SÁNG KIẾN LỚP 3

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lương văn khớp
Ngày gửi: 15h:38' 25-04-2026
Dung lượng: 910.2 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Lương văn khớp
Ngày gửi: 15h:38' 25-04-2026
Dung lượng: 910.2 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
MỤC LỤC
Trang
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1
1.1.Lý do chọn đề tài
1
1.1.1. Cơ sở lý luận
1
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
1
1.2.Mục đích nghiên cứu
2
1.3. Đối tượng nghiên cứu
2
1.4. Đối tượng khảo sát – Thực nghiệm
2
1.5. Phạm vi – Kế hoạch nghiên cứu
2
1.6. Phương pháp nghiên cứu
2
2. NỘI DUNG
3
2.1. Cơ sở lí luận
3
2.1.1. Vị trí, tính chất, nhiệm vụ của phân môn Tập đọc
3
2.1.2. Mục đich tác dụng của việc rèn kĩ năng đọc trong giờ dạy Tâp đọc
4
2.2. Thực trạng
5
2.3. Một số giải pháp cụ thể
6
2.4. Kết quả
15
3. KẾT LUẬN
16
3.1. Bài học kinh nghiệm
16
3.2. Đề xuất, kiến nghị
17
1
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC ĐÚNG, ĐỌC
HIỂU, VÀ ĐỌC DIỄN CẢM CHO HỌC SINH LỚP 3A
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
1.1.1. Cơ sở lý luận
Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự
phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ
bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu
xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học Trung
học cơ sở.
Tập đọc là một phân môn có vị trí hết sức quan trọng trong môn tiếng Việt nhất
là trong giai đoạn bùng nổ thông tin hiện nay. Đọc thông viết thạo là một yêu cầu đặt
ra với bất cứ học sinh tiểu học nào, ngay từ những ngày đầu tiên đến trường các em đã
phải học đọc mặc dù ở giai đoạn này việc đọc của các em mới chỉ dừng lại ở mức độ
nhận diện kí hiệu chữ viết và giải mã bằng âm thanh song đây là một giai đoạn rất
quan trọng bởi đó là giai đoạn học sinh phải học để đọc và làm nền tảng cho những
giai đoạn tiếp theo, giai đoạn đọc để học. Càng về sau yêu cầu đặt ra trong việc đọc
càng được nâng cao, từ việc đọc để hiểu được nội dung văn bản đến việc phát triển kĩ
năng đọc diễn cảm. Dạy học tập đọc ở Tiểu học là một việc làm hết sức có ý nghĩa
trong việc hình thành và phát triển kĩ năng đọc cho học sinh, nó khẳng định sự cần
thiết cho việc hình thành và phát triển một cách có hệ thống và có kế hoạch năng lực
đọc cho học sinh.Thông qua phân môn Tập đọc mà trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn học
văn và phát triển tư duy, mở rộng vốn hiểu biết của học sinh về cuộc sống. Bồi dưỡng
tư tưởng tình cảm trong sáng, yêu cái đẹp, cái thiện, có thái độ ứng xử tốt trong cuộc
sống, yêu tiếng Việt. Bên cạnh đó theo quan điểm tích hợp các bài tập đọc còn có
nhiệm vụ cung cấp ngữ liệu để hình thành và phát triển các kỹ năng khác được quy
định trong chương trình. Các bài tập đọc đã trở thành nguyên liệu để các phân môn
khác như: Tập làm văn – Kể chuyện – Luyện từ và câu khai thác. Chính vì vậy việc
dạy phân môn Tập đọc chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Nó làm nòng cốt xuyên
suốt toàn bộ chương trình Tiểu học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng.
1.1.2. Cơ cở thực tiễn:
Từ nhiều năm nay Bộ giáo dục và đào tạo đã liên tục chỉ đạo đổi mới phương
pháp song sự chuyển biến trong phương pháp dạy học của giáo viên đang còn chậm.
Kiểu dạy học thuyết giảng đã trở thành nếp nghĩ, nếp làm của nhiều giáo viên trong
nhà trường. Thực hiện dạy Tập đọc theo phương pháp mới đòi hỏi giáo viên phải từ bỏ
một số thói quen không thích hợp như: Tham giảng bài, nói dài dòng. Ngại sử dụng
phương tiện dạy học, bệnh nói nhiều, dàn trải. Trong thực tế giảng dạy việc tổ chức
cho học sinh đọc từ, đọc câu, đọc đoạn là rất phù hợp với lớp 2, 3. Tuy nhiên do giáo
viên thiếu linh hoạt trong quá trình giảng dạy, kỹ năng đọc của học sinh còn chậm.
Việc luyện đọc từ khó – giảng từ của giáo viên còn nhiều bất cập, nên giờ học đã kết
thúc mà có khi học sinh chưa được tìm hiểu cái hay, cái đẹp, cái dí dỏm trong nội dung
bài tập đọc hoặc giáo viên tham nói, tham giảng từ dài dòng mà học sinh không được
luyện đọc bài. Được trực tiếp giảng dạy và qua dự giờ đồng nghiệp tôi nhận thấy tình
trạng này diễn ra không phải là ít. Người giáo viên cần làm gì? Làm như thế nào? để
2
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
tiết học nhẹ nhàng, đem lại hiệu quả cao trong giảng dạy Tập đọc là điều tôi còn băn
khoăn, trăn trở. Thông qua giảng dạy tôi đã tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp
và một phần những việc làm mà bản thân đã khám phá ra trong giảng dạy với một
mong muốn tìm ra các biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 3 để nâng cao hiệu quả giờ
tập đọc. Đây chính là lí do khiến tôi chọn đề tài “Biện pháp rèn kỹ năng đọc đúng,
đọc hiểu và đọc diễn cảm cho học sinh lớp 3 ” để nghiên cứu trong năm học này.
1.1.3. Mục đích nghiên cứu:
- Qua đề tài này, tôi muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học
môn Tập đọc, để tìm ra phương pháp giúp giáo viên rèn luyện cho học sinh lớp 3 đọc
tốt hơn, qua đó từng bước nâng cao năng lực đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm của
mỗi học sinh.
- Tìm hiểu yêu cầu nhiệm vụ và thực trạng dạy học của phân môn Tập đọc ở
lớp 3.
1.1.4. Đối tượn nghiên cứu:
- Chương trình môn Tập đọc lớp 3.
- Phương pháp dạy Tập đọc lớp 3.
1.1.5. Đối tượng khảo sát – Thực nghiệm:
- Học sinh lớp 3A – Trường Tiểu học Đăk Ang, huyện Ngọc Hồi
1.1.6. Phạm vi – Kế hoạch nghiên cứu:
- Tôi nghiên cứu đề tài này từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 12 năm 2020 tại
Tiểu học Đăk Ang, huyện Ngọc Hồi.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Đề xuất một số biện pháp
- Thực nghiệm sư phạm
- Đánh giá thực trạng kết quả của việc thực hiện đề tài nghiên cứu.
1.1.7. Phương pháp nghiên cứu:
a. Nghiên cứu tài liệu: Đọc tài liệu và sách tham khảo.
b. Khảo sát thực tế: - Dự giờ thăm lớp.
- Khảo sát tình hình thực tế.
c. So sánh đối chiếu.
d. Phương pháp thực hành.
3
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận:
Tiếng Việt ở Tiểu học là một môn học độc lập. Nhiệm vụ chủ yếu của bộ môn
Tiếng Việt ở Tiểu học là cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về Tiếng Việt
để trên cơ sở đó, các em có khả năng sử dụng một cách hiệu quả Tiếng Việt trong hoạt
động học tập và sinh hoạt, đồng thời giúp các em rèn luyện và phát triển tư duy. Hay
nói cách khác, qua việc học Tiếng Việt, các em học sinh Tiểu học một mặt vừa lĩnh
hội được kiến thức về ngôn ngữ ở mức độ sơ giản, hình thành được năng lực và biết
cách tổ chức giao tiếp bằng Tiếng Việt, mặt khác giúp các em hình thành được năng
lực tư duy, hình thành được nhân cách của mình. Các em biết tiếp nhận lời người khác,
biết tạo ra lời nói riêng của mình vừa đúng với quy tắc ngôn ngữ, phù hợp với quy luật
của tư duy, vừa phù hợp với hoàn cảnh, đáp ứng được nhu cầu giao tiếp. Đó là cơ sở
để các em không chỉ học tốt môn Tiếng Việt mà còn học tốt tất cả các môn học khác
trong nhà trường. Nhờ học Tiếng Việt mà tư duy của các em phát triển, các em sẽ có
được những nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từ hình thức sang bản chất… và từ
đó, những vấn đề về thế giới quan, nhân sinh quan của các em cũng dần dần được hình
thành.
2.1.1. Vị trí, tính chất, nhiệm vụ của phân môn Tập đọc
a. Vị trí của phân môn Tập đọc
Tập đọc là môn học có vị trí quan trọng ở Tiểu học. Tập đọc là môn học khởi
đầu (được học sớm nhất ở Tiểu học, nối tiếp với học âm, vần). Tập đọc giúp học sinh
có một công cụ, một phương tiện quan trọng để học tốt các môn học khác, để chiếm
lĩnh kho tàng tri thức văn hoá của nhân loại được lưu giữ trong sách vở.
b. Tính chất của môn Tập đọc
Tập đọc có tính chất thực hành. Khi dạy Tập đọc, giáo viên phải coi trọng việc
luyện đọc cho học sinh bằng nhiều hình thức khác nhau, thời gian giảng bài của giáo
viên chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tiết học.
c. Nhiệm vụ của phân môn Tập đọc
Phân môn tập đọc lớp 3 có những nhiệm vụ sau đây:
* Phát triển kĩ năng đọc và nghe cho học sinh. Yêu cầu cụ thể đối với học
sinh là:
- Đọc thành tiếng:
4
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
+ Phát âm đúng.
+ Đọc rõ ràng, liền mạch từng câu, từng đoạn và cả bài, biết ngắt nghỉ hợp lí
các dấu câu, giữa các cụm từ dài hoặc giữa các mục, các phần trong bài đọc.
+ Cường độ đọc vừa phải (không đọc quá to hay đọc lí nhí).
+ Tốc độ đọc vừa phải, đạt yêu cầu tối thiểu 55 tiếng/phút.
- Đọc thầm và hiểu nội dung:
+ Biết đọc không thành tiếng, không mấp máy môi.
+ Hiểu được nghĩa các từ mới (chủ yếu là nghe trong văn cảnh) ; nắm được nội
dung của câu, đoạn, bài đã đọc để trả lời các câu hỏi dưới mỗi bài đọc.
- Nghe:
+ Nghe GV đọc mẫu và nắm được cách đọc đúng các tiếng, các từ ngữ, câu,
đoạn, bài.
+ Nghe hiểu các câu hỏi và các yêu cầu của thầy (cô) hoặc của các bạn trong
lớp.
+ Nghe bạn đọc, nói và bước đầu có khả năng nhận xét về cách đọc của các
bạn.
- Tư thế đọc:
+ Biết cầm sách đứng đọc với tư thế ngay ngắn, khoảng cách, độ nghiêng giữa
sách với mắt phù hợp, biết hướng trang sách về phía nhiều ánh sáng nhất,…
5
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
+ Khi đặt sách trước bàn ngồi đọc, biết điều chỉnh khoảng cách giữa mắt với
trang sách sao cho mọi dòng chữ trên trang sách có khoảng cách hợp lí với mắt nhìn
mà vẫn giữ được tư thế ngồi không làm cong vẹo cột sống.
* Trau dồi vốn tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu
biết của học sinh về cuộc sống.
- Làm giàu và tích cự hóa vốn từ, vốn diễn đạt.
- Bồi dưỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống, cung
cấp một số mẫu thông thường để hình thành một số kĩ năng phục vụ cho đời sống và
việc học tập (tự thuật, đọc thời khóa biểu, đọc nội quy tra và lập mục lục sách, nhận và
gọi điện thoại,…)
- Phát triển thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán, so sánh, lựa
chọn,…).
6
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
* Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng; tình
yêu cái đẹp, cải thiện thái độ ứng xử đúng trong cuộc sống; hứng thú đọc sách và
yêu tiếng Việt. Cụ thể là:
- Bồi dưỡng tình cảm yêu quý, kính trọng, thái độ lễ phép, lòng biết ơn và ý
thức trách nhiệm với ông bà, cha mẹ, thầy cô; yêu trường lớp, đoàn kết giúp đỡ bạn
bè ; có lòng vị tha, nhân hậu.
- Có ý thức tự giác, chăm chỉ học tập và rèn luyện.
- Ham đọc sách, có khả năng cảm nhận cái hay cái đẹp của tác phẩm văn học và
tiếng Việt.
2.1.2. Mục đích tác dụng của việc rèn kĩ năng đọc trong giờ dạy Tập đọc.
Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết
sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá
trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh
(ứng với hình thức đọc thầm). Đọc cũng không chỉ là công việc giải một bộ mã gồm
hai phần chữ viết và phát âm, nghĩa là nó không phải chỉ là sự đánh vần lên thành
tiếng theo đúng các kí hiệu chữ viết mà còn là một quá trình nhận thức để có khả năng
thông hiểu những gì được đọc. Có thể khái quát yêu cầu của việc đọc như sau:
Năng lực đọc được cụ thể hóa thành hai hình thức là đọc thành tiếng và đọc
thầm. Chất lượng của hình thức đọc thành tiếng bao gồm đọc đúng, đọc nhanh, đọc
hiểu và đọc diễn cảm. Chất lượng của hình thức đọc thầm bao gồm đọc đúng, đọc
nhanh, đọc hiểu, (đọc diễn cảm không được bàn đến khi đọc thầm).
Đọc đúng: Đọc đúng là cách phát âm thể hiện đúng hệ thống ngữ âm chuẩn.
Nói cách khác là phải đọc đúng chính âm, không đọc theo cách phát âm địa phương vì
phát âm địa phương sẽ có chỗ sai với âm chuẩn. Đòi hỏi thể hiện chính xác các âm vị
của âm tiết: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối, thanh điệu. Ngoài ra đọc đúng còn
có nghĩa là đúng ngữ điệu, bao gồm lên giọng, xuống giọng, nhấn giọng, chuyển
giọng, ngắt hơi, cường độ giọng… Đọc đúng quan trọng nữa là phải đúng nội dung
của từ, của câu, đúng phong cách chức năng của văn bản.
Đọc hiểu: Hiệu quả của việc đọc (nhất là đối với hình thức đọc thầm) được đo
bằng khả năng thông hiểu nội dung văn bản đọc. Do đó, dạy đọc phải gắn với đọc có ý
thức, đọc hiểu: hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài, tức là toàn bộ những gì được
đọc. Giáo viên cần có biện pháp giúp học sinh hiểu bài đọc, bắt đầu từ việc hiểu nghĩa
7
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
từ. Do vậy, giáo viên phải có hiểu biết về từ địa phương cũng như có vốn từ của tiếng
mẹ đẻ vùng dân tộc mình dạy học để chọn từ giải thích cho thích hợp, đồng thời phải
chuẩn bị để sẵn sàng giải đáp cho học sinh về bất cứ từ nào trong bài mà các em yêu
cầu.
Đọc diễn cảm: Đọc diễn cảm là đọc có tác dụng diễn ý, diễn cảm. Đọc diễn ý
làm rõ nghĩa từ, câu, văn bản. Đọc diễn cảm làm rõ sắc thái biểu cảm của từ, câu, văn
bản. Tùy thuộc vào nội dung của văn bản mà người đọc sử dụng ngữ điệu phù hợp
nhằm diễn tả những điều tác giả muốn nói trong văn bản đọc. Đọc diễn cảm là một yêu
cầu được đặt ra khi đọc những văn bản văn chương hoặc có yếu tố của ngôn ngữ nghệ
thuật và chỉ có thể tiến hành khi đã hiểu thấu đáo bài đọc.
2.2. Thực trạng
Thực trạng tình hình dạy học của giáo viên và việc học của học sinh qua điều
tra cụ thể là: Đầu năm học khi có ý định làm đề tài này tôi đã trao đổi với các đồng
nghiệp trong khối, xin thăm lớp dự giờ các tiết tập đọc ở khối. Qua dự giờ sau các tiết
dạy tôi có nhận xét sau:
2.2.1. Giáo viên:
- Giáo viên đã nghiên cứu phương pháp dạy tập đọc để dạy tốt song chưa đi sâu
lựa chọn phương pháp cho phù hợp để tiết dạy đạt kết quả cao nhất.
- Giáo viên chưa chú ý và coi trọng tính luyện tập, thực hành của học sinh.
2.2.2. Học sinh.
Năm học 2020 – 2021 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm tổng 27 học
sinh. Trong đó: nam 11 học sinh, nữ 16 học sinh , 25 học sinh là người đồng bào dân
tộc thiểu số.
a. Thuận lợi:
- Học sinh đúng độ tuổi, phụ huynh quan tâm đến việc học của con em mình
như mua đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập.
- Cơ sở vật chất ở lớp học đầy đủ, bàn ghế đẹp, kích thước phù hợp với học sinh
lớp 3.
- Thực tế giảng dạy cho thấy rằng các năm học thực hiện đổi mới giáo dục trên
toàn quốc chất lượng học sinh có tiến bộ rõ rệt. Đặc biệt là các em mạnh dạn, tự tin
trong giao tiếp. Nhiều học sinh đọc rất hay mặc dù yêu cầu đọc diễn cảm chưa đặt ra
đối với học sinh lớp 3. Thông qua luyện đọc học sinh bước đầu đã hiểu nghĩa từ chìa
khoá để hiểu nội dung bài tập đọc, có khả năng nghe và nhận xét bạn đọc.
b. Khó khăn:
Phần đông học sinh vẫn thuộc khu vực còn mang tính vùng nông thôn khó
khăn, người dân sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy, trình độ dân trí chưa cao - đời sống
nhân dân còn thấp, các em rụt rè, còn thẹn thùng khi ứng xử các tình huống giao tiếp
8
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
trong sách giáo khoa, đọc lí nhí khi được gọi. Số lượng học sinh phát âm sai do nói
tiếng bản địa ở địa phương còn nhiều.
- Cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu, thiết bị dạy học phục vụ cho môn Tiếng
Việt lớp 3 còn thiếu như: Tranh, các thiết bị sử dụng dạy học còn thiếu. Bàn ghế khó
cho giáo viên trong khi dạy thay đổi hình thức tổ chức dạy học.
- Một số ít phụ huynh còn giao khoán việc học của con em mình cho thầy cô
giáo và nhà trường.
- Khả năng tiếp thu môn học Tiếng Việt của các em cũng nhiều hạn chế so với
các môn Toán hay Tự nhiên xã hội, ở phân môn Tập đọc lớp 3 đa phần các em đó đọc
được, song một số em đọc cũng chưa được rõ ràng, chưa biết ngắt nghỉ đúng dấu
chấm, dấu phẩy, nhiều em phát âm sai dấu. Đặc biệt học sinh trường tôi đang công tác
thì đa số các em đọc thiếu dấu, về kĩ thuật đọc chưa thể hiện được tình cảm, nội dung
mà văn bản đề cập tới. Ví dụ như các em chưa biết nhấn giọng ở từ ngữ gợi tả, những
từ ngữ trọng tâm, từ chìa khoá, trong những trường hợp sắm vai hay đối thoại, các em
cũng lúng túng, nhiều em cũng thiếu tự tin trong việc thể hiện giọng đọc của mình.
Đối với đối tượng học sinh trung bình và yếu các em chưa xác định được đâu là giới
hạn những câu đối thoại của mình. Với thực tế trên, tôi đi sâu vào nghiên cứu mong
muốn tích lũy thêm cho bản thân những kiến thức và kinh nghiện chỉ đạo chuyên môn
nhằm đạt hiệu quả cao trong việc dạy học và chỉ đạo chuyên môn tổ khối và để nâng
cao chất lượng đọc cho học sinh lớp 3A.
2.3. Một số giải pháp cụ thể.
Qua thực tế giảng dạy và chỉ đạo công tác chuyên môn tổ khối tôi đã rút ra một
số biện pháp để nâng cao chất lượng đọc cho học sinh lớp 3A như sau:
Biện pháp thứ nhất: Khảo sát phân loại học sinh qua từng giai đoạn:
Để nắm được khả năng đọc của học sinh, ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành
tìm hiểu, phân loại học sinh. Tôi tiến hành kiểm tra các em về đọc và kiến thức trong
bài. Kết quả điều tra kỹ năng đọc của học sinh lớp 3A do tôi phụ trách trong đợt Kiểm
tra chất lượng đầu năm để nắm tình hình học sinh của tôi như sau:
Năm học Tổng số
2020-
học
2021
sinh
Đầu năm
học
27
Đọc diễn cảm
Đạt chuẩn
Còn chậm
Đọc đánh
vần
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
1
3,7%
16
69,5%
7
25,9%
3
7,4%
Mục tiêu
Số lượng
Tỉ lệ
Hiểu nội dung
15
55,6%
Trả lời câu hỏi trọng tâm bài
10
37%
Trả lời thành câu
8
29,6%
Biết nghe và nhận xét bạn đọc
15
55,6%
Mạnh dạn xử lý tình huống giao tiếp của bài tập đọc
10
37%
9
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
Hứng thú, thích học tập đọc
22
81,4%
Bên cạnh đó tôi gặp gỡ với giáo viên cũ để trao đổi, từ đó có thêm hiểu biết về
khả năng học phân môn tập đọc của các em.
Từ những hiểu biết trên, tôi lập thành các nhóm học tập. Mỗi nhóm có em học
tốt và em kém để các em giúp đỡ lẫn nhau trong việc học tập và cũng để dễ dáng kiểm
tra, hướng dẫn các em.
Biện pháp thứ hai: Chuẩn bị chu đáo cho giờ học.
1. Hướng dẫn học sinh chuẩn bị trước cho bài học:
Để giúp các em học tốt một bài tập đọc, tôi thường hướng dẫn các em chuẩn bị
một cách chu đáo, cụ thể như sau:
Trước tiên các em cần đọc thành tiếng ít nhất 5 lần sau đó đọc thầm. Tìm xem
bài tập đọc có mấy đoạn, mấy câu (mấy khổ thơ).
Đọc kĩ phần giải nghĩa các từ ngữ ở cuối bài.
Tập trả lời miệng các câu hỏi về tìm hiểu nội dung trong sách giáo khoa, từ đó
các em có thể nêu được nội dung bài tập đọc.
Tìm hiểu bài tập đọc thuộc thể loại gì (thơ hay văn xuôi).
Để giúp học sinh đọc tốt, ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi trao đổi với
phụ huynh, thống nhất phương pháp hướng dẫn học sinh học môn Tập đọc tại nhà. Từ
đó phụ huynh học sinh có thể giúp đỡ các em chuẩn bị tốt bài Tập đọc của giờ học sau.
Chính vì có sự chuẩn bị chu đáo như vậy nên trong những giờ Tập đọc sẽ giúp
các em đọc lưu loát, biết cách ngắt nghỉ đúng ở các dấu câu, dấu phẩy trong câu văn.
Ví dụ: Khi dạy bài Cậu bé thông minh tôi đã hướng dẫn học sinh chuẩn bị
như sau:
Đọc thành tiếng 5 lần, dùng bút chì ghi số câu trong bài tập đọc.
Đọc kĩ phần giải nghĩa các từ:
- > điều này sẽ giúp các em hiểu rõ hơn nội
dung bài đọc. Học sinh tập trả lời miệng các câu hỏi để tìm hiểu nội dung bài:
+ Tìm đoạn văn ứng với từng nội dung sau:
a, Nhà vua nghĩ ra kế gì để tìm người tài.
b, Cách cậu bé làm cho vua thấy lệnh của vua là vô lí
c, Những cuộc thử tài lần sau.
+ Nêu những thử thách của nhà vua?
10
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
+ Nêu những cách cậu bé thông minh đối lại nhà vua?
Phần tìm hiểu này giúp học sinh nhớ được nội dung bài.
Với sự chuẩn bị bài kỹ của học sinh như vậy nên ở trên lớp dưới sự dẫn dắt,
hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ đọc lưu loát, tiến tới đọc hay, các em chủ động
trong việc nắm bắt nội dung bài đọc, phát huy được tính cực, chủ động của học sinh
trong giờ học.
2. Chuẩn bị của giáo viên:
Qua thực tế giảng dạy, dưới sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, tôi nhận
thấy rằng để dạy thành công một tiết tập đọc, truyền thụ được kiến thức một cách khoa
học, sâu sắc giáo viên cần chuẩn bị kỹ những việc sau:
+ Soạn bài cụ thể, chi tiết thể hiện rõ hoạt động của thầy, của trò. Xây dựng
được các phương pháp dạy học truyền thống kết hợp với các phương pháp, phương
tiện dạy học hiện đại một cách linh hoạt để giờ dạy nhẹ nhàng, đạt hiệu quả.
+ Nắm chắc yêu cầu rèn đọc ở từng bài. Đọc kĩ bài tập đọc sắp dạy, trao đổi học
tập cách dạy của đồng nghiệp, dự kiến các tình huống học sinh sẽ mắc phải và cách
sửa các tình huống đó.
+ Tìm hiểu kĩ nội dung bài để hiểu được các biện pháp nghệ thuật tác giả đã
dùng, từ đó xác định cách đọc đối với từng đoạn, từng bài để thể hiện đúng tình cảm
của từng bài.
+ Nắm vững hệ thống câu hỏi trong bài tập đọc, đưa ra thêm những câu hỏi dẫn
dắt để giúp học sinh phân tích, khai thác nội dung.
Biện pháp thứ ba: Giáo viên cần đọc mẫu diễn cảm:
Việc đọc mẫu của giáo viên là cần thiết vì muốn học sinh đọc đúng, đọc hay
giáo viên phải giới thiệu mẫu đúng. Lời đọc mẫu của giáo viên nhằm định hướng cho
học sinh đọc đồng thời giúp học sinh nhận thức đúng nội dung bài học. Nếu là văn bản
nghệ thuật còn có tác dụng khơi gợi hứng thú và sự tưởng tượng của học sinh – giúp
các em dễ đi vào thế giới của tác giả, tác phẩm dưới một ánh sáng hấp dẫn hơn. Với
văn bản nghệ thuật đọc mẫu của giáo viên là đọc diễn cảm. Còn văn bản thông thường
đọc mẫu là đọc đúng. Giáo viên đọc mẫu tốt, chuẩn mực thì không có gì đáng ngại nếu
như học sinh bắt chước thầy cô.
Đọc mẫu của GV bao gồm:
11
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
- Đọc toàn bài: Thường nhằm giới thiệu, gây xúc cảm, tạo hứng thú và tâm thế
học đọc cho HS.
- Đọc câu, đoạn: Nhằm hướng dẫn, gợi ý hoặc “tạo tình huống” để học sinh
nhận xét, giải thích nội dung bài đọc.
- Đọc từ, cụm từ: nhằm sửa phát âm sai và rèn cách đọc đúng cho học sinh
Vấn đề đặt ra trước tiên, để đọc mẫu tốt, giáo viên cần tìm hiểu và cảm thụ bài
văn, tìm hiểu bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh sáng tác, vị trí của tác phẩm, tác giả... tiếp
đến là việc tìm hiểu nội dung, hình thức bài đọc: thể loại, bố cục, kết cấu, nghệ thuật.
Hiểu được nội dung cảm thụ: cảm thụ sâu sắc, tính lôgic sẽ đọc diễn cảm tốt.
Giọng đọc hay sẽ bắt đầu với cảm xúc của lòng mình, người đọc phải nhập vai lúc đó
khả năng truyền cảm người nghe lớn hơn.
Ví dụ: * Bài “Người lính dũng cảm”
- Đoạn 1: Giọng đọc nhanh, thể hiện giọng đọc to, rõ ràng, dứt khoát. Đọc nhấn
giọng các từ ngữ thể hiện quyết tâm của viên tướng.
- Đoạn 2: Giọng kể nhẹ nhàng hơn.
- Đoạn 3, 4: Đọc nhấn giọng các từ ngữ thể hiện sự điềm tĩnh, kiên quyết của
thầy giáo trước thái độ im lặng của học sinh., “Hôm qua em nào phá đổ hàng rào, làm
giập hoa trong vườn trường...”
- Đoạn 5: Thể hiện giọng đọc thì thầm của chú lính “ Ra vườn đi”. Giọng dứt
khoát của viên tướng “ Về thôi!”; ...
Đọc thơ phải nắm vững đặc trưng của thơ. Đó là tiếng nói tình cảm mãnh liệt, là
sản phẩm của những rung động đột xuất, độc đáo, là kết tinh của
Trang
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1
1.1.Lý do chọn đề tài
1
1.1.1. Cơ sở lý luận
1
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
1
1.2.Mục đích nghiên cứu
2
1.3. Đối tượng nghiên cứu
2
1.4. Đối tượng khảo sát – Thực nghiệm
2
1.5. Phạm vi – Kế hoạch nghiên cứu
2
1.6. Phương pháp nghiên cứu
2
2. NỘI DUNG
3
2.1. Cơ sở lí luận
3
2.1.1. Vị trí, tính chất, nhiệm vụ của phân môn Tập đọc
3
2.1.2. Mục đich tác dụng của việc rèn kĩ năng đọc trong giờ dạy Tâp đọc
4
2.2. Thực trạng
5
2.3. Một số giải pháp cụ thể
6
2.4. Kết quả
15
3. KẾT LUẬN
16
3.1. Bài học kinh nghiệm
16
3.2. Đề xuất, kiến nghị
17
1
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC ĐÚNG, ĐỌC
HIỂU, VÀ ĐỌC DIỄN CẢM CHO HỌC SINH LỚP 3A
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
1.1.1. Cơ sở lý luận
Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự
phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ
bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu
xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học Trung
học cơ sở.
Tập đọc là một phân môn có vị trí hết sức quan trọng trong môn tiếng Việt nhất
là trong giai đoạn bùng nổ thông tin hiện nay. Đọc thông viết thạo là một yêu cầu đặt
ra với bất cứ học sinh tiểu học nào, ngay từ những ngày đầu tiên đến trường các em đã
phải học đọc mặc dù ở giai đoạn này việc đọc của các em mới chỉ dừng lại ở mức độ
nhận diện kí hiệu chữ viết và giải mã bằng âm thanh song đây là một giai đoạn rất
quan trọng bởi đó là giai đoạn học sinh phải học để đọc và làm nền tảng cho những
giai đoạn tiếp theo, giai đoạn đọc để học. Càng về sau yêu cầu đặt ra trong việc đọc
càng được nâng cao, từ việc đọc để hiểu được nội dung văn bản đến việc phát triển kĩ
năng đọc diễn cảm. Dạy học tập đọc ở Tiểu học là một việc làm hết sức có ý nghĩa
trong việc hình thành và phát triển kĩ năng đọc cho học sinh, nó khẳng định sự cần
thiết cho việc hình thành và phát triển một cách có hệ thống và có kế hoạch năng lực
đọc cho học sinh.Thông qua phân môn Tập đọc mà trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn học
văn và phát triển tư duy, mở rộng vốn hiểu biết của học sinh về cuộc sống. Bồi dưỡng
tư tưởng tình cảm trong sáng, yêu cái đẹp, cái thiện, có thái độ ứng xử tốt trong cuộc
sống, yêu tiếng Việt. Bên cạnh đó theo quan điểm tích hợp các bài tập đọc còn có
nhiệm vụ cung cấp ngữ liệu để hình thành và phát triển các kỹ năng khác được quy
định trong chương trình. Các bài tập đọc đã trở thành nguyên liệu để các phân môn
khác như: Tập làm văn – Kể chuyện – Luyện từ và câu khai thác. Chính vì vậy việc
dạy phân môn Tập đọc chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Nó làm nòng cốt xuyên
suốt toàn bộ chương trình Tiểu học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng.
1.1.2. Cơ cở thực tiễn:
Từ nhiều năm nay Bộ giáo dục và đào tạo đã liên tục chỉ đạo đổi mới phương
pháp song sự chuyển biến trong phương pháp dạy học của giáo viên đang còn chậm.
Kiểu dạy học thuyết giảng đã trở thành nếp nghĩ, nếp làm của nhiều giáo viên trong
nhà trường. Thực hiện dạy Tập đọc theo phương pháp mới đòi hỏi giáo viên phải từ bỏ
một số thói quen không thích hợp như: Tham giảng bài, nói dài dòng. Ngại sử dụng
phương tiện dạy học, bệnh nói nhiều, dàn trải. Trong thực tế giảng dạy việc tổ chức
cho học sinh đọc từ, đọc câu, đọc đoạn là rất phù hợp với lớp 2, 3. Tuy nhiên do giáo
viên thiếu linh hoạt trong quá trình giảng dạy, kỹ năng đọc của học sinh còn chậm.
Việc luyện đọc từ khó – giảng từ của giáo viên còn nhiều bất cập, nên giờ học đã kết
thúc mà có khi học sinh chưa được tìm hiểu cái hay, cái đẹp, cái dí dỏm trong nội dung
bài tập đọc hoặc giáo viên tham nói, tham giảng từ dài dòng mà học sinh không được
luyện đọc bài. Được trực tiếp giảng dạy và qua dự giờ đồng nghiệp tôi nhận thấy tình
trạng này diễn ra không phải là ít. Người giáo viên cần làm gì? Làm như thế nào? để
2
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
tiết học nhẹ nhàng, đem lại hiệu quả cao trong giảng dạy Tập đọc là điều tôi còn băn
khoăn, trăn trở. Thông qua giảng dạy tôi đã tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp
và một phần những việc làm mà bản thân đã khám phá ra trong giảng dạy với một
mong muốn tìm ra các biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 3 để nâng cao hiệu quả giờ
tập đọc. Đây chính là lí do khiến tôi chọn đề tài “Biện pháp rèn kỹ năng đọc đúng,
đọc hiểu và đọc diễn cảm cho học sinh lớp 3 ” để nghiên cứu trong năm học này.
1.1.3. Mục đích nghiên cứu:
- Qua đề tài này, tôi muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học
môn Tập đọc, để tìm ra phương pháp giúp giáo viên rèn luyện cho học sinh lớp 3 đọc
tốt hơn, qua đó từng bước nâng cao năng lực đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm của
mỗi học sinh.
- Tìm hiểu yêu cầu nhiệm vụ và thực trạng dạy học của phân môn Tập đọc ở
lớp 3.
1.1.4. Đối tượn nghiên cứu:
- Chương trình môn Tập đọc lớp 3.
- Phương pháp dạy Tập đọc lớp 3.
1.1.5. Đối tượng khảo sát – Thực nghiệm:
- Học sinh lớp 3A – Trường Tiểu học Đăk Ang, huyện Ngọc Hồi
1.1.6. Phạm vi – Kế hoạch nghiên cứu:
- Tôi nghiên cứu đề tài này từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 12 năm 2020 tại
Tiểu học Đăk Ang, huyện Ngọc Hồi.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Đề xuất một số biện pháp
- Thực nghiệm sư phạm
- Đánh giá thực trạng kết quả của việc thực hiện đề tài nghiên cứu.
1.1.7. Phương pháp nghiên cứu:
a. Nghiên cứu tài liệu: Đọc tài liệu và sách tham khảo.
b. Khảo sát thực tế: - Dự giờ thăm lớp.
- Khảo sát tình hình thực tế.
c. So sánh đối chiếu.
d. Phương pháp thực hành.
3
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận:
Tiếng Việt ở Tiểu học là một môn học độc lập. Nhiệm vụ chủ yếu của bộ môn
Tiếng Việt ở Tiểu học là cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về Tiếng Việt
để trên cơ sở đó, các em có khả năng sử dụng một cách hiệu quả Tiếng Việt trong hoạt
động học tập và sinh hoạt, đồng thời giúp các em rèn luyện và phát triển tư duy. Hay
nói cách khác, qua việc học Tiếng Việt, các em học sinh Tiểu học một mặt vừa lĩnh
hội được kiến thức về ngôn ngữ ở mức độ sơ giản, hình thành được năng lực và biết
cách tổ chức giao tiếp bằng Tiếng Việt, mặt khác giúp các em hình thành được năng
lực tư duy, hình thành được nhân cách của mình. Các em biết tiếp nhận lời người khác,
biết tạo ra lời nói riêng của mình vừa đúng với quy tắc ngôn ngữ, phù hợp với quy luật
của tư duy, vừa phù hợp với hoàn cảnh, đáp ứng được nhu cầu giao tiếp. Đó là cơ sở
để các em không chỉ học tốt môn Tiếng Việt mà còn học tốt tất cả các môn học khác
trong nhà trường. Nhờ học Tiếng Việt mà tư duy của các em phát triển, các em sẽ có
được những nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từ hình thức sang bản chất… và từ
đó, những vấn đề về thế giới quan, nhân sinh quan của các em cũng dần dần được hình
thành.
2.1.1. Vị trí, tính chất, nhiệm vụ của phân môn Tập đọc
a. Vị trí của phân môn Tập đọc
Tập đọc là môn học có vị trí quan trọng ở Tiểu học. Tập đọc là môn học khởi
đầu (được học sớm nhất ở Tiểu học, nối tiếp với học âm, vần). Tập đọc giúp học sinh
có một công cụ, một phương tiện quan trọng để học tốt các môn học khác, để chiếm
lĩnh kho tàng tri thức văn hoá của nhân loại được lưu giữ trong sách vở.
b. Tính chất của môn Tập đọc
Tập đọc có tính chất thực hành. Khi dạy Tập đọc, giáo viên phải coi trọng việc
luyện đọc cho học sinh bằng nhiều hình thức khác nhau, thời gian giảng bài của giáo
viên chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tiết học.
c. Nhiệm vụ của phân môn Tập đọc
Phân môn tập đọc lớp 3 có những nhiệm vụ sau đây:
* Phát triển kĩ năng đọc và nghe cho học sinh. Yêu cầu cụ thể đối với học
sinh là:
- Đọc thành tiếng:
4
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
+ Phát âm đúng.
+ Đọc rõ ràng, liền mạch từng câu, từng đoạn và cả bài, biết ngắt nghỉ hợp lí
các dấu câu, giữa các cụm từ dài hoặc giữa các mục, các phần trong bài đọc.
+ Cường độ đọc vừa phải (không đọc quá to hay đọc lí nhí).
+ Tốc độ đọc vừa phải, đạt yêu cầu tối thiểu 55 tiếng/phút.
- Đọc thầm và hiểu nội dung:
+ Biết đọc không thành tiếng, không mấp máy môi.
+ Hiểu được nghĩa các từ mới (chủ yếu là nghe trong văn cảnh) ; nắm được nội
dung của câu, đoạn, bài đã đọc để trả lời các câu hỏi dưới mỗi bài đọc.
- Nghe:
+ Nghe GV đọc mẫu và nắm được cách đọc đúng các tiếng, các từ ngữ, câu,
đoạn, bài.
+ Nghe hiểu các câu hỏi và các yêu cầu của thầy (cô) hoặc của các bạn trong
lớp.
+ Nghe bạn đọc, nói và bước đầu có khả năng nhận xét về cách đọc của các
bạn.
- Tư thế đọc:
+ Biết cầm sách đứng đọc với tư thế ngay ngắn, khoảng cách, độ nghiêng giữa
sách với mắt phù hợp, biết hướng trang sách về phía nhiều ánh sáng nhất,…
5
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
+ Khi đặt sách trước bàn ngồi đọc, biết điều chỉnh khoảng cách giữa mắt với
trang sách sao cho mọi dòng chữ trên trang sách có khoảng cách hợp lí với mắt nhìn
mà vẫn giữ được tư thế ngồi không làm cong vẹo cột sống.
* Trau dồi vốn tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu
biết của học sinh về cuộc sống.
- Làm giàu và tích cự hóa vốn từ, vốn diễn đạt.
- Bồi dưỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống, cung
cấp một số mẫu thông thường để hình thành một số kĩ năng phục vụ cho đời sống và
việc học tập (tự thuật, đọc thời khóa biểu, đọc nội quy tra và lập mục lục sách, nhận và
gọi điện thoại,…)
- Phát triển thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán, so sánh, lựa
chọn,…).
6
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
* Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng; tình
yêu cái đẹp, cải thiện thái độ ứng xử đúng trong cuộc sống; hứng thú đọc sách và
yêu tiếng Việt. Cụ thể là:
- Bồi dưỡng tình cảm yêu quý, kính trọng, thái độ lễ phép, lòng biết ơn và ý
thức trách nhiệm với ông bà, cha mẹ, thầy cô; yêu trường lớp, đoàn kết giúp đỡ bạn
bè ; có lòng vị tha, nhân hậu.
- Có ý thức tự giác, chăm chỉ học tập và rèn luyện.
- Ham đọc sách, có khả năng cảm nhận cái hay cái đẹp của tác phẩm văn học và
tiếng Việt.
2.1.2. Mục đích tác dụng của việc rèn kĩ năng đọc trong giờ dạy Tập đọc.
Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết
sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá
trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh
(ứng với hình thức đọc thầm). Đọc cũng không chỉ là công việc giải một bộ mã gồm
hai phần chữ viết và phát âm, nghĩa là nó không phải chỉ là sự đánh vần lên thành
tiếng theo đúng các kí hiệu chữ viết mà còn là một quá trình nhận thức để có khả năng
thông hiểu những gì được đọc. Có thể khái quát yêu cầu của việc đọc như sau:
Năng lực đọc được cụ thể hóa thành hai hình thức là đọc thành tiếng và đọc
thầm. Chất lượng của hình thức đọc thành tiếng bao gồm đọc đúng, đọc nhanh, đọc
hiểu và đọc diễn cảm. Chất lượng của hình thức đọc thầm bao gồm đọc đúng, đọc
nhanh, đọc hiểu, (đọc diễn cảm không được bàn đến khi đọc thầm).
Đọc đúng: Đọc đúng là cách phát âm thể hiện đúng hệ thống ngữ âm chuẩn.
Nói cách khác là phải đọc đúng chính âm, không đọc theo cách phát âm địa phương vì
phát âm địa phương sẽ có chỗ sai với âm chuẩn. Đòi hỏi thể hiện chính xác các âm vị
của âm tiết: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối, thanh điệu. Ngoài ra đọc đúng còn
có nghĩa là đúng ngữ điệu, bao gồm lên giọng, xuống giọng, nhấn giọng, chuyển
giọng, ngắt hơi, cường độ giọng… Đọc đúng quan trọng nữa là phải đúng nội dung
của từ, của câu, đúng phong cách chức năng của văn bản.
Đọc hiểu: Hiệu quả của việc đọc (nhất là đối với hình thức đọc thầm) được đo
bằng khả năng thông hiểu nội dung văn bản đọc. Do đó, dạy đọc phải gắn với đọc có ý
thức, đọc hiểu: hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài, tức là toàn bộ những gì được
đọc. Giáo viên cần có biện pháp giúp học sinh hiểu bài đọc, bắt đầu từ việc hiểu nghĩa
7
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
từ. Do vậy, giáo viên phải có hiểu biết về từ địa phương cũng như có vốn từ của tiếng
mẹ đẻ vùng dân tộc mình dạy học để chọn từ giải thích cho thích hợp, đồng thời phải
chuẩn bị để sẵn sàng giải đáp cho học sinh về bất cứ từ nào trong bài mà các em yêu
cầu.
Đọc diễn cảm: Đọc diễn cảm là đọc có tác dụng diễn ý, diễn cảm. Đọc diễn ý
làm rõ nghĩa từ, câu, văn bản. Đọc diễn cảm làm rõ sắc thái biểu cảm của từ, câu, văn
bản. Tùy thuộc vào nội dung của văn bản mà người đọc sử dụng ngữ điệu phù hợp
nhằm diễn tả những điều tác giả muốn nói trong văn bản đọc. Đọc diễn cảm là một yêu
cầu được đặt ra khi đọc những văn bản văn chương hoặc có yếu tố của ngôn ngữ nghệ
thuật và chỉ có thể tiến hành khi đã hiểu thấu đáo bài đọc.
2.2. Thực trạng
Thực trạng tình hình dạy học của giáo viên và việc học của học sinh qua điều
tra cụ thể là: Đầu năm học khi có ý định làm đề tài này tôi đã trao đổi với các đồng
nghiệp trong khối, xin thăm lớp dự giờ các tiết tập đọc ở khối. Qua dự giờ sau các tiết
dạy tôi có nhận xét sau:
2.2.1. Giáo viên:
- Giáo viên đã nghiên cứu phương pháp dạy tập đọc để dạy tốt song chưa đi sâu
lựa chọn phương pháp cho phù hợp để tiết dạy đạt kết quả cao nhất.
- Giáo viên chưa chú ý và coi trọng tính luyện tập, thực hành của học sinh.
2.2.2. Học sinh.
Năm học 2020 – 2021 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm tổng 27 học
sinh. Trong đó: nam 11 học sinh, nữ 16 học sinh , 25 học sinh là người đồng bào dân
tộc thiểu số.
a. Thuận lợi:
- Học sinh đúng độ tuổi, phụ huynh quan tâm đến việc học của con em mình
như mua đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập.
- Cơ sở vật chất ở lớp học đầy đủ, bàn ghế đẹp, kích thước phù hợp với học sinh
lớp 3.
- Thực tế giảng dạy cho thấy rằng các năm học thực hiện đổi mới giáo dục trên
toàn quốc chất lượng học sinh có tiến bộ rõ rệt. Đặc biệt là các em mạnh dạn, tự tin
trong giao tiếp. Nhiều học sinh đọc rất hay mặc dù yêu cầu đọc diễn cảm chưa đặt ra
đối với học sinh lớp 3. Thông qua luyện đọc học sinh bước đầu đã hiểu nghĩa từ chìa
khoá để hiểu nội dung bài tập đọc, có khả năng nghe và nhận xét bạn đọc.
b. Khó khăn:
Phần đông học sinh vẫn thuộc khu vực còn mang tính vùng nông thôn khó
khăn, người dân sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy, trình độ dân trí chưa cao - đời sống
nhân dân còn thấp, các em rụt rè, còn thẹn thùng khi ứng xử các tình huống giao tiếp
8
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
trong sách giáo khoa, đọc lí nhí khi được gọi. Số lượng học sinh phát âm sai do nói
tiếng bản địa ở địa phương còn nhiều.
- Cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu, thiết bị dạy học phục vụ cho môn Tiếng
Việt lớp 3 còn thiếu như: Tranh, các thiết bị sử dụng dạy học còn thiếu. Bàn ghế khó
cho giáo viên trong khi dạy thay đổi hình thức tổ chức dạy học.
- Một số ít phụ huynh còn giao khoán việc học của con em mình cho thầy cô
giáo và nhà trường.
- Khả năng tiếp thu môn học Tiếng Việt của các em cũng nhiều hạn chế so với
các môn Toán hay Tự nhiên xã hội, ở phân môn Tập đọc lớp 3 đa phần các em đó đọc
được, song một số em đọc cũng chưa được rõ ràng, chưa biết ngắt nghỉ đúng dấu
chấm, dấu phẩy, nhiều em phát âm sai dấu. Đặc biệt học sinh trường tôi đang công tác
thì đa số các em đọc thiếu dấu, về kĩ thuật đọc chưa thể hiện được tình cảm, nội dung
mà văn bản đề cập tới. Ví dụ như các em chưa biết nhấn giọng ở từ ngữ gợi tả, những
từ ngữ trọng tâm, từ chìa khoá, trong những trường hợp sắm vai hay đối thoại, các em
cũng lúng túng, nhiều em cũng thiếu tự tin trong việc thể hiện giọng đọc của mình.
Đối với đối tượng học sinh trung bình và yếu các em chưa xác định được đâu là giới
hạn những câu đối thoại của mình. Với thực tế trên, tôi đi sâu vào nghiên cứu mong
muốn tích lũy thêm cho bản thân những kiến thức và kinh nghiện chỉ đạo chuyên môn
nhằm đạt hiệu quả cao trong việc dạy học và chỉ đạo chuyên môn tổ khối và để nâng
cao chất lượng đọc cho học sinh lớp 3A.
2.3. Một số giải pháp cụ thể.
Qua thực tế giảng dạy và chỉ đạo công tác chuyên môn tổ khối tôi đã rút ra một
số biện pháp để nâng cao chất lượng đọc cho học sinh lớp 3A như sau:
Biện pháp thứ nhất: Khảo sát phân loại học sinh qua từng giai đoạn:
Để nắm được khả năng đọc của học sinh, ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành
tìm hiểu, phân loại học sinh. Tôi tiến hành kiểm tra các em về đọc và kiến thức trong
bài. Kết quả điều tra kỹ năng đọc của học sinh lớp 3A do tôi phụ trách trong đợt Kiểm
tra chất lượng đầu năm để nắm tình hình học sinh của tôi như sau:
Năm học Tổng số
2020-
học
2021
sinh
Đầu năm
học
27
Đọc diễn cảm
Đạt chuẩn
Còn chậm
Đọc đánh
vần
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
1
3,7%
16
69,5%
7
25,9%
3
7,4%
Mục tiêu
Số lượng
Tỉ lệ
Hiểu nội dung
15
55,6%
Trả lời câu hỏi trọng tâm bài
10
37%
Trả lời thành câu
8
29,6%
Biết nghe và nhận xét bạn đọc
15
55,6%
Mạnh dạn xử lý tình huống giao tiếp của bài tập đọc
10
37%
9
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
Hứng thú, thích học tập đọc
22
81,4%
Bên cạnh đó tôi gặp gỡ với giáo viên cũ để trao đổi, từ đó có thêm hiểu biết về
khả năng học phân môn tập đọc của các em.
Từ những hiểu biết trên, tôi lập thành các nhóm học tập. Mỗi nhóm có em học
tốt và em kém để các em giúp đỡ lẫn nhau trong việc học tập và cũng để dễ dáng kiểm
tra, hướng dẫn các em.
Biện pháp thứ hai: Chuẩn bị chu đáo cho giờ học.
1. Hướng dẫn học sinh chuẩn bị trước cho bài học:
Để giúp các em học tốt một bài tập đọc, tôi thường hướng dẫn các em chuẩn bị
một cách chu đáo, cụ thể như sau:
Trước tiên các em cần đọc thành tiếng ít nhất 5 lần sau đó đọc thầm. Tìm xem
bài tập đọc có mấy đoạn, mấy câu (mấy khổ thơ).
Đọc kĩ phần giải nghĩa các từ ngữ ở cuối bài.
Tập trả lời miệng các câu hỏi về tìm hiểu nội dung trong sách giáo khoa, từ đó
các em có thể nêu được nội dung bài tập đọc.
Tìm hiểu bài tập đọc thuộc thể loại gì (thơ hay văn xuôi).
Để giúp học sinh đọc tốt, ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi trao đổi với
phụ huynh, thống nhất phương pháp hướng dẫn học sinh học môn Tập đọc tại nhà. Từ
đó phụ huynh học sinh có thể giúp đỡ các em chuẩn bị tốt bài Tập đọc của giờ học sau.
Chính vì có sự chuẩn bị chu đáo như vậy nên trong những giờ Tập đọc sẽ giúp
các em đọc lưu loát, biết cách ngắt nghỉ đúng ở các dấu câu, dấu phẩy trong câu văn.
Ví dụ: Khi dạy bài Cậu bé thông minh tôi đã hướng dẫn học sinh chuẩn bị
như sau:
Đọc thành tiếng 5 lần, dùng bút chì ghi số câu trong bài tập đọc.
Đọc kĩ phần giải nghĩa các từ:
- > điều này sẽ giúp các em hiểu rõ hơn nội
dung bài đọc. Học sinh tập trả lời miệng các câu hỏi để tìm hiểu nội dung bài:
+ Tìm đoạn văn ứng với từng nội dung sau:
a, Nhà vua nghĩ ra kế gì để tìm người tài.
b, Cách cậu bé làm cho vua thấy lệnh của vua là vô lí
c, Những cuộc thử tài lần sau.
+ Nêu những thử thách của nhà vua?
10
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
+ Nêu những cách cậu bé thông minh đối lại nhà vua?
Phần tìm hiểu này giúp học sinh nhớ được nội dung bài.
Với sự chuẩn bị bài kỹ của học sinh như vậy nên ở trên lớp dưới sự dẫn dắt,
hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ đọc lưu loát, tiến tới đọc hay, các em chủ động
trong việc nắm bắt nội dung bài đọc, phát huy được tính cực, chủ động của học sinh
trong giờ học.
2. Chuẩn bị của giáo viên:
Qua thực tế giảng dạy, dưới sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, tôi nhận
thấy rằng để dạy thành công một tiết tập đọc, truyền thụ được kiến thức một cách khoa
học, sâu sắc giáo viên cần chuẩn bị kỹ những việc sau:
+ Soạn bài cụ thể, chi tiết thể hiện rõ hoạt động của thầy, của trò. Xây dựng
được các phương pháp dạy học truyền thống kết hợp với các phương pháp, phương
tiện dạy học hiện đại một cách linh hoạt để giờ dạy nhẹ nhàng, đạt hiệu quả.
+ Nắm chắc yêu cầu rèn đọc ở từng bài. Đọc kĩ bài tập đọc sắp dạy, trao đổi học
tập cách dạy của đồng nghiệp, dự kiến các tình huống học sinh sẽ mắc phải và cách
sửa các tình huống đó.
+ Tìm hiểu kĩ nội dung bài để hiểu được các biện pháp nghệ thuật tác giả đã
dùng, từ đó xác định cách đọc đối với từng đoạn, từng bài để thể hiện đúng tình cảm
của từng bài.
+ Nắm vững hệ thống câu hỏi trong bài tập đọc, đưa ra thêm những câu hỏi dẫn
dắt để giúp học sinh phân tích, khai thác nội dung.
Biện pháp thứ ba: Giáo viên cần đọc mẫu diễn cảm:
Việc đọc mẫu của giáo viên là cần thiết vì muốn học sinh đọc đúng, đọc hay
giáo viên phải giới thiệu mẫu đúng. Lời đọc mẫu của giáo viên nhằm định hướng cho
học sinh đọc đồng thời giúp học sinh nhận thức đúng nội dung bài học. Nếu là văn bản
nghệ thuật còn có tác dụng khơi gợi hứng thú và sự tưởng tượng của học sinh – giúp
các em dễ đi vào thế giới của tác giả, tác phẩm dưới một ánh sáng hấp dẫn hơn. Với
văn bản nghệ thuật đọc mẫu của giáo viên là đọc diễn cảm. Còn văn bản thông thường
đọc mẫu là đọc đúng. Giáo viên đọc mẫu tốt, chuẩn mực thì không có gì đáng ngại nếu
như học sinh bắt chước thầy cô.
Đọc mẫu của GV bao gồm:
11
GV: Nguyễn Khắc Dũng – khacdung.thda@gmail.com
- Đọc toàn bài: Thường nhằm giới thiệu, gây xúc cảm, tạo hứng thú và tâm thế
học đọc cho HS.
- Đọc câu, đoạn: Nhằm hướng dẫn, gợi ý hoặc “tạo tình huống” để học sinh
nhận xét, giải thích nội dung bài đọc.
- Đọc từ, cụm từ: nhằm sửa phát âm sai và rèn cách đọc đúng cho học sinh
Vấn đề đặt ra trước tiên, để đọc mẫu tốt, giáo viên cần tìm hiểu và cảm thụ bài
văn, tìm hiểu bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh sáng tác, vị trí của tác phẩm, tác giả... tiếp
đến là việc tìm hiểu nội dung, hình thức bài đọc: thể loại, bố cục, kết cấu, nghệ thuật.
Hiểu được nội dung cảm thụ: cảm thụ sâu sắc, tính lôgic sẽ đọc diễn cảm tốt.
Giọng đọc hay sẽ bắt đầu với cảm xúc của lòng mình, người đọc phải nhập vai lúc đó
khả năng truyền cảm người nghe lớn hơn.
Ví dụ: * Bài “Người lính dũng cảm”
- Đoạn 1: Giọng đọc nhanh, thể hiện giọng đọc to, rõ ràng, dứt khoát. Đọc nhấn
giọng các từ ngữ thể hiện quyết tâm của viên tướng.
- Đoạn 2: Giọng kể nhẹ nhàng hơn.
- Đoạn 3, 4: Đọc nhấn giọng các từ ngữ thể hiện sự điềm tĩnh, kiên quyết của
thầy giáo trước thái độ im lặng của học sinh., “Hôm qua em nào phá đổ hàng rào, làm
giập hoa trong vườn trường...”
- Đoạn 5: Thể hiện giọng đọc thì thầm của chú lính “ Ra vườn đi”. Giọng dứt
khoát của viên tướng “ Về thôi!”; ...
Đọc thơ phải nắm vững đặc trưng của thơ. Đó là tiếng nói tình cảm mãnh liệt, là
sản phẩm của những rung động đột xuất, độc đáo, là kết tinh của
 









Các ý kiến mới nhất