Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

TRUYỆN ĐỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TẬP 2

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:45' 24-01-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
Héi ®ång chØ ®¹o xuÊt b¶n
Chñ tÞch Héi ®ång
pgs.TS. PHẠM VĂN LINH
Phã Chñ tÞch Héi ®ång
PHẠM CHÍ THÀNH
Thμnh viªn
trÇn quèc d©n
TS. NguyÔn §øC TμI
TS. NGUYÔN AN TI£M
NguyÔn Vò Thanh H¶o

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

L

ịch sử dân tộc Việt Nam từ năm 1802, khi vương
triều Nguyễn được thành lập, đến nay đã trải qua

nhiều biến động, thăng trầm, với biết bao những nhân

vật, sự kiện bi hùng, những tấm gương sáng chói, sống
mãi với thời gian.
Để giúp độc giả tìm hiểu lịch sử dân tộc giai đoạn
này một cách thuận lợi, dễ nhớ, dễ hiểu, chúng tôi xuất
bản bộ sách Truyện đọc lịch sử Việt Nam, gồm ba tập,
do Giáo sư Đinh Xuân Lâm làm chủ biên. Bộ sách
được biên soạn theo nguyên tắc ngắn gọn, súc tích, dễ
hiểu; những thuật ngữ khó hoặc địa danh cổ... đều có
chú thích và giải nghĩa ở cuối trang.
Tập 1: Các câu chuyện lịch sử về vương triều nhà
Nguyễn thời kỳ độc lập tự chủ và những năm đầu đất
nước bị thực dân Pháp xâm lược.
Tập 2: Các câu chuyện lịch sử từ sau thất bại của
phong trào Cần vương đến Cách mạng Tháng Tám
năm 1945 thành công.
Tập 3: Các câu chuyện lịch sử từ sau Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 đến nay.
Những truyện đọc trong bộ sách được sưu tầm và
biên soạn dựa trên nhiều nguồn sử liệu và tư liệu đa

5

dạng, phong phú, phản ánh các sự kiện, hiện tượng,
nhân vật lịch sử, các thành tựu kinh tế, những giá trị
văn hóa tiêu biểu của dân tộc... Bộ sách sẽ đem đến
nhiều điều thú vị và bổ ích bởi nội dung các câu
chuyện không chỉ cung cấp cho bạn đọc những tri thức
về lịch sử Việt Nam mà còn là những câu chuyện gửi
gắm thông điệp nhân văn, mang tính giáo dục về
nhiều mặt.
Nhằm bảo đảm dung lượng và tránh trùng lặp, so
với lần xuất bản trước, trong lần xuất bản này, chúng
tôi lược bỏ một số sự kiện, nhân vật đã được đề cập
trong các cuốn sách khác của đề án hoặc chưa thật tiêu
biểu, đồng thời hiệu chỉnh một số chi tiết còn thiếu
chính xác, sắp xếp lại thứ tự một số bài bảo đảm tính
lôgíc và lịch sử.
Nhân dịp bộ sách được xuất bản, chúng tôi xin
chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các tác giả có
nguồn tài liệu, tranh ảnh được sưu tầm và sử dụng
biên soạn, minh họa trong sách.
Mặc dù đã rất cố gắng, song cuốn sách khó tránh
khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong nhận được ý
kiến đóng góp của bạn đọc để những lần xuất bản sau
cuốn sách được tốt hơn.
Xin trân trọng giới thiệu tập 2 của bộ sách với bạn
đọc gần xa.
Tháng 9 năm 2016
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

6

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ VIỆT NAM
TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
THÀNH CÔNG (1945)

L

ịch sử Việt Nam từ khi thực dân Pháp đặt ách
thống trị lên đất nước ta cuối thế kỷ XIX đến
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã
diễn ra những sự kiện lớn như: Công cuộc kháng
chiến chống xâm lược vẫn tiếp tục và ngày càng
mở rộng theo xu hướng mới; hai cuộc khai thác
thuộc địa, lần thứ nhất (1897-1914) và lần thứ hai
(1919-1929) của thực dân Pháp; Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời (1930); cao trào cách mạng 19301931; cuộc vận động dân chủ (1936-1939); Cách
mạng Tháng Tám thành công và nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa ra đời (1945)...
Sau khi dập tắt phong trào Cần vương (1896),
công cuộc bình định cơ bản đã hoàn thành, thực
dân Pháp bắt tay vào cuộc khai thác thuộc địa lần
thứ nhất làm cho nhân dân ta vô cùng cực khổ.
Không chịu sống cuộc đời nô lệ, nhân dân ta đã
đứng lên đấu tranh dưới nhiều hình thức. Đặc biệt,
7

phong trào yêu nước và cách mạng theo khuynh
hướng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu và Phan
Châu Trinh đã diễn ra, chính là một bước tiến mới
của phong trào dân tộc. Lần đầu tiên, ở nước ta
xuất hiện thêm nhiều hình thức đấu tranh mới như
việc lập hội, mít tinh, biểu tình, xuất bản, báo chí,...
đến việc xuất dương ra nước ngoài hoạt động...
Tuy nhiên, các phong trào cứu nước theo
khuynh hướng dân chủ tư sản đều thất bại. Sự
khủng hoảng đường lối cứu nước vẫn là vấn đề
cơ bản nhất của cách mạng Việt Nam lúc này.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918),
dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần
thứ hai, nước ta đã có chuyển biến mạnh mẽ về
kinh tế và xã hội. Một số giai tầng xã hội tiến bộ
đã bước lên vũ đài chính trị với những đòi hỏi,
yêu cầu và những hành động cách mạng riêng,
tuỳ thuộc vào mối quan hệ của mình đối với
chính quyền thực dân. Phong trào dân tộc sau
chiến tranh có những biến chuyển mới trong nội
dung và hình thức biểu hiện để cuối cùng lịch sử
đã chứng kiến sự chuyển giao ngọn cờ giải phóng
dân tộc sang tay giai cấp công nhân với đội tiên
phong là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sau 15 năm thực hiện, vận động, chuẩn
bị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân
dân ta thực hiện thành công cuộc Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 vĩ đại. Với thắng lợi
8

đó, xiềng xích nô lệ mà thực dân Pháp đã trói
buộc nhân dân ta trong suốt hơn 80 năm đã bị
đập tan, chế độ quân chủ chuyên chế từng ngự
trị hàng nghìn năm đã bị lật nhào. Nước ta từ
một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành
một quốc gia độc lập với chính thể dân chủ cộng
hoà, dân ta từ thân phận nô lệ đã vươn dậy trở
thành người tự do, làm chủ đất nước mình.

9

TỪ THÀNH THÁI ĐẾN DUY TÂN,
HAI ÔNG VUA TRẺ TUỔI
GIÀU LÒNG YÊU NƯỚC

N
10

Vua Duy Tân lúc mới lên ngôi

ăm 1888, vua Đồng Khánh qua đời, các con
trai của ông đều quá nhỏ. Triều đình Huế

đưa người con thứ bảy của vua Dục Đức (đã bị
phế truất) là Hoàng tử Bửu Lân khi đó mới hơn 8
tuổi lên làm vua.
Theo truyền khẩu dân gian, khi người của triều
đình đến đón Bửu Lân về để làm lễ đăng quang,
mẹ ông là bà Từ Minh đã khóc và xin những người
của triều đình tha cho mẹ con bà vì bà sợ con bà lại
bị chết như chồng bà (vua Dục Đức).
Bà con hàng xóm khuyên giải mãi, cuối cùng
bà Từ Minh mới để cho người ta rước con trai
bà vào cung. Thế rồi cậu bé Bửu Lân trở thành
vua Thành Thái.
Ngay từ khi còn nhỏ, Thành Thái đã rất thông
minh, lên bốn tuổi thì vua cha bị truất ngôi nên
cậu bé phải ra ngoài thành sống cùng với bà con
nghèo khó. Vua Thành Thái thích đọc các sách
của Trung Quốc và Nhật Bản. Nhờ đó, ông có
tinh thần tự cường và tự tôn dân tộc, có ý chí
muốn canh tân đất nước, nhưng ông đã không
thực hiện được những dự tính của mình vì người
Pháp ngăn cản.
Khâm sứ Pháp ở nước ta rất lo ngại về việc
Thành Thái là một ông vua rất gần dân và thương
dân, hay đi vi hành để tìm hiểu cuộc sống người
dân. Một lần, vua đi dạo trên cầu Gia Hội (Huế),
có một người vác tre đi ngược chiều vua, lính đi
theo vội chạy lên trước để dẹp đường. Vua ngăn
11

lại và bảo: “Cứ để người ta đi, người ta đang vác
nặng, tại sao lại dẹp đường người ta?”.
Khâm sứ Pháp và các quần thần của triều đình
Huế muốn truất ngôi vua Thành Thái để thay thế
bằng một ông vua khác dễ sai bảo hơn, nên họ
tung tin vua là người mất trí. Khâm sứ Pháp đã
nhiều lần vừa mua chuộc vừa dọa dẫm, bắt Thành
Thái không được ra khỏi Đại nội.
Năm 1907, phát hiện được vua Thành Thái bí
mật giao thiệp với phong trào Đông du để cầu viện
Nhật Bản, Toàn quyền Đông Dương Brôni (Broni)
và Khâm sứ Pháp ở Trung Kỳ Lêvếccơ (Lévêque)
đã buộc Thành Thái phải thoái vị và nhường ngôi
cho con, rồi đưa ông vào quản thúc tại Vũng Tàu.
Đến năm 1947, ông được trả tự do nhưng buộc
phải sống ở Sài Gòn để Pháp dễ bề kiểm soát. Đến
tháng 3-1953, thực dân Pháp mới cho ông về Huế
thăm lăng tẩm cha mẹ, rồi lại phải trở vào Sài Gòn.
Thành Thái mất tại Sài Gòn ngày 24-3-1954, con
cháu đưa ông về an táng ở Huế.
Sau khi truất ngôi Thành Thái, thực dân Pháp
đưa Vĩnh San là con của Thành Thái mới tám tuổi
lên làm vua (niên hiệu là Duy Tân) để dễ bề sai
khiến. Nhưng chúng không ngờ, vua Duy Tân
còn có thái độ chống lại thực dân Pháp kiên quyết
hơn vua cha.
Vua Duy Tân sinh ngày 19-9-1900.
12

Khi còn nhỏ, ông đã có những việc làm và lời
nói chống Pháp rất quyết liệt.
Năm 1916, vua Duy Tân đã bí mật liên hệ với
các chí sĩ miền Trung như Trần Cao Vân và Thái
Phiên… bàn mưu khởi nghĩa chống Pháp.
Đêm mồng 3 rạng 4-5-1916, vua Duy Tân đã bí
mật rời Kinh thành Huế xuống Chiếu Cần vương kêu
gọi nhân dân, binh lính, sĩ phu và quan lại nổi
dậy chống thực dân Pháp. Nhưng kế hoạch bị lộ,
thực dân Pháp đã kịp thời đối phó và đàn áp đẫm
máu cuộc khởi nghĩa.
Ngày 6-5-1916, vua Duy Tân bị thực dân Pháp
bắt tại một ngôi chùa cạnh núi Ngũ Phong, cách
Huế 5 km và bị đem về giam tại đồn Mang Cá ở
Huế. Toàn quyền Pháp giao cho triều đình Huế
phải thuyết phục nhà vua thay đổi chính kiến.
Nhưng vua Duy Tân không chịu khuất phục.
Thực dân Pháp và tay sai đày ông ra đảo
Rêuyniông (Réunion).
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai (19391945), quân đội Anh thuộc phe Đồng minh đổ bộ
lên đảo Rêuyniông, Duy Tân đã tình nguyện gia
nhập đội quân chống phát xít, rồi sau đó sang
Luân Đôn sung vào đội quân kháng chiến của
Đờ Gôn (Charles de Gaulle). Khi quân Đồng
minh chiến thắng phát xít, ông được giải ngũ với
hàm Thiếu tá.
13

Cuối năm 1945, khi đất nước giành được độc
lập, ông dự định trở về quê hương, nhưng không
may bị tai nạn máy bay và mất ở châu Phi ngày
26-12-1945.

14

MỐI TÌNH KHÔNG CÓ HỒI KẾT
CỦA VUA DUY TÂN

Vua Duy Tân

T

heo lịch sử, vương triều Nguyễn có 9 đời
chúa và 13 đời vua. Trong số 13 ông vua của
15

triều Nguyễn thì có ba ông vua được sử sách và
người đời ca ngợi là những ông vua giàu lòng yêu
nước, thương dân, đó là vua Thành Thái, Duy
Tân và Hàm Nghi.
Vua Thành Thái - thân sinh của vua Duy Tân
là vị vua có tinh thần chống Pháp, vì thế ông đã bị
thực dân Pháp giam lỏng và đưa vua Duy Tân lên
ngôi lúc mới tám tuổi. Để vua Duy Tân không đi
theo con đường của cha là chống lại người Pháp,
chúng đã cho xây tòa “Thừa lương” ở Cửa Tùng
(Quảng Trị), một bãi biển tuyệt đẹp, nước trong
xanh, sóng nhẹ nhàng để vua ra nghỉ ngơi, tắm
biển mỗi khi mùa hè tới.
Mỗi chuyến vua Duy Tân ra cửa biển Cửa
Tùng bao giờ cũng có Thượng thư Bộ Học Hồ Đắc
Trung tháp tùng. Thượng thư Hồ Đắc Trung
thường mang theo 4 người con sàn sàn tuổi vua
Duy Tân để nhà vua có bạn chuyện trò, vui chơi.
Bốn người con ấy là Hồ Đắc Điềm (con cả, sau là
luật sư), Hồ Đắc Di (sau là giáo sư, Hiệu trưởng
đầu tiên Trường Đại học Y Hà Nội) và hai cô con
gái là Hồ Thị Chỉ (sinh năm 1902) và Hồ Thị Hạnh
(sinh năm 1905).
Là một vị vua giàu tình cảm, dễ hòa đồng, nên
vua Duy Tân chơi rất thân với các con của quan
Thượng thư Hồ Đắc Trung. Những lần gặp gỡ,
vui chơi ở Cửa Tùng đã khiến cho tình cảm của
16

vua Duy Tân và cô tiểu thư Hồ Thị Chỉ nảy nở.
Khi đó, vua Duy Tân 14 tuổi, Hồ Thị Chỉ 12 tuổi,
và nàng đã là một thiếu nữ xinh đẹp, lại thông
minh. Nàng được cha cho đi học tiếng Hán, tiếng
Pháp nên rất thông thạo hai thứ tiếng này. Mặt
khác, Hồ Thị Chỉ lại là người ứng đáp nhanh
nhẹn, khéo léo, nổi tiếng là cô gái tài sắc vẹn toàn.
Vì thế nàng đã chinh phục được trái tim của vị
vua trẻ tuổi. Sau một thời gian quen biết ở bãi
biển Cửa Tùng, đến lúc chia tay, cả hai người đều
lưu luyến, bịn rịn.
Mỗi buổi sáng, khi mặt trời vừa mọc, vua Duy
Tân đã cho gọi anh em Hồ Thị Chỉ cùng đi tắm
biển. Cha nàng thường dặn các con mình phải giữ
lễ vua tôi, không được cười nói vô tư như với
người thường, nhưng nhà vua lại rất giản dị, dễ
gần, Ngài thường gọi các anh của nàng là anh, gọi
nàng và em gái của nàng là em. Ngài ít nói
chuyện với Hồ Thị Chỉ, mà chỉ nhìn nàng khi vui
đùa với hai anh và cô em gái của nàng... Lúc vua
tôi chia tay, nàng khóc. Vua Duy Tân liền nói nhỏ
với cô út: “Dỗ chị em đi, rồi sang năm chúng ta lại
gặp nhau”.
Nhưng rồi năm sau, tiểu thư đã lớn, không
được cha mẹ cho ra Cửa Tùng cùng các anh trai
và em gái nữa, nàng đã khóc, và vua Duy Tân
cũng rất buồn vì không được gặp nàng.
17

Ân phi Hồ Thị Chỉ

Khi về cung, vua Duy Tân thưa với mẹ đẻ ngỏ
ý xin lập tiểu thư Hồ Thị Chỉ làm Hoàng phi.
Năm 1915, sau khi đã dò hỏi và xem dung nhan
của tiểu thư qua ảnh, hai bà Thánh cung (mẹ đẻ
và mẹ đích của vua Duy Tân) mời tiểu thư Hồ Thị
Chỉ vào cung và ban cho một đôi bông tai cùng
một đôi vòng vàng làm tín lễ.
Vài ngày sau, một viên quan trong cung được
cử ra dạy cho tiểu thư các nghi lễ cung đình, rồi
18

hai bà Thánh cung có dặn lại nàng là sẽ chọn ngày
lành tháng tốt để làm lễ nạp phi cho tiểu thư. Vốn
đã thầm cảm mến vua Duy Tân, tiểu thư Hồ Thị
Chỉ thấy hạnh phúc vô cùng khi sẽ là vợ của vua
Duy Tân.
Thế nhưng, cuối năm 1915, vua Duy Tân đột
ngột huỷ hôn. Ngài gọi quan Thượng thư Hồ Đắc
Trung vào thông báo quyết định của mình và
không nói lý do vì sao. Không những thế, vua
Duy Tân còn yêu cầu quan Thượng thư tiến cử
một người con gái khác để nạp phi vào đúng ngày
đã định trước đó. Song, khi quan Thượng thư ra
về, vua Duy Tân lại nói: “Tôi tin thầy sẽ rõ lòng
tôi hơn ai hết”.
Tin vua Duy Tân quyết định hủy hôn với mình
đã làm tiểu thư Hồ Thị Chỉ vô cùng đau khổ. Đặc
biệt là sau đó không lâu, vào đầu năm 1916, vua
Duy Tân làm lễ nạp phi với tiểu thư Mai Thị
Vàng, con gái của thầy dạy vua học chữ Hán.
Đây là việc chẳng đừng được với nhà vua, vì nếu
không làm lễ nạp phi như đã định, sẽ gây ra sự
nghi ngờ với người Pháp và sẽ ảnh hưởng đến
cuộc khởi nghĩa của Quang Phục hội.
Mãi sau này, khi vua Duy Tân bị bắt, lý do
ngài từ hôn với tiểu thư Hồ Thị Chỉ mới được hé
mở. Khi đính ước với tiểu thư Hồ Thị Chỉ, vua
Duy Tân đã nhận lời tham gia cuộc khởi nghĩa
19

chống Pháp của nghĩa quân Việt Nam Quang
Phục hội. Biết đây là một việc làm vô cùng khó
khăn, gian khổ và nguy hiểm, nên vua Duy Tân
rất lo lắng cho tiểu thư Hồ Thị Chỉ và gia đình
Thượng thư Hồ Đắc Trung. Ngài nghĩ rằng, nếu
cuộc khởi nghĩa không thành, gia đình Thượng
thư nhất định sẽ bị liên luỵ. Không muốn người
con gái mà mình vô cùng yêu thương phải chịu
vạ lây, nên vua Duy Tân đã quyết định huỷ hôn
với tiểu thư Hồ Thị Chỉ.
Khi vua Duy Tân bị thực dân Pháp bắt,
Thượng thư Hồ Đắc Trung đã không tránh khỏi
bị nghi ngờ có liên quan đến Việt Nam Quang
Phục hội nhưng vua Duy Tân đã đứng ra làm
chứng rằng, Hồ Đắc Trung không có liên quan
gì. Vua Duy Tân thừa nhận, ngài huỷ hôn với
tiểu thư Hồ Thị Chỉ vì không muốn lôi gia đình
Thượng thư Hồ Đắc Trung vào những trận “bão
tố” sau này mà ngài đã đoán được từ trước. Khi
biết chuyện, Thượng thư vô cùng cảm kích tấm
lòng của nhà vua. Về nhà, ông đã nói với các con
rằng: “Nhà vua đã cứu cả gia đình ta”. Khi thực
dân Pháp bắt thảo tờ trình luận tội vua Duy Tân,
quan Thượng thư đã bỏ cơm, chẳng nói, chẳng
rằng, nằm suy nghĩ, buồn rầu, cuối cùng, ông
cũng đành viết bản án với nội dung khẳng định
vua Duy Tân có tinh thần ái quốc, chỉ vì tuổi nhỏ
nên đã làm sai “đường lối” mà nước Pháp muốn
20

“mở mang” cho Việt Nam. Với sự mềm mỏng,
khéo léo của quan Thượng thư Hồ Đắc Trung,
vua Duy Tân nhờ thế đã thoát tội chết. Ngài bị
đày sang đảo Rêuyniông, một thuộc địa của
Pháp ở Ấn Độ Dương cùng với gia đình của
mình. Tháng 12-1945, trên đường trở về thăm
vua cha và gia đình, ông bị tai nạn máy bay ở
châu Phi và mất khi mới 46 tuổi.
Còn tiểu thư Hồ Thị Chỉ sau này bị ép lấy vua
Khải Định. Bà đã phải sống một cuộc đời vô cùng
đau khổ bên người chồng bất lực, nên không có
con. Năm 1925, vua Khải Định qua đời.
Người con duy nhất của ông là Vĩnh Thụy nối
ngôi lấy hiệu là Bảo Đại và phong mẹ đẻ làm Từ
cung Thái hậu. Ân phi Hồ Thị Chỉ không có danh
phận gì, không sống trong nội cung nữa mà về
sống trong cung An Định. Khi đó, bà mới ngoài
20 tuổi và ở vậy cho đến khi qua đời.

21

KỲ ĐỒNG NGUYỄN VĂN CẨM

N

guyễn Văn Cẩm quê xã Văn Cẩm, huyện
Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Từ hồi còn nhỏ, ông
đã nổi tiếng thông minh, học giỏi. Thi Hương ở
Nam Định ông đỗ loại ưu, được vua Tự Đức ban
thưởng và đặt cho danh hiệu Kỳ Đồng. Các sĩ phu
yêu nước ở Thái Bình đã suy tôn Kỳ Đồng thành
một thần tượng cứu nước để tập hợp lực lượng
trong lần đánh thành Nam Định ngày 27-8-1887.
Người ta kể lại sự kiện đó như sau: Khoảng 100
“đệ tử” đem kiệu son, lọng vàng đến xin rước Kỳ
Đồng vào thành Nam Định. Kỳ Đồng lên kiệu, họ
đem tàn lọng che kiệu, vác biển vàng, gươm giáo
bằng gỗ “hộ giá” đi thẳng từ Vị Hoàng vào thành
Nam Định. Dân phố thấy lạ tranh nhau vào xem
mặt “Thiên tử” tương lai, đám rước lớn dần thành
cuộc tuần hành biểu dương lực lượng rầm rộ.
Công sứ Pháp ở Nam Định thấy lạ cũng ra
xem. Biết là chuyện lớn, nhưng không dám bắt, sợ
kinh động dư luận, chỉ bắn súng thị uy khiến
nhiều người bỏ chạy và bị bắt giữ.
22

Thực dân Pháp lo sợ phong trào sẽ thúc đẩy
Kỳ Đồng trở thành lãnh tụ của những người
chống chính quyền đô hộ nên đưa ông sang
Angiêri (một thuộc địa của thực dân Pháp ở Bắc
Phi) học, vừa để cách ly ông với phong trào, vừa
có thể biến ông thành kẻ thân Pháp để lợi dụng.
Những năm sống ở Angiêri, Kỳ Đồng có gặp
vua Hàm Nghi đang bị đi đày ở đó. Hai ông bàn
việc đánh Pháp. Khi chia tay Kỳ Đồng về nước,
Hàm Nghi dặn: “Ở Việt Nam sang đây chỉ có tôi
và anh. Nay một mình anh về nước, anh phải làm
thế nào chứ nỡ để tôi chết già ở đây hay sao?”. Họ
hẹn ngày tái ngộ khi Việt Nam độc lập.
Sau gần 10 năm học tập có bằng Tiến sĩ, năm
1896 Kỳ Đồng về nước. Phủ Toàn quyền Đông
Dương muốn ông làm thư ký cho họ và hứa trả
lương cao. Ông đã từ chối và nêu rõ: “Nếu như tôi
không nhận làm cho các ông thì chẳng phải tôi
kiêu kỳ hay tự phụ, mà là nếu tôi nhận lời thì tôi
sẽ không được dân chúng Việt Nam yêu mến nữa
và sẽ trở thành con người tầm thường trước con
mắt người Pháp”.
Ông lên lập đồn điền ở Bắc Giang, nhen nhóm
lực lượng chống Pháp ngay trong hàng ngũ phu
đồn điền, rồi liên hệ với phong trào khởi nghĩa
nông dân Yên Thế của Đề Thám.
Đồn điền của Kỳ Đồng trở thành một căn
cứ chống Pháp. Khi phong trào chống Pháp của
23

Mạc Đĩnh Phúc lan rộng từ Hải Phòng sang Thái
Bình, ông đã chủ động bắt liên lạc và được tôn
làm “Quốc sư” của nghĩa quân. Sau một thời gian
điều tra, theo dõi, Pháp bắt Kỳ Đồng ngay trong
căn cứ ở đồn điền Chợ Kỳ với nhiều “tang vật”
như vũ khí, đạn dược...
Đầu năm 1898, Kỳ Đồng bị đưa đi đày biệt xứ ở
Polynésie thuộc quần đảo Marquise, ông mất tại nơi
đi đày vào năm 1929.

24

HOÀNG HOA THÁM THỦ LĨNH CUỘC KHỞI NGHĨA
NÔNG DÂN YÊN THẾ

Hoàng Hoa Thám

C

uộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế là cuộc khởi
nghĩa kéo dài nhất trong phong trào chống
Pháp từ cuối thế kỷ XIX sang hơn mười năm đầu
25

thế kỷ XX. Lúc đầu, phong trào do Đề Nắm làm
thủ lĩnh, sau khi Đề Nắm mất (4-1892), Hoàng
Hoa Thám (còn gọi là Đề Thám) trở thành thủ
lĩnh tối cao của phong trào.
Nghĩa quân lấy Yên Thế - một vùng đồi núi trung
du ở phía tây tỉnh Bắc Giang - làm căn cứ cuộc khởi
nghĩa, tiến hành đánh du kích, lấy ít đánh nhiều,
thường đánh những trận nhỏ, dựa vào địa hình hiểm
trở và công sự dã chiến để đánh gần, đánh nhanh, rồi
rút lui nhanh để bảo toàn lực lượng.
Người ta kể rằng, một hôm ở căn cứ Hố
Chuối, Đề Thám tiễn Bá Phức (bố nuôi của Đề
Thám) tới với danh nghĩa là thăm Đề Thám,
nhưng sự thật là để tìm cách sát hại. Biết rõ điều
đó, Đề Thám đã đề cao cảnh giác nên khi Bá Phức
ra tới cổng, Đề Thám đã vẫy Cả Trọng (con trai
Đề Thám) và chỉ xuống gầm giường, bên chiếc
trường kỷ ông ngồi. Viên tướng bước tới, nhìn
thấy một cái tráp đen nhỏ, lúc này mở nắp, bên
trong lộ ra một quả mìn giấu khá kín, ngòi cháy
dở mới bị dập tắt. Cả Trọng kinh ngạc hỏi:
- Dạ thưa thầy... Bá Phức?
Đề Thám gật đầu. Sắc mặt Cả Trọng bừng
bừng giận và nói:
- Con sẽ đuổi theo bắt hắn ngay bây giờ! Chắc
hắn chưa thể đi xa.
Đề Thám nheo mắt nhìn con trai, rồi lắc đầu bảo:
26

- Không cần! Thầy biết, anh chỉ cần ra cổng
đồn, bắn theo cũng đủ để cho hắn về chầu Diêm
Vương nhưng hãy để cái mạng hắn đấy, có thể có
lợi hơn cho ta. Anh ra gọi anh em tướng tá vào
đây cho thầy.
Cả Trọng ra khỏi phòng, Đề Thám cúi xuống
châm ngòi quả mìn.
Mọi người vừa đặt chân lên thềm thì nghe tiếng
mìn nổ long trời. Ai nấy hoảng hốt chạy nhanh vào
nhà riêng của chủ soái. Bức tường phía sau đổ ụp
đè lên giường nằm của Đề Thám, gạch đổ ngổn
ngang. Đề Thám nói rõ mưu kế của mình, rồi ra
lệnh phát tang ông và loan tin ra khắp vùng. Tiếng
kèn trống, tiếng kêu khóc vang lên ai oán!
Sáng sớm hôm sau, đám tang được cử hành
trong đồn, hướng về cổng chính mà chậm chạp tiến
bước. Trong khi đó, nhiều toán lính Pháp và tay sai
lặng lẽ tỏa đi các ngả để bao vây căn cứ Hố Chuối
của nghĩa quân Yên Thế. Bất ngờ, ở bốn phía súng
nổ ran, lính Pháp trúng đạn ngã nhào, đè lên nhau
chết la liệt. Tiếng hò reo vang dội núi rừng, nghĩa
quân Yên Thế từ các lùm cây, bụi rậm và từ trong
cổng đồn kéo ra, thế mạnh như thác đổ.
Cổng chính đồn Hố Chuối rộng mở, Đề Thám
xuất hiện giữa các tướng lĩnh thân cận của mình.
Đám tang giả chuyển thành lễ ăn mừng chiến
thắng của nghĩa quân Yên Thế. Còn giặc Pháp và
tay sai thì tức điên lên vì đã mắc mưu Đề Thám.
27

NHÀ ÁI QUỐC
PHAN CHÂU TRINH

Phan Châu Trinh

Ô

ng là một nhà yêu nước, sinh ngày 9-9-1872
tại làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, tỉnh
Quảng Nam.
28

Năm 27 tuổi, ông được vào học trường tỉnh,
nổi tiếng học giỏi cùng với Trần Quý Cáp và
Huỳnh Thúc Kháng.
Năm 1900, ông đỗ cử nhân. Năm sau, ông lại
đỗ Phó bảng và được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ.
Sớm nhận ra chốn quan trường không phải là nơi
mình có thể thỏa chí, ông liền xin từ quan, rồi
cùng với Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng
đi du ngoạn về phía nam. Đến Bình Định, thấy
có khoa thi, ông cùng các bạn dự thi và lấy tên
chung là Đào Mộng Giác, viết bài thơ kêu gọi
nhân dân Chí thành thông thánh, làm cho các quan
trường thi bối rối, phải báo cáo về triều đình. Sau
đó, ông lên căn cứ của Đề Thám ở Yên Thế để
quan sát tình hình.
Năm 1906, ông sang Nhật Bản, gặp Phan Bội
Châu trao đổi ý kiến về cuộc vận động duy tân.
Khâm phục trước quyết tâm cứu nước của Phan
Bội Châu, nhưng ông không tán thành quan điểm
của Phan Bội Châu. Ông chủ trương cứu nước
bằng đường lối cải lương, mở mang dân trí và đòi
quyền dân sinh, dân chủ.
Ông về nước và gửi một bản điều trần dài cho
Toàn quyền Đông Dương, diễn thuyết ở quảng
trường Đông Kinh nghĩa thục, viết bài Tỉnh quốc
hồn ca kêu gọi duy tân theo hướng dân chủ tư sản.
Năm 1908, ông bị bắt và bị đày ra Côn Đảo vì
ông là một trong những người đã phát động
phong trào chống thuế ở Trung Kỳ.
29

Nhờ Hội Nhân quyền Pháp can thiệp, ông
được trả tự do và bị quản thúc ở Mỹ Tho (1911).
Tại đây, ông đã tập hợp những bài thơ của mình
thành Tây Hồ thi tập. Cùng năm này, ông sang
Pháp, hành nghề chụp ảnh kiếm sống và hoạt
động cách mạng.
Năm 1914, Pháp bắt ông vì nghi ngờ ông liên
hệ với Đức chống lại chúng, nhưng không có
chứng cớ, phải thả ông.
Trong thời gian ở Pháp, Phan Châu Trinh có
liên hệ mật thiết với Nguyễn Ái Quốc. Năm 1922,
vua Khải Định sang Pháp để dự triển lãm thuộc
địa ở Mácxây, ông viết Thư thất điều (Thất điều
trần) kể 7 tội của Khải Định mà tội chính là làm
nhục quốc thể và phung phí của dân. Khoảng
năm 1923, ông viết bài Tỉnh quốc hồn ca mới để
hiệu triệu nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp
đoàn kết. Nhận thấy hoạt động ở Pháp không
hiệu quả, Phan Châu Trinh trở về nước. Tại Sài
Gòn, ông diễn thuyết về đạo đức luân lý Đông,
Tây, về quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa,
về tư tưởng duy tân đất nước…
Do bệnh tình mỗi ngày thêm trầm trọng, ngày
24-3-1926, nhà cách mạng ái quốc Phan Châu
Trinh đã trút hơi thở cuối cùng. Đám tang của
ông được tổ chức rộng khắp ba kỳ và trở thành
một dịp biểu dương lớn tinh thần yêu nước và ý
chí kháng Pháp của nhân dân ta.
30

NHÀ CHÍ SĨ YÊU NƯỚC
PHAN BỘI CHÂU

Phan Bội Châu

P

han Bội Châu (tên thật là Phan Văn San, hiệu
là Sào Nam), sinh ngày 26-12-1867 ở làng Đan
Nhiễm (nay là xã Nam Hòa), huyện Nam Đàn,
31

tỉnh Nghệ An. Mới 5 - 6 tuổi, ông đã đọc hiểu một
số sách chữ Hán và nổi tiếng là nhanh nhẹn,
thông minh, đối đáp giỏi khắp vùng. Năm 13 tuổi,
Phan Bội Châu đi thi ở huyện, đỗ đầu.
Năm 16 tuổi, Phan Bội Châu dự kỳ thi sát hạch
ở tỉnh. Chánh chủ khảo là quan Tuần phủ Phạm
Như Xương, người đã đỗ Hoàng giáp khoa thi
năm 1875. Hôm ấy, giờ thi đã bắt đầu được khá
lâu, các thí sinh đã làm được bài khá dài rồi mà
vẫn chưa thấy Phan Bội Châu tới. Người ta kể lại
rằng, khi nhìn thấy những giọt mồ hôi lấm tấm
trên khuôn mặt khôi ngô của cậu Phan, quan chủ
khảo tỏ ra thông cảm và không trách cứ cậu nữa.
Nhưng đề thi đã công bố rồi, quan chủ khảo phải
ra cho Phan một đề khác. Bỗng nhìn thấy cành
mai ngoài cửa sổ chỉ còn lưa thưa vài bông hoa vì
đã cuối xuân, vị chánh chủ khảo nảy ra ý lấy hình
tượng đó làm đề: Hoa khai bất cập xuân (nghĩa là
hoa nở muộn không kịp mùa xuân), và cũng có
ngụ ý phê bình Phan đến muộn.
Hiểu được ngụ ý ấy, Phan Bội Châu đã làm bài
thơ đáp lại dưới đây:
Đông hoàng tằng trước nhãn
Dĩ hứa bách hoa khôi
Chỉ vị khiêm khiêm ý
Phiên tại tiệm tiệm khai...
(Nhờ mùa xuân ưu ái
Xếp đứng đầu trăm hoa
32

Chỉ vì lòng khiêm tốn
Nên xin nở dần dà...).
Hoàng giáp Phạm Như Xương đọc đến câu
thơ thứ tư, ông đã ra hiệu Phan dừng bút và hết
lời khen ngợi. Kết quả bài thi của Phan đạt giải
nhất và ông đã đỗ đầu xứ, nên còn được mọi
người gọi là Đầu xứ San.
Trong khoảng 10 năm cuối thế kỷ XIX, Phan
Bội Châu vừa làm một thầy đồ dạy học để nuôi
cha già, vừa tìm đọc sách báo mới và mở rộng
giao du, tìm người đồng tâm, đồng chí chuẩn bị
cuộc cứu nước.
Năm 1900, Phan Bội Châu dự kỳ thi Hương và
đỗ thủ khoa. Tháng 5-1904, ông đã tổ chức Hội
Duy tân ở Quảng Nam để xúc tiến việc xuất
dương cầu viện. Tháng 1-1905, Phan Bội Châu và
Tăng Bạt Hổ sang Nhật, mở đầu cho phong trào
Đông du. Từ năm 1905 đến 1925, Phan Bội Châu
bôn ba hải ngoại và viết nhiều văn thơ, tài liệu
lịch sử thức tỉnh đồng bào, kêu gọi mọi người
đoàn kết đấu tranh. Tuy hoạt động ở nước ngoài
nhưng Phan Bội Châu vẫn liên hệ với các phong
trào đấu tranh trong nước như: Phong trào nông
dân Yên Thế (Hoàng Hoa Thám), Đông Kinh
nghĩa thục, phong trào nông dân Trung Kỳ,
phong trào yêu nước ở Nam Kỳ,... để đấu tranh
chống thực dân Pháp, nhằm khôi phục lại trước
Việt Nam độc lập theo mô hình của Nhật Bản.
33

Năm 1925, Phan Bội Châu bị bắt tại Thượng
Hải (Trung Quốc), rồi bị đưa về nước giam ở
Hỏa Lò (Hà Nội). Thực dân Pháp định bí mật thủ
tiêu ông mà không được, đành phải đưa ra xử
Phan Bội Châu công khai tại tòa Đề hình và kết
án ông tội tử hình. Phan Bội Châu đã hiên ngang
bác bỏ những lời buộc tội của chúng bằng lý lẽ
đanh thép.
Trước khí thế đấu tranh của quần chúng đòi
ân xá Phan Bội Châu, thực dân Pháp phải rút từ
án tử hình xuống khổ sai, nhưng nhân dân vẫn
tiếp tục đấu tranh. Cuối cùng, ngày 24-12-1925,
Tổng thống Pháp phải ủy quyền cho Toàn quyền
Varen tuyên bố tha bổng Phan Bội Châu, nhưng
chúng đưa ông về giam lỏng ở Huế cho đến khi
ông qua đời ngày 29-10-1940.

34

NHÀ TƯ SẢN DÂN TỘC
ĐẦU TIÊN BẠCH THÁI BƯỞI

B

ạch Thái Bưởi quê ở làng Yên Phúc, huyện
Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội).
Ông là một trong những nhà tư sản đầu tiên nổi
lên cạnh tranh với giới kinh doanh thực nghiệp,
vận tải hàng hóa nước ngoài đầu thế kỷ XX, nhất là
thời kỳ trong và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.
Ông đứng đầu Công ty Bạch Thái Bưởi ở Hải
Phòng, có tàu chạy khắp các đường sông quan
trọng ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, lại có tàu chạy ven biển
Hải Phòng. Công ty Bạch Thái Bưởi từ những
năm 1914 đã đóng được tàu Đinh Tiên Hoàng
trọng tải 100 tấn; năm 1916, đóng tàu Gia Long
trọng tải 210 tấn; năm 1917, đóng tàu Bình Chuẩn
bằng thép dài 46 m, rộng 7,2 m, cao 3,6 m, động
cơ 400 mã lực. Đây được coi là biểu tượng của
“phong trào chấn hưng thương trường” của giới
tư sản Việt Nam.
Vào thời gian đó, hoạt động của Công ty
Bạch Thái Bưởi đã phản ánh tiềm lực kinh tế
35

của giai cấp tư sản Việt Nam mới được hình
thành, đại diện cho giai cấp tư sản Việt Nam
trong cuộc đua tranh với tư sản Hoa kiều trong
lĩnh vực kinh doanh.
Cho đến năm 1919, Bạch Thái Bưởi đã có
trong tay một công ty chuyên kinh doanh ngành
giao thông đường thuỷ, gồm một đội tàu 25 chiếc
chạy trên sông và biển, 20 xà lan, một cơ sở đóng
tàu mới và sửa chữa tàu với 1.500 công nhân tại
Hải Phòng.
Đến cuối thập kỷ 20 của thế kỷ XX, Công ty
Bạch Thái Bưởi đã có hơn 40 chiếc tàu và nhiều xà
lan, chạy trên hầu hết các tuyến đường sông Bắc
Kỳ, chạy ven biển cả nước và đã vươn ra các nước
và vùng lãnh thổ xung quanh như Hồng Kông,
Trung Quốc, Nhật Bản, Philíppin, Xingapo... Bạch
Thái Bưởi đã từ sông nước ra biển và nuôi mộng
vượt đại dương.
Để có những con tàu đẹp đẽ, được chỉnh
trang, chạy đúng lịch trình, đảm bảo an toàn,
phải kể đến xưởng đóng tàu Cửa Cấm bên bờ
sông Tam Bạc (Hải Phòng). Dưới sự điều khiển
của quản đốc, công ty đã tiến hành bảo dưỡng
định kỳ các con tàu, tân trang những con tàu cũ
rách nát đã mua lại và đóng mới hàng loạt tàu.
Trong Công ty Bạch Thái Bưởi có bộ phận văn
phòng, bộ phận làm trên tàu, xưởng đóng tàu và
các chi nhánh của hãng ở Hà Nội, Nam Định,
36

Tuyên Quang, Việt Trì, Bến Thuỷ, Đà Nẵng, Quy
Nhơn, Sài Gòn...
Ngoài kinh doanh vận tải thuỷ, Bạch Thái
Bưởi còn bỏ vốn đầu tư vào các ngành kinh
doanh khác. Đó là nhà in Đông Kinh ấn quán và
tờ Khai hóa nhật báo nhằm cổ động cho phong
trào thực nghiệp của nhân dân, khai thác mỏ
than Bí Chợ - Quảng Yên và kinh doanh cả bất
động sản.

37

NGƯỜI SÁNG LẬP
ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Lương Văn Can

Ô

ng là Lương Văn Can người làng Nhị Khê,
huyện Thượng Phúc (nay là huyện Thường
Tín, Hà Nội), sinh năm 1854 trong một gia đình

38

nhà Nho nghèo. Năm 20 tuổi, ông đỗ cử nhân,
được triều đình Huế bổ làm Giáo thụ phủ Hoài
Đức, nhưng ông từ chối. Sau đó, thực dân Pháp
cử ông làm Ủy viên Hội đồng thành phố Hà Nội,
nhưng ông cũng không nhận, chỉ ở nhà dạy học.
Ông là một người có khí phách, trung thực.
Người ta kể lại rằng, ông có một người thầy
giáo cũ hoạt động cách mạng bị chém bêu đầu ở
phủ Hoài Đức, không ai dám đem thi hài về chôn
cất. Ông liền dâng sớ xin triều đình với danh
nghĩa học trò cũ, xin đem thi hài thầy giáo về
chôn cất. Triều đình khen ông là người có nghĩa
và đồng ý.
Là người hưởng ứng phong trào Đông du, ông
hoạt động cùng Tăng Bạt Hổ nhằm thúc đẩy việc
mở mang dân trí. Ông gửi hai người con trai của
mình là Lương Ngọc Quyến và Lương Nghị
Khanh vào đoàn thanh niên, học sinh đầu tiên
sang học ở Nhật, người con trai khác của ông là
Lương Trúc Đàm ở lại trong nước để vận động
phong trào Đông du.
Tháng 3-1907, Lương Văn Can cùng một số
nhân sĩ Nguyễn Quyền, Đào Nguyên Phổ, Hoàng
Tăng Bí, Dương Bá Trạc... đứng ra lập một trường
tư thục miễn phí lấy tên là Đông Kinh nghĩa thục
làm nơi truyền bá những tư tưởng tân tiến, đề
xướng phong trào tân học với mục đích đào tạo
những thanh niên ưu tú để thực hiện công cuộc
39

đòi lại chủ quyền quốc gia. Trường đặt trụ sở tại
nhà Lương Văn Can ở số 4, phố Hàng Đào, Hà
Nội. Ông được cử làm Hiệu trưởng kiêm phụ
trách tài chính của trường. Ảnh hưởng của Đông
Kinh nghĩa thục lan rộng trong dân chúng, học
sinh theo học rất đông. Nhiều làng xung quanh
Hà Nội và một số tỉnh lân cận cũng thành l...
 
Gửi ý kiến