Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

TRUYỆN ĐỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TẬP 3

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:46' 24-01-2024
Dung lượng: 11.7 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích: 0 người
Héi ®ång chØ ®¹o xuÊt b¶n
Chñ tÞch Héi ®ång
pgs.TS. PHẠM VĂN LINH
Phã Chñ tÞch Héi ®ång
PHẠM CHÍ THÀNH
Thμnh viªn
trÇn quèc d©n
TS. NguyÔn §øC TμI
TS. NGUYÔN AN TI£M
NguyÔn Vò Thanh H¶o

LỜI NÓI ĐẦU
ể giúp các em học sinh ở các bậc học phổ
thông và sinh viên các trường đại học, cũng
như các bạn đọc xa gần muốn tìm hiểu lịch sử
Việt Nam một cách dễ dàng, dễ nhớ, chúng tôi
biên soạn bộ sách Truyện đọc Lịch sử Việt Nam.
Các truyện đọc trong bộ sách được sưu tầm và
biên soạn dựa trên nhiều nguồn tư liệu khác
nhau. Bộ sách sẽ đem đến cho các em học sinh,
sinh viên và bạn đọc nhiều điều thú vị và bổ
ích. Nội dung các truyện đọc không chỉ cung
cấp cho bạn đọc những kiến thức về lịch sử Việt
Nam, mà còn cung cấp những câu chuyện có
tính nhân văn và tính giáo dục về các sự kiện,
hiện tượng, nhân vật lịch sử, các thành tựu kinh
tế, văn hoá tiêu biểu của dân tộc theo dòng thời
gian của lịch sử Việt Nam từ triều đại nhà
Nguyễn cho đến ngày nay.

Đ

Bộ sách gồm 3 tập:
Tập 1: Giới thiệu các truyện về triều đại nhà
Nguyễn thời độc lập tự chủ.
5

Tập 2: Viết về các truyện từ khi thực dân
Pháp xâm chiếm nước ta cuối thế kỷ XIX đến
Cách mạng tháng Tám thành công.
Tập 3: Là các truyện về giai đoạn lịch sử từ
sau Cách mạng tháng Tám đến nay.
Ở đầu mỗi tập truyện đọc, chúng tôi đều
giới thiệu một cách khái quát nội dung lịch sử
của giai đoạn mà các truyện đọc sẽ phản ánh để
bạn đọc tiện theo dõi.
Các tác giả cố gắng biên soạn theo nguyên
tắc ngắn gọn, rõ ràng và dễ hiểu; chỗ nào có
thuật ngữ khó hoặc có địa danh cổ, chúng tôi
đều có chú thích và giải nghĩa ở cuối trang.
Nhân tập 2 của bộ sách ra đời, chúng tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với các soạn
giả các tài liệu được sưu tầm, chọn dẫn và các
tác giả có tranh, ảnh được minh hoạ trong sách.
Mặc dù đã rất cố gắng, song cuốn sách chắc
chắn không tránh khỏi thiếu sót. Chúng tôi rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của
bạn đọc xa gần để sách được tốt hơn trong
những lần tái bản sau.
Nhóm tác giả

6

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ VIỆT NAM
TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
ĐẾN NAY
au Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước
những khó khăn thử thách tưởng chừng không
thể vượt qua nổi. Nhưng Đảng, Nhà nước và
nhân dân ta đã dũng cảm, khôn khéo đấu tranh
với thù trong, giặc ngoài, bảo vệ chính quyền
cách mạng còn non trẻ; đồng thời tranh thủ thời
gian hòa hoãn xây dựng chính quyền mới,
chuẩn bị những điều kiện căn bản cho cuộc
kháng chiến chống Pháp (1946-1954).
Trong những năm kháng chiến chổng Pháp,
nhân dân Việt Nam vừa kháng chiến vừa kiến
quốc. Nhiệm vụ kiến quốc tuy tiến hành trong
điều kiện kháng chiến, nhưng nhân dân ta đã
từng bước xây dựng, củng cố chế độ xã hội mới
về mọi mặt. Chính quyền dân chủ nhân dân
được giữ vững, không những tạo nên thắng lợi
của cuộc kháng chiến mà còn tạo cơ sở cho việc

S

7

xây dựng chế độ xã hội mới trong những giai
đoạn sau.
Năm 1954, sau Chiến thắng Điện Biên Phủ,
Hiệp định Giơnevơ được ký kết, cuộc kháng
chiến đã kết thúc thắng lợi. Miền Bắc được giải
phóng, bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa
xã hội. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ
(1954-1975), nhân dân miền Bắc ra sức khôi phục
kinh tế và xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã
hội, đồng thời đưa miền Bắc trở thành hậu
phuơng lớn, chi viện sức người, sức cứa cho tiền
tuyến và trực tiếp chiến đấu chống lại cuộc
chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỳ.
Nhân dân miền Nam tiếp tục tiến hành cách
mạng dân tộc dân chù trong điều kiện Mỹ thi
hành chính sách thực dân mới ở miền Nam, đã
từng bước đánh bại bốn chiến lược quân sự của
Mỹ và chính quyền Sài Gòn (Chiến tranh đơn
phương, Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh cục
bộ và Việt Nam hoá chiến tranh). Đại thắng
mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn
miền Nam khỏi sự thống tiị của đế quốc Mỹ và
chính quyền tay sai. Đó là kết quả và là đỉnh
cao của 30 năm chiến đấu vô cùng anh dũng
của quân và dân ta do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo. Thắng lợi năm 1975 đã mở ra một thời
kỳ mới: đất nước hòa bình, thống nhất đi lên chủ
nghĩa xã hội.
8

Năm 1976, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ra đời, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội diễn ra trên cả nước. Song trong 10 năm đầu
(1975-1985), do nhiều nguyên nhân chủ quan và
khách quan, đất nước ta rơi vào tình trạng
khủng hoảng, đời sống của nhân dân vô cùng
khó khăn. Trước tình hình đó, Đại hội đại biểu
toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI
(1986) đã đề ra dường loi đổi mới đất nước, trọng
tâm là đổi mới về kinh tế. Qua hai kế hoạch 5
năm (1986-1990) và (1991-1995), đất nước về cơ
bản đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã
hội, đời sống nhân dân được nâng lên.
Trong quá trình đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và
xây dựng đất nước, người dân Việt Nam đã
được rèn luyện, đã hun đúc nên tinh thần hy
sinh anh dũng, truyền thống lao động cần cù,
sáng tạo, tính thích nghi và hội nhập, lối ứng xử
mềm mỏng, tính hiếu học, trọng nghĩa khí, lòng
nhân ái khoan dung. Trong hoàn cảnh lịch sử
đó, trên đất nước ta đã xuất hiện biết bao những
tấm gương, những người con sẵn sàng hy sinh
vì nền độc tập, tự do của Tố quốc, những nhà
khoa học, những trí thức lớn đã làm việc không
biết mệt mỏi, đem hết tài trí của mình phục vụ
cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như
đem lại cuộc sống ấm no và niềm hạnh phúc
cho nhân dân. Đó chính là sức mạnh tiềm tàng,
9

là nguồn nội lực để nhân dân ta tiếp tục xây
dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh, hội nhập với sự phát triển
của khu vực và thế giới.

10

QUỸ ĐỘC LẬP TUẦN LỄ VÀNG

rước tình hình nguy ngập về tài chính, Chính
phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên quyết
cắt giảm các khoản chi tiêu chưa thật cần thiết
và kêu gọi sự đóng góp của nhân dân. Ngày
4-9-1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp

T

Ông Trịnh Văn Bô (ngirời đầu tiên từ trái qua) và ông
Phạm Văn Đồng (người thứ tư từ trái qua) trước thềm
Nhà hát Lớn tại Tuần lễ Vàng năm 1945

11

thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa ký Sắc lệnh số 4 thành lập “Quỹ Độc lập”.
Tiếp đó, trong khuôn khổ “Quỹ Độc lập” Chính
phủ đã đề ra chương trình tổ chức “Tuần lễ
Vàng” từ ngày 17 - 24/9/1945. Nhiều người góp
cả những vật kỷ niệm thân thiết như đôi
khuyên tai của một bà cụ đã sắm từ ngày còn là
con gái, hai chiếc nhẫn cưới của một cặp vợ
chồng; một cụ bà 80 tuổi mang tới một gói lụa
điều, bên trong là một nén vàng gia bảo nặng
mười bảy lạng; có gia đình quyên góp toàn bộ
tư trang của những người trong nhà. Đặc biệt,
gia đình ông bà Trịnh Văn Bô đã ủng hộ Quỹ
Độc lập 20 vạn đồng tiền Đông Dương - tương
đương 500 cây vàng. Trong Tuần lễ Vàng, gia
đình ông bà đã đóng góp 117 cây vàng và vận
động người khác ủng hộ thêm 1.000 cây vàng
nữa. Chỉ trong một thời gian ngắn, các tầng lớp
nhân dân đã đóng góp được hơn 20 triệu đồng
và 370 kg vàng.
Vàng thu góp được đã dùng vào việc quốc
phòng. Những chiến sĩ ngoài chiến trường
nguyện hy sinh đến giọt máu cuối cùng, còn
những người dân thì đóng góp vàng bạc, châu
báu cho Tổ quốc. Vì thế, Tuần lễ Vàng không chỉ
có ý nghĩa về “tài chính quốc phòng”, mà còn có ý
nghĩa chính trị quan trọng.
Các đoàn thể cứu quốc thường xuyên tổ
12

chức các cuộc lạc quyên ủng hộ bộ đội. Chỉ
trong “Ngày Len, vái, sợi” do Hội Phụ nữ cứu
quốc Hà Nội tổ chức đã quyên được 5.842 m
vải, 149 kg len, hàng nghìn bộ quần áo, chăn
màn, giày dép cho bộ đội.
Những đóng góp trên đã giúp Chính phủ
giải quyết được những khó khăn gay gắt trước
mắt, nhất là việc nuôi dưỡng, trang bị các đơn
vị Vệ quốc quân để chuẩn bị bước vào cuộc
kháng chiến.

13

CHỐNG “GIẶC DỐT”
gày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của
Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nói: “Nạn dốt là một trong những phương pháp
thâm độc mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta...
Một dân tộc dốt là một dãn tộc yếu. Vì vậy, tôi đề
nghị mở một chiến dịch chống nạn mù chữ”. Tiếp
đó, ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành
sắc lệnh 17/SL quyết định thành lập Nha Bình dân
học vụ; sắc lệnh 19/SL quy định các địa phương phải
mở các lớp học Bình dân học vụ chậm nhất trong
thời gian 6 tháng và sắc lệnh 29/SL thi hành cưỡng
bức việc học chữ Quốc ngữ không mất tiền.
Toàn dân đã sôi nổi hưởng ứng các sắc lệnh
trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khắp nơi từ
thành phố đến nông thôn, nhiều lớp Bình dân
học vụ đã được mở, lôi cuốn từ các em nhỏ đến
cụ già. Khẩu hiệu “Đi học là kháng chiến”, “Mỗi
lớp học là một tổ tuyên truyền kháng chiến” xuất
hiện ở khắp các đường phố, xóm làng.
Sau hơn một năm thục hiện chiến dịch

N

14

chống “giặc dốt” cả nước đã có 2,5 triệu người
thoát nạn mù chữ. Hệ thống giáo dục phổ thông
và đại học cũng được xây dựng và từng bước
phát triển theo ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học
và đại chủng. Tiếng Việt được dùng trong các
văn bản chính thức của Nhà nước và trong việc
học tập, giảng dạy ở các trường học.
Thắng lợi của cuộc đấu tranh chống “giặc
dốt” ngoài ý nghĩa to lớn về văn hoá, còn là một
thắng lợi lớn về chính trị; tạo điều kiện để nhân
dân tham gia quản lý nhà nước và phát huy
quyền làm chủ của mình trong xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.

15

CẢ NƯỚC CỨU ĐÓI
ản xuất lương thực để cứu đói và nuôi
dưỡng quân đội là công việc bức thiết mà
chính quyền cách mạng phải quan tâm lãnh đạo
nhân dân thực hiện. Ngày 3-9-1945, trong phiên
họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã phát động một phong trào
“Tăng gia sản xuất để chống nạn đóf , thực hiện
“tấc đất tấc vàng”. Người kêu gọi đồng bào cả
nước nhường cơm sẻ áo cho nhau, lập “hũ gạo
tiết kiệm”. Mười ngày một lần, tất cả đồng bào
nhịn ăn một bữa, gạo tiết kiệm được sẽ phát cho
người nghèo. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu
gương thực hiện đầu tiên.
Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh được
nhân dân cả nước hưởng ứng. Mọi người nô
nức tăng gia sản xuất, chống đói như chống
giặc ngoại xâm. Tính đến cuối năm 1945, nhân
dân ta đã bỏ ra hơn 4 triệu ngày công, đào đắp
2,72 triệu m3 đất bổ trợ cho đê điều, đẩy lùi
nạn lụt. Diện tích trồng lúa được mở rộng gấp

S

16

rưỡi, diện tích trồng khoai lang tăng gấp ba, số
khoai lang thu hoạch tăng gấp bốn lần so với
năm 1943.
Nhờ sự nỗ lực vượt bậc của toàn dân, giá
gạo ở Bắc bộ hạ từ 700 đồng xuống 200 đồng 1
tạ. Cách mạng đã chiến thắng nạn đói ngay từ
những ngày đầu của chế độ mới. Kết quả đó
không những chỉ bồi dưỡng sức dân mà còn
góp phần quyết định vào việc xây dựng và bảo
vệ vững chắc chính quyền cách mạng. Thắng lợi
trên mặt trận chống “giặc đói” vì vậy có ý nghĩa
chính trị to lớn, làm nổi bật tính ưu việt của
chính quyền cách mạng. Nhân dân càng thêm
tin tưởng và gắn bó với chế độ mới.

17

THỰC DÂN PHÁP
TRỞ LẠI XÂM LƯỢC NAM BỘ
a tuần lễ sau khi nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa ra đời (1945), thực dân Pháp - kẻ
đã đầu hàng phát xít Nhật ở Đông Dương trước
đây, nay núp dưới bóng quân Anh trở lại xâm
lược nước ta.
Lợi dụng thời cơ Nhật đầu hàng Đồng minh,
Pháp đặt ngay kế hoạch chiếm lại Đông Dương.
Ngay từ ngày 2-9-1945, giữa lúc 50 vạn nhân
dân Sài Gòn họp mít tinh mừng Ngày Độc lập,
một số tên lính Pháp nấp trong nhà thờ Đức Bà
xả súng bắn ra làm 47 người chết, nhiều người
bị thương. Đây là một hành động khiêu khích
hết sức nghiêm trọng.
Dựa vào thế lực quân Anh và 5.000 lính
Nhật, đêm 22 rạng sáng ngày 23-9-1945 thực
dân Pháp nổ súng tiến công Sài Gòn, rồi mở
rộng chiến tranh ra toàn Nam bộ, Nam Trung
bộ. Ngày 26-9-1945, qua Đài phát thanh, Chủ
tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào Nam bộ

B

18

anh dũng kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược. Chính phủ đã ra huấn lệnh cho quân
và dân Nam bộ, đồng thời kêu gọi nhân dân cả
nước chi viện sức người, sức của cho cuộc
kháng chiến ở miền Nam; quyết định thành lập
lực lượng Nam tiến, đưa ngay vào tham gia
chiến đấu ở miền Nam.

Phụ nữ Đồng Tháp Mười đang đào hào
làm chướng ngại vật kháng chiến

Ngày 17-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh với
tư cách là Chủ tịch Chính phủ Lâm thòi nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã gửi điện văn
tới Tông thống Mỹ H.Truman khẳng định địa vị
pháp lý của Việt Nam trong các quan hệ quốc
19

tế, trong việc giải quyết các vấn đề của Việt
Nam và khu vực; trong Công điện gửi Tướng
Đò Gôn (Charles de Gaulle), người đứng đầu
Chính phủ Pháp; điện văn gửi Chủ tịch Quốc
hôi Pháp; điện văn gửi Hội nghị liên Phi; các
điện văn gửi Thống chế Tưởng Giới Thạch; thư
gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ... và trong các
cuộc trả lời phỏng vấn của báo chí trong, ngoài
nước vào các tháng 9, 10-1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt
Nam, xác định rõ vị trí pháp lý của Chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên trường quốc
tế. Người yêu cầu các quốc gia tôn trọng thực tế
lịch sử hiển nhiên đó.

20

GỬI ĐỒNG BÀO NAM BỘ
gày 26-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi
thư cho đồng bào Nam bộ kháng chiến:
“Hỡi đồng bào Nam bộ!
Nước ta vừa tranh quyền độc lập, thì đã gặp
nạn ngoại xâm. Khi còn chiến tranh với Nhật,
thì bọn thực dân Pháp hoặc đầu hàng hoặc chạy
trốn. Nay vừa hết chiến tranh thì bọn thực dân
Pháp hoặc bí mật hoặc công khai mò lại. Trong
bốn năm, họ đã bán nước ta hai lần. Nay họ lại
muốn thống trị dân ta lần nữa.
Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào
lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam bộ.
Chúng ta nên nhớ lời nói oanh liệt của một nhà
đại cách mạng Pháp: “Thà chết tự do hơn sống
nô lệ”.
Tôi chắc và đồng bào Nam bộ cũng chắc
rằng Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết
sức giúp những chiến sĩ và nhân dân hiện đang
hy sinh đấu tranh để giữ vững nền độc lập của
nước nhà.

N

21

Tôi chắc và tất cả đồng bào đều chắc rằng
những người và những dân tộc yêu chuộng
bình đẳng, tự do trên thế giới đều đồng tình với
chúng ta.
Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có
lực lượng đoàn kết của cả quốc dân. Chúng ta
nhất định thắng lợi vì cuộc tranh đấu của chúng
ta là chính đáng.

Ban Chỉ huy quân sự cùa ủy ban kháng chiến hành chỉnh Nam bộ,
tháng 10-1945

Tôi chỉ muốn dặn đồng bào Nam bộ một lời:
“Đối với những người Pháp bị bắt trong lúc
chiến tranh, ta phải canh phòng cho cẩn thận,
nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng.
22

Phải làm cho thế giới, trước hết làm cho dân
Pháp biết rằng: “Chúng ta là quang minh chính
đại. Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập, tự do, chứ
chúng ta không vì tư thù, tư oán; làm cho thế
giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh,
văn minh hon bọn đi giết người cướp nước.
Nước Nam độc lập m uôn năm ì Đồng bào Nam
bộ muôn năm ì ”

23

CẢ NƯỚC HƯỚNG VỀ NAM BỘ
rước hành động gây chiến trắng trợn, tàn
bạo của thực dân Pháp, Trung ương Đảng,
Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi
đồng bào cả nước dốc sức ủng hộ cuộc kháng
chiến của đồng bào miền Nam.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Bác HÒ,
phong trào ủng hộ kháng chiến miền Nam diễn
ra sôi nổi khắp nơi. Lời ca: “Tiếng súng vang
sông núi miền Nam. Ta muốn băng mình tới
phương Nam giết hết quân tham tàn...” ngày đêm
thôi thúc, giục giã mọi người lên đường cứu
nước. Hầu hết các tỉnh Trung bộ và Bắc Trung
bộ lập “Phòng Nam bộ ” ghi tên những người
vào Nam giết giặc.
Các đơn vị Nam tiến được tổ chức, xây dựng
theo nguyên tắc tổ chức biên chế chặt chẽ, lựa
chọn trong số những người hăng hái tình
nguyện đã được huấn luyện quân sự hoặc đã có
ít nhiều kinh nghiệm chiến đấu, được trang bị
các loại vũ khí tốt nhất, có đủ phụ tùng thay

T

24

Đoàn quân "Nam tiến ” lên đường vào Nam chiến đẩu
(Ảnh: Nguyễn Bá Khoản)

thế và đạn dược bổ sung; cán bộ chỉ huy phải là
những người đã tham gia chiến đấu, được thử
thách, có kỷ luật, đoàn kết chặt chẽ với đội viên.
Việc bảo vệ mọi mặt cho bộ đội Nam tiến do địa
phương phụ trách; việc điều động, sử dụng
thuộc quyền các bộ chỉ huy các mặt trận, tuỳ
theo khả năng nhân tài, vật lục của từng địa
phương mà tổ chức nhiều hay ít đơn vị Nam
tiến. Rất nhiều thanh niên, phụ nữ, thiếu niên
bao gồm công nhân, nông dân, thợ thủ công,
học sinh, sinh viên, thầy thuốc, kỹ sư, nhà văn,
nhà giáo, viên chức..., cả một số nhà sư cũng cởi
áo cà sa tình nguyện lên đường chiến đấu với
khí thế sục sôi của những ngày Tổng khởi nghĩa
tháng Tám. Có cả những Việt kiều mới về nước
25

cũng xin tòng quân Nam tiến... Những chuyến
xe lửa hối hả liên tiếp đưa các đoàn quân Nam
tiến ra trận. Ba ngày sau khi Pháp khởi hấn ở
Sài Gòn, đơn vị Nam tiến đầu tiên đáp tàu rời
Hà Nội. Trong đoàn quân Nam tiến những
đợt đầu có nhiều đơn vị thuộc các chi đội Giải
phóng quân từ Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn,
chiến khu Đông Triều, Bắc Ninh, Bắc Giang,
Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình... Trong số đó,
có các cán bộ của Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân như Hoàng Đình Giong, Thu Sơn,
Hoàng Thơ, Vy Dân, Nam Long...
Suốt dọc đường Nam tiến, nhân dân mang
cờ, biểu ngữ, quà bánh đón chào bộ đội, gửi
gắm những tình cảm thân thương nhất đến
miền Nam.
Chỉ trong một thời gian ngắn, các tỉnh Bắc
bộ và Bắc Trung bộ đã tổ chức ở mỗi tỉnh từ
một đến hai chi đội (tương đương từ một đến
hai trung đoàn) Nam tiến.
Lực lượng Nam tiến vào chiến trường đã
góp phần quan trọng làm tăng thêm sức mạnh
chiến đấu cho miền Nam. Nhiều chiến sĩ Nam
tiến qua chiến đấu, rèn luyện đã trở thành cán
bộ chỉ huy, lãnh đạo các lực lượng vũ trang
Nam bộ và Nam Trung bộ.
Đi đôi với việc đóng góp sức người, nhân
dân cả nước còn tự nguyện góp tiền bạc mua
26

sắm vũ khí, quyên góp chăn màn, quần áo gửi
tới các chiến sĩ miền Nam. Các địa phương
thành lập ủy ban ủng hộ chiến sĩ Nam bộ, lập Ouỹ
Nam bộ.

27

THÙ TRONG, GIẶC NGOẢI
au Cách mạng tháng Tám, việc quân Đồng
minh vào giải giáp quân đội Nhật đã là một
khó khăn lớn cho Đảng và nhân dân ta. Ở miền
Bắc, Tưởng Giới Thạch lại đưa một số quân lớn
vào nước ta để lật đổ chính quyền cách mạng.
Chính quyền cách mạng vừa mới thành lập cần
có thời gian để củng cố và xây dựng lực lượng,
vì vậy ta đề ra khẩu hiệu: “Hoa - Việt thăn thiện”.
Sau khi Nhật đầu hàng, Hà ứng Khâm Tổng tham mưu trưởng quân đội Quốc dân
đảng, một tên tướng chống Cộng khét tiếng, đã
thúc tướng Lư Hán điều quân vào miền Bắc
nước ta thật nhanh. Kế hoạch “Hoa quăn nhập
Việt” đã được chuẩn bị từ lâu, bọn chúng tin
rằng đây là một thời cơ thuận lợi để có thể đặt
được một chính quyền tay sai từ vĩ tuyến 16 trở
ra. Đi theo chúng là những tên tay sai người
Việt ở Trung Hoa như Nguyễn Hải Thần, Vũ
Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam. Bọn này
thuộc hai tổ chức Việt Nam Cách mệnh Đồng

S

28

minh Hội (Việt Cách) và Việt Nam Quốc dân
Đảng (Việt Quốc). Chúng tự nhận là những
người Việt Nam yêu nước theo chủ nghĩa quốc
gia, nhưng thực ra là bọn phản động dựa vào
Tưởng Giới Thạch.
Quân Tưởng tiến vào Việt Nam theo hai
đường. Tướng Lư Hán chỉ huy đi dọc theo sông
Hồng vào Lào Cai, rồi về Hà Nội. Tướng Tiêu
Văn đi từ Quảng Tây vào Lạng Sơn, rồi xuống
Hà Nội. Hai quân đoàn khác, một của Trung
ương, một của Vân Nam, chia nhau xuống Hải
Phòng, vào Vinh và Đà Nang. Tổng số quân
Tưởng vào miền Bắc là 18 vạn người.
Nguyễn Hải Thần theo quân Tưởng vào
Lạng Sơn thì nghe tin Chính phủ Lâm thời nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra mắt trước
một triệu đồng bào Thủ đô Hà Nội. Những tên
chỉ huy của cánh quân này đòi tước vũ khí của
bộ đội ta ở Lạng Sơn, Cao Bằng, bộ đội ta không
chịu. Chúng đem quân tới chiếm các doanh trại
của Quân Giải phóng.
Bọn Việt Cách núp sau lưỡi lê quân Tưởng,
xông vào trụ sở của ủy ban hành chính tỉnh.
Chúng đi lùng khắp nơi không kiếm ra đủ số
người để làm cuộc mít tinh nhỏ cho Nguyễn
Hải Thần ra mắt. Chúng đành in một số truyền
đơn phản đối Việt Minh thành lập Chính phủ
Lâm thời và nêu lên 13 điều thảo phạt Chính
29

phủ Hồ Chí Minh. Không có người để phân
phát truyền đơn vì nhân dân đã thực hiện
“vườn không nhà trống”, chúng đem truyền
đơn rải khắp đường ngang, ngõ tắt.
Bọn Việt Quốc do Vũ Hồng Khanh và
Nguyễn Tường Tam cầm đầu đi theo đoàn Vân
Nam, cũng dựa vào mũi súng quân Tưởng, tới
đâu chúng cũng tìm cách lật đổ chính quyền
của nhân dân ta. Chúng tập hợp bọn phản động
ở địa phương, quấy nhiễu, phá phách, cướp
của, giết người.
Ngày 11-9, tướng Lư Hán đến Hà Nội, mấy
ngày sau các bản bố cáo được dán khắp nơi.
Quân Tưởng coi như chúng đang ở nơi không
có chính quyền, tự cho mình quyền giữ gìn trật
tự trị an trong thành phố. Chúng quy định giá
trị của tiền Quan kim, Quốc tệ - những thứ tiền
từ lâu đã trở thành mớ giấy lộn. Chúng đề ra cả
những quy định để kiểm soát xe cộ đi lại trong
thành phố.

30

SÁCH LƯỢC
HÒA HOÃN VỚI QUÂN TƯỞNG
ơn ai hết Bác Hồ thấy rõ mối nguy cho cách
mạng Việt Nam khi quân Tưởng tràn vào
miền Bắc. Chúng là những tên chống Cộng cực
kỳ tàn bạo. Trong khi để giải giáp gần ba vạn
tên Nhật ở miền Nam, chỉ cần đến dăm ngàn
quân Anh, cũng với việc ấy ở miền Bắc, bọn
Tưởng đã đưa vào 18 vạn quân. Dã tâm của bọn
Tưởng đã quá rõ ràng. Chúng muốn tiêu diệt
chính quyền cách mạng, muốn thôn tính nuớc ta.
Sách luợc của ta lúc này là phải hòa hoãn với
Tuởng đê chĩa mũi nhọn vào thực dân Pháp,
nhưng điều đó không phải dễ. Bác Hồ nhiều lần
đã dặn cán bộ là phải hết sức tránh khiêu khích,
không để xảy ra xung đột với quân Tưởng. Nếu
có, phải biến xung đột lớn thành nhỏ, nhỏ thành
không có. Một số cán bộ chưa nắm vững được
sách lược này nên đã có những vụ va chạm
đáng lẽ không xảy ra, làm cho ta gặp nhiều khó
khăn trong việc giải quyết. Bác Hồ đã nghiêm

H

31

khắc với những tư tưởng sai lầm, chỉ thấy bộ
phận mà không thấy toàn cục.
Một mặt ta cố tìm mọi cách hòa hoãn, hạn
chế những hoạt động phá hoại của Tưởng, mặt
khác phát hiện những mâu thuẫn, rạn nứt dù
rất nhỏ trong hàng ngũ của chúng để lợi dụng.
Bọn tướng lĩnh của Tưởng Giới Thạch vào
miền Bắc nước ta thuộc nhiều phe cánh khác
nhau. Có những tên thuộc tập đoàn Vân Nam,
Quảng Đông, Quảng Tây, có tên thuộc tập đoàn
Trùng Khánh. Chúng giống nhau là đều chống
Cộng, nhưng bên trong có mâu thuẫn, nên thái
độ phản động của chúng đối với cách mạng
Việt Nam cũng có ít nhiều khác nhau.
Ngoài ý định can thiệp vào Việt Nam, tập
đoàn Trùng Khánh còn muốn nhân dịp này
thanh toán một số tên quân phiệt ở Tây Nam và
Hoa Nam. Ngay từ khi Lư Hán kéo quân sang
nước ta, Bác Hồ đã nói: “Đây là kế hoạch điệu
hổ ly sơn của Tưởng Giới Thạch. Nội bộ chúng
không ổn định là điều ta có thể lợi dụng”.
Chỉ sau đôi lần gặp Bác, Lư Hán đã tỏ ra
cảm phục. Y ngạc nhiên về sự hiểu biết sâu
rộng của Bác khi trao đổi với y về tình hình
chính trị ở Việt Nam, Trung Hoa và trên thế
giới. Bác làm cho y hiểu cuộc đấu tranh giành
độc lập và chủ trương Hoa - Việt thân thiện của
ta. Đôi lúc Bác cũng cho y biết phần nào những
32

hoạt động xấu xa của bọn Việt Cách và Việt
Quốc. Lư Hán đã gọi Bác một cách trân trọng là
Hồ Chủ tịch. Nghe tin Bác tới, y đã ra cửa đón.
Khi Bác về, y tiễn chân ra tận cửa.
Tiêu Văn là Chủ nhiệm chính trị của Chiến
khu thứ tư do tướng Trương Phát Khuê chỉ
huy. Y giữ vị trí chủ chốt trong Phòng chỉ đạo
cách mạng Việt Nam do Trương lập ra. Tưởng
Giới Thạch không ưa Trương và phe cánh của
y, nhưng vẫn phải dùng Tiêu Văn vì Tiêu Văn
theo dõi tình hình Việt Nam từ lâu và đang nắm
tên tay sai Nguyễn Hải Thần.
Tiêu Văn đến Hà Nội, chính quyền cách
mạng đã được thành lập, y thấy mình bị đặt
trước việc đã rồi, nên rất bực tức.
Bác Hồ đã bảo anh em chọn cho Tiêu Văn
một ngôi nhà sang trọng, nhưng y không chịu
tới mà cùng bọn tay sai đến ở phố Cửa Đông.
Thấy Bác định đi thăm Tiẻu Văn, nhiều cán
bộ can ngăn, sợ y mới đến chưa biết thái độ ra
sao. Bác nói: “Nó vừa tới, chưa rõ tình hình, ta
đến cũng có cái hay”. Bác chỉ định mấy đồng
chí cùng đi, không được đi dép, mà phải thay
giày. Bác nói: “Khi nào gặp người ta, tôi ăn mặc
thế nào, cứ mặc tôi, nhưng các chú thì phải cho
chỉnh tề”.
Đến phố Cửa Đông nơi Tiêu Văn ở, Bác bảo
hai đồng chí đứng ở bên ngoài, rồi cùng hai
33

đồng chí khác đi vào. Nhìn qua hàng rào, mọi
người thấy ngoài lính Tưởng còn có mấy tên tay
sai Việt Quốc, đeo súng ra vào, vẻ mặt lầm lì.
Tiêu Văn đang ở nhà trong nghe báo có Hồ
Chủ tịch đến, y lật đật đi ra. Chỉ sau vài câu
thăm hỏi của Bác, y đã tỏ ra vui vẻ, niềm nở
như một người bạn thân quen từ lâu. Thái độ
kính nể của Tiêu Văn làm cho mấy tên tay sai
Việt Quốc ngạc nhiên.
Bác nhắc lại những chuyện ở Liễu Châu, rồi
bảo Tiêu Văn hãy bỏ qua những hiểu lầm trước
đây, hợp tác với ta để giải quyết mọi vấn đề
trong quan hệ Hoa - Việt. Tiêu Văn hứa sẽ đặt
quan hệ với Chính phủ ta. Sau lần gặp này, Tiêu
Văn đã dọn đến ở ngôi nhà ta đã dành cho y ở
gần hồ Bảy Mầu. Bác đã dùng y đẽ giải quyết
một phần nào những va chạm, mắc míu với
quân Tưởng.

34

TỔNG TUYỂN CỬ
ĐẦU TIÊN Ở NƯỚC TA
gày 6 -1-1946, diễn ra cuộc Tổng tuyển cử đầu
tiên trên đất nước Việt Nam. Lần đầu tiên
trong lịch sử, mọi người dân Việt Nam từ 18
tuổi trở lên, không phân biệt nam, nữ đều đuợc
hưởng quyền bầu cử và ứng cử. Hơn 90% tổng

N

Nhân dân lao động Thủ đô cồ động ngày Tồng tuyển cử 6-1-1946

35

số cử tri đã đi bỏ phiếu. Nhân dân cả nước đã
bầu 333 đại biểu vào Quốc hội của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa. Chủ tịch Hồ Chí Minh
ứng cử ở Hà Nội và đã trúng cử với số phiếu
cao nhất là 98,4%.
Ngày 2-3-1946, Ouốc hội khoá I đã tiến hành
kỳ họp thứ nhất tại Thủ đô Hà Nội. Quốc hội đã
thông qua danh sách 70 đại biểu của Việt Nam
Quốc dân đảng và Việt Nam cách mạng đồng
minh hội, để bổ sung vào Quốc hội. Quốc hội
đã nhất trí bầu cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch
Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Quốc hội
cũng bầu Tiểu ban dụ thảo Hiến pháp, Kháng
chiến ủy viên hội và đoàn cố vấn tối cao. “Quốc
hội trao cho Chính phủ Liên hiệp kháng chiến
nhiệm vụ thục hiện triệt để sự thống nhất các
lực lượng quốc dân về phương diện quân sự,
tuyên truyền, hành chính, tư pháp”, tổng động
viên nhân lực và tài sản của quốc gia theo nhu
cầu của tình thế để đưa kháng chiến đến thắng
lợi và nước nhà đến độc lập hoàn toàn.

36

CHỦ TỊCH NƯỚC
CŨNG KHÔNG CÓ ĐẶC QUYÊN
ầu năm 1946, cả nước tiến hành Tổng
tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên. Gần đến
ngày bầu cử, Hà Nội - là nơi Bác Hồ ra ứng
cử, có 118 Chủ tịch ủy ban hành chính và đại
biểu các giới của các xã đã công bố một bản đề
nghị: “Yêu cầu cụ Hồ Chí Minh không phải
ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới.
Chúng tôi suy tôn và ủng hộ vĩnh viễn cụ Hồ
Chí Minh là Chủ tịch của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa”.
Từ nhiều nơi trong nước, viết thư đề nghị
Bác không cần ra ứng cử ở một tỉnh nào, nhân
dân cả nước đồng thanh nhất trí cử Bác vào
Quốc hội.
Trước tình cảm tin yêu đó của nhân dân, Bác
viết một bức thư ngắn cảm tạ đồng bào và đề nghị
đồng bào để Bác thực hiện quyền công dân của
mình: uTôi là một công dân nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, nên không thể vượt qua thể lệ Tổng tuyên

Đ

37

cử đã định. Tôi đã ứng cử ở thành phố Hà Nội, nên
không thể ra ứng cử ở nơi nào khác nữa..”.
Sau ngày hòa bình lập lại, có lần Bác đi thăm
một ngôi chùa cổ, vị sư trụ trì ra đón và khẩn
khoản xin Bác đừng cởi dép khi vào trong chùa.
Bác không đồng ý và lặng lẽ làm đúng những
quy định như khách thập phương đến lễ chùa.
Trên đường từ chùa về, khi vào đến thành phố,
xe Bác đến một ngã tư thì vừa lúc đèn đỏ bật. Sợ
phố đông, xe dừng lâu, đồng chí bảo vệ định
chạy lại đề nghị đồng chí công an giao thông
bật đèn xanh để xe Bác đi. Bác hiểu ý, ngăn lại:
“Các chú không được làm thế, phải tôn trọng và
gương mẫu chấp hành luật lệ giao thông.
Không được bắt luật pháp dành quyền riêng
cho mình”.

38

BÀI QUốC CA RA ĐỜI
au cuộc triển lãm năm 1944, nhạc sĩ Văn Cao
trở về căn gác hẹp ở phố Nguyễn Thượng
Hiền, Hà Nội. Ba bức tranh sơn dầu của ông
được trưng bày ở nhà Khai trí Tiến Đức và được
nhiều báo chí lúc ấy ca ngợi, nhưng vẫn không
bán nổi. Thế là chẳng hy vọng gì về nghề hội
hoạ. Còn các bản nhạc của ông lúc ấy tuy được
trình diễn ở nhiều nơi, nhưng cũng không hề
nhận được tiền nhuận bút. Thơ và truyện ngắn
của ông cũng vậy. Nhưng đối với một cây bút
trẻ như ông hồi ấy, sáng tác được báo chí đăng
cũng là sướng lắm rồi. Tác giả thường cố gắng
mua nhiều số có đăng tác phẩm của mình để
tặng bạn bè và người thân. Ông phải nhờ mấy
ông bạn thân là hoạ sĩ nuôi ăn và giúp đỡ
phương tiện để làm việc. Cuộc sống vất vưởng
đó không thể kéo dài. Hà Nội năm 1944 đang
đầy người thất nghiệp và đói...
Giữa lúc ấy, ông được đồng chí Vũ Quý - là
người theo dõi về hoạt động nghệ thuật của

S

39

Mặt trận Việt Minh, luôn khuyến khích ông
sáng tác những bài hát yêu nước như Đống Đa,
Thăng Long hành khúc ca, Tiếng rừng... Vũ Quý
chính thức giao công việc cho ông và nói:
“Hiện nay trên chiến khu Việt Bắc thiếu bài
hát, phái dùng những bài hát hướng đạo. Khoá
quân chính kháng Nhật sắp mở. Văn Cao phải
soạn một bài hát cho quân đội cách mạng
chúng ta nhé!”.
Văn Cao vô cùng vui sướng, nhưng cũng rất
lo. Chiều hôm ấy ông đi bộ dọc theo phố Hàng
Lọng (nay là đường Lê Duẩn), vòng sang phố
Hàng Bông tới Bờ Hồ và suy nghĩ rất lâu. Ông
cố tìm âm thanh cho bài hát, nhưng khung cảnh
Hà Nội lúc ấy không vang lên được một âm
thanh gì, ngoài những âm thanh buồn bã của
cuộc sống hằng ngày... Ông lại đi tiếp tới lúc
đèn điện trên các phố đã bật sáng Bên một gốc
cây thấp thoáng bóng mấy người gầy đói, áo
quần không có. Họ đang đun một thứ gì bên
trong ống sữa bò, ngọn lửa tím sẫm bập bùng
trong những hố mắt sâu hoắm. Có một bé gái
chừng ba tuổi, có đôi mắt giống như mắt con
mèo con, trên người không một mảnh vải, đang
khắc khoải chờ chết. Ông bỗng trào nước mắt,
không dám nhìn nó. Đêm ấy trở về căn gác nhỏ
ở phố Nguyễn Thượng Hiền, ông đã viết được
nốt nhạc đầu tiên của bài Tiến quân ca.
40

Bao nhiêu đêm ông mất ngủ vì đói rét, vì
tiếng đánh chửi nhau om sòm của một gia đình
viên chức nghèo khổ luôn thiếu ăn, vọng qua
khe hở của căn gác. Ở đó, ông đã hiểu thêm
nhiều chuyện đời, ở đó, đêm đêm đã có không
biết bao nhiêu tiếng gõ cửa, để rồi không bao
giờ có tiếng đáp lại...
Ông chưa hề gặp các chiến sĩ cách mạng
trong khoá quân chính đầu tiên ấy, để biết họ sẽ
hát như thế nào? Ông chỉ biết viết hết cảm xúc
của mình sao cho thật giản dị, ai cũng có thể hát
được. Ông bắt đầu bài hát bằng hình ảnh đoàn
quân trùng điệp:
“Đoàn quân Việt Minh đi,
Chung lòng cứu quốc,
Bước chăn dồn vang trên đường gập ghềnh xa... ”
Và lá cờ đỏ sao vàng tung bay giữa trời xanh
của núi rừng cùng nhịp điệu ngân dài của bài
hát, mở đầu cho tiếng vọng của non sông:
uĐoàn quân Việt Minh đi,
Sao vàng phấp phới,
Dắt giong nòi, quê huxmg qua nơi lầm than... ”
Tiếng bài hát và lời ca là sự tiếp nối từ bài
Thăng Long hành khúc ca.
Trên mặt bàn làm việc của ông, tờ báo Cờ
Giải phóng đã đăng những tin tức đầu tiên về
chiến thắng ở Võ Nhai. Trước mắt ông, mảnh
trời xám và lùm cây Hà Nội không còn nữa.
41

Ông tưởng mình đang sống ở một khu rừng
nào đó trên chiến khu Việt Bắc. Lòng ông tràn
ngập niềm vui và hy vọng.
Quốc hội khoá I (1946) c...
 
Gửi ý kiến