Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Sáng Kiến Kinh Nghiệm KHTN 6

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 22h:28' 10-03-2026
Dung lượng: 3.8 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích: 0 người
PHỤ LỤC 1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁO BIỆN PHÁP
TÊN BIỆN PHÁP:

GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG THỰC TIỄN
LIÊN QUAN ĐẾN BÀI HỌC TẠO HỨNG THÚ
HỌC TẬP CHO HỌC SINH ĐỂ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ DẠY VÀ HỌC KHTN 6 PHẦN HÓA
LĨNH VỰC SÁNG KIẾN: GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Người thực hiện:
Đồng nghiên cứu (nếu có):
Chức vụ:
Đơn vị công tác:

tháng ..... năm ..

Contents

I. Chúng tôi gồm:...................................................................................................3
I. Chúng tôi gồm:...................................................................................................3
II. Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến:.....................................................3
II. Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến:.....................................................3
II. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục và đào tạo III. Thực trạng khi áp dụng
sáng kiến................................................................................................................3
II. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục và đào tạo III. Thực trạng khi áp dụng
sáng kiến................................................................................................................3
IV. Bản chất của biện pháp....................................................................................5
IV. Bản chất của biện pháp....................................................................................5
1. Tính mới và tính sáng tạo của đề tài..............................................................5
1. Tính mới và tính sáng tạo của đề tài..............................................................5
2. Nội dung các biện pháp của tác giả đã thực hiện..........................................6
2. Nội dung các biện pháp của tác giả đã thực hiện..........................................6
3. Hiệu quả của biện pháp...............................................................................12
3. Hiệu quả của biện pháp...............................................................................12

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------------- 
BÁO CÁO BIỆN PHÁP
Kính gửi: ………………………. (nếu là sáng kiến cấp cơ sở thì ghi: Kính gửi Hội

đồng khoa học ngành Giáo dục và Đào tạo Cao Bằng; nếu là sáng kiến cấp tỉnh thì ghi: Kính
gửi Hội đồng sáng kiến tỉnh Cao Bằng)

I. Chúng tôi gồm:
Số
T
T

Họ và
tên

Ngày
thán
g
năm
sinh

Nơi công
tác
(hoặc nơi
thường
trú)

Chức
danh

Trình
độ
chuyên
môn

Tỷ lệ (%) đóng góp
vào việc tạo ra sáng
kiến
(ghi rõ đối với từng
đồng tác giả, nếu có)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II. Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến:
GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN BÀI HỌC
TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY
VÀ HỌC KHTN 6 PHẦN HÓA

II. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục và đào tạo
III. Thực trạng khi áp dụng sáng kiến

Trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy rằng: Kiến thức của học sinh còn hời
hợt, thiếu vững chắc, chưa liên hệ với thực tế sinh động của sản xuất và đời sống.
Nhiều học sinh chưa nắm chắc các khái niệm Khoa học tự nhiên cơ bản, chưa hiểu
được các hiện tượng Khoa học tự nhiên thông thường xảy ra trong đời sống và sản
xuất, học sinh chưa biết liên hệ với kiến thức đã học để giải thích. học sinh tiếp thu
kiến thức ở lớp còn thụ động, ít suy nghĩ về bài học, thuộc bài một cách máy móc, nên
còn lúng túng khi phải độc lập vận dụng kiến thức của mình. Về nhà học sinh học bài
còn nặng về học thuộc lòng.
Giáo viên ít liên hệ kiến thức Khoa học tự nhiên với thực tế trong dạy học. Do
cách thi cử có ảnh hưởng quan trọng tới cách dạy vì trong các kì kiểm tra, kì thi không
yêu cầu có nhiều câu hỏi có nội dung gắn với thực tế. Do vậy, đa số giáo viên chỉ đưa
những kiến thức Khoa học tự nhiên thực tế vào các hoạt động ngoại khóa, còn những
tiết học tuyền thụ kiến thức mới thì ít đưa vào hoặc tiết luyện tập, ôn tập, tổng kết
chuẩn bị cho các kì kiểm tra thì giáo viên chỉ tập trung các kĩ năng khác có nội dung
thuần túy Khoa học tự nhiên để có thể đáp ứng được yêu cầu của bài kiểm tra.
Chính vì thế vốn hiểu biết thực tế của học sinh về các hiện tượng có liên quan
đến Khoa học tự nhiên trong đời sống hàng ngày còn ít. Để đánh giá thực trạng của

việc sử dụng các vấn đề thực tiễn trong dạy học môn Khoa học tự nhiên để phát triển
năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh của giáo viên ở trường THCS
…………………, tìm hiểu về nhận thức và biện pháp phát triển năng lực giải quyết
vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức Khoa học tự nhiên vào thực tiễn cho học sinh
trong trường, tôi đã tiến hành nghiên cứu thực trạng bằng cách phỏng vấn và điền
phiếu khảo sát như sau:
- Đối tượng điều tra: GV dạy bộ môn Khoa học tự nhiên trường THCS
…………….. và học sinh khối 7 thuộc trường THCS ………………….
- Nội dung điều tra: Nội dung điều tra được thể hiện ở phiếu điều tra (Phụ lục 1
và phụ lục 2) và tập trung vào các vấn đề:
- Ý kiến của giáo viên về việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề, năng lực
vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh và những biện pháp sử dụng để phát
triển năng lực này trong dạy học môn Khoa học tự nhiên.
- Mức độ đạt được của năng lực giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức
vào thực tiễn của học sinh tại lớp mình dạy và những khó khăn, thuận lợi của việc xây
dựng và sử dụng bài tập thực tiễn trong dạy học.
- Hứng thú của học khi giải quyết vấn đề thực tiễn có liên quan đến môn học
Khoa học tự nhiên.
- Ý kiến của học sinh về sự cần thiết của việc phát triển năng lực giải quyết vấn
đề, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn thông qua bài tập thực tiễn và thực trạng
năng lực năng lực giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của
mình.
- Phương pháp và tiến hành điều tra
Xây dựng phiếu điều tra: Dùng để điều tra cho 2 đối tượng là giáo viên và học
sinh trường THCS …………………...
Gặp gỡ, trao đổi trực tiếp và phát phiếu điều tra cho 5 giáo viên và 160 học sinh
khối 7 thuộc trường THCS ……………, thu phiếu điều tra, thống kê và nhận xét, đánh
giá kết quả điều tra.
- Đối với giáo viên
Thông qua việc dự giờ của một số giáo viên, thống kê kết quả các phiếu điều tra
thu được; kết quả được thể hiện ở các bảng sau:
Bảng 1. Kết quả điều tra tần suất sử dụng bài tập, tình huống thực tiễn của giáo viên
trong dạy học môn Khoa học tự nhiên tại trường.
Rất thường
Thường
Không bao
Ít khi
xuyên
xuyên
giờ
Kết quả
0/5
1/5
4/5
0/5
Phần trăm
0%
20%
80%
0%
Bảng 2. Kết quả điều tra nội dung sử dụng bài tập, tình huống thực tiễn của giáo viên
trong dạy học môn Khoa học tự nhiên tại trường.
Nghiên cứu
Ôn tập, luyện
Thực hành
Kiểm tra
bài mới
tập
Kết quả
1/5
4/5
3/5
0/5
Phần trăm
20%
80%
60%
0%
Bảng 3. Kết quả tìm hiểu những khó khăn của việc đưa kiến thức và bài tập thực tiễn
vào trong dạy học môn Khoa học tự nhiên đối với giáo viên
Nguyên nhân
Số GV
Tỷ lệ

Không có nhiều tài liệu
Mất nhiều thời gian tìm kiếm, biên soạn
Thời gian tiết học còn hạn chế
Trình độ học sinh còn hạn chế nên khó giải quyết vấn đề
Còn ít câu hỏi, bài tập thực tiễn trong các kì thi
Giáo viên chưa nắm rõ các dạng bài tập thực tiễn

1/5
4/5
0/5
1/5
3/5
0/5

20%
80%
0%
20%
60%
0%

- Đối với học sinh
Tôi đã gửi phiếu điều tra học sinh (phụ lục 2) tới 200 học sinh lớp 7 thuộc
trường THCS …………….., thu được kết quả sau:
Bảng 4. Kết quả điều tra hứng thú của học sinh khi có yêu cầu giải quyết vấn đề liên
quan đến thực tiễn trong môn Khoa học tự nhiên.
Thích
Bình thường
Không thích
Kết quả
154/200
37/200
9/200
Phần trăm
77,0%
18,5%
4,5%
Bảng 5. Kết quả điều tra ý kiến của học sinh về sự cần thiết của kiến thức và bài tập
thực tiễn trong dạy học Khoa học tự nhiên
Rất cần thiết
Cần thiết
Không cần thiết
Kết quả
131/200
64/200
5/200
Phần trăm
65,5%
32,0%
2,5%
Qua số liệu ở các bảng thu được, tôi nhận thấy:
- Trong quá trình hình thành kiến thức mới, giáo viên chỉ tập trung vào các kiến
thức và kĩ năng cần nắm trong bài học để phục vụ cho kiểm tra, thi cử mà chưa thực sự
chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng và phát triển năng giải quyết vấn đề, vận dụng
kiến thức Khoa học tự nhiên vào thực tiễn cho học sinh.
- Hầu hết giáo viên đều đánh giá cao về hiệu quả của việc sử dụng kiến thức và
bài tập thực tiễn để phát triển năng lực cho học sinh tuy nhiên, chỉ có 20% giáo viên
thường xuyên áp dụng vì việc sử dụng chúng còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế bởi
tốn nhiều thời gian để tìm hiểu và biên soạn hệ thống kiến thức và bài tập loại này
cũng như các bài tập đó chưa có nhiều trong các câu hỏi ở mức độ phân hóa học sinh
trong các kì kiểm tra, thi cử.
- Đa phần các em có nhu cầu và hứng thú với kiến thức đặc biệt là những kiến
thức có thể giúp các em vận dụng để giải quyết các vấn đề trong học tập của bản thân
và để giải thích các hiện tượng trong thực tiễn. Hầu hết các ý kiến của học sinh cho
rằng cần thiết phải có hệ thống lí thuyết và bài tập thực tiễn trong dạy và học môn
Khoa học tự nhiên.
- Kết quả trên cho thấy việc sử dụng hệ thống kiến thức và bài tập thực tiễn rất
có ý nghĩa, sẽ góp phần nâng cao năng lực giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến
thức Khoa học tự nhiên vào thực tiễn của học sinh, chất lượng dạy và học môn Khoa
học tự nhiên ở trường Trung học cơ sở.

IV. Bản chất của biện pháp
1. Tính mới và tính sáng tạo của đề tài
Tính

mới:

Đề tài tập trung vào việc kết nối kiến thức Hóa học với các hiện tượng thực tiễn trong
đời sống hằng ngày. Điều này giúp học sinh không chỉ nắm bắt lý thuyết mà còn hiểu

rõ cách thức áp dụng kiến thức đó vào thực tế. Khác với phương pháp dạy học truyền
thống, đề tài này hướng đến việc xây dựng các tình huống học tập thực tiễn và gắn
liền với các vấn đề thường gặp, từ đó kích thích sự tò mò và hứng thú học tập của học
sinh lớp 6. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các công cụ và kỹ thuật mới như mô phỏng
số, thí nghiệm đơn giản tại nhà, hay các hoạt động tương tác, giúp học sinh học tập
một cách linh hoạt và trực quan hơn.
Tính

sáng

tạo:

Đề tài áp dụng các hiện tượng quen thuộc như quá trình oxy hóa, hiện tượng lên men,
hay các phản ứng hóa học đơn giản (như phản ứng tạo khí CO₂ từ giấm và baking
soda) để tạo nền tảng kiến thức cho học sinh. Qua đó, học sinh có thể tự khám phá và
lý giải các hiện tượng khoa học thông qua thí nghiệm và hoạt động thực hành. Bên
cạnh đó, đề tài kết hợp giữa dạy học dựa trên tình huống và phương pháp STEM,
không chỉ tập trung vào lý thuyết mà còn khuyến khích học sinh tham gia thực hành,
làm việc nhóm và giải quyết vấn đề thực tiễn, từ đó phát triển tư duy phản biện và kỹ
năng hợp tác. Để tăng tính sáng tạo, đề tài sử dụng các hoạt động như thảo luận
nhóm, trò chơi hóa học, và chế tạo sản phẩm đơn giản, giúp học sinh có cơ hội tự
thiết kế các thí nghiệm hoặc mô hình minh họa các hiện tượng hóa học, từ đó phát
huy tính sáng tạo và sự chủ động trong học tập.

2. Nội dung các biện pháp của tác giả đã thực hiện
Một trong những biện pháp phát triển năng lực GQVĐ hiệu quả nhất cho HS là
phát triển cho HS khả năng vận dụng kiến thức từ môn học để giải quyết những vấn
đề thực tiễn có liên quan, đôi khi từ những vấn đề thực tiễn sau khi HS giải quyết, HS
tự tìm hiểu được những kiến thức mới của môn học. Đó là lí do tôi đưa ra một số biện
pháp sau:
Biện pháp 1. Xây dựng các câu hỏi có nội dung thực tiễn vào trong bài học
Các câu hỏi có thể được thể hiện trong các hoạt động dạy học khác nhau như
nghiên cứu xây dựng kiến thức mới; củng cố, vận dụng kiến thức;
ôn tập; hoặc kiểm tra đánh giá…
Trong đó, có thể có các loại yêu cầu như:
+ Yêu cầu học sinh phải nhận biết kiến thức có liên quan và sử dụng để giải
thích sự vật hiện tượng.

+ Yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức để đưa ra một phương án giải
quyết, cách làm đáp ứng được yêu cầu đề ra…
Ví dụ minh họa:
Chủ đề 3: Oxygen và không khí
? Trong các hồ nuôi tôm, cá, hải sản… người ta lắp đặt thêm các quạt nước.
Việc này có ý nghĩa gì?
? Bạn An để một con dế nhỏ trong hộp thủy tinh với một ít cỏ và nước, đậy kín
hộp thì sau vài ngày con dế chết dù lượng cỏ và nước vẫn còn. Hãy giải thích vì sao?
? Các vận động viên khi leo lên các đỉnh núi cao thường mang theo các bình
dưỡng khí Oxygen. Em hãy giải thích tại sao như thế?
? Tại sao động vật sống dưới nước dễ gặp phải tình trạng thiếu khí oxi hơn động vật
sống trên cạn? Vì sao vào những ngày nắng nóng, nhiệt độ cao, cá thường phải ngoi
lên mặt nước?
? Em hãy đề xuất một số việc làm của em hoặc bạn bè, gia đình để hạn chế ô
nhiễm không khí tại nhà trường và gia đình, khu dân cư nơi em sinh sống.
? Muốn dập tắt ngọn lửa do xăng, dầu cháy, người ta thường trùm vải dày, hoặc
phủ cát lên ngọn lửa, mà không dùng nước. Giải thích?
Chủ đề 4: Một số vật liệu, nhiên liệu, nguyên liệu, lương thực – thực phẩm
thông dụng; tính chất và ứng dụng của chúng
? Nếu phải sử dụng bếp than tổ ong thì cần chú ý những gì? Có nên dùng bếp
than tổ ong để sưởi ấm phòng ngủ không? Vì sao?
? Em hãy đề xuất một số biện pháp để phòng bệnh béo phì.
Chủ đề 5: Chất tinh khiết-hỗn hợp
? Em cần làm gì làm 1 cốc nước bẩn trở thành 1 cốc nước tinh khiết có thể uống
được?
? Trong những truyện cổ tích mà em biết, thì truyện nào có hoạt động phân loại
các vật bị trộn lẫn?
Biện pháp 2. Xây dựng các bài tập, tình huống có nội dung thực tiễn vào
trong bài học
- Sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học giúp HS nắm vững kiến
thức, hình thành và phát triển các kĩ năng trong học tập khoa học.

- GV cũng cần sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học mà ở đó học sinh
được đặt vào tình huống thực tiễn.
- HS thông qua các bài tập, tình huống được tự mình trải nghiệm, lĩnh hội kiến
thức và giải quyết vấn đề thực tiễn thông qua kiến thức đã học, qua đó vừa chiếm lĩnh
được kiến thức khoa học, vừa có thể giải thích được các vấn đề thực tiễn địa phương
liên quan hoặc đánh giá các vấn đề thực tiễn, đề xuất các biện pháp khả thi để giải
quyết vấn đề.
Ưu điểm của các phương pháp dạy học này là trong giờ học giáo viên đã tạo
được hứng thú cho người học, kích thích sự ham muốn được khám phá cho người học,
giáo viên chủ động trong việc tổ chức dạy học và không mất nhiều thời gian.
Hạn chế của biện pháp dạy học này là người học cần phải có khả năng liên
tưởng, quan sát, tư duy trừu tượng và khái quát hóa tốt; một số vấn đề thực tiễn tích
hợp nhiều kiến thức liên quan nên mất nhiều thời gian để giải thích, chứng minh.
Một số ví dụ minh họa:
Ví dụ 1: Dạy học bằng tình huống có vấn đề
Chủ đề 3: Oxygen và không khí
? Thường xuyên tiếp xúc với oxi em hãy cho biết oxygen có màu, mùi, vị gì?
? Biết rằng oxygen là chất ít tan trong nước, hãy giải thích vì sao trong các bể cá
cảnh thường có máy quạt khí (máy sục khí)?
?Tại sao các nhà leo núi phải mang bình oxygen, thợ lặn phải mang bình dưỡng
khí?
?Em có thể nín thở trong bao lâu, có thể ngưng hô hấp được không?
Chủ đề 4: Một số vật liệu, nhiên liệu, nguyên liệu, lương thực – thực phẩm
thông dụng; tính chất và ứng dụng của chúng
?Nhà em dùng loại nhiêu niệu nào để nấu cơ và nó thuộc loại nhiên liệu gì? Vì
sao?
?Khi đốt 1 que diêm thì em có nhưng hiện tượng gì xảy ra?
Ví dụ 2: Dạy học bằng bài tập thực nghiệm
Chủ đề 5: Chất tinh khiết-hỗn hợp
“Xử lý nước giếng khoan tại các vùng nông thôn”
Ở các vùng nông thôn nước ta, người dân thường sử dụng nước giếng khoan, giếng
đào làm nước sinh hoạt. Tuy nhiên, các nguồn nước này thường bị nhiễm phèn và
một số tạp chất này ra khỏi nguồn nước?

Để loại bỏ những tạp chất ra khỏi nước giếng khoan, người ta sử dụng hệ thống
lọc gồm nhiều cột lọc, có khả năng giữ các chất bẩn và tạp chất trong nước .
Biện pháp 3. Xây dựng dự án
Học sinh được trải nghiệm ngoài thực tiễn thông qua thực hiện các dự án. Qua
dự án, học sinh vừa chiếm lĩnh kiến thức vừa phát triển được các kĩ năng khoa học, kĩ
năng giải thích các vấn đề trong thực tiễn đồng thời phát triển các kỹ năng về hoạt
động nhóm, giao tiếp nâng cao khả năng tư duy trong HS.
Ví dụ minh họa:
TỰ LÀM SỮA CHUA
❖ THIẾT BỊ, DỤNG CỤ
-Sữa tươi 1lít, 1 hộp sữa chua.
- Dụng cụ ủ sữa chua :nồi cơm điện
- Đũa, hộp đựng sữa chua thành phẩm, môi múc
❖ NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC TRỌNG TÂM VÀ XÂY DỰNG BẢN
THIẾT KẾ 
- Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh:
Nghiên cứu kiến thức trọng tâm: lên men lactic
Xây dựng bản thiết kế quy trình làm sữa chua
Lập kế hoạch trình bày và bảo vệ bản thiết kế.
- Học sinh thực hiện nhiệm vụ theo nhóm:
Tự đọc và nghiên cứu sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo, tìm kiếm thông
tin trên Internet…
Đề xuất và thảo luận các ý tưởng ban đầu, thống nhất một phương án thiết kế
tốt nhất.
Xây dựng và hoàn thiện bản thiết kế làm sữa chua.
Lựa chọn hình thức và chuẩn bị nội dung báo cáo.
- Giáo viên quan sát, hỗ trợ học sinh khi cần thiết.
❖ TRÌNH BÀY BẢN THIẾT KẾ
- Giáo viên đưa ra yêu cầu về:
Nội dung cần trình bày.

Thời lượng báo cáo.
Cách thức trình bày bản thiết kế và thảo luận.
- Học sinh báo cáo, thảo luận.
- Giáo viên điều hành, nhận xét, góp ý và hỗ trợ học sinh.
❖ THỬ NGHIỆM LÀM SỮA CHUA
- Học sinh sử dụng các nguyên vật liệu và dụng cụ (Sữa tươi, hộp sữa chua
vinamilk,…) để tiến hành chế tạo sữa chua theo bản thiết kế.
- Trong quá trình thực hiện các nhóm đồng thời thử nghiệm và điều chỉnh.
- Giáo viên quan sát, hỗ trợ học sinh nếu cần.
❖ TRÌNH BÀY SẢN PHẨM SỮA CHUA
- Giáo viên giao nhiệm vụ: các nhóm trình diễn sản phầm trước lớp và tiến hành
thảo luận, chia sẻ.
- Học sinh trình bày sữa chua, ăn thử để đánh giá.
- Các nhóm chia sẻ về kết quả, đề xuất các phương án điều chỉnh, các kiến thức
và kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thiết kế và chế tạo sữa chua.
- Giáo viên đánh giá, kết luận và tổng kết.
Biện pháp 4. Xây dựng mô hình Giáo dục STEM – STEM Education
Giáo dục liên môn kết hợp linh hoạt giữa việc giảng dạy kiến thức và rèn luyện
kỹ năng thực hành. Với mô hình giáo dục STEM, học sinh sẽ được áp dụng những lý
thuyết đã học về khoa học, kỹ thuật, công nghệ, toán học vào thực tế thông qua việc
giải quyết những vấn đề cụ thể. Điều này khiến những kiến thức đã học được ghi nhớ
và vận dụng một cách linh hoạt trong thực tiễn đời sống. Ngoài việc kết hợp giữa lý
thuyết và thực hành, thông qua mô hình giáo dục STEM sẽ góp phần vào việc giáo
dục, phát triển các kỹ năng cho học sinh như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết
vấn đề, kỹ năng tư duy – phản biện, kỹ năng làm việc cá nhân và làm việc nhóm,…
Những kỹ năng quan trọng này không chỉ giúp học sinh hoàn thành môn học mà còn là
trang bị cho cho các học sinh nền tảng vững chắc cho công việc và cuộc sống sau này.
Ví dụ minh họa:
THIẾT KẾ DỤNG CỤ TẬP THỂ DỤC TẠI NHÀ TỪ VẬT LIỆU CÓ SẴN

Xác định chủ đề: Việc tự thiết kế dụng cụ tập thể dục tại nhà trong lớp học là
một hoạt động tạo nên nhiều hứng thú, thu hút sự quan tâm, khơi gợi mong muốn tự
tìm tòi, chế tạo của HS.
Xây dựng tiêu chí:
– Có khả năng sử dụng.
– Sử dụng các nguyên liệu rẻ tiền, có thể tái chế.
– Trọng lượng, kích thước phù hợp với ban thân
– Chi phí sản xuất hợp lí.
Xây dựng kế hoạch: Để thực hiện được dự án này, HS sẽ cần tự mình chiếm
lĩnh các kiến thức:
– Các đơn vị đo và dụng cụ thường dùng để đo thời gian (chủ đề 2).
– Vật liệu để làm( chủ đề 4 ).
– Các kiến thức về tính toán về đường tròn và góc trong đường tròn (Toán học);
– Lắp ráp mô hình kĩ thuật (Kĩ thuật lớp 5).
Tiến hành thực nghiệm: Sau khi hoàn thiện kế hoạch bài dạy chủ đề STEM:
Thiết kế dụng cụ tập thể dục tại nhà từ vật liệu có sẵn. GV tiến hành thực nghiệm trên
3 lớp là 6/2 và 6/5 của trường ................................................, năm học 2022 – 2023
Mục tiêu

MÔ HÌNH MÁY LỌC NƯỚC

- Làm thành công mô hình máy lọc nước
- Chỉ ra nguyên lí của máy lọc nước
- Phân biệt được các phương pháp tách chất: cô cạn, lọc, chiết
Chuẩn bị
- Than hoạt tính
- Cát đã rửa sạch
- Sỏi nhỏ đã rửa sạch
- Nước chứa nhiều cặn bẩn
- Giấy xé nhỏ
- 1 chai nhựa cắt phần trên
- 1 chai nhựa cắt đáy và nắp chai đục lỗ
- Thìa
Tiến hành
Bước 1: Cho nắm giấy xé nhỏ vào miệng chai bị cắt đáy và đóng nắp lại.

Bước 2: Nắp cột lọc nước. Đặt 2 chai nhựa đã chuẩn bị sao cho miệng chai
nhựa cắt đáy úp vào chai bị nhựa cắt phần trên
Bước 3: Chuẩn bị cột lọc nước. Cho từng lớp vào theo thứ tự: 
 

+ Cát

 

+ Than hoạt tính

  

+ Cát

  

+ Sỏi nhỏ
Bước 4: Đổ nước bẩn vào

Thu hoạch
- Nước bẩn len lỏi qua các kẽ hở và chảy xuống dưới
- Nước thu được ở đáy chai trong hơn nhiều so với nước bẩn ban đầ

3. Hiệu quả của biện pháp
Biện pháp nêu trên đã được áp dụng tại ................................................. \
Kết quả cho thấy đã giúp học sinh HS xác định đúng đắn mục tiêu học tập; lập kế
hoạch và thực hiện cách học; và đánh giá, điều chỉnh cách học nhằm tự học và tự
nghiên cứu một cách hiệu quả và có chất lượng.
HS phát hiện và làm rõ được vấn đề; đề xuất, lựa chọn, thực hiện và đánh giá
được các giải pháp giải quyết vấn đề; nhận ra, hình thành và triển khai được các ý
tưởng mới; và có tư duy độc lập.
HS có khả năng sử dụng và quản lí các phương tiện, công cụ của công nghệ
thông tin phù hợp chuẩn mực đạo đức để phát hiện và giải quyết vấn đề trong môi
trường công nghệ tri thức; học tập, tự học và hợp tác.
HS phân tích phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập môn
KHTN. Xác định được và đề xuất được giải pháp giải quyết vấn đề đã phát hiện.
Học sinh yêu thích môn KHTN hiểu được ứng dụng các kiến thức đã học trong
thực tiễn cuộc sống.
Học sinh được định hướng nghiên cứu khoa học và tham gia vào nghiên cứu
khoa học để nâng cao kiến thức, nuôi dưỡng đam mê, năng lực nghiên cứu khoa học từ
THCS.
Tạo mối liên kết trách nhiệm trong đào nghiên cứu khoa học của toàn xã hội, tạo

ra một hệ sinh thái giáo dục toàn diện từ thầy cô, gia đình, nhà trường, các nhà quản lý
giáo dục, các cơ sở đào tạo,...
Sau một thời gian áp dụng biện pháp ở các lớp 6/2 và 6/5 trong năm học 2022 –
2023, thu được kết quả như sau:
Bảng 1. Kết quả khảo sát, đánh giá mức độ yêu thích môn KHTN
STT

Lớp

Tổng số
HS

1

6/2

45

9

20%

27

60%

2

6/5

45

12

26.67%

37

82.22%

90
80
70
60
50
40
30
20
10
0

Trước khi áp dụng
biện pháp

Sau khi áp dung
biện pháp

82.22
60

26.67

20

Lớp 6/2

Trước

Sau

Lớp 6/5

Hình 1. Kết quả khảo sát, đánh giá mức độ yêu thích môn KHTN
Kết quả khảo sát trước và sau khi thực hiện giải pháp ở lớp 6/2 và 6/5 cho thấy,
số lượng học sinh yêu thích môn KHTN có thái độ học tập tích cực và khả năng giải
quyết tình huống thông qua các bài học có xu hướng tăng lên rõ rệt
Bảng 2. Khảo sát mức độ tiến bộ trong học tập của học sinh

STT

Lớp

Tổng
số
HS

Trước khi áp dụng
sáng kiến

Sau khi áp dụng
sáng kiến

Giỏi

Khá

Trung
bình

Yếu

Kém

Giỏi

Khá

Trung
bình

Yếu

Kém

1

6/2

45

28.26
%

36.96
%

21.74
%

13.04
%

0%

30.43
%

45.65
%

23.91
%

0%

0%

2

6/5

45

38.3
%

36.17
%

10.64
%

10.64
%

4.26
%

40.43
%

31.91
%

27.66
%

0%

0%
 
Gửi ý kiến