Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

THỜI XA VẮNG

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 13h:56' 20-02-2024
Dung lượng: 763.3 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Mục lục
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13

THỜI XA VẮNG
Lê Lựu
dtv-ebook.com
Chương 1
Làng bập bềnh như trôi trong đêm sương muối. Những cây cau thẳng
đuột cao vóng như chỉ chực lao thẳng đến tận trời chìm ngập giữa âm thầm
giá lạnh. Đã năm đêm nay sương làm táp đen những luống khoai lang và
những cây đòn tay bằng tre ngâm nổ toang toác. Nhưng có lẽ đêm nay cái
lạnh mới thấu từng khớp xương ông đồ Khang. Từ trưa hôm qua đến giờ
chưa có hạt gì vào miệng, ông cứ siết mãi sợi dải rút như dính ệp vào
xương sống. Sau khi đã trút nỗi uất giận lên đầu thằng con trai út, thằng
Sài, ông thấy tủi phận và bây giờ sự trống trải giá buốt như từ giữa ruột mà
tràn ra. Ông lẩy bẩy đứng dậy. Lần ra đầu ngõ, lặng lẽ đứng giữa sương
giá, một thoáng tái tê cám cảnh phận mình, ông phải đưa bàn tay xương xẩu
bấu vào thân cây ổi trước cổng. Nhưng cơn giận vẫn chưa thể nguôi, nề
nếp và danh dự vẫn như sợi dây đay xiết chặt, ông trở lại nhà, ngồi xuống
chỗ cũ. Chiếc tràng kỷ lạnh toát như có ai vừa dội nước. Nếu cách đây
mấy phút ông muốn thốt lên: "Liệu bây giờ nó ở đâu, rét mướt thế này" thì
bây giờ nỗi hậm hực lại muốn trào ra: "Cho mày chết, cá không ăn muối cá
ươn. Trời ơi mặt mũi nào ăn nói với người ta". Thằng Sài đuổi vợ nó đi,
nhưng việc ấy đâu có phải là của nó.
Quả có thế, thằng Sài chỉ biết có hai việc: đi đánh trận giả và học, nó
không thể ý thức được là nó đã có vợ, mặc dù nó vẫn đỏ mặt lên khi có
người hỏi: "Cu Sài, vợ mày đâu". Hơn một năm nay sự có mặt của con bé
ấy ở nhà này làm cu Sài có phần thích thú chỉ ở chỗ mỗi chiều nó ngồi
viết tập và làm tính đã có người quét sân và cái ngõ dài thăm thẳm. Nhưng
nó cũng uất ức vì tự nhiên có một con bé cứ theo nó kè kè để mách bố,
mách mẹ nó, nào những lúc đi đùa nó bôi nhọ hết mặt mũi giả làm Tây đen
ở đâu, lặn hụp xuống cái ao ngầu bùn của nhà chú Hà lúc nào và "Anh ấy
lại bảo bố con như lão hàng tre thầy mẹ ợ". Nỗi ẫm ức của thằng Sài cho
đến trưa nay mới bật ra. Nó đã hơn mười tuổi, lại con nhà nghèo nhưng là
con út, mọi việc đã có các chị dâu làm, khi các anh chị ra ở riêng, nó có vợ,

dù vợ chỉ lớn hơn nó ba tuổi, nhưng đã làm được các việc nặng của người
lớn, chẳng hạn như việc giã ngô bằng chày tay, nó chưa thể nhắc nổi cái
chày dài gấp hai người nó lên khỏi miệng cối thì vợ nó "con bé ấy" đã
thoăn thoắt giơ lên, rồi dồn sức giã vào giữa lòng cối vừa mạnh mẽ, vừa
như hút xoáy những hạt ngô ngâm trơn truội khỏi chao vọt ra ngoài. Giã
một đã khó "con bé ấy" giã đôi cũng dẻo và tiếng chày thình thịch nghe
chắc như sức giã của người lớn. Mỗi buổi, khi ánh nắng từ trong nhà ra
chớm đầu hàng gạch bó thềm, dù làm bài hay chơi đùa ở đâu, cu Sài cũng
chạy về vớt ngô ngâm trong nước sôi từ tối hôm trước để róc nước rồi
lảng vảng ở đâu đó đợi khi có tiếng gọi "Đâu về mà gạt ngô", cu Sài lẳng
lặng đi vào đặt quyển sách tính ở trong lòng, mắt cụp xuống gờm gờm,
lặng lẽ ngồi vào chiếc chổi lúa, mặt cuẫn cắm nghiêng xuống phía ngoài
miệng cối. Khi ấy ngô đã dập đôi, giập ba, tiếng chày đã chắc lại. Không
nhìn chỉ cần nghe tiếng chày, Sài vuốt nhẹ vòng quanh miệng, đủ để cho
những mảnh to, đều đặn chảy xuống rồi nhanh chóng rút tay lên thành và
lại tiếp tục mỗi khi nghe tiếng "thịch". Ngô nục, "nó" dựng chày ngồi
xuống dần bột còn Sài lặng lẽ đứng dậy ra cửa đọc sách. Khi nghe tiếng
chày gõ vào miệng cối như kiểu phó cả lò rèn dạo búa trên đe, Sài lại lặng
lẽ đi vào, ngồi xuống chỗ cũ làm phận sự ở lượt thứ hai, rồi lượt ba cho
đến khi chỉ còn những hạt tấm tròn bóng toen hoen trong lòng cối thì Sài
hết phận sự, lặng lẽ đứng dậy. Ra đến cửa, nó chạy oà đi như con gà, con
ngan vừa bị nhốt ra khỏi lồng.
Trưa nay không hiểu vì sao con bé lại giã trẹo vào tay thằng Sài. Sài
hoảng hốt kêu "ối" một tiếng bao nhiêu nỗi ẫm ức vốn tích tụ sẵn, nó vừa
thu cái tay đau vào bụng vừa vung tay lành thụi vào mặt "vợ" nó. Con bé
không lùi, không giơ tay đỡ, cứ đứng trân trân hứng chịu những câu xỉ vả
của thằng Sài. Một lúc sau cái tay đã dịu đi, nỗi ấm ức cũng đã hả, và thằng
Sài thấy mệt bã bời, nó rấn lên nhưng không đánh mà nói câu đầy oai vệ
để rút cửa cho đỡ ngượng "Bố mày đến đây cũng đếch sợ, ông huých cho
chó nó cắn lồi mắt bố mày ra". Thằng Sài không ngờ cái câu nói đó lại làm
ông đồ Khang bố nó đau đớn uất giận đến thế. Khoảng xế trưa ông mới
bán xong mấy cây tre từ quán hàng Táo trở về. Như mọi bữa, ông vẫn thấy
Tuyết, con dâu ông lọc vôi, bắc nồi rồi tiếng đũa cả đánh bột nghe quàm
quạp như đã nhìn thấy nồi bánh đúc ngô vàng ngậy quánh dẻo ở trước mặt.
Lệ thường sau những tiếng hối hả ấy, nó rụi lửa, gon miệng nồi, úp vung
ẳ

lại và tiếng lách cách của bát đũa đặt ở mâm. Thấy ắng lặng hẳn đi, ông đã
định hút xong điếu thuốc lào đứng dậy gọi thằng Sài về và ngầm ý nhắc
nhở con dâu dọn cơm quàng lên, ông đói muốn lả đi rồi. Năm hết, tết đến,
mỗi ngày giữ được một bữa bánh đúc ngô thế này đã khó. Trưa qua có
khách ông phải nhường bát, sáng nay lại thay bà ấy vác mấy đoạn tre đi
chợ, trở về, hai chân đã run run. Vừa nhả hơi thuốc ông vừa quay ra cửa
thấy con dâu ông giàn giụa nước mắt, cắp gói quần áo mếu máo "Con xin
thầy mẹ con về nhà con". Con bé kể rành rọt và khúc triết sự tình xảy ra.
Càng nghe, mặt ông càng tối rầm lại. "Thôi thầy xin con, con cứ ở nhà".
Nhưng con bé nhất quyết ra đi, đi một cách bình thản, tự tin và bất chấp
lời can gọi vừa tha thiết vừa có phần gắt xẵng của ông.
Thằng Sài được người mách bảo, che chắn ông đồ Khang không tìm
thấy nó. Ông gọi tất cả con dâu, con giai kể cả anh Tính là cán bộ của
phòng thuế nông nghiệp huyện học ba tháng trên tỉnh vừa dắt chiếc xe đạp
vê, ông đã bắt vứt đi từng nhà tìm thằng Sài. "Không có con thì đừng" - "Ai
thấy nó đầu làm ơn mách tôi. Thằng này mà sống, cả nhà tôi chết đứng vì
nó".
Bằng cách nào đó thằng Sài nghe thấy tất cả lời lẽ có khi còn nghiêm
trọng hơn sự uất hận của ông đồ. Trời chạng vạng tối nó vuột ra cánh
đồng. Nhờ sương hôm xuống dày đặc, chỉ chạy cách rặng tre chừng dăm
chục bước đã thấy mờ mịt, nhưng tiếng ồn ào phía trong vẫn vọng lên,
muốn oà toá theo. Có lẽ ai trông thấy nó ư? Nó chạy sấp ngửa trên những
thửa ruộng mới cày vỡ, những sá cày đất gan trâu lật lên như những cánh
phản rắn bóng nhếnh nháng. Chốc chốc vấp ngã, mặt nó đập vào đá, đau
đến nỗi chỉ thấy nước mắt ứa ra mà không sao dậy nổi. Nó nằm úp mặt vào
đất, nước mắt thấm xuống làm tảng đất cầy nhão ra, da mặt nó cứng lại,
dính ập vào hòn đất mới cày vỡ. Nhưng rồi nó vẫn phải cố bò dậy lấy sức
chạy, vừa thở vừa chạy, vừa nghiến răng nén đau mỗi lần vấp ngã. Mãi đến
khi không thể đứng dậy được và có lẽ đã xa lắm rồi, không ai còn đuổi
được, nó mới nằm lại chỗ đống cỏ gà, cỏ gấu nhà ai đốt dở từ hôm nào,
không còn lửa nhưng tro vẫn âm ấm. Nó lấy tay san đống tro lựa chỗ nằm
và vơ những vầng cỏ chưa cháy đắp lên đầu, lên lưng để không ai nhìn
thấy. Nằm chưa ấm chỗ lại nghe lao xao, tiếng gào kêu tên thằng Sài hoảng
hốt. Có cả tiếng anh Tính và chú Hà. Vẫn gần nhà quá. Nhưng nó mệt

muốn đứt hơi, không còn ngồi dậy được nữa. Nằng nghe tiếng gọi của chú
và anh, nó vừa mừng vừa thấy tủi thân, nước mắt ứa ra và mồ hôi cũng ướt
đầm chiếc áo cánh vải phin gụ. Một thoáng sau nó lại thấy run, khắp người
run bắn lên, nó vội vã cào cỏ, cào tro, cào đất gạt lên người, chỗ nào con
hở lạnh phải kéo cả tảng đất cày đắp lên, nó nằm cong như một con sâu đo
nằm nghiêng, thiếp đi trong nỗi hoảng sợ và đói mệt từ lúc nào không thể
biết.
Cái điều nó phấp phỏng chờ đợi đã không xảy ra. Anh Tính đã về và
chú Hà cũng đi tìm nó. Ôi, chú Hà! Nghe nói hồi cưới Sài, chú Hà không
lên vì chú không bằng lòng cho trẻ con lấy vợ. Hôm nay có chú, có nghĩa là
tội lỗi của Sài được che chở. Chỉ cần thấy chú không vui, cả nhà cả xóm sẽ
oà toá ra cánh đồng kêu la tìm kiếm. Người ta sẽ reo lên ngỡ ngàng khi tìm
ra nó và bế nó về xuýt xoa và mắng mỏ, sai khiến và giục giã nhau thay
quần áo, lấy khăn ướt lau mặt, dỗ dành chiều chuộng nó. Lúc ấy nó đã
khoẻ hẳn rồi, đã muốn nhỏm dậy làm lấy mọi việc nhưng mắt vẫn phải hơi
nhắm lại, miệng há ra thở, đôi môi khô lại, hai tay vẫn mềm oặt thõng
thượi theo những bàn tay nâng niu nắn bóp và vẫn phải thều thào đáp lại ú
ớ những câu gọi hỏi của mọi người. Cái phút thấp thoáng nghe tiếng của
anh, của chú, nó đã mừng đến ứa nước mắt, đã tủi thân giận dỗi đến run
lên.
Chính lúc ấy chú Hà hỏi, cái lời lạnh như đêm sương muối:
- Ai như anh Tính?
- Gì đấy? Ai hỏi gì.
- Tôi đây!
- A ông. Con tưởng ai. Con vừa mới về.
Đợi anh vội vã đến gần, đứng một đoạn tre cắm xuống đất và sẵn sàng
hứng đỡ mọi lời, ông Hà mới nói, giọng nhỏ, đã cố ghìm nỗi bực.
- Anh vô ý thức lắm!

- Dạ chú bảo..
- Thằng Sài đuổi vợ nó đi, đấy là việc của thằng trẻ con. Bố anh đánh
chửi thằng Sài, là việc của ông lão phong kiến hủ bại. Còn anh, anh là cán
bộ, gia đình anh là gia đình cách mạng, nếu ngày mai, ngày kia cả làng, cả
tổng đồn ầm ã rằng nhà anh Tính cán bộ huyện, cháu ông Hà bí thư chi bộ
xã cãi nhau, đánh nhau ầm ĩ suốt đêm thì anh còn mặt mũi nào nữa không?
Tôi cho anh lên công tác trên huyện cốt để anh có điều kiện học tập, được
chỉnh huấn cho nó mở mang, không ngờ anh vẫn...
- Cháu vừa về đến nhà đã thấy...
- Thấy thế nào, anh cũng phải trị thằng em anh không được hỗn. Tý tuổi
đầu đã mất đoàn kết với vợ con. Hỉ mũi chưa sạch đã lên mặt làm chồng
đánh chửi con người ta. Đấy là tôi chưa kể quyền nam nữ bình đẳng, nhà
nó mà kiện là mất hết, cả tôi, cả anh đeo mo vào mặt. Đứng trước việc đó
vai trò của anh, của người cán bộ hoạt động cách mạng để ở đâu? Lẽ ra,
phải biết giải thích đường lối chính sách cho bố mẹ anh thấm nhuần. Còn
thằng Sài phải cho nó vài cái bạt tai.
- Vâng.
- Nhưng có đánh nó thì cũng phải kín, kẻo người ta lại bảo cán bộ không
gương mẫu.
- Vâng.
- Nhưng mà... chủ yếu là đe nẹt rồi báo cho thầy giáo và phụ trách kiểm
điểm ở lớp, ở đội, đừng làm gì ầm ĩ lên.
Nói được đến đâu nỗi giận của chú hả vợi đến đấy. Tính không ngờ vì
thương em và vốn không ưa gì cái lề lối gia giáo của bố, anh đã hoảng hốt
đi tìm nó. Thấy anh hoảng, vợ anh cũng hoảng, mấy bà thím dù thực lòng
không để tâm lắm cũng giục giã con cái đi tìm anh Sài làm ồn ã cả một góc
xóm. Cái việc nhỏ ấy đã biểu hiện ý thức non nớt của anh, anh đã để chú
Hà cho rằng mấy tháng nay tuy đi học trên tỉnh nhưng anh vẫn chưa hề có
tiến bộ gì.

Anh lững thững đi về nhà, ngồi vào chiếc tràng kỉ âm thầm như một
bóng ma. Mãi mới ngẩng lên anh quát xuống bếp:
- Đi đằng nào, có châm hộ cái đèn không? Nhà cửa mù mịt lạnh lẽo như
nghĩa địa mà vẫn để được, tôi lạ thật.
Anh quát vợ. Không ngờ, nói vừa dứt đã thấy một ngọn lửa xoè lên ở
tràng kỷ bên kia. Bố đã ngồi lặng lẽ ở đấy khi nào. Ông lật bật nhắc bóng
đèn dầu, đặt ngang chiếc đóm tre ngâm đang cháy, gạt gạt ống muỗng cho
tàn than trên đầu bấc rời ra, kéo chiếc đóm lùi lại để ngọn lửa chèm lên
đầu muỗng và khi ngòi bấc nhú lên, bắt được ngọn lửa, ông chụp chiếc
bóng ngay ngắn rồi mới dụi đóm vào khe chiếc điếu bát. Tất cả cử động
ấy của ông của ông diễn ra một cách rụt rè và chậm, dường như nó là cái
cớ để ông nghĩ ra một điều gì đó, sẽ nói một lời nào đó với thằng con ông.
Vợ chồng ông có tám mặt con nhưng chỉ còn ba. Ba thằng con trai. Thằng
cả thì đần và đã ở chỗ khác, cả nó, cả ông đều thấy yên phận kẻ làm con và
người làm cha, không thấy phiền muộn trói buộc gì nhau. Thằng thứ hai,
anh Tính - ông vẫn quen gọi một cách vị nể mà lạnh nhạt ấy. Nó đã có vợ
và cũng đã ăn riêng, nhưng vẫn ở cùng nhà, quan trọng hơn, nó cùng hoạt
động với ông Hà, người em ruột ông. Nó với ông như hai đầu của sự đầy
vơi có thể san lấp cho yên bằng mỗi khi sóng gió. Ví như khi nó lén lút liên
lạc với ông Hà có bắt bớ, giam cầm thì nhờ vào sự quý trọng của ông, một
thầy đồ đã một thời nổi danh nhất thì ở vùng này, người ta đã cứu giúp nó.
Người ông phải chịu ơn nhiều là ông phó tổng Cự, bố vợ thằng Sài bây
giờ. Dăm bảy tháng nay hoà bình được lập lại có ai khinh rẻ những người
cổ hủ phong kiến thì vẫn phải nể ông, "ông cụ nhà anh Tính", "Cụ là anh
của ông Hà". Ông và nó đều có những đận khổ sở, khốn đốn về nhau
nhưng lại có lúc hãnh diện mừng thầm mình có thằng con (hoặc ông bố)
thức thời, chịu lấy vất vả gian truân mà học hành, hoạt động. Nhưng ông
và nó chưa mấy khi nói năng với nhau dễ dàng. Hai cha con vẫn như hai
người khách! Ngẫm kĩ, ông thấy nó cũng như vô số loại người khi hưởng
lộc do công lao người khác đem lại thì hỉ hả dễ chịu, còn lúc phải gánh xẻ
nỗi cay đắng với kẻ khác, dù đó là máu mủ ruột thịt, cũng thấy ngại, dễ nổi
xung và có quyền được xỉ vả hắt hủi kể yếm thế. Lẽ đời là thế nên nó sẵn
sàng bắt bẻ hạch sách ông theo cái lối của nó, gọi là phê bình. Nhưng ông
có lý của ông. Một nề nếp, một thói quen, một thông tục cha truyền con nối

từ mấy đời nay: con cái không được quyền muốn sao được vậy vì như thế
là trái với phép tắc gia phong. Nghĩ đến đây ông thấy mình có lý, thấy
vững tâm hơn, cũng lại thấy sự lặng lẽ của nó cứ lù lù mỗi lúc một trương
lên, đè trùm xuống cả ba gian nhà lạnh lẽo.
- Tôi thấy thầy nuông thằng Sài lắm rồi bây giờ mới khổ.
Nó định ăn nói kiểu gì thế này. Mặc dù kiểu gì ông cũng có cớ để bắt
chuyện với nó được dễ dàng.
- Anh bảo tôi sung sướng với thằng em anh lắm à?
- Nếu ngày nào thầy cũng đe nẹt nghiêm ngặt với nó thì đâu đến nỗi.
Thật lòng mỗi lần về nhà thấy thằng em vốn ham mê học hành mà cứ
mếu máo nước mắt ngắn, dài, về cái tội "cùng ăn, cùng làm" và chuyện trò
với "vợ", anh thấy tội nó quá. Hơn nữa, anh vẫn mang nỗi hận với nhà phó
Cự. Dù hắn đã xin cho anh được tha từ đồn Tây về nhưng nó vẫn thì thụt
tố giác, chỉ điểm bao nhiêu việc anh và cán bộ nằm vùng. Anh biết rằng
điều anh vừa nói không thật lòng với mình nhưng chú Hà đã bảo lúc này
phải hết sức tránh cái gì có thể làm ồn lên. Nhất là chú lại đang bực về việc
làm vô ý thức của anh.
Hơi ngỡ ngàng về sự đồng tình của con trong việc này, ông đồ đã thấy
yên tâm hơn rất nhiều. Nhưng đến khuya, thì xóm mạc lại xáo xác bởi
tiếng kêu khóc của bà đồ Khang.
Từ nửa đêm hôm qua bà phải đội lọ lục bình lên tận Đa Hoài mới cầm
đổi được lưng thúng gạo về chống đói. Về đến nhà đặt thúng xuống phản,
bà nằm luôn đấy thiếp đi. Ông đồ nhờ con dâu nấu cho nồi cháo. "Nấu
kha khá vào anh chị ăn một thể". Cháo chín, bà được lay dậy. Mắt nhắm,
mắt mở húp gần hết bát cháo bà mới nhận ra không có vợ chồng thằng Sài.
Bằng sự dồn hỏi hoảng hốt bà biết mọi sự xảy ra. Đặt bát cháo húp dở
xuống mâm bà lao ra sân ngửa mặt lên trời kêu than rồi sai con dâu đốt cho
bó đuốc bằng cây đay khô. Bà cầm đuốc vừa chạy vừa gọi con vừa kêu
giời đất, bất chấp cả mọi tai tiếng ảnh hưởng cả đến danh dự, uy tín mà
con trai ra sức gìn giữ. Bà chạy đi. Vợ Tính cũng phải chạy đi. Mấy đứa

cháu ruột cũng chạy đi. Sự hoảng sợ của bà cộng thêm nỗi huyên náo rất hệ
trọng của đám trẻ, làng Hạ Vị đêm nay sẽ vợi đi nỗi đói rét ra cánh đồng,
chỗ người ta xúm đông đặc quanh đống tro thằng Sài phủ lên người nó.
Đã qua cái đêm cả làng, cả xóm đổ đến xô đẩy nhau nhốn nháo ở ngoài
cổng và khi vào đến sân tất cả đều nghiêm trang nín thở để nghe tiếng gọi
dồn dập của không biết bao nhiêu người nêm chặt trong ba gian ông đồ
Khang.
Bảy vía ba hồn Sài ơi về với mẹ đi con" "Bảy vía ba hồn thằng Sài" ở
đâu thì về với bố, với mẹ Sài ơi". Những tiếng gọi hoảng hốt. Những ngón
tay bóp chặt lấy ngón tay cái và chí vào hai bên thái dương thằng Sài một
cách hoảng hốt. Những bát lông gà, bồ kết đốt khỏi sục vào mũi thằng Sài
môt cách hoảng hốt. Những đĩa rượu đốt cháy bùng xanh chườm tóc rối và
gói gừng giã nhỏ đánh trên lưng, trên ngực, trên tay thằng Sài một cách
hoảng hốt.
Cũng đã qua rồi những ngày cu Sài được vỗ về thương hại. Bảy tám
ngày sau, nói đúng ra chiều ngày thứ bảy, cu Sài đã chạy tuột ra khỏi cổng
nhập vào đám bạn để đọc truyện cho chúng nghe thì uy lực của bà đồ trong
mọi việc "lớn" của gia đình cũng có phần giảm bớt. Ông đồ trở lại phận sự
của ông. Người đàn ông trong nhà dù đần độn ngu si đến đâu cũng vẫn là
cái cột cái định đoạt mọi việc. Ngay tối hôm ấy theo ý anh Tính ông "họp"
gia đình gồm hai ông bà, vợ chồng anh cả, vợ chồng Tính và cu Sài. Có
bảy người "họp" thì ba người coi như không can dự. Bất cứ việc gì vợ
chồng anh cả cũng "thôi thì thầy định thế nào chúng con theo thế". Mỗi khi
cái quyền làm trưởng được nhắc đến "ý anh chị cả định thế nào?", người
con trưởng cũng gật gật đầu vẻ nghĩ ngợi đăm chiêu một lúc mới nói. Bao
giờ anh cũng nói ra cái điều mọi người đều biết trước từng câu, từng lời
anh sẽ nói như thế. Có lần vui vẻ chị vợ tinh khôn đã bảo "Thầy hỏi nhà
con như hỏi bức vách ăn thua gì". Nhưng những việc căng thẳng như đóng
góp giỗ tết ma chay hoặc sự xích mích trong gia đình, chị thường là người
im lặng từ đầu đến cuối. Có ai hỏi chị, chị trả lời rất gọn nhẹ: "Mọi việc là
quyền ở nhà tôi". Lập tức anh cả cũng gật đầu nghĩ ngợi và nói ra điều mà
ai cũng biết chắc là sẽ vừa lòng chị, cốt không thiệt đến mình mà cũng chả
động đến ai. Những "cuộc họp" gia đình để quyết định những việc hệ trọng

như thế, sự có mặt của vợ chồng anh như là thừa. Nhưng không có vợ
chồng anh, không bao giờ thành "cuộc họp". Vả lại mỗi khi có chuyện
nặng nề mọi người còn im lặng căng thẳng, ông đồ thường hỏi ý kiến anh
chị cả và anh lại "thôi thì". Sau sự "thôi thì" dài dòng của anh, hoặc là ai có
nỗi ấm ức thấy sốt ruột quá phải nói bung ra, hoặc có giận dỗi gì nhau,
thấy ý kiến ông anh cả chán quá, thà thôi đi còn hơn. Thành ra anh lại luôn
luôn trở thành người quan trọng trong gia đình. Còn vợ Tính chỉ biết làm,
chị làm được tất cả mọi việc theo ý bố mẹ chồng, theo sự sai khiến cau có
của chồng, và tắm rửa giặt rũ, mắng mỏ và chiều chuộng thằng Sài như
thằng em út của mình ở nhà. Cuộc "họp" nào của gia đình chị cũng là
người ngoài rìa. Chị sửa sang lau chùi ấm chén, đun nước và chẻ đóm. Mọi
việc xong xuôi chị ngồi nép ở một góc tối, chăm chú nghe hết mọi điều, có
ai hỏi chị, chị chỉ biết giả nhời "Tôi (con hoặc em) biết đâu đấy. ý của thầy
mẹ (hoặc anh chị cả hoặc "nhà tôi" thậm chí cả "ý chí Sài, thím Tuyết") thế
nào thì tôi làm thế".
Cho nên mỗi lần bàn bạc gia đình chị có ngồi đấy hay không cũng
chẳng ai để ý nếu như chè và thuốc lào, đóm và nước đã đầy đủ tinh tươm.
Bốn người còn lại tuy sự kìm nén khác nhau nhưng đều giống nhau ở
chỗ ai cũng cảm thấy chỉ có mình là người khổ tâm nhất trong việc này.
Trước hết, nói về thằng Sài, nhân vật chính của sự cười chê ồn ã hàng
tuần lễ nay. Dù cả nhà đều nhìn nó âu yếm, nói năng vui vẻ và nói những
chuyện tận đâu, nhưng khi được chị Tính dìu từ dưới bếp lên thằng Sài
khóc oà ra và lao vào ôm ngang lấy thắt lưng mẹ, người nó run lên bật bần.
Nước mắt bà đồ tự nhiên ứa ràn xuống hai má. Bà cúi lấy vạt áo lặng lẽ
chấm nước mắt, quay ra ôm ghì lấy con, gắt.
- Bàn bạc gì thì bàn đi, thằng bé sợ hết hồn rồi đây này.
Ông đồ vẫn nói dịu dàng:
- Ô hay ai làm gì nó.
Chị cả cũng động lòng thương xót.

- Chú Sài, sợ gì em. Để thầy mẹ và các anh chị liệu xem công việc thế
nào, có ai mắng mỏ hắt hủi gì em mà sợ.
Tính nghiêm mặt:
- Sài nín. Thầy có ý kiến thì nói đi rồi mọi người trong gia đình đều
phải ghé vai mà làm. Tôi rất khổ tâm cứ mỗi lần về đến nhà không chuyện
nọ thì chuyện kia. Mỗi người nghĩ một phách, làm một nẻo, mạnh ai người
nấy lo, còn thì "sống chết mặc bay".
Xem cung cách, lời lẽ ấy Tính đã ý thức được mình mới là người lo
lắng và quyết đoán tất cả mọi việc. Không phải anh muốn như thế. Cái
chính là mọi điều tiếng, xấu xa của gia đình đều đổ lên đầu anh. Thử hỏi cả
huyện, cả xã ai biết anh cả là ai. Ngay đến tiếng tăm của thầy đã mấy ai ở
xã ngoài biết đến. Chuyện gì xảy ra, thiên hạ cũng chỉ biết bố mẹ đồng chí
Tính cán bộ huyện chứ ai có thể thay anh nhận lấy sự xỉ nhục. Là chưa kể
chuyện thằng Sài không biết đến bao giờ mới hết tai tiếng.
Cũng là danh dự của gia phong, ông đồ lại thấy Tính không thể hiểu và
san sẻ nỗi khổ của riêng ông. Nó cứ đi biền biệt, hoạ hoằn mới đáo qua
nhà, làm sao nó biết ông điêu đứng như thế nào. Mang tiếng là ông đồ nho,
mấy đời nay chưa hề để ai chê cười nhà mình có chuyện ăn ở trên dưới
như "họ nhà tôm", chưa có khi nào con cái lại trái ý cha mẹ. Chưa khi nào
ăn nói sai ngoa, lá mặt, lá trái. Con mình đuổi con người ta đi, ai biết đâu là
chuyện trẻ con. Tất cả những chuyện đó thằng Tính làm ông phải rụt rè,
ngần ngại là thằng Tính. Bây giờ không những ông được thể quát nạt, đe
nẹt được nó, ngược lại, làm việc gì ông cũng phải lựa xem ý nó thế nào còn
liệu. Suốt bao ngày nay ông vẫn chưa phải lo nghĩ điều đó nên giọng ông
lúc này còn chưa thể quả quyết.
- Cũng chả ai muốn xảy ra như thế. Nhưng dẫu sao thì cũng là việc đã
rồi. Bây giờ bà với các anh các chị có cả anh Tính về đây ta bàn xem cách
nào đến xin lối người ta để cho con nó về. "Con dại cái mang".
Không ngờ bà đồ bốp chát ngay:

- Tôi không phải xin xỏ gì ải cả. Con tôi ốm chín phần chết không được
phần sống, nhà nó có ai thèm lai vãng đến đây? Mà tôi hỏi cớ gì khi thằng
chồng ốm con vợ lại không về.
- Thì con mình đã đuổi nó đi.
- Chấp gì thằng bé hỉ mũi chưa sạch ấy. Mà nó có quyền gì. Trừ phi ông
hay tôi thấy cô ăn đổ làm vỡ không thể chứa được thì mới được phép ra
khỏi nhà tôi. à, ra nhà nó quen thói hà hiếp thiên hạ rẻ rúng, bỉ mặt ai cũng
được.
- Bà liệu mà ăn nói, còn có người nọ người kia nghe.
Bà bảo rằng cứ giữa dạ bà nói, không việc gì phải vụng trộm, giấu
giếm. Rằng, nhà bà đã phải thất điên bát đảo mà họ thì dửng dưng. Rằng
chỉ có bà mang nặng đẻ đau mới thấy xót, mới tủi hổ khi con bà hoảng sợ
đến khiếp đảm mà nhà nó không thèm hỏi lấy một lời. Có ai đau đớn nặng
nhọc gì mà chả tìm cách dàn hoà vui vẻ. Vui vẻ với bất cứ ai bà cũng sẵn
lòng nhưng bây giờ nhất quyết nhà nó phải có nhời trước, bằng không,
lành làm gáo, vỡ làm muôi. Càng nói bà càng có lý. Những người con dâu
thầm chê bai nhà ấy không biết điều. Thằng Sài thì vẫn áp mặt vào lưng
mẹ thỉnh thoảng lại nấc khan từng chập sẵn sàng oà khóc và kêu xin bố mẹ
tha cho đừng bắt con phải đến nhà nó. Còn thằng Tính, hai con mắt vẫn trân
trân nhìn lên mái nhà, môi mím lại cau có như đang nghĩ gì ở đâu chứ
không nghe ai nói ở chỗ này. Ông đồ hết hút thuốc lại uống nước chè tươi.
Hai mắt hình như cả đôi tai ông chăm chú vào những cử chỉ cố kéo dài ra
của công việc tước đóm và hút thuốc, lau chùi đĩa chén và uống nước
nhưng ông cũng biết hết ý tứ của từng người, trừ có thằng Tính là ông
không hiểu nó đang nghĩ gì. Đó là cái điều đã từ lâu, từ khi nó tham gia
hoạt động đến nay ông luôn ngại, bực bội và thú thật đôi khi cũng phải chịu
lép với những lời lẽ lý sự của nó. Ông biết, việc gì trong nhà này bây giờ ai
cũng nghe nó hơn là nghe ông. Ngẫm ra cũng phải thôi. Thời này người có
chức tước nói mà chả hay ho mẫu mực.
Tính nói. Cái điều lo sợ nhất của ông đồ đã đến rồi. Chỉ cần ý của nó
nữa là biết rõ sự tình sẽ đi đến đâu. Ông ngồi nghiêng mặt ra chỗ tối ánh

đèn, mải vê điếu thuốc nhồi vào nõ để tránh nỗi phấp phỏng chờ đợi sự
kết cục không thể gọi là nhỏ. Chỉ việc này không thành cũng đã coi như
ông sống bằng thừa, sống vô vị như một xác chết. Nhưng ông đã lầm. Tính
còn lo hơn cả ông. Anh hiểu rõ hậu quả những chuyện gia đình kiểu thế
này không thu xếp ổn thoả sẽ dẫn tới đâu! Anh nói từng tiếc chắc nình nịch
như thể vốn nó là thế, không thể là khác, không ai có thể thay đổi được.
- Chú Sài đuổi thím Tuyết không có gì phải ầm lên. Thầy làm như thế là
chưa đúng. Thì lúc ấy anh bảo tôi làm sao mà nén được. Những ngày chú
Sài ốm nhà ông phó Cự im lặng thờ ơ là sai, rất đáng trách. Tôi thấy mẹ đã
nói lên tất cả nỗi tức giận của nhà ta. Phải tỏ thái độ như thế mới đúng.
Thế là nó vào hùa với mẹ nó thật rồi. Nhà mình gây ra sự lại đổ lỗi cho
người ta. Kệ, anh nói thế nào thì nói, mẹ con anh định thế nào thì tuỳ
nhưng với lão đồ Khang thì thằng Sài không thể bỏ con người ta được.
Thời buổi này không phải là lúc họ muốn coi ai ra gì cũng được như trước
đây. Nhưng đấy là việc sau. Trước sau tôi sẽ có cách để nhà họ phải mở
mắt ra. Còn trước mắt ta sử xự khác. Ta không thèm tầm thường chấp vặt.
Không thèm đôi co xem ai đúng, ai sai, không thèm đợi họ phải nói trước.
Quả đi đây đi đó nó cũng có hơn.
- Anh bảo nhà mình phải đi nói trước với họ?
- Đằng nào thì chú Sài cũng không thể bỏ được thím Tuyết. Mọi việc
mẹ cứ mặc tôi. Ta nói trước mới chứng tỏ ta là người lớn không chấp
chuyện trẻ con. Ngày mai nhà Tính đưa chú Sài sang. Chú chỉ cần nói một
câu: "Con đã trót dại đuổi nhà con đi, con xin lỗi ông bà cho nhà con về".
Chỉ cần nói thế rồi về. Xem nhà họ đối xử thế nào, sau đó tôi sẽ liệu.
Anh dừng lại, uống nước như tự thưởng cho những quyết định của
mình và cũng để dò xem phản ứng của mẹ, của thằng Sài. Ông đồ không
nhìn anh, trong đầu ông vẫn thì thầm đắc ý: Phải thế mới ra người có học.
Cứ tưởng cha con xung khắc, không ngờ nó hợp ý ông như thế. Chỉ có
điều nó theo lối mới nói năng lưu loát, dễ lôi cuốn người ta hơn.
Bà đồ ngập ngừng
- Thế ngộ nhỡ...

- Mẹ không có "nhỡ" gì cả. Ngày mai cứ thế làm không phải bàn gì nữa.
Khuya rồi, đi ngủ.
Nói những như gay gắt ấy xong, anh đứng dậy xuống gian nhà ngang
của vợ chồng anh. Mọi người vẫn ngồi lại một lúc nữa nhưng không ai bàn
tán gì thêm. Cả bà đồ cũng không phản đối. Cả thằng Sài cũng không giãy
nảy vì ngày mai nó vẫn phải làm cái việc mà nó kinh sợ. Thì ra đàn bà cũng
giống như trẻ con, sẵn sàng chấp nhận ngoan ngoãn những quyết định
nghiêm ngặt đôi khi rất tàn nhẫn chứ không bao giờ chịu thua trong bàn
luận tranh cãi.
--------------------------------------------------------------------------------

THỜI XA VẮNG
Lê Lựu
dtv-ebook.com
Chương 2
Dẫu sao chuyện vợ con thằng Sài cũng là chuyện nhỏ so với nạn đói
đang có nguy cơ loang bùng khắp xã. Không ai còn bụng dạ, hơi sức đâu
để bàn tán, khen chê. Vả lại, chuyện tình của hai đứa trẻ ấy chưa đến tuổi
"phát điên" nên nó vẫn chỉ là nỗi ấm ức hậm hụi của trẻ con, đôi khi mải
chơi đùa, học hành, nó cũng quên là mình đang bị oan ức trói buộc nghiệt
ngã. Lệ thường đã thế huống hồ những ngày này. Tuy làng mới được giải
phóng mấy tháng nhưng không phải dò mìn, gỡ dây thép gai, nhặt mảnh
bom, đầu đạn và san lấp hầm hào như những làng quanh vùng Tây. Đất
làng cũng tầng tầng phù sa trông ngon như những tảng thịt nạc, nhưng
những người nông dân ở đây không cần đến đất. Nói đúng ra họ dửng
dưng với cách bãi bồi mênh mông màu mỡ. Không hiểu từ thuở nào làng
chỉ quen đi làm thuê. Miếng cơm thiên hạ bao giờ cũng ngon nên người
sức dài vai rộng thì đi tứ chiếng bằng đủ thứ nghề: hàn nồi và cắt tóc, đốt
gạch và nung vôi, thợ nề, thợ đất, thợ lặn... Kẻ giảo hoạt mà lười biếng thì
đi buôn cau con, bán rong thuốc cam, buôn vỏ quạch và chổi tre, tiểu sành
và cối đá. Không có mặt hàng nào đáng giá và những hàng dễ thiu, vữa đổ,
vỡ cũng không ai có gan để buôn. Buôn bán đã non gan cũng chỉ là tạm bợ
giật gấu vá vai, làm sao nghề trong tay, dường như mục đích cao cả và sự
sung sướng hồi hộp của họ cũng chỉ là kiếm được miếng ăn giữa tháng ba
ngày tám, sau đấy vợ chồng con cái lại dắt díu nhau về cày bừa vội vã,
cuốc và đập vội vã, gieo trồng cũng vội vã để lại bồng bế nhau đi. Dăm
bữa, nửa tháng vợ hoặc con đảo qua để làm cỏ, xáo xới rồi cũng lại vội vã
ra đi. Đến mùa thu hoạch lại về. Hết mùa lại đi. Cứ thế. Khi về lại nhớ
cơm thiên hạ. Khi đi lại cồn cào thương từ gốc cau, bụi chuối. Họ không
yêu tha thiết với đồng ruộng nhưng không đủ sức dứt bỏ những gì quen
thuộc từ thuở cha sinh mẹ đẻ ở cái nơi mà ai cũng quen gọi là quê hương.
Những người còn lại hoặc tuổi già yếu, con bận con mọn, hoặc không
biết nghề, không quen đi xa, cái lực lượng sản xuất chủ yếu ấy cũng chỉ

chòn chọt năm một vụ ngô, tháng mười cày bừa dối dả, tháng tư bẻ bắp
chặt cây vội vàng để rồi lại nô nức kéo nhau sang bên kia sông, vào nội
đồng làm thuê, sáng cắp nón đi, tối cắp nón về nói cười rả rích. Dường
như số trời đã định cho làng này chỉ có việc đi làm thuê. Chen lấn, tranh
cướp nhau từng người chủ, và ai được chủ tin thì coi đó là một diễm phúc
có thể vênh váo, hãnh diện với kẻ khác, sẵn sàng hạch sách bắt bẻ người
cùng xóm, cùng làng, cùng cánh thợ làm thuê một cách nghiệt ngã độc ác
hơn cả người chủ thật. Bởi thế, cũng là tỉa ngô, rắc đỗ, ruộng nhà thì làm
quáng quàng chỗ dầy, chỗ mỏng, hàng thưa hàng mau nhưng ruộng của chủ
cứ đều tăm tắp. Ruộng nhà không bao giờ bón phân, cả làng không ai bón
phân, cần quái gì chuồng lợn, chuồng xí. Đàn ông, đàn bà, cả người già trẻ
con đều chạy toá ra đồng và lợn cũng thả rông hoặc có chuồng thì cũng
chả cần phân ấy để làm gì. Chính những con người ấy lại đánh phân, rửa
ráy quét dọn cả chuồng xí, chuồng lợn cho chủ rồi gánh ra đồng cứ của
những người chủ tốt tươi sai quả, mấy hạt lại theo đà đâu đó, ca thán, và xỉ
vả làng mình ngu si không biết đường làm ăn.
Cái thói quen, thích được chủ tin dùng khen ngợi, thích được sai bảo
mắng mỏ nó bắt đầu đơn giản thế này. Lúc túng thiếu đói kém vay mượn
vừa khó, vừa canh cánh lo ngày trả, ấy là chưa kể lãi mẹ đẻ lãi con gặp lúc
sa cơ lỡ vận có khi suốt đời đầu tắt mặt tối không đủ trả nợ. Còn tự làm
lấy ruộng nhà thì lưng vốn ít, lại phải đợi trông và biết đâu "ba tháng trông
cây không bằng một ngày trông quả" đến lúc miếng ăn đến miệng gặp một
cơn gió, một trận mưa rào hay ngày nắng hạn mà trái vụ thì mất như chơi.
Chi bằng cắp nón đi làm thuê vừa nhẹ nhàng, vừa có miếng ăn ngay. Đôi
khi bớt xén ăn xin ăn nài nắm xôi, quả chuối, vốc lạc, nắm cháy, củ khoai
mang về cho bố mẹ hoặc chồng và con cái ở nhà là tất cả tươi vui bừng
sáng và ai cũng phấp phỏng ấp ủ hy vọng ngày hôm sau, những ngày hôm
sau nữa sẽ có, sẽ lại có niềm sung sướng như thế. Lâu dần thành quen.
Người ta có thể bỏ ruộng chứ không thể bỏ nghề làm thuê.
Ai cũng náo nức đi làm thuê thì đành chịu khinh rẻ biết làm thế nào.
Lúc giáp vụ đã bị rẻ rúng chê ỏng chê eo huống hồ lúc đã vãn việc. Hôm
nào cũng dăm bảy trăm người đi "đón", khi chỉ dăm ba chục người "đắt"
còn là ế lũ lượt. Nhưng đêm nào cũng đi. Đi tất cả làng. Ngay nhà ông đồ
Khang, trừ có ông già yếu và đã mang tiếng là ông đồ, vợ chồng anh cả,

vợ Tính, vợ Sài, và cả cu Sài cũng đi. Đêm nào cũng khoảng nửa đêm là
ông đồ tỉnh dậy, đun nước ủ tích nụ vối và hút thuốc lào chờ khi nào nghe
được nghe tiếng ơi ới gọi nhau ở xung quanh hoặc tiếng nói oàm oàm như
lội nước của vợ chồng nhà Mồng là ông chỉ cần hỏi khẽ khàng: "Bà đồ đã
thức chưa? dậy uống hụm nước cho ấm bụng" là bà đồ nhổm ngay dậy. Vợ
Sài cũng lặng lẽ ngồi dậy. Khi bà...
 
Gửi ý kiến