ
đẻ ra mọi sự thật…”. Gần đây, chúng tôi đã kỷ niệm 600
năm ngày sinh Nguyễn Trãi2. UNESCO cũng ghi việc kỷ
niệm đó vào chương trình hoạt động của họ, như vậy đã
nhấn mạnh đến sự đóng góp của người anh hùng dân
tộc của chúng tôi vào nền văn hóa thế giới. Ở Việt Nam,
từ rất sớm đã hình thành một nền văn minh. Người ta
có thể nói đến một nền văn minh ra đời trong thung
lũng một dòng sông, cũng như ở nơi khác, ở
_________
1. Võ Nguyên Giáp bị Sở Mật thám Pháp coi là thủ phạm
trong những hoạt động “có thiện cảm với những phần tử
Staline” (theo Thư của Thống sứ Bắc Kỳ gửi Toàn quyền Đông
Dương (Tướng Catroux), đề ngày 16 tháng 01 năm 1940, CAOM,
Aix-en-Provence). Cảm ơn anh bạn Yves Le Jariel đã cho tôi biết
tư liệu này. (CAOM là tên viết tắt của Trung tâm lưu trữ Pháp
quốc hải ngoại, đặt tại Aix-en-Provence - ND).
2. Đại văn hào Việt Nam (1380-1442). Tác giả nhiều bài thơ
Nôm, đồng thời là nhà chính trị, bạn chiến đấu gần gũi và quân
sư của Lê Lợi, vị anh hùng dân tộc đã lãnh đạo thắng lợi cuộc
khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Minh.
GIÁO SƯ DẠY SỬ
13
Mésopotamie (Lưỡng Hà) chẳng hạn. Trường hợp chúng
tôi, đó là vùng châu thổ giàu có của con sông Hồng. Ở
Mésopotamie cũng như ở nhiều nơi khác, đó là theo một
chu kỳ cổ điển: phát triển, hưng thịnh và suy tàn. Còn ở
đây, nền văn minh sông Hồng, trái lại, không ngừng
phong phú. Người ta có thể thấy, trong thời gian đầu,
hàng chục bộ lạc sống một cách tự lập trong vùng châu
thổ cũng như vùng núi… Nói tự lập không có nghĩa là
biệt lập, không có liên hệ gì với nhau. Trái lại, ở một số
thời kỳ lịch sử họ liên minh với nhau, cũng có khi tranh
giành nhau, chiến tranh với nhau. Tuy nhiên tính cách
“liên minh với nhau” được khẳng định rõ ràng nhất.
Vì những lý do gì, thưa ông?
Trước hết là phải đoàn kết để đấu tranh với sự thất
thường của thiên nhiên, bão lụt đủ các loại, để tạo cuộc
sống ít nhiều được ổn định. Chính vì thế mà từ rất
sớm, chúng tôi đã xây dựng một hệ thống đê điều,
kênh rạch chằng chịt, lao động tập thể không phải là
một lựa chọn, mà là sự bắt buộc do thiên nhiên áp đặt.
Đó chính là điều kiện cơ sở để liên minh, đoàn kết giữa
các bộ lạc. Lý do thứ hai là sức ép từ bên ngoài. Chúng
tôi luôn phải sống trước mối đe dọa xâm lược từ
phương Bắc. Theo ý tôi, đó là nguyên nhân căn bản của
việc nền văn minh sông Hồng ra đời từ rất sớm và có
sức đề kháng dẻo dai, một trong những nền văn minh
đầu tiên trong lịch sử nhân loại.
14
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
Có thể đi đến thành lập một nhà nước?
Đúng thế. Từ thời Văn Lang1. Ăngghen đã nói nhiều
lần rằng việc thành lập nhà nước đánh dấu một giai đoạn
quan trọng của sự phát triển xã hội loài người. Và cho tới
nay người ta có thể khẳng định nền văn minh của chúng
tôi ra đời cách đấy rất lâu, có sức sống phi thường.
Tôi muốn chia sẻ một nhận xét của tôi những khi đến
làm việc ở đây, tôi rất chú ý đến vai trò của Lịch sử,
luôn luôn hiện hữu trong mỗi phản ứng của dân chúng,
trong mỗi văn kiện của Chính phủ, trong mỗi cuộc trò
chuyện với những người Việt Nam ở mọi giới, ở bất kỳ
trình độ học vấn nào, có thể nói Lịch sử dân tộc đã nhập
tâm mỗi con người. Hiện tượng đó nổi bật hơn phần lớn
những nước khác mà tôi biết, nhất là ở châu Âu.
Tôi hình dung là ông đã nghiên cứu lịch sử châu Âu
thời Trung cổ. Ông đã thấy ở đó nhiều cuộc giao tranh
giữa các tập đoàn phong kiến, những vụ chém giết,
tranh giành lẫn nhau giữa các phe phái. Tính chất dân
_________
1. Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân cưới Âu Cơ làm vợ,
sinh ra trăm người con trai. Năm mươi người con theo cha
xuống vùng ven biển, năm mươi người con khác theo mẹ lên
miền núi. Lạc Long Quân truyền ngôi cho người con cả, lập nên
triều đại Hùng Vương, đứng đầu Vương quốc Văn Lang ở châu
thổ sông Hồng, cách đây 4.000 năm. Kết quả nghiên cứu lịch sử
hiện nay cho biết nhà nước của các vua Hùng là vào đầu thế kỷ VII
trước Công nguyên.
GIÁO SƯ DẠY SỬ
15
tộc được khẳng định muộn với những giai đoạn nổi bật
như cuộc chiến tranh của Jeanne d'Arc ở nước ông.
Nước Việt Nam ra đời từ những cuộc chiến tranh liên
miên để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc như các cuộc khởi
nghĩa dân tộc, những cuộc chiến tranh dân tộc. Cuộc
xâm lược đầu tiên được nói đến trong thư tịch xưa là
của Tần Thủy Hoàng ở thế kỷ III trước Công nguyên1.
Cái nôi của nền văn minh Trung Hoa là thung lũng
sông Hoàng2 cách biên giới phía nam ngày nay của
Trung Quốc hàng nghìn cây số. Tần Thủy Hoàng đã lần
lượt thu phục hàng trăm tiểu vương quốc ở miền Nam
Trung Hoa và thống nhất lại thành một đế quốc rộng
lớn. Nhưng khi tiếp xúc với nền văn minh Văn Lang,
Tần Thủy Hoàng đã vấp phải sự kháng cự của cả một
dân tộc. Thư tịch cổ Trung Hoa cũng đã nói đến điều
này. “Dân chúng chống lại. Họ cử ra những người can
đảm nhất, thông minh nhất chỉ huy cuộc kháng chiến.
Ban ngày họ ẩn nấp nơi kín đáo, ban đêm họ xông ra để
đánh lại quân Tần”. Thư tịch xưa cũng nêu rõ con số
người chết trong hàng ngũ quân đội nhà Tần là rất lớn.
Cuối cùng quân Tần lần đầu tiên bị thua. Rồi sau đó
_________
1. Tần Thủy Hoàng là vua trị vì nhà Tần từ năm 247 đến 210
trước Công nguyên, người sáng lập nhà nước phong kiến tập
trung phía bắc Trung Hoa. Thủy Hoàng đế có nghĩa là Hoàng đế
đầu tiên, đã phái quân đi đánh Việt Nam khoảng năm 211 đến 214
trước Công nguyên và lập bộ máy quân sự để cai quản.
2. Hay còn gọi là Hoàng Hà.
16
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
còn nhiều cuộc chinh phục nữa. Thế kỷ I trước Công
nguyên, đất nước tôi bị phong kiến phương Bắc đô hộ
kéo dài hơn một nghìn năm1. Thời gian đô hộ quả là rất
dài và có lẽ quá đủ để đồng hóa cả một thực thể chính
trị không được bám sâu trong dân tộc. Vậy mà người ta
nhận thấy việc đồng hóa đã không thực hiện được.
Trong hơn một nghìn năm đó, dân tộc chúng tôi từ
trước cuộc chinh phục đã được khẳng định thay vì bị
hòa tan. Đã có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra. Cuộc khởi
nghĩa đầu tiên do hai chị em họ Trưng2 vào đầu thế kỷ I
sau Công nguyên. Đặc điểm của cuộc khởi nghĩa này là
mang tính chất nhân dân. Thư tịch Trung Quốc cũng
miêu tả cho chúng ta biết cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng
lan rộng khắp 65 huyện, thành, tức là hầu hết vùng
châu thổ - khắp cả nước. Cuối cùng, vào thế kỷ X đã có
cuộc tiến công có tính quyết định chống lại kẻ chiếm
đóng. Năm 905, toàn thể dân chúng một lần nữa nổi lên
và Khúc Thừa Dụ, một hào trưởng, một nhà hiền triết
_________
1. Từ năm 111 trước Công nguyên đến năm 939 sau
Công nguyên.
2. Hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị là hai nữ anh hùng
dân tộc, ngày nay mọi người dân Việt Nam không ai là không
biết. Trưng Trắc và em là Trưng Nhị đều xuất thân từ tầng lớp
quý tộc Việt Nam, đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại quân
Hán chiếm đóng năm 40 sau Công nguyên. Hai bà xưng vua và
duy trì một vương quốc độc lập trong hai năm trước khi bị thua
trong một cuộc phản kích của quân Hán.
GIÁO SƯ DẠY SỬ
17
được toàn dân kính trọng tôn làm người đứng đầu
chính quyền tự chủ. Mấy năm sau, một tướng của họ
Khúc là Dương Đình Nghệ1 đánh đuổi người Trung
Quốc ra khỏi đất nước. Nhưng ông bị nội phản ám hại,
con rể là Ngô Quyền kéo quân về kinh đô một lần nữa
đánh đuổi quân nhà Hán định lấy lại vùng châu thổ. Có
lẽ ông đã biết chuyện chiến thắng trên sông Bạch Đằng
năm 9392, Ngô Quyền đã cho cắm xuống cửa sông
những dãy cọc to vót nhọn. Khi chiến thuyền quân
Nam Hán tiến gần vào lúc thủy triều lên, Ngô Quyền
giả thua rút chạy. Quân Nam Hán thừa thắng đuổi
theo. Khi thủy triều xuống, Ngô Quyền đã quay lại và
phản công mãnh liệt. Quân Nam Hán cố chạy trốn nhưng
thuyền chiến của họ đâm vào cọc nên đều bị đắm cả.
Tôi có ấn tượng rất rõ là một nghìn năm sau, khi
người Việt Nam nói về những sự kiện đó đều giữ trong
trái tim một niềm tự hào. Đó là chủ nghĩa dân tộc hay
là chủ nghĩa yêu nước?
Tôi gọi đó là chủ nghĩa yêu nước và chỉ là chủ nghĩa
yêu nước. Bởi lẽ ông đừng quên rằng tôi chỉ nêu lên
những giai đoạn chiến tranh bảo vệ dân tộc. Tổ quốc
_________
1. Hào mục Việt Nam nổi dậy chống quân đô hộ phương
Bắc năm 931, cầm quyền trong 10 năm trước khi bị sát hại.
2. Trận thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền chỉ huy diễn ra vào
năm 938 (BT).
18
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
chúng tôi bị chà đạp. Tổ tiên của chúng tôi đã biết đánh
đuổi kẻ áp bức. Thế rồi bắt đầu thời kỳ thứ hai, từ thế
kỷ X đến thế kỷ XIX. Một bên là nước Đại Việt - một
vương quốc Việt Nam độc lập. Một bên là nước Trung
Hoa đã thống nhất. Trong thiên niên kỷ thứ hai này
không có một triều đại nào của phong kiến Trung Hoa
không muốn sáp nhập nước chúng tôi vào đế quốc của
họ. Tất cả đều thất bại, ngay cả cuộc xâm lược thế kỷ XIII
của đế quốc Nguyên - Mông của Thành Cát Tư Hãn1 người đã chinh phục phần lớn lục địa Trung Hoa. Tại
Việt Nam, quân Nguyên - Mông đã ba lần kéo sang
xâm lược. Cả ba lần họ đã tới được kinh đô, lúc đó gọi
là Thăng Long. Ba lần họ đều bị đánh đuổi và thất bại
nhục nhã. Chắc ông biết rõ thiên tài quân sự vĩ đại
của tướng quân Trần Hưng Đạo, một trong những vị
anh hùng dân tộc của chúng tôi, đã đánh bại quân
xâm lược Mông Cổ. Tôi xin kể lại một giai thoại. Cách
_________
1. Đầu thế kỷ XIII, sau khi thống nhất Mông Cổ và chiếm
được Bắc Kinh, Thành Cát Tư Hãn tiếp tục bành trướng xuống
phía nam chiếm Nam Tống. Sau khi chinh phục được toàn bộ
Trung Quốc, người Mông Cổ tiến đánh Vương quốc Việt. Năm
1257-1258, quân xâm lược Mông Cổ ban đầu chiếm được Thăng
Long, đốt phá kinh đô của người Việt, nhưng sau đó phải rút
về vì không bảo đảm được nguồn tiếp tế từ căn cứ xuất phát
của họ vốn cách rất xa lãnh thổ Việt Nam. Năm 1285 và 1287,
quân Mông Cổ lại sang hai lần nữa. Trần Hưng Đạo thống lĩnh
quân đội đánh tan cả hai đội quân thủy, bộ Mông Cổ.
GIÁO SƯ DẠY SỬ
19
đây vài năm, tôi đến thăm Bảo tàng Ulanbato của các
đồng chí Mông Cổ, ở đó có trưng bày một tấm bản đồ
về châu Á thời Trung cổ thể hiện nước Mông Cổ thời
cực thịnh, bao gồm cả Việt Nam. Tôi nói với đồng chí
Giám đốc bảo tàng: Việt Nam là một trong số ít nước
người Mông Cổ không chiếm được lâu. Tôi nói một
trong số ít nước vì còn có Nhật Bản được biển bảo vệ.
Một thử thách lớn khác: cuộc xâm lược và đô hộ của
nhà Minh đầu thế kỷ XV?
Nền đô hộ đó “chỉ” kéo dài hơn mười năm nhưng
rất ghê gớm đối với người dân và cả dân tộc chúng tôi.
Nước Trung Hoa lúc đó đã trở thành một quốc gia hoàn
chỉnh với một nền văn minh tỏa sáng. Nói thế có nghĩa
là ý đồ đồng hóa còn lớn hơn nữa so với thời kỳ đô hộ ở
thiên niên kỷ thứ nhất. Người Minh đã có một kế hoạch
được bàn bạc kỹ lưỡng, có hệ thống nhằm xóa bỏ hoàn
toàn dân tộc Việt Nam, biến Việt Nam thành một tỉnh
của mình. Do đó có chiếu chỉ của hoàng đế nhà Minh là:
đốt hết sách vở, phá hủy bia ký, không để lại một chứng
tích nào về nền văn minh Đại Việt, ép buộc người Việt
phải theo phong tục của phong kiến Trung Quốc. Người
ta bắt thợ thủ công, tất cả những ai có kiến thức công
nghệ đem về Trung Hoa. Chính lúc đó, Lê Lợi có
Nguyễn Trãi phò tá, đứng lên lãnh đạo cuộc đấu tranh
dân tộc. Đó là một cuộc chiến tranh thật sự của toàn
dân. Mỗi người Việt Nam đều tham gia chiến đấu.
20
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
Không thể không có nhận xét sáng suốt này: các ông
có cầu viện Lịch sử điều gì không? Tinh thần yêu nước
của các ông là điều hiển nhiên. Tuy nhiên nhiệt tình của
các ông có đưa các ông đi quá xa không? Ví như các ông
sử dụng thường xuyên cụm từ “Dân tộc” theo nghĩa từ
những thời kỳ xa xưa, có xem đó là vật bảo chứng
không? Như thế có phải là lỗi thời không?
Hãy đọc lại Nguyễn Trãi, ông sẽ thấy trong đó có
hai khái niệm được cách tân một cách đáng ngạc nhiên.
Khái niệm “nhân”. Chúng ta sẽ quay lại vấn đề này,
nếu ông muốn. Không phải hôm nay tôi nói đến “dân
tộc”, đến “quốc gia” Việt Nam. Trong “Bình Ngô đại
cáo”, Nguyễn Trãi đã để lại một tác phẩm khơi gợi lòng
yêu nước, theo tôi biết, đó là một tác phẩm xưa nhất
của tư tưởng phổ biến toàn nhân loại:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên
hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Có bài thơ nào thấm đẫm lòng tự hào dân tộc như thế
không? Theo con mắt của Nguyễn Trãi, điều không thể
GIÁO SƯ DẠY SỬ
21
chối cãi, nước Đại Việt là một quốc gia, một dân tộc vì
Đại Việt là một quốc gia riêng biệt có phong tục tập quán
riêng, trong đó cộng đồng dân cư người Việt có nền văn hóa văn minh và quá trình phát triển lịch sử chung trong một
lãnh thổ được xác định bền vững… Trên hết là một tinh
thần độc lập, vượt qua mọi thử thách. Ngày nay, nhiều
bình luận có nhược điểm ngay từ gốc là đánh giá thấp
nhu cầu cấp thiết có từ sớm của chúng tôi khi phải đối
phó với một nguy cơ từ bên ngoài. Nhu cầu đó đã làm
nảy sinh sự thống nhất dân tộc dưới nhiều dạng khác
nhau. Ví như, người ta tìm thấy tại Việt Nam một số hình
thái dân chủ ở cơ sở mà phong kiến châu Âu không hề
biết. Phần lớn bản thân các tầng lớp phong kiến đều
muốn độc lập cho đất nước. Họ hiểu rằng chỉ có chiến
tranh toàn dân mới đánh đuổi được bọn xâm lược. Trần
Hưng Đạo cho rằng phải “sâu rễ, bền gốc”, nghĩa là nhân
dân là những rễ giữ cho cây đứng được vững bền.
Vậy, người ta có thể khẳng định Việt Nam đã có
một nền văn minh riêng của mình?
Đến lượt tôi xin hỏi lại ông: trên thế giới này có
nước nào lại không có một nền văn minh riêng?!
Chắc chắn là không.
Trong toàn bộ lịch sử, có những sự giao thoa thường
xuyên giữa các nền văn minh. Vậy tuyệt nhiên không có
vấn đề nhận định rằng Việt Nam có một nền văn minh
hoàn toàn tách biệt khỏi mọi nền văn minh khác, đặc biệt
22
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
là nền văn minh Trung Hoa. Nhưng tôi tin rằng người ta
có thể nói đến một cá tính riêng với các khía cạnh khác
hẳn nền văn minh Trung Hoa. Chúng ta hãy lấy Đạo
Khổng làm ví dụ. Ngay từ thời Bắc thuộc, các thầy học
thời đó đã muốn áp đặt cách tư duy Khổng học cho
người dân Việt. Đạo Khổng, đó là ý thức hệ phản ánh
trước hết quan điểm của các chủ nô, địa chủ. Khổng phu
tử và đồ đệ trực tiếp của ông sống trong một nhà nước
nô lệ đang suy tàn và đã biết chế độ phong kiến đang
hình thành ở nước Trung Hoa cổ đại. Họ bày tỏ sự miệt
thị đối với lao động, những người lao động chân tay, họ
hết sức tách biệt những người “tử tế”, những “quân tử”
khỏi người dân. Vận mệnh người dân chỉ là hầu hạ. Ở
Việt Nam, nguy cơ trực tiếp đặt ra sự cần thiết phải tôn
trọng - ít nhất là một phần - nhân dân, gắn người dân với
cuộc chiến đấu cho dân tộc. Ông hãy đọc lại Nguyễn Trãi
một lần nữa, hãy nghiên cứu hành động của Lê Lợi,
không có dấu tích gì tỏ ra khinh miệt nhân dân. Trái lại.
Một vấn đề khác: Khổng Tử không biết đến khái niệm
“Tổ quốc”. Ông đi chu du hết nước này đến nước khác.
Còn chúng tôi, chúng tôi có một Tổ quốc.
Sau đó là tổ tiên chúng tôi, những người Âu đầu tiên
ở thế kỷ XVII (những nhà truyền giáo đầu tiên)... thế kỷ XIX
(những nhà binh)… những vai diễn mới của lịch sử,
ở Viễn Đông đến đảo lộn những mối tương quan lực
lượng từ lâu đời trong vùng này của thế giới. Năm 1858
đánh dấu cuộc xung đột lớn đầu tiên giữa người Pháp
GIÁO SƯ DẠY SỬ
23
và người Việt trước cảng Đà Nẵng, mà sau này thực
dân gọi là Tourane. Sau đó ít lâu, toàn bộ lãnh thổ Việt
Nam bị thực dân đô hộ…
Đúng thế. Đó là một thử thách lớn trong lịch sử dân
tộc chúng tôi. Chúng tôi mất độc lập trong gần một trăm
năm. Ôi! Không phải là không có kháng cự, không có
khởi nghĩa, quấy rối, tiêu hao bọn chiếm đóng. Nhưng
cuối cùng, bọn đế quốc đã dần dần áp đặt sự thống trị
của chúng. Một vấn đề căn bản đặt ra với đất nước
chúng tôi. Nước chúng tôi không lớn, nền kinh tế lạc
hậu, chúng tôi không có quân đội hiện đại, “một nước
nhỏ làm sao có thể đánh bại một kẻ thù mạnh như nước
Pháp có thuộc địa, có nền kinh tế hiện đại, có quân đội
hùng mạnh?”. Vấn đề này có ý nghĩa vượt xa biên giới
Việt Nam, vì cũng vào thời điểm ấy các nước khác ở
châu Á và châu Phi cũng đã trở thành thuộc địa. Trong
thời gian đầu, đó là những sĩ phu yêu nước lãnh đạo
cuộc đấu tranh. Nhưng họ đấu tranh nhân danh truyền
thống, nhân danh chủ nghĩa bất bạo động (immobilisme).
Ngoại trừ một số trường hợp may mắn, họ còn có một
lập luận bảo thủ, thậm chí phản động. Một số người cho
rằng mọi tiến bộ, tiến hóa đều đáng lên án và những
tiếp xúc với thế giới bên ngoài là nguyên nhân của mọi
điều bất hạnh. Sau đó, những trí thức xuất thân từ tầng
lớp tiểu tư sản hay tư sản bậc trung đã nối tiếp họ lãnh
đạo đấu tranh. Nhưng họ cũng thất bại. Phong trào dân
tộc của người Việt Nam đi tìm con đường của mình phải
mất nửa thế kỷ mới tìm thấy.
Người thanh niên yêu nước
Chúng ta đã đến thời kỳ trải nghiệm của bản thân
ông gắn chặt với lịch sử của dân tộc. Tôi mong được đề
cập tiểu sử của chính ông. Nhưng tôi bắt đầu muốn tìm
hiểu Việt Nam, tôi đã hiểu trong một nước xã hội chủ
nghĩa người ta không thích nói nhiều đến bản thân
mình. Đôi chút nếu như quan điểm “duy vật lịch sử”
không tương thích với vai trò thật sự của các cá nhân
đặc biệt, tôi quyết tâm tiến hành việc nghiên cứu hồ sơ
lưu trữ và các tài liệu có liên quan đến cá nhân ông. Tôi
xin kể lại các kết quả đã đạt được. Tôi sẵn sàng để ông
ngắt lời nếu ông phát hiện ra những nhầm lẫn của tôi
hoặc ông thấy tôi hiểu sai…
Ông sinh ngày 25 tháng 8 năm 19111 tại làng An
Xá, tỉnh Quảng Bình, thuộc miền Trung. Điều đó có
_________
1. Gérard Lê Quang viết ngày sinh của Tướng Giáp là ngày
01 tháng 9 năm 1910. Georges Boudarel chỉ ghi năm sinh 1910.
Chính Võ Nguyên Giáp đã nói cho tôi ngày tháng năm sinh
chính xác của ông.
NGƯỜI THANH NIÊN YÊU NƯỚC
25
thể là một biểu tượng: Quê quán ông cách không xa,
nơi sau này là giới tuyến hai miền Bắc - Nam của
Việt Nam. Có thể nói trong tiểu sử của ông, ông đã
chứng kiến sự chia cắt đất nước ở vĩ tuyến 17 trong
suốt gần 20 năm đã gây ra nỗi đau xót cho mỗi người
dân Việt Nam. Cha ông, cụ Võ Quang Nghiêm là một
tiểu nông nghèo khổ nhưng cũng sở hữu một mảnh
đất. Như một số nông dân thời đó, cụ Nghiêm cũng là
nhà nho, nghĩa là biết đọc và biết viết chữ Hán và
chữ Nôm. Mẹ ông là một phụ nữ hiền thục, đã có ảnh
hưởng lớn với ông. Cha mẹ và họ hàng chung quanh
đều là những người yêu nước. Thời thơ ấu ông đã
được mẹ hát ru bằng những bài ca yêu nước, những
câu chuyện về các chiến công trong những cuộc kháng
chiến chống lại người Pháp. Trong tỉnh Quảng Bình
không bao giờ ngừng phong trào đấu tranh sôi sục
cho nền độc lập dân tộc. Ngay từ năm 1923, ông đã
vào Huế học tại Trường Quốc học Huế. Huế là thành
phố kinh đô của chế độ quân chủ Việt Nam, trong
thực tế, là con tin của chính quyền thuộc địa Pháp.
Tại đây phong trào dân tộc còn mạnh hơn vùng nông
thôn. Ông còn giữ được nhiều kỷ niệm rõ rệt về tuổi
thơ của ông không?
Khi ở tuổi thanh thiếu niên, người ta yêu đất nước
mình, hằng ngày phải chứng kiến hàng nghìn cảnh
bất công, chuyện phật lòng, đôi khi ghê sợ của chủ
nghĩa thực dân, khi phải chia sẻ những nỗi tức giận
26
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
của một dân tộc bị chà đạp thì thật khó mà quên được.
Tôi còn nhớ tên tuổi những người làm chúng tôi xúc
động. Chúng tôi đã đọc “Hải ngoại huyết thư” của
Phan Bội Châu1. Chúng tôi ngấu nghiến đọc Tiếng
chuông rè2. Năm 1926, tôi tham gia vào cuộc biểu tình
lớn toàn quốc chống thực dân Pháp, nhân dịp đám
tang Phan Châu Trinh3, do đó tôi bị đuổi học. Lúc đó
tôi còn đang là thanh niên, chính sự giác ngộ dân tộc
_________
1. Phan Bội Châu là nhà tư tưởng dân tộc chủ nghĩa vĩ
đại giữa hai cuộc thế chiến. Ông cho rằng thanh niên phải
hướng tầm nhìn ra thế giới bên ngoài (Trung Hoa dân quốc,
nước Nhật duy tân) để tìm ra con đường giải phóng. Là con
người hành động, Phan Bội Châu tổ chức các nhóm chính trị,
trong đó có Việt Nam Quang phục Hội năm 1912. Phan Bội
Châu bị mật thám Pháp bắt năm 1925, rồi bị giam lỏng tại
nhà riêng ở Huế. Hoạt động của Phan Bội Châu có ảnh
hưởng quan trọng và lớn đối với ông Giáp cũng như nhiều
người yêu nước ở thế hệ ông.
2. Tên một tờ báo xuất bản tại Sài Gòn của một nhóm có tư
tưởng xã hội do Nguyễn An Ninh đứng đầu. Tờ báo có ảnh
hưởng sâu rộng với tất cả người yêu nước.
3. Phan Châu Trinh là nhà lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa giữa
hai cuộc thế chiến. Không cấp tiến bằng Phan Bội Châu, ông
cho rằng hoạt động hợp pháp có thể đem lại kết quả trong tinh
thần hợp tác với các phần tử cởi mở nhất của chế độ thực dân.
Ông dần dần thất vọng và từ bỏ những nguyên tắc của mình.
Đám tang ông năm 1926 đã mang tính chất một cuộc biểu tình
thật sự diễn ra trong toàn quốc để biểu thị phản đối chế độ thực
dân Pháp.
NGƯỜI THANH NIÊN YÊU NƯỚC
27
đã hướng dẫn chúng tôi. Nhưng chúng tôi cũng nghe
thấy chung quanh người ta nói tới phong trào cách
mạng. Người ta sôi nổi nói đến Cách mạng Tân Hợi
năm 1911 tại Trung Quốc, Cách mạng Tháng Mười,
Quảng Châu Công xã. Người ta cũng gợi đến nhưng
kém thường xuyên hơn, hình như là phong trào Duy
Tân dưới triều Minh Trị ở Nhật Bản. Tất cả những thứ
đó hết sức lẫn lộn trong đầu óc chúng tôi. Có thể nói,
lúc đó chúng tôi thấm đượm tinh thần yêu nước có
màu sắc xã ...
Q. GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PHẠM CHÍ THÀNH
Chịu trách nhiệm nội dung:
PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
TS. ĐỖ QUANG DŨNG
Biên tập nội dung:
ThS. LÊ THỊ THANH HUYỀN
ThS. NGUYỄN THỊ HẢI BÌNH
NGUYỄN THU HƯỜNG
ThS. NGUYỄN VIỆT HÀ
Trình bày bìa:
NGUYỄN MẠNH HÙNG
NGUYỄN THU THẢO
Chế bản vi tính:
Đọc sách mẫu:
NGUYỄN THU HƯỜNG
BÍCH LIỄU
Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 892-2020/CXBIPH/16-295/CTQG.
Số quyết định xuất bản: 4881-QĐ/NXBCTQG, ngày 16/04/2020.
Nộp lưu chiểu: tháng 5 năm 2020.
Mã ISBN: 978-604-57-5558-7.
Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm
cña Th− viÖn Quèc gia ViÖt Nam
Ruscio, Alain
Vâ Nguyªn Gi¸p - Mét cuéc ®êi : S¸ch tham kh¶o / Alain
Ruscio ; NguyÔn V¨n Sù dÞch. - XuÊt b¶n lÇn thø 3. - H. : ChÝnh trÞ
Quèc gia, 2018. - 132tr. ; 19cm
1. Vâ Nguyªn Gi¸p, 1911-2013, §¹i t−íng, ViÖt Nam 2. TiÓu
sö 3. Sù nghiÖp 4. S¸ch tham kh¶o
959.704092 - dc23
CTL0111p-CIP
Lời Nhà xuất bản
Trong thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam đã lập nên hai chiến
công chói lọi: đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
lược. Mỗi khi nói về hai chiến công vẻ vang ấy, Nhân dân
Việt Nam và thế giới thường nhắc tới hình ảnh của vị Đại
tướng - Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam Võ
Nguyên Giáp. Cuộc đời huyền thoại của ông đã được tổng
kết: đánh bại 8 tướng Pháp, 4 tướng Mỹ và là một trong
những nhà chỉ huy quân sự lừng danh của thế giới hiện đại.
Để tưởng nhớ vị Đại tướng của Nhân dân, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản lần thứ ba cuốn sách “Võ
Nguyên Giáp - Một cuộc đời”, được dịch từ cuốn “Vo Nguyen
Giap, Une vie” của Giáo sư sử học người Pháp Alain Ruscio,
Nhà xuất bản Indes Savantes.
Cuốn sách được Giáo sư Alain Ruscio biên soạn qua các
cuộc phỏng vấn Đại tướng, từ năm 1979 đến 2008. Tác giả từng
được gặp Đại tướng khi còn là phóng viên thường trú, đặc
phái viên của báo Nhân đạo (L'Humanité) tại Hà Nội năm 1979,
nhân dịp kỷ niệm 25 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Sau này,
ông Alain Ruscio còn có nhiều lần được gặp lại Đại tướng...
6
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
Các cuộc trò chuyện giữa Giáo sư Alain Ruscio và Đại
tướng Võ Nguyên Giáp đã được ghi lại như những thước phim
sống động về cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng trong tiến
trình phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Tuy nhiên, như Giáo sư Alain Ruscio đã nêu ở lời nói
đầu, vì “tuổi cao, sức khỏe giảm sút dần, ông (Đại tướng Võ
Nguyên Giáp - BT) không có thì giờ đọc lại những ghi chép
của tôi” và để xuất bản “tôi đã phải thu gọn lại - toàn bộ
phần nói về thời kỳ rất gần đây - đại thể là từ sau năm 1975 đã không thể đưa vào cuốn sách này”. Cho nên có những
đánh giá, phân tích của Đại tướng về một số nhân vật, sự
kiện quan trọng được Giáo sư Alain Ruscio ghi trong sách
nhưng chưa được Đại tướng xem lại.
Trong cuốn sách, Giáo sư Alain Ruscio cũng đưa ra những
suy nghĩ, đánh giá của riêng ông, của các học giả phương Tây
về một số nhân vật và sự kiện có liên quan tới Cách mạng
Tháng Tám, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ của dân tộc Việt Nam. Để bạn đọc thuận tiện khi nghiên
cứu, tham khảo, chúng tôi giữ nguyên các luận chứng của Giáo
sư Alain Ruscio và coi đây là các quan điểm riêng. Nhân đây,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật cũng xin cảm ơn Giáo
sư sử học Alain Ruscio vì đã trao tặng bản quyền cuốn sách.
Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 7 năm 2018
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Lời nói đầu
Dạo đó vào tháng 3 năm 1979 tại Hà Nội, đất nước
Việt Nam đang trải qua những thời khắc khó khăn nhất
trong lịch sử của mình. Những hy vọng - có thể là quá
mức - của mùa Xuân 1975 chưa đem lại kết quả mong
muốn. Quân đội Trung Quốc vừa chịu thất bại, chắc hẳn
rồi, nhưng vẫn còn đang ở biên giới phía Bắc, luôn luôn
uy hiếp Việt Nam. Người Việt Nam còn ở Campuchia
và dù tự cho là mình đang ở thế phòng ngự chính đáng,
vẫn không được dư luận thế giới thông cảm. Phương
Tây đang tính bắt Việt Nam phải trả giá đắt cho chiến
thắng 1975, áp đặt một cuộc bao vây kinh tế và chính trị
hữu hiệu. Nước Pháp dưới thời Giscard d'Estaing
không phải là nước cuối cùng phun nọc độc vào thuộc
địa cũ của mình. Nước Việt Nam đang gắn bó, mà chắc
có lẽ họ muốn tránh, với Liên Xô và Hội đồng Tương trợ
kinh tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa đang suy yếu
trong thập niên cuối cùng tồn tại của mình.
Thời kỳ đó tôi đang ở Việt Nam. Là nhà báo, đặc
phái viên thường trú của báo L'Humanité, nhưng là
8
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
nhà sử học được đào tạo làm nghề, thật sự tôi không
quên ngày kỷ niệm lần thứ 25 chiến thắng Điện Biên
Phủ (7 tháng 5) sắp đến gần, tôi thấy đó là một động
cơ cũng như một… cái cớ để xin được gặp Đại tướng
Võ Nguyên Giáp. Lời thỉnh cầu được tiếp nhận. Tuy
nhiên, Vụ Báo chí - Bộ Ngoại giao đã yêu cầu tôi chỉ
được phỏng vấn trong khoảng một giờ vì Đại tướng
rất bận. Tôi hiểu cụm từ “rất bận” này theo một ý
khác: Tướng Giáp không còn là Tổng Tư lệnh Quân
đội nhân dân Việt Nam vẫn thường cho ý kiến về các
vấn đề quân sự ở biên giới phía Bắc.
Hôm đó trên phố phường Hà Nội nghèo khó, đầy
xe đạp và cái tàu điện già nua thời thuộc địa để lại,
tôi nghĩ rằng tôi sắp đến Cuộc hẹn với Lịch sử. Và cuối
cùng, tuy cách dùng chữ của tôi hơi hoa mỹ, sự thật
cũng gần đúng như thế. Tôi không nhớ chính xác chỗ
hẹn lần đầu tiên ấy là chỗ nào, ngược lại, tôi vẫn nhớ
như in trong tâm trí hình ảnh đầu tiên về Tướng
Giáp đứng đợi tôi ở đầu cầu thang và đôi mắt tôi
không thể rời khỏi bóng dáng ông trong khi tôi thong
thả bước lên các bậc thang. Cuộc tiếp xúc đầu tiên đã
diễn ra rất nồng nhiệt. Vị “Đại tướng chỉ tiếp được
khoảng một tiếng” và chúng tôi đã ở bên nhau ba
tiếng đồng hồ. Việc mang hai danh nghĩa - nhà báo
của tờ L'Humanité và nhà sử học chuyên nghiên cứu
về chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất - rõ ràng đã
giúp tôi rất nhiều.
LỜI NÓI ĐẦU
9
Lễ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ lần thứ 25
đó… rồi đến kỷ niệm lần thứ 50 cũng đã qua đi… Từ
ba mươi năm nay tôi đã gặp lại ông trong mỗi lần
đến thăm Việt Nam - và cũng đã nhiều lần rồi -, chỉ
có một ngoại lệ là gần đây vào tháng 1 năm 2010, ông
không thể tiếp tôi vì đã yếu quá rồi ở cái tuổi ngót
nghét một trăm…
Cứ mỗi lần được ông tiếp, tôi ghi chép hàng
trang… hàng trang trong cuốn sổ tay. Cũng hoàn toàn
tự nhiên tôi nảy ra ý tưởng cho ra đời một cuốn sách về
những cuộc trò chuyện với Tướng Giáp. Nhưng không
dễ chút nào. Vị Đại tướng cũng như những người Việt
Nam khác, những người cộng sản thường như vậy,
không thích xưng “tôi” trong khi trò chuyện. Không
phải là sự khiêm nhường giả tạo, khi ông khẳng định
“chính là quần chúng nhân dân đã làm nên Lịch sử”, là
một nhà mácxít chân chính, ông tin vào điều mình nói.
Ông không phải là người cha của Quân đội nhân dân
Việt Nam hay sao? Không phải là người chiến thắng ở
Điện Biên Phủ, không phải là nhà chiến lược trong cuộc
chiến tranh chống lại đế quốc Mỹ? Chắc chắn là phải
như thế.
Tôi đã phải năn nỉ để ông nhận lời tiếp chuyện tôi.
Rồi sau đó, cũng phải đợi để ông cho phép công bố.
Giữa hai chúng tôi đã có lúc nói vui với nhau:
- Khi nào thì được công bố, thưa ông?
- Đến lúc nào thời gian cho phép…
10
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
Trung thành với lời nói của mình, tôi đã đợi đến lúc
thời gian cho phép…
Cuối cùng tôi đã phải thu gọn lại - toàn bộ phần nói
về thời kỳ rất gần đây - đại thể là từ sau năm 1975 - đã
không thể đưa vào cuốn sách này. Tướng Giáp là một
người rất ưa hoạt động nhưng tuổi cao, sức khỏe giảm
sút dần, ông không có thì giờ đọc lại những bản ghi
chép của tôi…
Vì vậy, đây là cuốn tư liệu vốn như thế nào thì nay
vẫn như thế, đã đến với bạn đọc. Đó là một tượng đài
của lịch sử thế giới đang nói chuyện với bạn đọc. Tất
nhiên là cách phát biểu, thường hay được sử dụng nên
đôi khi không đúng với ý nghĩa thật sự phải có. Nhưng
chỉ cần vài giây suy nghĩ cũng thấy có người nào đã có
thể hòa lẫn cuộc đời của mình với bao sự kiện lớn lao
của lịch sử nhân loại ở thế kỷ XX, trong đó phần trọng
yếu là thuộc lịch sử của Việt Nam!
Giáo sư dạy sử
Trước khi đi vào thời kỳ mà cuộc đời ông gắn chặt
với những thời điểm quyết định của lịch sử đất nước
ông - và lịch sử thế giới - tôi muốn ông nhớ lại thời còn
trẻ, ông đã lên lớp giảng dạy môn Lịch sử, như tôi được
biết, đó là tại Trường Thăng Long?
Đúng là như vậy. Ngôi trường này không có mùi vị
thánh thiện gì với nhà cầm quyền thuộc địa! Nhưng
phải nói rằng vị Hiệu trưởng là ông Hoàng Minh
Giám1, một nhà yêu nước chân chính, đảng viên Đảng
Xã hội, và các thầy giáo đứng lớp được xem như thường là đúng - những người cộng sản, và như thế họ
được Sở Mật thám giám sát chặt chẽ, trong đó có cụ
Đặng Thai Mai, sau này là ông nhạc tôi…
_________
1. Năm 1945, ông Hoàng Minh Giám là Bộ trưởng Ngoại
giao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (TG).
Có lẽ tác giả có sự nhầm lẫn về thời gian. Tháng 3 năm
1947, ông Hoàng Minh Giám mới giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại
giao và đảm nhiệm cương vị này đến năm 1954 (theo Bộ Ngoại
giao: Chân dung năm cố Bộ trưởng Ngoại giao, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 24) (BT).
12
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
Và cả chính ông nữa?
Tôi chỉ bị “chú ý” chút đỉnh thôi1...
Chúng ta trở lại vài thập niên nhé. Hãy tưởng tượng
tôi là học trò của ông. Ông sẽ dạy tôi những gì về quá
khứ của đất nước ông?
Ông nói rất đúng là hãy bắt đầu bằng Lịch sử Việt
Nam, thời gian lâu, rất lâu trước khi tổ tiên người Pháp
các ông đến (Việt Nam…). Ông biết câu: “Lịch sử là mẹ
đẻ ra mọi sự thật…”. Gần đây, chúng tôi đã kỷ niệm 600
năm ngày sinh Nguyễn Trãi2. UNESCO cũng ghi việc kỷ
niệm đó vào chương trình hoạt động của họ, như vậy đã
nhấn mạnh đến sự đóng góp của người anh hùng dân
tộc của chúng tôi vào nền văn hóa thế giới. Ở Việt Nam,
từ rất sớm đã hình thành một nền văn minh. Người ta
có thể nói đến một nền văn minh ra đời trong thung
lũng một dòng sông, cũng như ở nơi khác, ở
_________
1. Võ Nguyên Giáp bị Sở Mật thám Pháp coi là thủ phạm
trong những hoạt động “có thiện cảm với những phần tử
Staline” (theo Thư của Thống sứ Bắc Kỳ gửi Toàn quyền Đông
Dương (Tướng Catroux), đề ngày 16 tháng 01 năm 1940, CAOM,
Aix-en-Provence). Cảm ơn anh bạn Yves Le Jariel đã cho tôi biết
tư liệu này. (CAOM là tên viết tắt của Trung tâm lưu trữ Pháp
quốc hải ngoại, đặt tại Aix-en-Provence - ND).
2. Đại văn hào Việt Nam (1380-1442). Tác giả nhiều bài thơ
Nôm, đồng thời là nhà chính trị, bạn chiến đấu gần gũi và quân
sư của Lê Lợi, vị anh hùng dân tộc đã lãnh đạo thắng lợi cuộc
khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Minh.
GIÁO SƯ DẠY SỬ
13
Mésopotamie (Lưỡng Hà) chẳng hạn. Trường hợp chúng
tôi, đó là vùng châu thổ giàu có của con sông Hồng. Ở
Mésopotamie cũng như ở nhiều nơi khác, đó là theo một
chu kỳ cổ điển: phát triển, hưng thịnh và suy tàn. Còn ở
đây, nền văn minh sông Hồng, trái lại, không ngừng
phong phú. Người ta có thể thấy, trong thời gian đầu,
hàng chục bộ lạc sống một cách tự lập trong vùng châu
thổ cũng như vùng núi… Nói tự lập không có nghĩa là
biệt lập, không có liên hệ gì với nhau. Trái lại, ở một số
thời kỳ lịch sử họ liên minh với nhau, cũng có khi tranh
giành nhau, chiến tranh với nhau. Tuy nhiên tính cách
“liên minh với nhau” được khẳng định rõ ràng nhất.
Vì những lý do gì, thưa ông?
Trước hết là phải đoàn kết để đấu tranh với sự thất
thường của thiên nhiên, bão lụt đủ các loại, để tạo cuộc
sống ít nhiều được ổn định. Chính vì thế mà từ rất
sớm, chúng tôi đã xây dựng một hệ thống đê điều,
kênh rạch chằng chịt, lao động tập thể không phải là
một lựa chọn, mà là sự bắt buộc do thiên nhiên áp đặt.
Đó chính là điều kiện cơ sở để liên minh, đoàn kết giữa
các bộ lạc. Lý do thứ hai là sức ép từ bên ngoài. Chúng
tôi luôn phải sống trước mối đe dọa xâm lược từ
phương Bắc. Theo ý tôi, đó là nguyên nhân căn bản của
việc nền văn minh sông Hồng ra đời từ rất sớm và có
sức đề kháng dẻo dai, một trong những nền văn minh
đầu tiên trong lịch sử nhân loại.
14
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
Có thể đi đến thành lập một nhà nước?
Đúng thế. Từ thời Văn Lang1. Ăngghen đã nói nhiều
lần rằng việc thành lập nhà nước đánh dấu một giai đoạn
quan trọng của sự phát triển xã hội loài người. Và cho tới
nay người ta có thể khẳng định nền văn minh của chúng
tôi ra đời cách đấy rất lâu, có sức sống phi thường.
Tôi muốn chia sẻ một nhận xét của tôi những khi đến
làm việc ở đây, tôi rất chú ý đến vai trò của Lịch sử,
luôn luôn hiện hữu trong mỗi phản ứng của dân chúng,
trong mỗi văn kiện của Chính phủ, trong mỗi cuộc trò
chuyện với những người Việt Nam ở mọi giới, ở bất kỳ
trình độ học vấn nào, có thể nói Lịch sử dân tộc đã nhập
tâm mỗi con người. Hiện tượng đó nổi bật hơn phần lớn
những nước khác mà tôi biết, nhất là ở châu Âu.
Tôi hình dung là ông đã nghiên cứu lịch sử châu Âu
thời Trung cổ. Ông đã thấy ở đó nhiều cuộc giao tranh
giữa các tập đoàn phong kiến, những vụ chém giết,
tranh giành lẫn nhau giữa các phe phái. Tính chất dân
_________
1. Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân cưới Âu Cơ làm vợ,
sinh ra trăm người con trai. Năm mươi người con theo cha
xuống vùng ven biển, năm mươi người con khác theo mẹ lên
miền núi. Lạc Long Quân truyền ngôi cho người con cả, lập nên
triều đại Hùng Vương, đứng đầu Vương quốc Văn Lang ở châu
thổ sông Hồng, cách đây 4.000 năm. Kết quả nghiên cứu lịch sử
hiện nay cho biết nhà nước của các vua Hùng là vào đầu thế kỷ VII
trước Công nguyên.
GIÁO SƯ DẠY SỬ
15
tộc được khẳng định muộn với những giai đoạn nổi bật
như cuộc chiến tranh của Jeanne d'Arc ở nước ông.
Nước Việt Nam ra đời từ những cuộc chiến tranh liên
miên để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc như các cuộc khởi
nghĩa dân tộc, những cuộc chiến tranh dân tộc. Cuộc
xâm lược đầu tiên được nói đến trong thư tịch xưa là
của Tần Thủy Hoàng ở thế kỷ III trước Công nguyên1.
Cái nôi của nền văn minh Trung Hoa là thung lũng
sông Hoàng2 cách biên giới phía nam ngày nay của
Trung Quốc hàng nghìn cây số. Tần Thủy Hoàng đã lần
lượt thu phục hàng trăm tiểu vương quốc ở miền Nam
Trung Hoa và thống nhất lại thành một đế quốc rộng
lớn. Nhưng khi tiếp xúc với nền văn minh Văn Lang,
Tần Thủy Hoàng đã vấp phải sự kháng cự của cả một
dân tộc. Thư tịch cổ Trung Hoa cũng đã nói đến điều
này. “Dân chúng chống lại. Họ cử ra những người can
đảm nhất, thông minh nhất chỉ huy cuộc kháng chiến.
Ban ngày họ ẩn nấp nơi kín đáo, ban đêm họ xông ra để
đánh lại quân Tần”. Thư tịch xưa cũng nêu rõ con số
người chết trong hàng ngũ quân đội nhà Tần là rất lớn.
Cuối cùng quân Tần lần đầu tiên bị thua. Rồi sau đó
_________
1. Tần Thủy Hoàng là vua trị vì nhà Tần từ năm 247 đến 210
trước Công nguyên, người sáng lập nhà nước phong kiến tập
trung phía bắc Trung Hoa. Thủy Hoàng đế có nghĩa là Hoàng đế
đầu tiên, đã phái quân đi đánh Việt Nam khoảng năm 211 đến 214
trước Công nguyên và lập bộ máy quân sự để cai quản.
2. Hay còn gọi là Hoàng Hà.
16
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
còn nhiều cuộc chinh phục nữa. Thế kỷ I trước Công
nguyên, đất nước tôi bị phong kiến phương Bắc đô hộ
kéo dài hơn một nghìn năm1. Thời gian đô hộ quả là rất
dài và có lẽ quá đủ để đồng hóa cả một thực thể chính
trị không được bám sâu trong dân tộc. Vậy mà người ta
nhận thấy việc đồng hóa đã không thực hiện được.
Trong hơn một nghìn năm đó, dân tộc chúng tôi từ
trước cuộc chinh phục đã được khẳng định thay vì bị
hòa tan. Đã có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra. Cuộc khởi
nghĩa đầu tiên do hai chị em họ Trưng2 vào đầu thế kỷ I
sau Công nguyên. Đặc điểm của cuộc khởi nghĩa này là
mang tính chất nhân dân. Thư tịch Trung Quốc cũng
miêu tả cho chúng ta biết cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng
lan rộng khắp 65 huyện, thành, tức là hầu hết vùng
châu thổ - khắp cả nước. Cuối cùng, vào thế kỷ X đã có
cuộc tiến công có tính quyết định chống lại kẻ chiếm
đóng. Năm 905, toàn thể dân chúng một lần nữa nổi lên
và Khúc Thừa Dụ, một hào trưởng, một nhà hiền triết
_________
1. Từ năm 111 trước Công nguyên đến năm 939 sau
Công nguyên.
2. Hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị là hai nữ anh hùng
dân tộc, ngày nay mọi người dân Việt Nam không ai là không
biết. Trưng Trắc và em là Trưng Nhị đều xuất thân từ tầng lớp
quý tộc Việt Nam, đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại quân
Hán chiếm đóng năm 40 sau Công nguyên. Hai bà xưng vua và
duy trì một vương quốc độc lập trong hai năm trước khi bị thua
trong một cuộc phản kích của quân Hán.
GIÁO SƯ DẠY SỬ
17
được toàn dân kính trọng tôn làm người đứng đầu
chính quyền tự chủ. Mấy năm sau, một tướng của họ
Khúc là Dương Đình Nghệ1 đánh đuổi người Trung
Quốc ra khỏi đất nước. Nhưng ông bị nội phản ám hại,
con rể là Ngô Quyền kéo quân về kinh đô một lần nữa
đánh đuổi quân nhà Hán định lấy lại vùng châu thổ. Có
lẽ ông đã biết chuyện chiến thắng trên sông Bạch Đằng
năm 9392, Ngô Quyền đã cho cắm xuống cửa sông
những dãy cọc to vót nhọn. Khi chiến thuyền quân
Nam Hán tiến gần vào lúc thủy triều lên, Ngô Quyền
giả thua rút chạy. Quân Nam Hán thừa thắng đuổi
theo. Khi thủy triều xuống, Ngô Quyền đã quay lại và
phản công mãnh liệt. Quân Nam Hán cố chạy trốn nhưng
thuyền chiến của họ đâm vào cọc nên đều bị đắm cả.
Tôi có ấn tượng rất rõ là một nghìn năm sau, khi
người Việt Nam nói về những sự kiện đó đều giữ trong
trái tim một niềm tự hào. Đó là chủ nghĩa dân tộc hay
là chủ nghĩa yêu nước?
Tôi gọi đó là chủ nghĩa yêu nước và chỉ là chủ nghĩa
yêu nước. Bởi lẽ ông đừng quên rằng tôi chỉ nêu lên
những giai đoạn chiến tranh bảo vệ dân tộc. Tổ quốc
_________
1. Hào mục Việt Nam nổi dậy chống quân đô hộ phương
Bắc năm 931, cầm quyền trong 10 năm trước khi bị sát hại.
2. Trận thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền chỉ huy diễn ra vào
năm 938 (BT).
18
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
chúng tôi bị chà đạp. Tổ tiên của chúng tôi đã biết đánh
đuổi kẻ áp bức. Thế rồi bắt đầu thời kỳ thứ hai, từ thế
kỷ X đến thế kỷ XIX. Một bên là nước Đại Việt - một
vương quốc Việt Nam độc lập. Một bên là nước Trung
Hoa đã thống nhất. Trong thiên niên kỷ thứ hai này
không có một triều đại nào của phong kiến Trung Hoa
không muốn sáp nhập nước chúng tôi vào đế quốc của
họ. Tất cả đều thất bại, ngay cả cuộc xâm lược thế kỷ XIII
của đế quốc Nguyên - Mông của Thành Cát Tư Hãn1 người đã chinh phục phần lớn lục địa Trung Hoa. Tại
Việt Nam, quân Nguyên - Mông đã ba lần kéo sang
xâm lược. Cả ba lần họ đã tới được kinh đô, lúc đó gọi
là Thăng Long. Ba lần họ đều bị đánh đuổi và thất bại
nhục nhã. Chắc ông biết rõ thiên tài quân sự vĩ đại
của tướng quân Trần Hưng Đạo, một trong những vị
anh hùng dân tộc của chúng tôi, đã đánh bại quân
xâm lược Mông Cổ. Tôi xin kể lại một giai thoại. Cách
_________
1. Đầu thế kỷ XIII, sau khi thống nhất Mông Cổ và chiếm
được Bắc Kinh, Thành Cát Tư Hãn tiếp tục bành trướng xuống
phía nam chiếm Nam Tống. Sau khi chinh phục được toàn bộ
Trung Quốc, người Mông Cổ tiến đánh Vương quốc Việt. Năm
1257-1258, quân xâm lược Mông Cổ ban đầu chiếm được Thăng
Long, đốt phá kinh đô của người Việt, nhưng sau đó phải rút
về vì không bảo đảm được nguồn tiếp tế từ căn cứ xuất phát
của họ vốn cách rất xa lãnh thổ Việt Nam. Năm 1285 và 1287,
quân Mông Cổ lại sang hai lần nữa. Trần Hưng Đạo thống lĩnh
quân đội đánh tan cả hai đội quân thủy, bộ Mông Cổ.
GIÁO SƯ DẠY SỬ
19
đây vài năm, tôi đến thăm Bảo tàng Ulanbato của các
đồng chí Mông Cổ, ở đó có trưng bày một tấm bản đồ
về châu Á thời Trung cổ thể hiện nước Mông Cổ thời
cực thịnh, bao gồm cả Việt Nam. Tôi nói với đồng chí
Giám đốc bảo tàng: Việt Nam là một trong số ít nước
người Mông Cổ không chiếm được lâu. Tôi nói một
trong số ít nước vì còn có Nhật Bản được biển bảo vệ.
Một thử thách lớn khác: cuộc xâm lược và đô hộ của
nhà Minh đầu thế kỷ XV?
Nền đô hộ đó “chỉ” kéo dài hơn mười năm nhưng
rất ghê gớm đối với người dân và cả dân tộc chúng tôi.
Nước Trung Hoa lúc đó đã trở thành một quốc gia hoàn
chỉnh với một nền văn minh tỏa sáng. Nói thế có nghĩa
là ý đồ đồng hóa còn lớn hơn nữa so với thời kỳ đô hộ ở
thiên niên kỷ thứ nhất. Người Minh đã có một kế hoạch
được bàn bạc kỹ lưỡng, có hệ thống nhằm xóa bỏ hoàn
toàn dân tộc Việt Nam, biến Việt Nam thành một tỉnh
của mình. Do đó có chiếu chỉ của hoàng đế nhà Minh là:
đốt hết sách vở, phá hủy bia ký, không để lại một chứng
tích nào về nền văn minh Đại Việt, ép buộc người Việt
phải theo phong tục của phong kiến Trung Quốc. Người
ta bắt thợ thủ công, tất cả những ai có kiến thức công
nghệ đem về Trung Hoa. Chính lúc đó, Lê Lợi có
Nguyễn Trãi phò tá, đứng lên lãnh đạo cuộc đấu tranh
dân tộc. Đó là một cuộc chiến tranh thật sự của toàn
dân. Mỗi người Việt Nam đều tham gia chiến đấu.
20
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
Không thể không có nhận xét sáng suốt này: các ông
có cầu viện Lịch sử điều gì không? Tinh thần yêu nước
của các ông là điều hiển nhiên. Tuy nhiên nhiệt tình của
các ông có đưa các ông đi quá xa không? Ví như các ông
sử dụng thường xuyên cụm từ “Dân tộc” theo nghĩa từ
những thời kỳ xa xưa, có xem đó là vật bảo chứng
không? Như thế có phải là lỗi thời không?
Hãy đọc lại Nguyễn Trãi, ông sẽ thấy trong đó có
hai khái niệm được cách tân một cách đáng ngạc nhiên.
Khái niệm “nhân”. Chúng ta sẽ quay lại vấn đề này,
nếu ông muốn. Không phải hôm nay tôi nói đến “dân
tộc”, đến “quốc gia” Việt Nam. Trong “Bình Ngô đại
cáo”, Nguyễn Trãi đã để lại một tác phẩm khơi gợi lòng
yêu nước, theo tôi biết, đó là một tác phẩm xưa nhất
của tư tưởng phổ biến toàn nhân loại:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên
hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Có bài thơ nào thấm đẫm lòng tự hào dân tộc như thế
không? Theo con mắt của Nguyễn Trãi, điều không thể
GIÁO SƯ DẠY SỬ
21
chối cãi, nước Đại Việt là một quốc gia, một dân tộc vì
Đại Việt là một quốc gia riêng biệt có phong tục tập quán
riêng, trong đó cộng đồng dân cư người Việt có nền văn hóa văn minh và quá trình phát triển lịch sử chung trong một
lãnh thổ được xác định bền vững… Trên hết là một tinh
thần độc lập, vượt qua mọi thử thách. Ngày nay, nhiều
bình luận có nhược điểm ngay từ gốc là đánh giá thấp
nhu cầu cấp thiết có từ sớm của chúng tôi khi phải đối
phó với một nguy cơ từ bên ngoài. Nhu cầu đó đã làm
nảy sinh sự thống nhất dân tộc dưới nhiều dạng khác
nhau. Ví như, người ta tìm thấy tại Việt Nam một số hình
thái dân chủ ở cơ sở mà phong kiến châu Âu không hề
biết. Phần lớn bản thân các tầng lớp phong kiến đều
muốn độc lập cho đất nước. Họ hiểu rằng chỉ có chiến
tranh toàn dân mới đánh đuổi được bọn xâm lược. Trần
Hưng Đạo cho rằng phải “sâu rễ, bền gốc”, nghĩa là nhân
dân là những rễ giữ cho cây đứng được vững bền.
Vậy, người ta có thể khẳng định Việt Nam đã có
một nền văn minh riêng của mình?
Đến lượt tôi xin hỏi lại ông: trên thế giới này có
nước nào lại không có một nền văn minh riêng?!
Chắc chắn là không.
Trong toàn bộ lịch sử, có những sự giao thoa thường
xuyên giữa các nền văn minh. Vậy tuyệt nhiên không có
vấn đề nhận định rằng Việt Nam có một nền văn minh
hoàn toàn tách biệt khỏi mọi nền văn minh khác, đặc biệt
22
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
là nền văn minh Trung Hoa. Nhưng tôi tin rằng người ta
có thể nói đến một cá tính riêng với các khía cạnh khác
hẳn nền văn minh Trung Hoa. Chúng ta hãy lấy Đạo
Khổng làm ví dụ. Ngay từ thời Bắc thuộc, các thầy học
thời đó đã muốn áp đặt cách tư duy Khổng học cho
người dân Việt. Đạo Khổng, đó là ý thức hệ phản ánh
trước hết quan điểm của các chủ nô, địa chủ. Khổng phu
tử và đồ đệ trực tiếp của ông sống trong một nhà nước
nô lệ đang suy tàn và đã biết chế độ phong kiến đang
hình thành ở nước Trung Hoa cổ đại. Họ bày tỏ sự miệt
thị đối với lao động, những người lao động chân tay, họ
hết sức tách biệt những người “tử tế”, những “quân tử”
khỏi người dân. Vận mệnh người dân chỉ là hầu hạ. Ở
Việt Nam, nguy cơ trực tiếp đặt ra sự cần thiết phải tôn
trọng - ít nhất là một phần - nhân dân, gắn người dân với
cuộc chiến đấu cho dân tộc. Ông hãy đọc lại Nguyễn Trãi
một lần nữa, hãy nghiên cứu hành động của Lê Lợi,
không có dấu tích gì tỏ ra khinh miệt nhân dân. Trái lại.
Một vấn đề khác: Khổng Tử không biết đến khái niệm
“Tổ quốc”. Ông đi chu du hết nước này đến nước khác.
Còn chúng tôi, chúng tôi có một Tổ quốc.
Sau đó là tổ tiên chúng tôi, những người Âu đầu tiên
ở thế kỷ XVII (những nhà truyền giáo đầu tiên)... thế kỷ XIX
(những nhà binh)… những vai diễn mới của lịch sử,
ở Viễn Đông đến đảo lộn những mối tương quan lực
lượng từ lâu đời trong vùng này của thế giới. Năm 1858
đánh dấu cuộc xung đột lớn đầu tiên giữa người Pháp
GIÁO SƯ DẠY SỬ
23
và người Việt trước cảng Đà Nẵng, mà sau này thực
dân gọi là Tourane. Sau đó ít lâu, toàn bộ lãnh thổ Việt
Nam bị thực dân đô hộ…
Đúng thế. Đó là một thử thách lớn trong lịch sử dân
tộc chúng tôi. Chúng tôi mất độc lập trong gần một trăm
năm. Ôi! Không phải là không có kháng cự, không có
khởi nghĩa, quấy rối, tiêu hao bọn chiếm đóng. Nhưng
cuối cùng, bọn đế quốc đã dần dần áp đặt sự thống trị
của chúng. Một vấn đề căn bản đặt ra với đất nước
chúng tôi. Nước chúng tôi không lớn, nền kinh tế lạc
hậu, chúng tôi không có quân đội hiện đại, “một nước
nhỏ làm sao có thể đánh bại một kẻ thù mạnh như nước
Pháp có thuộc địa, có nền kinh tế hiện đại, có quân đội
hùng mạnh?”. Vấn đề này có ý nghĩa vượt xa biên giới
Việt Nam, vì cũng vào thời điểm ấy các nước khác ở
châu Á và châu Phi cũng đã trở thành thuộc địa. Trong
thời gian đầu, đó là những sĩ phu yêu nước lãnh đạo
cuộc đấu tranh. Nhưng họ đấu tranh nhân danh truyền
thống, nhân danh chủ nghĩa bất bạo động (immobilisme).
Ngoại trừ một số trường hợp may mắn, họ còn có một
lập luận bảo thủ, thậm chí phản động. Một số người cho
rằng mọi tiến bộ, tiến hóa đều đáng lên án và những
tiếp xúc với thế giới bên ngoài là nguyên nhân của mọi
điều bất hạnh. Sau đó, những trí thức xuất thân từ tầng
lớp tiểu tư sản hay tư sản bậc trung đã nối tiếp họ lãnh
đạo đấu tranh. Nhưng họ cũng thất bại. Phong trào dân
tộc của người Việt Nam đi tìm con đường của mình phải
mất nửa thế kỷ mới tìm thấy.
Người thanh niên yêu nước
Chúng ta đã đến thời kỳ trải nghiệm của bản thân
ông gắn chặt với lịch sử của dân tộc. Tôi mong được đề
cập tiểu sử của chính ông. Nhưng tôi bắt đầu muốn tìm
hiểu Việt Nam, tôi đã hiểu trong một nước xã hội chủ
nghĩa người ta không thích nói nhiều đến bản thân
mình. Đôi chút nếu như quan điểm “duy vật lịch sử”
không tương thích với vai trò thật sự của các cá nhân
đặc biệt, tôi quyết tâm tiến hành việc nghiên cứu hồ sơ
lưu trữ và các tài liệu có liên quan đến cá nhân ông. Tôi
xin kể lại các kết quả đã đạt được. Tôi sẵn sàng để ông
ngắt lời nếu ông phát hiện ra những nhầm lẫn của tôi
hoặc ông thấy tôi hiểu sai…
Ông sinh ngày 25 tháng 8 năm 19111 tại làng An
Xá, tỉnh Quảng Bình, thuộc miền Trung. Điều đó có
_________
1. Gérard Lê Quang viết ngày sinh của Tướng Giáp là ngày
01 tháng 9 năm 1910. Georges Boudarel chỉ ghi năm sinh 1910.
Chính Võ Nguyên Giáp đã nói cho tôi ngày tháng năm sinh
chính xác của ông.
NGƯỜI THANH NIÊN YÊU NƯỚC
25
thể là một biểu tượng: Quê quán ông cách không xa,
nơi sau này là giới tuyến hai miền Bắc - Nam của
Việt Nam. Có thể nói trong tiểu sử của ông, ông đã
chứng kiến sự chia cắt đất nước ở vĩ tuyến 17 trong
suốt gần 20 năm đã gây ra nỗi đau xót cho mỗi người
dân Việt Nam. Cha ông, cụ Võ Quang Nghiêm là một
tiểu nông nghèo khổ nhưng cũng sở hữu một mảnh
đất. Như một số nông dân thời đó, cụ Nghiêm cũng là
nhà nho, nghĩa là biết đọc và biết viết chữ Hán và
chữ Nôm. Mẹ ông là một phụ nữ hiền thục, đã có ảnh
hưởng lớn với ông. Cha mẹ và họ hàng chung quanh
đều là những người yêu nước. Thời thơ ấu ông đã
được mẹ hát ru bằng những bài ca yêu nước, những
câu chuyện về các chiến công trong những cuộc kháng
chiến chống lại người Pháp. Trong tỉnh Quảng Bình
không bao giờ ngừng phong trào đấu tranh sôi sục
cho nền độc lập dân tộc. Ngay từ năm 1923, ông đã
vào Huế học tại Trường Quốc học Huế. Huế là thành
phố kinh đô của chế độ quân chủ Việt Nam, trong
thực tế, là con tin của chính quyền thuộc địa Pháp.
Tại đây phong trào dân tộc còn mạnh hơn vùng nông
thôn. Ông còn giữ được nhiều kỷ niệm rõ rệt về tuổi
thơ của ông không?
Khi ở tuổi thanh thiếu niên, người ta yêu đất nước
mình, hằng ngày phải chứng kiến hàng nghìn cảnh
bất công, chuyện phật lòng, đôi khi ghê sợ của chủ
nghĩa thực dân, khi phải chia sẻ những nỗi tức giận
26
VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT CUỘC ĐỜI
của một dân tộc bị chà đạp thì thật khó mà quên được.
Tôi còn nhớ tên tuổi những người làm chúng tôi xúc
động. Chúng tôi đã đọc “Hải ngoại huyết thư” của
Phan Bội Châu1. Chúng tôi ngấu nghiến đọc Tiếng
chuông rè2. Năm 1926, tôi tham gia vào cuộc biểu tình
lớn toàn quốc chống thực dân Pháp, nhân dịp đám
tang Phan Châu Trinh3, do đó tôi bị đuổi học. Lúc đó
tôi còn đang là thanh niên, chính sự giác ngộ dân tộc
_________
1. Phan Bội Châu là nhà tư tưởng dân tộc chủ nghĩa vĩ
đại giữa hai cuộc thế chiến. Ông cho rằng thanh niên phải
hướng tầm nhìn ra thế giới bên ngoài (Trung Hoa dân quốc,
nước Nhật duy tân) để tìm ra con đường giải phóng. Là con
người hành động, Phan Bội Châu tổ chức các nhóm chính trị,
trong đó có Việt Nam Quang phục Hội năm 1912. Phan Bội
Châu bị mật thám Pháp bắt năm 1925, rồi bị giam lỏng tại
nhà riêng ở Huế. Hoạt động của Phan Bội Châu có ảnh
hưởng quan trọng và lớn đối với ông Giáp cũng như nhiều
người yêu nước ở thế hệ ông.
2. Tên một tờ báo xuất bản tại Sài Gòn của một nhóm có tư
tưởng xã hội do Nguyễn An Ninh đứng đầu. Tờ báo có ảnh
hưởng sâu rộng với tất cả người yêu nước.
3. Phan Châu Trinh là nhà lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa giữa
hai cuộc thế chiến. Không cấp tiến bằng Phan Bội Châu, ông
cho rằng hoạt động hợp pháp có thể đem lại kết quả trong tinh
thần hợp tác với các phần tử cởi mở nhất của chế độ thực dân.
Ông dần dần thất vọng và từ bỏ những nguyên tắc của mình.
Đám tang ông năm 1926 đã mang tính chất một cuộc biểu tình
thật sự diễn ra trong toàn quốc để biểu thị phản đối chế độ thực
dân Pháp.
NGƯỜI THANH NIÊN YÊU NƯỚC
27
đã hướng dẫn chúng tôi. Nhưng chúng tôi cũng nghe
thấy chung quanh người ta nói tới phong trào cách
mạng. Người ta sôi nổi nói đến Cách mạng Tân Hợi
năm 1911 tại Trung Quốc, Cách mạng Tháng Mười,
Quảng Châu Công xã. Người ta cũng gợi đến nhưng
kém thường xuyên hơn, hình như là phong trào Duy
Tân dưới triều Minh Trị ở Nhật Bản. Tất cả những thứ
đó hết sức lẫn lộn trong đầu óc chúng tôi. Có thể nói,
lúc đó chúng tôi thấm đượm tinh thần yêu nước có
màu sắc xã ...
 








Các ý kiến mới nhất