Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

VIỆT NAM MỘT THIÊN LỊCH SỬ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:44' 28-02-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
Việt Nam Một Thiên Lịch Sử
(Vietnam Une Longue Histoire)
Tác giả: Nguyễn Khắc Viện
Thể loại: History
Nhà Xuất Bản Khoa học xã hội - Thái Hà - 2007
Dịch giả: Diệu Bình
Ngày hoàn thành: 05-9-2014
Số hóa: Hanhdb
Thư viện ebook TVE-4U Read Freely, Think Freedom
Dự án ebook định dạng epub chuẩn cho mọi thiết bị di động
Epub (02/2019): @lamtam, tve-4u.org

Lời nói đầu
Trong lễ tưởng niệm bác sĩ Nguyễn Khắc Viện tại Paris, Tiến sĩ Sử
học Charles Fourniau, Chủ tịch Hội Hữu nghị Pháp - Việt đã viết:
"... Ngay từ những phút đầu tiên, tôi nhận ra ngay đây sẽ là bậc
thầy của tôi. Và ông mãi vẫn là bậc thầy của tôi. Tôi may mắn được
tiếp cận ông - một trong những trí tuệ sáng chói nổi bật nhất. Vốn văn
hóa của ông , hay nói đúng ra là vốn các văn hóa của ông, bởi lẽ ông
có đến ba vốn văn hóa, Việt Nam, Trung Hoa, Pháp... quả thật dường
như là vô hạn..."
Nhiều tác phẩm của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cho đến nay vẫn còn
nhưng giá trị lớn lao. Bất cứ đối tượng nào, từ người già, thanh niên
đến trẻ em đều có thể thấy qua tác phẩm của ông bóng dáng một
người bạn , một người thầy, một người ông với kiến thức uyên thâm
và tấm lòng nhân ái. Về một số vấn đề có tính thời sự, trong dịp tái
bản cuốn Một đôi lời trước ngày đi xa một năm, ông đã viết:
"... Mới hơn 10 năm mà nay nhớ lại nhiều việc, như là chuyện thời
xa xưa, cả nước đã chuyển sang một thời đại mới. Nay cho in lại, xin
cứ giữ nguyên bản, không sửa chữa, như là một vết tích của một thời,
để bạn đọc ngày nay thấy một số người "xưa kia" suy nghĩ những gì...
Thời thế thay đổi, không thể không thay đổi ý kiến, loại trừ một số sai
lầm tư tưởng, nhưng điều không thể thay đổi là cái đạo lý làm người.
Thức thời, chứ không phải cơ hội..."
Quả là toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Khắc Viện, kể cả những đề
tài "thời sự" đã qua như phong trào "hợp tác xã" hay " Liên Xô" ... vẫn
sáng rõ một "đạo lý" đẹp đẽ và chung thủy của một sĩ phu trung thực,
hết lòng vì nước vì dân, nên đều có giá trị bổ sung kiến thức, bồi
dưỡng tâm hồn cho nhiều thế hệ bạn đọc.
Với sự ngưỡng mộ và kính trọng đặc biệt sâu sắc với bác sĩ
Nguyễn Khắc Viện, được sự đồng ý và cộng tác của gia đình cố bác
sĩ Nguyễn Khắc Viện, Công ty Cổ phần Sách Thái Hà xin giới thiệu
với độc giả bộ sách gồm 5 cuốn: Tâm tình của đất nước, Đạo và Đời,
Việt Nam - Một thiên lịch sử, Nguyễn Khắc Viện - Chân dung và kỷ

niệm, Tự truyện.
Trân trọng giới thiệu cùng độc giả và rất mong nhận được ý kiến
đóng góp của bạn đọc gần xa.
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH THÁI HÀ

Chương 1
Cội nguồn từ thời đồ đá đến thời đại đồ đồng

Thời đại đồ đá cũ và thời đại đồ đá mới
Nước Việt Nam nằm trong vùng Đông Nam Á: Tại đây có những
dấu hiệu được phát hiện cho thấy khỉ dạng người đã tìm xuất hiện ở
nhiều nơi.
Tháng 8-1965, trong một hang động thuộc xã Tân Văn,tỉnh Lạng
Sơn, người ta phát hiện di cốt của một vượn người, và những chiếc
răng của một người vượn khác gần với người vượn Bắc Kinh hơn. Di
cốt ấy đang được nghiên cứu, nhưng những nhận xét đầu tiên cho
phép xác định thời điểm chúng xuất hiện là vào thời kì trung
pleistocène(1)(khoảng 500.000 năm).
Các vết tích đầu tiên của một kỹ nghệ thực sự của con người được
phát hiện tháng 11-1960, trên núi Đọ, tỉnh Thanh Hóa: ở một độ cao
cách mặt ruộng xung quanh từ 20 đến 30m, người ta tìm thấy hàng
nghìn mảnh tước dùng để cắt, cào. Trong số các mảnh tước có
những nắm đấm hình hạnh nhân, hai mặt được gọt cẩn thận, điển
hình cho thời kì chelléen. Điều đó khẳng định sự tồn tại của sơ kì đá
cũ ở Việt Nam(một số nhà khảo học Việt Nam không công nhận điều
này).
Trong nhiều hang động của các tỉnh Yên Bái, Ninh Bình, Quảng
Bình với những lớp trầm tích chứa xương động vật thuộc thời kì hậu
pleistocène, người ta đã phát hiện ra những chiếc răng và hàm của
người vượn Homo sapiens(2). Vậy là con người vẫn tiếp tục tồn tại
suốt một thời gian dài, cải tiến dần dần tuy rất chậm các công cụ của
mình để tiến lên một kỹ nghệ hoàn thiện hơn.
Vào cuối thời đại đá cũ châu thổ sông Hồng chưa được phù sa lấp
đầy, con người phải cư trú trong những khối núi đá vôi bao quanh các
châu thổ, những khối núi này có nhiều hang động rộng rãi thuận tiện
cho việc cư trú, gần các sông suối, rừng rậm sẵn thức ăn. Các hòn
sỏi trong lòng suối cũng là nguyên liệu cần thiết để chế tác công cụ.
Chính trong các hang động Hòa Bình và Bắc Sơn, người ta đã tìm
thấy nhiều trung tâm văn hóa đồ đá, với những dụng cụ, những vật
dụng hàng ngày, những dấu vết của bếp núc và những thứ được bỏ
lại sau bữa ăn, chủ yếu là vỏ sò, ốc và xương thú.

Các công cụ được làm bằng đá đẽo còn thô kệch có hình dạng êlíp, hình đĩa, hạnh nhân, làm thành những con dao, những cái cào,
những rìu tay hình chữ nhật. Những hòn sỏi được dùng làm chày để
giã các loại hạt. Dần dần xuất hiện loại rìu bằng đá mài, gọi là rìu Bắc
Sơn. Các công cụ bằng xương hay sừng thú có vẻ không phổ biến.
Có khả năng là cây tre, dễ sử dụng, được dùng rộng rãi cho nhiều
việc khác nhau: cọc, tên bắn, dao và một gốc tre già được dùng để
chứa đựng, thậm chí làm nồi để nấu thức ăn(cách làm này hiện nay
vẫn còn phổ biến ở các miền núi).
Các thân tre, sọ dừa, vỏ bầu cũng được dùng làm vật đựng và nồi
niêu. Vào thời kì Bắc Sơn, đồ gốm xuất hiện. Lúc đầu đất sét được
nhào và nặn thành những khúc dài và tròn như những khúc dồi, rồi
đem quấn lại để tạo thành những vật đựng hay những nồi niêu, sau
đó người ta làm nhẵn cả mặt trong và mặt ngoài. Trong một số đồ vật
được tìm thấy, người ta còn nhận ra những dấu vết chắc là của một
thứ dụng cụ giống cái bay có buộc bằng một sợi dây leo, dùng để vỗ
đất khi còn ướt. Nói chung, các đồ gốm còn thô kệch và được nung ở
nhiệt độ không cao.
Hái lượm và săn bắn là những hoạt động chính, chưa có dấu vết
của nông nghiệp, cũng không có dấu vết của gia súc, có lẽ trừ con
chó.
Cũng vào thời kì ấy, ở các vùng ven biển Trung Bộ, con người
sống chủ yếu bằng đánh cá và vỏ của những con sò(ruột sò dùng làm
thức ăn) được chất thành những đống khổng lồ cao từ 5 đến 6m trải
rộng trên nhiều nghìn mét vuông, điển hình nhất là trong vùng Quỳnh
Lưu tỉnh Nghệ An. Trong các đông vỏ sò này, người ta cũng tìm thấy
những xương thú(hươu, nai, trâu, chó) và những chiếc chày với cối
bằng đá rỗng để nghiền các loại hạt. Nhiều công cụ bằng đá cũng
được tìm thấy ở đấy.
Trong một đống vỏ sò ở Quỳnh Văn, đã tìm thấy nhiều ngôi mộ
chôn tập trung thành nhóm, người chết được chôn ngồi, đầu gối gấp
lại, với vài công cụ lao động và những vỏ sò, xương thú, hoặc bằng
đá hay là những viên bi bằng đất nung có đục lỗ làm đồ trang sức.
Trên mặt đồ gốm xuất hiện những hình vẽ trang trí; trên vách một cái
hang ở tỉnh Hòa Bình, người ta tìm thấy một hình vẽ một con vật mình
thú đầu người nhưng có sừng. Sự tồn tại của những vỏ sò trong

những hang động ở xa biển cũng như những công cụ bằng đá ở
những bờ biển không có nguyên liệu làm công cụ, có vẻ chứng minh
rằng đã có những sự trao đổi giữa hai miền.
Có lý do đế nghĩ rằng vào cuối thời đại đá mới, cách đây năm, sáu
nghìn năm, phần lớn các cư dân nguyên thủy đóng trên lãnh thổ hiện
nay của Việt Nam đã bước vào kỉ nguyên trồng lúa. Những phát hiện
khảo cổ gần đây đã cho thấy những vết tích của việc trồng lúa mỗi nơi
một ít, từ Bắc chí Nam, từ miền trung đến đồng bằng, bờ biển hay xa
hơn nữa, ở các đảo ngoài khơi. Ngoài các di chỉ đá mới đã được biết
trong châu thổ Sông Hồng và lưu vực sông Mã, người ta còn tìm thấy
trên bờ biển tỉnh Quảng Ninh, những di tích của nền văn hóa Hạ
Long, có lẽ đã bắt nguồn từ các nền văn hóa hậu Bắc Sơn. Cũng trên
bờ biển nhưng quá xuống phía Nam, trong phần bắc của Bình Trị
Thiên, đã phát hiện di chỉ Bầu Tró mà lớp văn hóa có thể coi là một
giai đoạn tiến hóa cao hơn của truyền thông Quỳnh Văn.
Cũng thuộc thời kỳ này, người ta tìm thấy trên vùng cao nguyên ở
tây nam Trung Bộ những nhà ngoài trời, đặc biệt ở Gia Lai-Kon Tum
và Đắc Lắc, trong đó có rìu, dao, đá mài, những cuốc bằng đá và
những đồ gốm mà cách cấu tạo không có gì giống với những đồ vật
được tìm thấy ở các nơi khác ở Việt Nam.
Quá về phía nam trong lưu vực sông Đồng Nai, gần 50 di chỉ đá
mới đã được phát hiện trong những lớp phù sa cũ và mới của các đảo
trên sông, có khi tràn cả lên bờ, mà tiêu biểu nhất là di chỉ Cầu Sắt
trong huyện Xuân Lộc. Như vậy, cách đây hơn 4000 năm, ở miền này
đã có một cuộc sống sôi động với những điểm cư trú tương đối quan
trọng. Văn hóa Đồng Nai là một nền văn hóa của những vùng đất ở
độ cao trung bình với một nền nông nghiệp khô, khác với nền nông
nghiệp ở đất ngập nước trong các miền trũng của đồng bằng. Truyền
thống này sẽ phát triển liên tục cho đến thời kỳ đồ sắt và có thể đã
dẫn đến sự hình thành nền văn hóa Óc Eo trong các vùng đất thấp
của miền Tây châu thổ sông Cửu Long.
Các công cụ bằng đá mài ngày càng được chuyên môn hóa. Cái
lưỡi rìu và cuốc lim có vai hay mộng để tra cán được mài nhẵn, với
những hình dạng hình học đều đặn, những kiểu và những kích thước
khác nhau, và đều có cán. Con người biết cưa, khoan, và nhờ một
loạt dụng cụ, có thể đốn cây, khai hoang những khoảnh đất rộng, chế

tạo thuyền, những đồ vật bằng gỗ và bằng tre, cạo vỏ cây, da thú; con
người có thể chế tác xương, sừng, đá để tạo ra những chiếc nhẫn,
vòng tay, hoa tai, chuỗi hạt.
Nghệ thuật gốm đạt trình độ cao với việc sử dụng bàn xoay và việc
nung trong lò cung cấp những sản phẩm có chất lượng, có hình thức
và kích thước đa dạng: nồi to và nhỏ, bình, vò phần lớn mang những
trang trí chạm khắc, chủ yếu và những hình kỷ hà. Những chiếc kim
bằng xương, những guồng quay và những trục suốt bằng đất nung
chứng tỏ sự tồn tại của nghề dệt vải may quần áo, các nơi gần bờ
biển hay gần sông, người ta tìm thấy nhiều ''viên chì'' ở lưới đánh cá,
bằng đất nung, cũng có những viên bi bằng đất nung để săn bắn bằng
ống xì đồng.
Sự xuất hiện nông nghiệp và chăn nuôi được khẳng định qua việc
phát hiện những cái cuốc, những vò lớn bằng gốm dùng để đựng
thóc, và những xương lợn và xương trâu. Hình như đã có trồng lúa
rẫy trên núi và trong các ruộng nước ở đồng bằng, bởi Đông Dương
vốn là một trong số những vùng trồng lúa nước sớm nhất.
Nếu ở miền núi con người tiếp tục sống trong các hang động thì ở
những di chỉ mới phát hiện gần đây ở đồng bằng, người ta tìm thấy
những di tích nhà bằng gỗ và tre; kích thước nhà hình như chứng
minh rằng đó là những nhà tập thể. Di tích các nhà rải ra trên hàng
nghìn mét vuông, một diện tích tương đương với một làng hiện nay.
Số lượng không đếm xuể những dụng cụ tìm thấy ở những nơi ấy
chứng tỏ sự có mặt của hàng nghìn người, họp thành một bộ lạc, gồm
nhiều thị tộc. Nhà chắc là làm theo kiểu nhà sàn, như các vùng dân
tộc thiểu số miền núi ngày nay. Lịch sử truyền thống kể lại rằng ''tổ
tiên chúng ta xây dựng những nhà có tầng gác để tránh bị hổ tấn
công''.
Sự chế tác hàng loạt các công cụ, sự xuất hiện các đồ trang sức
với số lượng lớn, những đồ gốm có trang trí, chứng tỏ sự phân công
lao động đã đạt một trình độ cao. Người chết được chôn cùng với
những dụng cụ, đồ trang sức và đồ gốm, người ta hay gặp những mộ
tập thể. Sự bình đẳng trước cái chết chứng tỏ chưa có sự phân hóa
giai cấp giữa những người sống.
Những chiếc sọ tìm thấy trong các di chỉ Hòa Bình, Bắc Sơn
Quỳnh Văn, Minh Cầm chỉ rõ rằng, các cư dân thuộc về nhóm

australo-negroide; nhưng chẳng bao lâu xuất hiện những yếu tố
mongoloide. Sự pha giống những người mongoioide đến từ phía Bắc
với những người negroide ở phía Nam sinh ra nhóm australonegroide lúc đầu sống chung với các nhóm khác, rồi rốt cuộc chiếm
ưu thế. Các tộc người chung sống hiện nay trên đất nước Việt Nam
đều thuộc về nhóm người mongoloide phía Nam, nhưng còn mang
dấu vết ít nhiều rõ rệt của nhóm australo-negroide. Đó là sự pha
giống, cho ra đời một nhóm bản xứ, tiến triển tại chỗ với nền văn hóa
của riêng mình, chứ không phải là một cuộc di cư ồ ạt mang đến một
nền văn hóa từ bên ngoài. Kết quả nghiên cứu các công cụ bằng đá,
các đố gôm của những di chỉ khác nhau thuộc đồ đá giữa và đá mới
chứng tỏ một quá trình tiến triển liên tục nội bộ tại chỗ với sự độc đáo
của riêng mình.

Thời đại đồ đồng
Vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ hai trước C.N, đồ đồng bắt đầu
xuất hiện bên cạnh đồ đá. Các di chỉ có niên đại từ đầu thời đại đồ
đồng phần lớn tập trung trong miền trung du và đồng bằng sông
Hồng. Điển hình nhất là di chỉ Phùng Nguyên(tỉnh Vĩnh Phú), phát
hiện năm 1958, mà những vật thu thập được - công cụ lao động và đồ
trang sức, đều được mài nhẵn rất tính vi, chứng tỏ tình độ cao của kỹ
thuật đồ đá, đặc biệt kĩ thuật cưa, cho phép chế tạo những đồ vật có
hình dạng chích xác và nhiều khi phức tạp, với một số nguyên liệu tối
thiểu. Chính trên cơ sở đó, những đồ đồng đã xuất hiện, ngày càng
chiếm ưu thế trong lĩnh vực các loại công cụ cũng như vũ khí. Từ nền
văn hóa Phùng Nguyên này của đầu thời đại đồ đồng, ta chuyển sang
giai đoạn Đồng Đậu(nửa sau nửa thiên niên kỷ thứ hai trước C.N), rồi
đến giai đoạn Gò Mun(đầu thiên niên kỉ thứ nhất trước C.N) để cuối
cùng đạt đến một đỉnh cao khác, nền văn hóa Đông Sơn, mang tên
của di dủ Đông Sơn, là di chỉ quan trọng nhất, được phát hiện năm
1924, ở tỉnh Thanh Hóa. Cho tới nay, các nhà khảo cố đã tìm thấy 98
di chỉ Đông Sơn, cung cấp một bộ sưu tập phong phú những vật bằng
đồng gồm ít nhất 50 loại khác nhau, phân bố hầu như trên khắp các
vùng của bắc Việt Nam, đặc biệt dọc theo lưu vực các sông Hồng,
sông Mã và sông Cả.
Các vật đầu tiên bằng đồng, rồi bằng đồng thanh, xuất hiện trước
tiên bên cạnh những công cụ bằng đá đẽo, những đồ gốm vẫn còn
mang tính chất của thời kì đồ đá mới. Nhiều khuôn bằng sa thạch để
chế tạo rìu, lưỡi giáo, dao được tìm thấy mỗi nơi một ít. Chất lượng
đồng thanh và các hình dạng được cải tiến dần dần để cuối cùng đạt
đến trình độ những sáng tạo đặc sắc của Đông Sơn. Sự tiến hóa này
đã kéo dài nhiều thế kỉ; có dấu ấn của những đóng góp tìm ngoài vào
quá trình đó, nhưng đó không phải là yếu tố quyết định như các nhà
khảo học phương Tây vẫn tưởng.
Dựa trên những tư liệu không đầy đủ, lại bị chi phối ít nhiều bởi
đầu óc thực dân, một số nhà khảo cổ học phương Tây thậm chí đã
đưa ra ý kiến rằng nghệ thuật đồ đồng Việt Nam bắt nguồn từ châu
Âu. Những phát hiện gần đây cho thấy ba sự kiện quan trọng:

Nghệ thuật đồ đồng thanh xuất hiện trên cơ sở kĩ nghệ đá mới,
bản thân nghệ thuật đồng thanh cũng đã trải qua một quá trình tiến
hóa lâu dài đưa đến sự sáng tạo ra những hình dáng đặc sắc của văn
hóa Đông Sơn; nghệ thuật đồng thanh được phố biến rộng trên lãnh
thổ Việt Nam, và các di chỉ được phát hiện những năm gần đây cho
thay một sự thống nhất về văn minh rất độc đáo.(3)
Những công cụ và đồ vật bằng đồng tìm thấy rất đa dạng. Ta có
thể phân biệt những công cụ sản xuất: lưỡi cày, rìu, dao, cào, đục để
chế tác gỗ, kim, dao để khắc, lưỡi câu; những đồ vật dùng trong nhà:
bình, vò, nồi, vại, chĩnh, những vũ khí: đầu mũi tên, giáo, gươm, dao
găm, mâu, áo giáp; những nhạc cụ: chuông, trống, những sản phẩm
nghệ thuật: vòng đeo tay, tượng nhỏ.
Đồ vật đặc sắc nhất chắc chắn là những trống đồng, người ta đã
tìm thấy được những trống đồng trong khắp cả vùng Đông Nam Á và
ở Trung Quốc, nhưng mọi người đều nhất trí thừa nhận những chiếc
trống đẹp nhất đều đã được phát hiện ở Việt Nam. Trống Ngọc Lũ cao
63cm, mặt trống có đường kính 79cm, có dạng hình trụ. Ở mặt trên,
giữa có hình mặt trời với rất nhiều tia sáng tỏa ra, xung quanh có 16
vòng tròn đồng tâm với nhiều hình vẽ rất khác nhau. Bên cạnh những
hình trang trí kỷ hà là cả một đám rước gồm những bầy hươu, chim
nước với những nhân vật - người thì chơi nhạc cụ, người thì giã gạo
hay đánh trống. Người mặc áo lông chim, làm cho họ có vẻ như
những người chim, hẳn là mang tính chất vật tổ(totem): họ nhảy múa
theo nhịp phách. Trong bức tranh có những nhà sàn nhỏ, còn ở bên
dưới, trên một lỗ phình ra hình tròn, người ta thấy những thuyền đang
bơi, với những chiến sĩ trang bị bằng rìu, lao và tên.
Từ 1975, nhiều cuộc khai quật đã được tiến hành ở miền Nam.
Tất cả các hình vẽ và trang trí này có tính chất vừa hiện thực vừa
cách điệu, chứng tỏ trình độ nghệ thuật cao của các tác giả. Phần lớn
các vật bằng đồng tìm thấy đều được trang trí rất đẹp hoặc có những
dạng tạo hình đặc sắc. Đó rõ ràng là một nền văn minh đặc trưng, độc
đáo. Các trống đồng được sử dụng trong các lễ hội lớn, đặc biệt trong
các lễ hội cầu mưa.
Các lưỡi cày bằng đồng, các lưỡi dao quắm, lưỡi liền, các hình vẽ
những cây lúa trên các lưỡi rìu, hay những người đang giã gạo chứng
tỏ sự phát triển của nông nghiệp. Nếu việc trồng lúa rẫy vẫn tiếp tục,

thì việc trồng lúa nước đang trên đà phát triển mạnh. Việc đánh cá
sông và biển được tiến hành rộng rãi. Các nghề thủ công, đồ gốm,
đúc đồng, đạt đến một trình độ cao bắt đầu tách khỏi nông nghiệp;
trên các đồ gốm, thấy có vết tre đan, nghề đan tre chắc chắn là đã
phát triển rực rỡ.
Các hình trên mặt trống đồng vẽ những nhà sàn lớn cũng như
những chiếc thuyền lớn, chứng tỏ sự phát triển mạnh mẽ của nghề
mộc.
Bằng chứng của sự trao đổi với bên ngoài, đặc biệt với các vùng
khác nhau của miền Nam Trung Hoa và Inđônêxia là sự phát hiện
những đồ vật khác nhau, những thứ vũ khí thời Chiến Quốc(từ thê kỷ
thứ năm đến thế kỷ thứ ba trước C.N, ở Trung Quốc) trong các ngôi
mộ, trong khi các trống đồng mang dấu ấn Đông Sơn được bán đi rất
xa.
Cung với nền văn minh vật chất và những ngành nghệ thuật đã
phát triển đến trình độ sung mãn ở miền Bắc vào cuối thiên nên kỷ
thứ nhất trước C.N, người ta lại phát hiện thấy, trên một dải ven biển
trải dài từ Nam Đèo Ngang(vĩ tuyến thứ 18) đến tận lưu vực sông
Đồng Nai, một nền văn minh khác không kém phần rực rỡ và có
những quan hệ rất nhiều mặt với nền văn hóa Đông Sơn. Đó là văn
hóa Sa Huỳnh, được phát hiện lần đầu tiên tại di chỉ Sa Huỳnh, nằm
trên bờ biển của tỉnh Quảng Ngãi ngày nay. Đặc điểm chính của nền
văn hóa này là sự tồn tại khắp nơi của những khu mộ táng gồm
những ngôi mộ bằng chum(cao trung bình 60m) chứa những vật
được táng theo là những đồ trang sức bằng đồng, đá quý hay thủy
tinh, những công cụ bằng đồng hay bằng đá, những sản phẩm tạo
tác, qua đó có thể nhận ra một truyền thong văn hóa đã tiến triển một
cách liên tục trong nhiều nghìn năm bắt đầu từ thời đại đồ đồng cho
đến đầu thời đại đồ sắt(từ thiên niên kỷ thứ tư đến thiên rên kỷ thứ
nhất trước C.N).
Kết quả nghiên cứu các vật thu nhặt được cho phép giả thiết rằng
truyền thống Sa Huỳnh được hình thành trên một nền tảng kinh tế mà
cơ sở là việc trồng lúa và các cây lương thực khô trên một địa hình
phức tạp bao gồm cả những gò và đồi cao, đồng bằng thấp trũng và
những dải phù sa dọc bờ biển: Cư dân Sa Huỳnh cũng đánh bắt cá
biển và duy trì quan hệ liên tục bằng đường biển với các cư dân của

đồng bằng sông Hồng ở phía Bắc và các đảo ở phía Nam. Như thế là
các ngôi mộ chum nằm trong khuôn khổ của một truyền thống văn
hóa rộng hơn được phân bố đến tận Thượng Lào, Thái Lan, Philipin,
Inđônêxia. Văn hóa Sa Huỳnh có thế đã dẫn đến sự thành lập các nhà
nước Malai-Polynêdiêng cổ trên các đồng bằng ven biển Trung Việt
Nam ở những thế kỷ đầu của kỷ nguyên chúng ta.

Các vua hùng và vương quốc Văn Lang
Các phát hiện khảo cố học, đặc biệt sự khai quật một loạt di chỉ đá
mới dọc sông Hồng, từ Phú Thọ đến gần Hà Nội, lịch sử huyền thoại
như các sử biên nên kể lại, những chỉ dẫn trích từ các tác giả Trung
Quốc cổ, đều khớp với nhau để đưa ra những thông tin ít nhiều chính
xác về những buổi đầu của lịch sử Việt Nam.
Các sử gia Trung Quốc đầu tiên gọi tên và Bách Việt gồm những
cư dân sống ở các vùng của phía nam Trung Quốc, phía nam sông
Dương Tử. Thực ra đó là một danh từ chủng loại bao gồm những
nhóm tộc người khác nhau, trong đó nhóm Lạc Việt chiếm cứ các
đồng bằng và các miền ven biển của Bắc Việt Nam hiện nay cũng
như một phần tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc hiện nay.
Người Lạc Việt lúc đó gồm mười lăm bộ lạc đã định cư. Là nhà
nông, họ trồng lúa nước, xăm mình bằng những hình thủy quái, ăn
trầu, nhuộm răng đen, xát gạo bằng tay. Một loạt huyền thoại có ý
nghĩa gắn liền với thời kỳ đó.
Vua Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ sinh ra một trăm con trai. Một
hôm vua nói với vợ: ''Ta là dòng giống Rồng, nàng là dòng giống Tiên,
chúng ta phải chia tay''. Vua mang năm mươi người con trai xuống
đồng bằng, còn năm mươi người con trai kia theo mẹ lên núi. Lạc
Long Quân truyền ngôi cho một người con trai, mở đường cho một
triều đại mười tám vua nối tiếp nhau lấy tên là Hùng Vương. Theo lịch
sử truyền thuyết, triều đại các vua Hùng được thành lập cách đây bốn
nghìn năm.
Vương quốc có tên là Văn Lang, là một liên hiệp của mười năm bộ
lạc mà hạt nhân là bộ lạc Mê Linh, đóng ở vùng Bạch Hạc, gần Việt
Trì ngày nay. Các vua Hùng cai trị thông qua các lạc hầu(quan văn)
và lạc tướng(quan võ) và những viên chức phụ trợ gọi là bố chính.
Vua thì cha truyền con nối, các lạc hầu và lạc tướng chắc cũng vậy:
một tầng lớp quý tộc được hình thành như thế, trong khi các công xã
nguyên thủy vẫn tồn tại, trong đó sự phân hóa xã hội ngày càng tăng.
Chiến tranh giữa các nhóm khác nhau cũng cung cấp những nô lệ.
Vua Hùng đời cuối cùng có một người con gái rất đẹp, được hai kẻ

cầu hôn: thần núi Sơn Tinh và thần nước Thủy Tinh. Vua hứa gả
nàng cho kẻ nào mang quà cưới đến trước. Sơn Tinh đến trước và
đưa nàng công chúa lên núi, Thủy Tinh nổi giận dâng nước lên tấn
công núi nhưng Sơn Tinh chế ngự được nước, buộc nước phải rút.
Nhưng hàng năm, vào mùa ấy, cuộc chiến lại tiếp diễn giữa hai vị
thần và kết cục lần nào Sơn Tinh cũng thắng. Truyền thuyết rõ ràng
phản ánh cuộc đấu tranh của dân chúng chống những cơn lũ lụt chu
kỳ của các con sông vào mùa mưa bão. Rõ ràng là từ những buổi đầu
lịch sử của mình, nhân dân Việt Nam đã phải tự tổ chức để chế ngự
nước, do đó cần đến một sự tập hợp và một tổ chức tập trung ngày
càng được củng cố cùng với sự chinh phục những châu thổ của các
con sông lớn.

Vương quốc Âu Lạc
Trong khi người Lạc Việt tự tổ chức lại ở các đồng bằng và các
vùng ven biển, thì ở những miền núi của vùng Việt Bắc hiện nay và
thêm một phần tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc hiện nay, có Tây
Âu(hay Âu Việt) sinh sống, thường xuyên duy trì những trao đổi với
dân Lạc Việt. Người Tây Âu là tổ tiên của các nhóm tộc người Tày,
Nùng và Choang hiện nay sống ở bắc Việt Nam và nam Trung Quốc.
Họ hình thành một liên hiệp bộ lạc mà trung tâm nằm ở tỉnh Cao Bằng
ngày nay. Giữa người Tây Âu và người Lạc Việt cũng thỉnh thoảng
xảy ra những cuộc chiến tranh lớn nhỏ.
Vào cuối thế kỷ thứ ba trước C.N, vua Thục Phán của người Tây
Âu đánh bại vua Hùng cuối cùng và thâu tóm được quyền mình các
đất đai của Tây Âu và của Lạc Việt để lập nên vương quốc Âu Lạc,
vào năm 258 trước C.N. Ông lấy vương hiệu là An Dương Vương và
xây đựng một cơ chế Nhà nước sơ khai, với một ''Triều đình'' và một
quân đội mà theo lịch sử truyền thống có thể lên đến vài vạn người.
Lãnh thổ vương quốc Âu Lạc gồm có bắc Việt Nam hiện nay đến tận
dãy núi Hoành Sơn, các vùng phía nam sông Hồng và phía tây các
tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An.
An Dương Vương, sau khi đánh thắng các vua Hùng, bèn dời đô
từ miền núi về đồng bằng, đóng đô ở Cổ Loa(cách Hà Nội 20 km).
Thành Cổ Loa này là di tích lịch sử quan trọng nhất của thời cố đại
Việt Nam. Thành gồm có ba vòng tường thành, tường ngoài cùng có
chu vi 8.000m, cao từ 3 đến 4m, dày 12m với chân thành dày 25m.
Các tường thành bằng đất được bảo vệ từng chỗ bằng những tấm
chắn bằng đất nung, bao quanh là những hố rộng và sâu, nối liền với
sông Hoàng Giang và được tăng cường ở nhiều nơi bằng những tháp
canh, những công sự phòng ngự. Năm 1959, cách lũy thành về phía
nam 300m, đã phát hiện một kho chứa hàng nghìn mũi tên bằng
đồng, rồi ít lâu sau, xung quanh thành, những rìu bằng đá chuốt hay
bằng đồng, cùng với những mũi tên, và năm 1966, ba lưỡi cày bằng
đồng.
Thành Cổ Loa là một công trình phòng ngự rất quan trọng, được

xây dựng với một nghệ thuật cao, làm cho việc tấn công từ bên ngoài
là rất khó khăn, bởi kẻ thù vấp phải một dãy liên hoàn những công sự
phức tạp. Sự liên thông được thiết lập giữa thành với các con sông
trong vùng cho phép những cuộc hành quân phối hợp giữa quân bộ
và quân thủy. Để xây dựng các công trình này người ta đã phải đào
đắp đến hơn hai triệu mét khối đất.
Việc xây dựng bức thành này không phải là không có khó khăn
dân chúng bị bắt làm công trình này đã nổi loạn nhiều lần. Truyền
thuyết kể lại rằng ma quỷ đã phá hoại việc xây thành cho đến khi thần
Kim Quy đến giúp. Thần còn tặng cho vua một cái móng thần để khi
lắp vào nỏ, nó sẽ biến thành một thứ vũ khí giết được mọi kẻ thù, dù
chúng đông đến đâu.
Quy mô của thành Cổ Loa với những kho lớn mũi tên đồng là dấu
hiệu sự xuất hiện của một quân đội nhà nghề, của một bộ máy nhà
nước sơ khai. Vương quốc Âu Lạc được sinh ra vào thời kỳ hưng
thịnh của thời đại đồ đồng, vào khoảng thế kỷ thứ ba trước C.N.
Chúng ta đã thấy nông nghiệp và thủ công nghiệp đến thời kỳ đó đã
phát triển đến mức nào, thế tất phải dựa trên cơ sở một sự phân công
lao động tương đối phức tạp.
Tính chất của Nhà nước, của xã hội trong vương quốc Âu Lạc là
gì? Về vấn đề này giữa các nhà sử học Việt Nam có hai luận điểm
khác nhau. Một số cho rằng xã hội Âu Lạc là một xã hội nô lệ điển
hình, với một tổ chức kinh tế khá tinh vi, một quân đội chính quy được
củng cố tốt mà bằng chứng là thành Cổ Loa với các kho mũi tên.
Những cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc tất phải cung cấp phần lớn số
nô lệ được dùng làm nô bộc, tham gia sản xuất nông nghiệp hay thủ
công nghiệp, hoặc được sử dụng vào việc xây dựng những công sự
phòng vệ lớn. Công xã nguyên thủy vẫn vững chắc mặc dù một số
thành viên công xã có thể trở thành nô lệ.
Những nhà sử học khác, mặc dù thừa nhận sự tồn tại của nô lệ
trong xã hội Âu Lạc, nhưng cho rằng xã hội đó chưa phải chủ yếu là
xã hội nô lệ; các lực lượng sản xuất mặc dù đã tương đối phát triển
vẫn chưa đủ để hình thành một tầng lớp bóc lột và một Nhà nước giai
cấp. Không nên bị huyễn hoặc vì từ “vua” và những từ khác dùng để
chỉ tầng lớp ''quý tộc'' hay các viên chức thời đó. Những công trình
như đê điều, thành quách thì ngay các công xã nguyên thủy cũng đã

có thể xây dựng được. Xã hội Âu Lạc về tổng thể vẫn là một xã hội
mà nòng cốt vẫn là công xã nguyên thủy, mặc dù công xã đó đang
trên đà tan rã.
Phải thừa nhận rằng thực trạng các cuộc nghiên cứu khảo cố học
với các tư liệu viết thu thập được chưa cho phép ngả về luận điểm
nào. Có những sự việc xác thực hình như khẳng định giả thiết nô lệ,
những vẫn không cung cấp được một chỉ dẫn chính xác nào về lối
sống của các giai cấp chỉ huy hay của các nô lệ, về số lượng của họ,
về các quan hệ kinh tế chính trị pháp lý giữa chủ nô và nô lệ, cũng
như về hoạt động của Nhà nước. Những cuộc nghiên cứu đặc biệt về
khảo cổ học đang được tiến hành, và có thể hy vọng rằng sẽ có
những sự kiện mới rọi những ánh sáng mới vào thời kỳ rất quan trọng
này của lịch sử Việt Nam.
Tuy nhiên có nhiều sự kiện có thể coi là đã được khẳng định, sau
các nghiên cứu khảo cổ học trong những năm gần đây:
– Sự tồn tại của con người từ thời đại đồ đá cũ trên lãnh thổ Việt
Nam.
– Sự phát triển liên tục của những xã hội loài người từ thời đại đồ
đá đến thời đại kim loại với một sự tiến hóa đặc thù lệ thuộc chủ yếu
vào những nhân tố bên trong chứ không phải vào những nhân tố
được mang đến từ bên ngoài(mặc dù những nhân tố từ bên ngoài có
thể đóng vai trò ít nhiều quan trọng tùy từng thời kỳ).
– Sự phát triển một nền văn minh đồ đồng rất rực rỡ, cho thấy xã
hội đã ra khỏi tình trạng nguyên thủy của nó trong vòng vài thế kỷ
trước C.N.
– Sự cần thiết phải có những công trình trị thủy đòi hỏi phải có một
tổ chức tập trung.
– Sự tồn tại kéo dài của các công xã nông thôn kéo theo sự xuất
hiện muộn màng của chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất.
Điều được khẳng định là vào cuối thiên nên kỷ thứ nhất trước CN,
đã hình thành một nền văn minh độc đáo, cường tráng, nhất là trong
các vùng châu thổ và những vùng bao quanh các châu thổ, nền văn
minh mà chẳng bao lâu sau đó sẽ phải chịu đựng một thử thách quyết
định là sự chạm trán với làn sóng bành trướng của phong kiên Trung
Hoa. Bằng chứng rõ nhất về sức sống mãnh liệt và tính độc đáo của

nền văn minh ấy là nó đã không để bị đồng hóa, và kết quả là, sau
một quá trình chống cự lâu dài, rốt cuộc đã nghiễm nhiên trở thành
một nền văn hóa dân tộc độc lập.

Chương 2
Cuộc trường chinh tiến tới độc lập
(Thế kỷ thứ nhất trước C.N - thế kỷ thứ 10 sau C.N)

Sơ lược
Trong thế kỷ thứ ba trước C.N, nhóm người Hán với cái nôi là lưu
vực sông Hoàng Hà, thống nhất vào tay mình toàn bộ Trung Quốc,
đặc biệt gộp vào trong một đế quốc tập trung những bộ tộc khác nhau
cư trú ở miền nam Trung Quốc, phía nam sông Dương Tử. Đế quốc
phong kiến này chẳng bao lâu đã phát triển nhanh vế phía nam. Năm
111 trước CN, triều đại nhà Hán phái quân chinh phục Nam Việt,
vương quốc do Triệu Đà lập nên năm 179, bằng cách tập trung vào
tay mình vương quốc Âu Lạc và một số lãnh thổ thuộc miền Nam
Trung Quốc.
Người Hán sáp nhập đất đai Âu Lạc vào đế quốc của mình, lập ra
quận Giao Chỉ, chia thành nhiều tỉnh, huyện; ba tỉnh bao gồm miền
Bắc Việt Nam hiện nay đến tận vĩ tuyến thứ 16, theo tài liệu của người
Hán lúc đó gồm có 981.735 dân. Từ đó lịch sử Việt Nam diễn biến
dưới sự tác động kết hợp của hai nhân tố trái ngược nhau: một mặt là
chính sách bóc lột kinh tế và đồng hóa về văn hóa, mặt khác, là sự
chống cự bền bỉ của nhân dân được đánh dấu bằng những cuộc khởi
nghĩa vũ trang chống ách đô hộ nước ngoài, một sự chống cự kéo dài
nhiều thế kỷ, rốt cuộc đã bảo toàn được bản sắc dân tộc Việt Nam,
làm nảy nở ý thức dân tộc, dẫn đến sự ra đời của một nhà nước Việt
Nam độc lập. Văn hóa dân tộc vừa bảo tồn được bản sắc độc đáo
của mình, đồng thời hấp thu nhiều yếu tố của nền văn hóa Trung
Quốc, trong mọi lĩnh vực. Hơn mười thế kỷ đã trôi qua như vậy, dẫn
đến một sự biến đổi sâu sắc của xã hội Việt Nam.

Chính sách đế quốc của người Hán
Lúc đầu, người Hán duy trì sử dụng chế độ lạc hầu và lạc tướng,
tức là những thủ lĩnh dân sự và quân sự của các cộng đồng cổ, dần
dần họ thay thế lớp người này bằng những viên chức do triều đình bổ
nhiệm để cai trị cho đến tận cấp tỉnh và huyện(3 tỉnh, 56 huyện). Ở
mỗi huyện là nhiệm sở của một viên quan có tường thành và công sự
bao bọc. Những viên quan đó không thể nào kiểm soát được một
cách trực tiếp các làng xã ở nông thôn, là nơi cư trú của đại đa số dân
chúng, cho nên bộ máy cai trị của người Hán chỉ có thể tỏa ra khắp
nước một c...
 
Gửi ý kiến