Tìm kiếm Giáo án
phat trien tinh cam tham mi 5 tuoi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thị Liên
Ngày gửi: 16h:42' 20-12-2025
Dung lượng: 158.0 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thị Liên
Ngày gửi: 16h:42' 20-12-2025
Dung lượng: 158.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
MỤC LỤC
TÓM TẮT SÁNG KIẾN.....................................................................................1
...............................................................................................................................1
I – MỞ ĐẦU........................................................................................................2
1. Lý do chọn sáng kiến
2
2. Mục tiêu của sáng kiến 2
3. Phạm vi của sáng kiến
3
II – CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN..................................................3
1. Cơ sở lý luận 3
2. Cơ sở thực tiễn
4
III – NỘI DUNG SÁNG KIẾN..........................................................................7
1. Nội dung và những kết quả nghiên cứu của sáng kiến:
7
2. Đánh giá kết quả thu được12
III – KẾT LUẬN...............................................................................................15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................18
2
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Hoạt động tạo hình giúp trẻ có cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu các đối tượng
cụ thể, từ đó có thể tự hình dung xây dựng về đối tượng đó. Vai trò chính mà
hoạt động tạo hình là giúp trẻ phát triển trí tuệ: tư duy, trí tưởng tượng, trí nhớ…
và phát triển khả năng sáng tạo của trẻ
Xuất phát từ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn tại đơn vị, bằng những kinh
nghiệm trong những năm công tác cùng sự học hỏi, tham khảo tài liệu, ở đề tài
này tôi đã đưa ra 07 biện pháp nhằm phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ 5-6
tuổi thông qua hoạt động tạo hình. Bằng việc áp dụng các biện pháp đó trên thực
tế, tôi đã đánh giá và thu được kết quả mong muốn. Từ đó rút ra kết luận, những
bài học kinh nghiệm cũng như những kiến nghị, đề xuất để giúp việc thực hiện
đề tài đạt hiệu quả cao hơn
2
I – MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn sáng kiến
Hoạt động tạo hình là một trong những hoạt động vô cùng quan trọng đối
với trẻ lứa tuổi mầm non. Thông qua hoạt động tạo hình, trẻ em có nhiều cơ hội
tìm hiểu, nghiên cứu các đối tượng miêu tả để có được hiểu biết, sự hình dung
về các đối tượng, từ đó xây dựng các biểu tượng. Bởi vậy, có thể khẳng định
rằng, hoạt động tạo hình là một trong những phương tiện tích cực để phát triển ở
trẻ khả năng hoạt động trí tuệ như: óc quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng và
sự sáng tạo của trẻ.
Thông qua hoạt động tạo hình giúp trẻ phát triển các chức năng tâm lí như
khả năng tri giác các sự vật hiện tượng xung quanh, từ đó buộc trẻ phải tư duy
và quá trình đó làm phát triển óc tưởng tượng sáng tạo, ham muốn tạo ra cái đẹp.
Trẻ không chỉ khám phá mà còn sáng tạo bằng các đường nét, hình khối để tạo
ra sản phẩm nghệ thuật của mình.
Năm học ..., tôi được phân công giảng dạy lớp mẫu giáo 5 tuổi A, với số
trẻ là 20 cháu, đa số là các em dân tộc Tày, Nùng, nhu cầu hoạt động, khám phá
của trẻ rất tích cực nên việc tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ nhằm phát huy
khả năng sáng tạo là vô cùng quan trọng.
Với nhiều năm kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, tôi nhận thấy giáo
viên cần phải tổ chức tốt hoạt động tạo hình để phát huy tính sáng tạo của trẻ.
Từ những lý do trên mà tôi đã lựa chọn đề tài: "Biện pháp phát triển khả năng
sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động tạo hình trong trường mầm
non "
2. Mục tiêu của sáng kiến
Đề ra một số biện pháp cho trẻ 5 - 6 tuổi phát triển “ý tưởng sáng tạo”
thông qua hoạt động tạo hình.
3
3. Phạm vi của sáng kiến
- Đối tượng nghiên cứu: 20 cháu 5 – 6 tuổi trường mầm /…………..
- Không gian: Trẻ lớp mẫu giáo 5 tuổi A …………
- Thời gian: Năm học ...
II – CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận
Hoạt động tạo hình là một dạng hoạt động nghệ thuật nhằm giúp trẻ nhận
biết và phản ánh thế giới xung quanh thông qua những hình tượng nghệ thuật.
Hoạt động này là một dạng hoạt động có sản phẩm đặc trưng của trẻ mầm non.
Có bốn dạng hoạt động cơ bản sau: Vẽ, nặn, cắt – xé – dán – Lắp ghép xây
dựng. Trẻ 5 - 6 tuổi đã bước đầu biết sắp xếp các hình tượng trong mối quan hệ
giữa chúng. Trẻ có khả năng phân biệt và sử dụng được nhiều màu, với đặc
điểm như vậy nên năng khiếu nghệ thuật thường được nảy sinh ngay từ tuổi ấu
thơ. Vì vậy việc giáo dục thẩm mĩ cần được bồi dưỡng ngay từ tuổi mẫu giáo để
ươm mầm những tài năng nghệ thuật cho tương lai.
Hoạt động tạo hình góp phần góp phần quan trọng trong giáo dục thẩm mĩ
cho trẻ mầm non đặc biệt là đối với trẻ 5 - 6 tuổi, thông qua hoạt động tạo hình
phát triển ở trẻ khả năng cảm thụ thẩm mĩ và bồi dưỡng những cảm xúc thẩm
mĩ. Những vẻ đẹp đa dạng của hình dáng, sự phong phú về màu sắc của đồ vật,
thiên nhiên và sự lặp đi lặp lại của các yếu tố tạo hình như sự cân đối đa dạng về
cấu trúc hình dạng về tính truyền cảm của đường nét … đã thu hút hứng thú và
gây cho trẻ những xúc cảm, tình cảm thẩm mĩ ở trẻ được nảy sinh và trở lên sâu
sắc cùng với sự phát triển của cảm giác và sự phong phú của các biểu tượng, trẻ
tri giác thế giới xung quanh ngày càng có ý thức hơn.
Việc làm quen, tiếp xúc với các tác phẩm nghệ thuật tạo hình còn giúp trẻ
cảm thụ được vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống thể hiện qua ngôn ngư tạo hình
là đường nét, hình dáng, màu sắc và bố cục … càng làm cho trẻ hứng thú mong
4
muốn được tạo ra sản phẩm. Khi miêu tả đồ vật hiện tượng trẻ không chỉ miêu tả
lại hình dáng một cách thụ động mà bằng cảm xúc tích cực của trẻ, nảy sinh yếu
tố sáng tạo.
Thông qua hoạt động tạo hình, trẻ được tiếp thu cái đẹp, trẻ được trực tiếp
trải nghiệm các xúc cảm, các trạng thái tình cảm trong giao tiếp, học hỏi về các
kỹ năng xã hội và trẻ biết cách đánh giá các hành vi xã hội, qua hoạt động tạo
hình giúp trẻ có thói quen tự giác làm việc. Như vậy hoạt động tạo hình chỉ có
tính chất sáng tạo khi sự cảm thụ thẩm mĩ được phát triển và trẻ đã nắm được
những kỹ năng, kỹ sảo cần thiết, tạo hình là phương tiện diễn tả ý nghĩ và tình
cảm. Trẻ mầm non được tiếp xúc với nghệ thuật hoạt động tạo hình từ rất sớm,
ngay từ giai đoạn tiền tạo hình trẻ có trong tay những nguyên vật liệu nhưng các
hoạt động của các bộ phận như tay, mắt còn vô ý thức. Đến giai đoạn phát triển
sự liên tưởng của trẻ xuất hiện nhưng không bền vững. Cho đến giai đoạn tạo
hình trẻ đã biết và nắm vững các kiến thức kỹ năng về hoạt động tạo hình như:
Biết thể hiện sản phẩm nghệ thuật của mình bằng những đường nét, hình khối,
luật xa gần vào sản phẩm của mình.
2. Cơ sở thực tiễn
* Thuận lợi:
Trường Mầm non ………………… là trường có điều kiện cơ sở vật chất
đang còn thiếu rất nhiều, nhưng luôn được sự quan tâm của Phòng GD, Đảng
uỷ, UBND xã, các ban ngành đoàn thể, các bậc phụ huynh học sinh cùng với sự
nỗ lực, năng động sáng tạo của Ban giám hiệu và tập thể giáo viên trong nhà
trường trong nhiều năm qua đã có sự chuyển biến rõ rệt đặc biệt là về chất lượng
chăm sóc và giáo dục trẻ.
Nhà trường có đội ngũ giáo viên trẻ, khỏe, nhiệt tình yêu nghề mến trẻ.
Nhà trường luôn đề cao công tác chăm sóc và giáo dục trẻ, đó là việc làm quan
trọng và cần thiết đầu tiên. Nhà trường đã tạo điều kiện cho cán bộ giáo viên
5
tham gia các lớp chuyên đề, bồi dưỡng kiến thức nâng cao năng lực cho giáo
viên trong công tác dạy và học.
Phụ huynh luôn quan tâm đưa đón trẻ đến trường đi học đầy đủ. Thường
xuyên phối kết hợp với nhà trường, gia đình trong việc chăm sóc giáo dục trẻ,
tạo cho phụ huynh có niềm tin nơi giáo viên.
Bản thân được nhà trường phân công giáo viên chủ nhiệm lớp 5 – 6 tuổi,
có kinh nghiệm trong công tác giảng dạy.
Cảnh quan nhà trường thoáng mát, có cây che bóng mát, cây cảnh góp
phần rất lớn cho trẻ quan sát, từ đó cung cấp cho trẻ những biểu tượng thể hiện
sự hiểu biết của mình về thế giới xung quanh. Trẻ phần lớn là con em nông thôn
nên có điều kiện tiếp xúc trải nghiệm nhiều với môi trường thực tế.
* Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi nhà trường và giáo viên trong quá trình thực
hiện cũng gặp không ít khó khăn như:
Trường mầm non xã Thụy Hùng có địa bàn dài, có thôn xóm cách trường
xa nên trong những ngày thời tiết không thuận lợi vất vả cho phụ huynh trong
việc đưa đón trẻ đến trường. Phòng học diện tích hẹp, cấu trúc không hợp lý nên
việc tổ chức giờ hoạt động tạo hình còn gặp rất nhiều trở ngại như không có diện
tích trưng bày sản phẩm.
Môi trường cho trẻ hoạt động còn nghèo nàn. Tài liệu tham khảo còn hạn
chế. Cơ sở vật chất trang thiết bị trong và ngoài nhóm lớp còn chưa đầy đủ để
phục vụ cho các hoạt động chung, hoạt động tạo hình nói riêng còn hạn chế.
Do điều kiện kinh tế khó khăn phụ huynh phải đi làm ăn xa, gửi con cho ông
bà chăm sóc, dẫn đến việc chăm sóc giáo dục cũng như đưa trẻ đến trường còn gặp
khó khăn. Chất lượng trẻ ở trên lớp không đồng đều. Việc phụ huynh nhận thức về
hoạt động tạo hình còn chưa rõ ràng dẫn đến kết quả của trẻ chưa cao.
Ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên trẻ còn nghỉ học ở nhà nhiều
6
Xuất phát từ những thuận lợi và khó khăn trên tôi không ít trăn trở và tìm
ra phương pháp, biện pháp để phát huy hết khả năng hứng thú làm sao để trẻ có
nhiều “ý tưởng sáng tạo” trong hoạt động tạo hình một cách hiệu quả nhất.
Khảo sát thực trạng:
Bảng 1: Kết quả khảo sát thực trạng:
Số
Đạt yêu cầu
Chưa yêu cầu
trẻ
Số trẻ
%
Số trẻ
%
Hứng thú tạo hình
20
12
60
8
40
Hiểu biết xã hội
20
12
60
8
40
Có kỹ năng tạo hình
20
10
50
10
50
Có ý tưởng sáng tạo
20
9
45
11
55
Nội dung khảo sát
Qua khảo sát ban đầu như trên, tôi thấy kết quả trên trẻ chưa đạt yêu cầu
còn cao dao động từ 40% đến 55%
Nguyên nhân: Trong quá trình hoạt động dạy và học của cô và trò còn tồn
tại vấn đề sau:
Trẻ chưa có kỹ năng về nghệ thuật tạo hình.
Trẻ chưa biết cảm nhận được cái đẹp và sáng tạo ra cái đẹp trong tác
phẩm của mình.
Việc lập kế hoạch và thiết kế hoạt động của cô chưa linh hoạt sáng tạo
còn gò bó áp đặt trẻ.
Giáo viên chưa thật sự tạo cơ hội cho trẻ tự do hoạt động, tự do thể hiện
cảm xúc – suy nghĩ hay tự chọn sản phẩm.
Nguyên vật liệu tạo hình khá cứng nhắc và thậm chí quá hạn hẹp đối với
trẻ, thiếu sự kết hợp những nguyên vật liệu đơn giản và gần gũi từ thiên nhiên.
7
Phương pháp tích hợp lồng ghép các chuyên đề còn lúng túng, chưa phù
hợp với chủ đề và nội dung cho nên chất lượng chưa cao.
III – NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Nội dung và những kết quả nghiên cứu của sáng kiến:
1.1 Biện pháp 1: Xây dựng môi trường giáo dục nhằm phát triển khả
năng sáng tạo cho trẻ
Xây dựng môi trường vật chất: Tôi đã trang trí các góc chơi trong lớp học
với nhiều hình ảnh, màu sắc vui tươi, ngộ nghĩnh để cho trẻ được tiếp xúc với
cái đẹp, giúp trẻ hứng thú tham gia vào các hoạt động. Bố trí góc tạo hình có đủ
ảnh sánh, đồ dùng đồ chơi đa dạng, với những nguyên vật liệu mở để cho trẻ
phát huy sức sáng tạo của mình
VD: Các loại giấy màu, dây trang trí, giây ruybang, đất nặn, bút sáp, bút
chì màu, kim sa…
Nguyên vật liệu thiên nhiên: lá cây, vỏ sò, hến; hột hạt
Nguyên vật liệu tái sử dụng: Tranh ảnh cũ, bìa cattong, len vụn, vải vụn…
Các nguyên liệu đồ dùng trong góc tạo hình được trang trí xắp xếp mang
tính gợi mở, phù hợp với chủ đề, kích thích trẻ tích cực hoạt động theo khả
năng, hứng thú, sở thích của trẻ. VD: Để trẻ dễ lựa chọn đồ dùng khi vào góc tạo
hình tôi đã phân loại theo chất liệu từng loại sau đó cho vào mỗi chiếc hộp, hay
để trong rổ có dán kí hiệu minh họa.
Để tạo môi trường tinh thần cho trẻ tôi luôn có những cử chỉ nhẹ nhàng,
những lời gợi mở, khuyến khích trẻ như vậy sẽ làm cho trẻ tự tin tích cực tham
gia vào hoạt động. Đồng thời tôi luôn hướng vào việc lấy trẻ làm trung tâm, để
trẻ tự đặt ra những câu hỏi nhằm khám phá về đối tượng
VD: Trẻ hỏi: Cô ơi! bông này để làm gì vậy cô? Cô ơi tô con chó màu gì?
Thông thường giáo viên sẽ chỉ đưa ra lời chỉ dẫn, hướng dẫn trẻ để giúp trẻ
nhanh chóng hoàn thiện bài tạo hình của trẻ, nhưng để phát huy chó thường có
màu gì? Con thích tô con chó màu gì? Như vậy sẽ khơi gợi được cảm xúc thẩm
mĩ và hứng thú cho trẻ.
8
Khi nhận xét sản phẩm của trẻ, tôi luôn để trẻ tự chọn những sản phẩm
mà trẻ yêu thích, sau đó tôi hỏi tại sao con lại yêu thích sản phẩm đó, sản phẩm
đó có đặc điểm gì, sau đó tôi sẽ để tác giả của sản phẩm đó nêu lên cách thực
hiện nên tác phẩm đó, qua đó trẻ được nói lên cảm nhận, suy nghĩ của mình, góp
phần vào việc giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
Để lôi cuốn trẻ tham gia vào các hoạt động, hoạt động ổn định gây hứng
thú vô cùng quan trọng, để giúp trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động, tôi đã sử
dụng các thủ thuật để lôi cuốn trẻ như: tạo tình huống, đóng kịch, cho đi xem
triển lãm tranh... với những bức tranh được chuẩn bị cẩn thận, chu đáo, để cho
trẻ quan sát, hứng thú, tham gia vào hoạt động.
Ví dụ: Đề tài “Xé dán trang trí thiệp chúc mừng 8/3” (Thể loại mẫu) Tôi
tạo một tình huống là nhân ngày 8/3 hàng năm, ngày hội của các cô giáo thì
chúng mình hãy cùng trang trí những tấm thiệp chúc mừng đẹp nhất gửi đến các
cô giáo.
1.2. Biện pháp 2: Tận dụng các phế liệu sẵn có ở địa phương để tạo ra
sản phẩm nghệ thuật tạo hình.
Để tạo ra các sản phẩm tạo hình, tôi đã tận dụng những học liệu ở địa
phương có sẵn, dễ tìm để dạy trẻ làm đồ chơi. Ví dụ: Dạy trẻ “Làm đồ chơi bằng
các loại lá cây”. Trong giờ hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ nhặt các loại lá cây ở
sân trường, cô chuẩn bị lá xanh các loại để vào giờ hoạt động tạo hình hoặc hoạt
động góc hướng cho trẻ làm. Ví dụ: Chủ đề: động vật cho trẻ làm những con vật
bằng lá cây (chủ yếu lá vàng và lá khô),
Ở góc sáng tạo, tôi đã sử dụng các nguyên vật liệu sẵn có như chai nhựa,
vỏ hộp sữa, ống nhựa, túi bóng.... để làm những đồ dùng đồ chơi cho trẻ. Sử
dụng các nguyên vật liệu mở như bông, hạt đỗ, hạt ngô, ống hút... để tạo thành
các bức tranh mẫu cho trẻ quan sát. Từ đó khơi gợi sự sáng tạo cho trẻ
Biện pháp này đã giúp trẻ ý thức quan sát sự vật xung quanh để sưu tập
hình ảnh đẹp, phù hợp với chủ đề. Các học liệu rất cần thiết để cho hoạt động
9
tạo hình của trẻ nhưng vật liệu đó phải đảm bảo vệ sinh và an toàn cho trẻ. Có
như vậy thì giờ hoạt động tạo hình mới thu được kết quả cao hơn.
1.3. Biện pháp 3: Tạo tình huống gợi mở cho trẻ nhằm phát triển ý tưởng
sáng tạo và phát huy tính tích cực chủ động của trẻ trong hoạt động nghệ thuật
tạo hình.
Để khơi gợi sự sáng tạo cho trẻ, tôi luôn tạo cho trẻ nhiều tình huống khác
nhau để trẻ làm thử hoặc lựa chọn cách giải quyết của mình, ở đây tuỳ vào
trường hợp cụ thể tôi cho trẻ tự giải quyết và dùng những từ hình tượng để miêu
tả cảm xúc của mình, ý kiến của mình.
Ví dụ: Với chủ đề “Nghề nghiệp” Tôi tạo ra một tình huống hỏi trẻ:
Ước mơ của con khi lớn lên các con sẽ làm nghề gì? (Trẻ trả lời)
Vậy để ước mơ đó được trở thành hiện thực thì con phải làm gì?
Công việc của nghề đó là làm những công việc gì?
Phương tiện, công cụ của nghề đó là gì? (Trẻ kể)
Từ ý thích đó trẻ thực hiện vào sản phẩm đạt hiệu quả rất cao. Mỗi trẻ đã
vẽ được đồ dùng, phương tiện … của nghề đó với hình dạng rất sinh động phong
phú và có cả những chi tiết sáng tạo trong từng sản phẩm nghệ thuật. Qua một
số tình huống như vậy tôi đã quan sát thấy trẻ không những hứng thú tham gia
vào hoạt động học tập mà còn tạo ra nhiều ý tưởng sáng tạo cho trẻ.
Việc sử dụng câu hỏi mở trong hoạt động tạo hình của trẻ vô cùng quan
trọng, tôi đã tăng cường sử dụng các câu hỏi gợi mở, gợi ý để giúp trẻ vận dụng
những kiến thức kỹ năng kinh nghiệm đã lĩnh hội được trong các hoạt động khác
nhau, khuyến khích trẻ suy nghĩ tìm ra cách giải quyết vấn đề và trẻ sẽ có nhiều
ý tưởng sáng tạo cho cách hiểu, cách cảm nhận của riêng mình.
Ví dụ: Đề tài “Vẽ hoa mùa xuân”. Tôi sử dụng một số câu hỏi trò chuyện
với trẻ như sau:
Mùa xuân thường có các loại hoa nào?
Các bông hoa thường có màu gì?
Cánh hoa có những dạng cánh như nào? (Cánh tròn, cánh nhọn...)
10
Qua một số câu hỏi gợi mở, trò chuyện cùng trẻ tôi đã giúp trẻ tư duy, tìm
tòi suy nghĩ sáng tạo ra những bức tranh vẽ về biển như sau: Có trẻ vẽ hoa cánh
nhọn, trẻ vẽ hoa cánh tròn, trẻ vẽ hoa màu đỏ, trẻ vẽ hoa màu vàng...
Qua việc sử dụng các câu hỏi gợi mở trong hoạt động tạo hình cho trẻ, trẻ
hăng say phát biểu, cùng khám phá các hiện tượng sự vật. Từ đó trẻ đã biết vận
dụng kiến thức, kỹ năng đã học đã biết của mình để sáng tạo ra sản phẩm có nội
dung phong phú phù hợp với yêu cầu của cô
1.4. Biện pháp 4: Tích hợp các hoạt động giáo dục vào trong hoạt động
tạo hình nhằm phát huy sự sáng tạo của trẻ
Việc lồng ghép tích hợp các hoạt động mang tính giáo dục vào tiết dạy là
việc làm giúp bổ ích giúp trẻ tích lũy và phát huy sự sáng tạo của mình trong
từng sản phẩm và mang tính chất giáo dục cao.
Với chủ đề: Gia đình lồng ghép chuyên đề tiết kiệm năng lượng điện,
nước và phòng tránh tai nạn cho trẻ. Ví dụ: Với đề tài “Nặn đồ dùng trong gia
đình” (Thể loại đề tài) tôi đã lồng ghép chuyên đề tiết kiệm năng lượng điện và
phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ. Qua bài học này giáo dục trẻ biết cách
sử dụng, giữ gìn và bảo vệ các đồ dùng trong gia đình. Đối với đồ dùng sử dụng
điện khi dùng phải cẩn thận, không được chơi gần ổ điện, không được tự ý cắm
điện rất nguy hiểm, dễ bị bỏng và bị điện giật, nên nhớ khi nào cần dùng thì mới
mở điện và khi nào không dùng phải tắt để tiết kiệm điện.
1.5. Biện pháp 5: Đổi mới hình thức nhận xét, đánh giá sản phẩm tạo
hình của trẻ
Đánh giá sản phẩm tạo hình của trẻ là một khâu quan trọng của quá trình
dạy trẻ hoạt động tạo hình và là khâu cuối cùng của giờ học, sản phẩm tạo hình
bao gồm bài vẽ, xé, dán, nặn. Khi nhận xét sản phẩm tạo hình của trẻ tôi luôn
đứng ở góc độ tạo hình song không nhìn nó theo các quy chuẩn thật chính xác.
Sản phẩm của trẻ còn thô, vụng về, vẽ nét cong, nét thẳng chưa đẹp, chưa đúng,
còn thiếu nét, do vậy khi đánh giá, tôi luôn đứng về phía trẻ, để hiểu trẻ định
miêu tả cái gì, sản phẩm thể hiện được trẻ suy nghĩ gì. Muốn diễn tả điều gì để
11
thấy được cái hay, sự trong sáng trong tâm hồn trẻ, tính độc đáo chỉ có ở trẻ.
Việc nhận xét sản phẩm của giáo viên đối với sản phẩm của trẻ cũng rất
quan trọng, nó giúp cho trẻ rút được những kinh nghiệm để làm tốt hơn vào lần
sau, cũng như bước đầu hình thành khả năng nhận xét đánh giá tác phẩm nghệ
thuật trên bản thân trẻ. Biết rõ điều đó trong các giờ tạo hình tôi luôn biết cách
động viên khích lệ trẻ đúng lúc và cũng khéo léo nêu ra những hạn chế còn trên trẻ
để không làm trẻ tự thấy thoả mãn ở khả năng bản thân của mình để tiếp tục cố
gắng hơn nữa. Bên cạnh đó, trong các giờ hoạt động tôi luôn đặt những câu hỏi
như:
Để hình thành ở trẻ những tiền đề đánh giá, nhận xét sản phẩm, khi đánh
giá sản phẩm của trẻ tôi không trực tiếp đánh giá ngay kết quả sản phẩm trẻ vừa
làm được, mà đối với những bài chưa hoàn chỉnh hay trẻ làm chưa đúng với yêu
cầu tôi đều hỏi trẻ và động viên khích lệ trẻ để sản phẩm bài sau của trẻ được
hoàn chỉnh tốt hơn. Đối với tiết mẫu cho trẻ nhận xét bài của bạn, của mình, bài
của bạn có đẹp không, có giống hệt mẫu của cô không, với tiết đề tài cho trẻ tự
đánh giá và nhận xét bài của nhau, sau khi trẻ nhận xét xong thì cô bổ xung về
cách bố cục, các nét vẽ, cách tô di mầu.
1.6 Biện pháp 6: Phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
Trong giờ đón trẻ cô trò chuyện với trẻ về chủ đề đang thực hiện, chủ đề
này có những bài hoạt động tạo hình gì.
Khi đến giờ hoạt động góc tôi dành thời gian cho trẻ vẽ thêm để bức tranh
hoàn chỉnh phù hợp với yêu cầu và đạt được ý tưởng sáng tạo của trẻ.
Trong giờ hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ quan sát sự vật, hiện tượng
ngoài trời. Sau khi cô cho trẻ vào lớp yêu cầu trẻ kể lại những gì trẻ vừa quan sát
được. Cô gợi ý để trẻ kể lại và đến giờ hoạt động chiều cô cho trẻ vẽ lại vào giấy
những gì trẻ quan sát được. Tôi thấy có trẻ vẽ vườn hoa có nụ, có hoa còn có cả
những con ong, con bướm đang bay lượn đậu trên hoa. Thông qua hoạt động ở
mọi lúc mọi nơi tôi thấy kết quả tạo hình và ý tưởng sáng tạo của trẻ ngày càng
12
được phát triển, trẻ mạnh dạn, tự tin hơn. Vì vậy mà sản phẩm sáng tạo cũng
nhanh chóng hoàn thiện trong hoạt động tạo hình.
1.7. Biện pháp 7: Phối hợp với phụ huynh nhằm phát triển khả năng
sáng tạo cho trẻ thông qua hoạt động tạo hình.
Tôi đã phối kết hợp với gia đình để phụ huynh biết cách chăm sóc và tạo
môi trường học tập cho trẻ trong hoạt động tạo hình thông qua việc trao đổi trực
tiếp với phụ huynh hoặc gián tiếp qua nhóm Zalo của lớp.
Những sản phẩm hoạt động tạo hình của trẻ tôi luôn treo ở khu vực sản
phẩm tạo hình ở bên ngoài lớp học để cho phụ huynh có thể quan sát khi mỗi lần
đón trả trẻ.
Khi kết hợp giữa gia đình và giáo viên chủ nhiệm tôi thấy trẻ có sự khác
biệt rõ nét hơn so với khi trẻ mới đến trường. Trẻ đã có khả năng quan sát, tư
duy, ghi nhớ và thể hiện khả năng sáng tạo trong hoạt động tạo hình. Đây cũng
là điều đáng ghi nhận của phụ huynh và những phấn khởi của họ khi thấy con
mình tiến bộ. Sau khi đưa ra các giải pháp và những biện pháp thực hiện tôi đã
tiến hành khảo sát trẻ với kết quả sau:
2. Đánh giá kết quả thu được
2.1. Tính mới, tính sáng tạo
Như chúng ta đã biết trẻ em là một thực thể tự nhiên giáo dục bắt đầu từ
đứa trẻ, trẻ là trung tâm của mọi hoạt động. Muốn đạt được mục tiêu đó trước
tiên tôi phải chú ý đến đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Trẻ ở đây sự tập trung chú ý
chưa bền vững trẻ thích những cái đẹp mới lạ có hấp dẫn cao, nên việc gây hứng
thú cho trẻ ở bộ hoạt động này lại càng quan trọng hơn bởi tính chất cứng nhắc
và khô khan có phần “kỷ luật”. Nếu như cô giáo cứ ép buộc trẻ ngồi học một
cách tuân thủ như một học sinh tiểu học hoặc một tiết dạy không có sáng tạo,
rập khuôn chưa có hình thức đổi mới còn theo phương pháp cũ dẫn đến trẻ uể
oải trong tiết học phân tán tư tưởng, nhàm chán, tiếp thu bài hạn chế. Và tôi đã
tìm ra một số giải pháp gây sự hứng thú cho trẻ đó là: Trước hết là chuẩn bị đầy
đủ đồ dùng cho cô và trẻ vì đồ dùng rất cần thiết, trẻ mẫu giáo suy nghĩ bằng
13
hình thức tư duy hình tượng tư duy gắn liền với tình cảm. Trẻ ghi nhớ những gì
gây ấn tượng mạnh, một câu chuyện hấp dẫn hay một bức tranh đẹp mới lạ.
Chính vì thế khi dạy một tiết “tạo hình” tôi cho rằng đồ dùng trực quan là yếu tố
đầu tiên yêu cầu điểm đặc biệt phải đảm bảo an toàn.
Khi trẻ tô màu trẻ thường cầm bút sai, ngồi không đúng tư thế, đối với
những trẻ cầm bút chưa đúng thì chúng tôi trực tiếp cầm tay cháu hướng dẫn trẻ
tô, viết sau đó để tự tô nhưng phải đứng gần trẻ để quan sát, hướng dẫn. Những
trẻ tô chậm thì tôi cho trẻ ngồi cạnh những trẻ giỏi để trẻ dễ quan sát học hỏi bạn
bên cạnh. Và với sự kiên trì cố gắng của cả cô và trẻ cuối cùng đa số trẻ lớp tôi
đã ngồi đúng tư thế khi tô, tô màu đẹp hơn, biết cách cầm bút…và thích các giờ
học tạo hình
2.2. Khả năng áp dụng và mang lại lợi ích thiết thực của sáng kiến
a. Khả năng áp dụng hoặc áp dụng thử, nhân rộng.
Bản thân tôi đã căn cứ vào cơ sở thực tiễn của trẻ, của giáo viên, của
tr
TÓM TẮT SÁNG KIẾN.....................................................................................1
...............................................................................................................................1
I – MỞ ĐẦU........................................................................................................2
1. Lý do chọn sáng kiến
2
2. Mục tiêu của sáng kiến 2
3. Phạm vi của sáng kiến
3
II – CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN..................................................3
1. Cơ sở lý luận 3
2. Cơ sở thực tiễn
4
III – NỘI DUNG SÁNG KIẾN..........................................................................7
1. Nội dung và những kết quả nghiên cứu của sáng kiến:
7
2. Đánh giá kết quả thu được12
III – KẾT LUẬN...............................................................................................15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................18
2
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Hoạt động tạo hình giúp trẻ có cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu các đối tượng
cụ thể, từ đó có thể tự hình dung xây dựng về đối tượng đó. Vai trò chính mà
hoạt động tạo hình là giúp trẻ phát triển trí tuệ: tư duy, trí tưởng tượng, trí nhớ…
và phát triển khả năng sáng tạo của trẻ
Xuất phát từ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn tại đơn vị, bằng những kinh
nghiệm trong những năm công tác cùng sự học hỏi, tham khảo tài liệu, ở đề tài
này tôi đã đưa ra 07 biện pháp nhằm phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ 5-6
tuổi thông qua hoạt động tạo hình. Bằng việc áp dụng các biện pháp đó trên thực
tế, tôi đã đánh giá và thu được kết quả mong muốn. Từ đó rút ra kết luận, những
bài học kinh nghiệm cũng như những kiến nghị, đề xuất để giúp việc thực hiện
đề tài đạt hiệu quả cao hơn
2
I – MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn sáng kiến
Hoạt động tạo hình là một trong những hoạt động vô cùng quan trọng đối
với trẻ lứa tuổi mầm non. Thông qua hoạt động tạo hình, trẻ em có nhiều cơ hội
tìm hiểu, nghiên cứu các đối tượng miêu tả để có được hiểu biết, sự hình dung
về các đối tượng, từ đó xây dựng các biểu tượng. Bởi vậy, có thể khẳng định
rằng, hoạt động tạo hình là một trong những phương tiện tích cực để phát triển ở
trẻ khả năng hoạt động trí tuệ như: óc quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng và
sự sáng tạo của trẻ.
Thông qua hoạt động tạo hình giúp trẻ phát triển các chức năng tâm lí như
khả năng tri giác các sự vật hiện tượng xung quanh, từ đó buộc trẻ phải tư duy
và quá trình đó làm phát triển óc tưởng tượng sáng tạo, ham muốn tạo ra cái đẹp.
Trẻ không chỉ khám phá mà còn sáng tạo bằng các đường nét, hình khối để tạo
ra sản phẩm nghệ thuật của mình.
Năm học ..., tôi được phân công giảng dạy lớp mẫu giáo 5 tuổi A, với số
trẻ là 20 cháu, đa số là các em dân tộc Tày, Nùng, nhu cầu hoạt động, khám phá
của trẻ rất tích cực nên việc tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ nhằm phát huy
khả năng sáng tạo là vô cùng quan trọng.
Với nhiều năm kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, tôi nhận thấy giáo
viên cần phải tổ chức tốt hoạt động tạo hình để phát huy tính sáng tạo của trẻ.
Từ những lý do trên mà tôi đã lựa chọn đề tài: "Biện pháp phát triển khả năng
sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động tạo hình trong trường mầm
non "
2. Mục tiêu của sáng kiến
Đề ra một số biện pháp cho trẻ 5 - 6 tuổi phát triển “ý tưởng sáng tạo”
thông qua hoạt động tạo hình.
3
3. Phạm vi của sáng kiến
- Đối tượng nghiên cứu: 20 cháu 5 – 6 tuổi trường mầm /…………..
- Không gian: Trẻ lớp mẫu giáo 5 tuổi A …………
- Thời gian: Năm học ...
II – CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận
Hoạt động tạo hình là một dạng hoạt động nghệ thuật nhằm giúp trẻ nhận
biết và phản ánh thế giới xung quanh thông qua những hình tượng nghệ thuật.
Hoạt động này là một dạng hoạt động có sản phẩm đặc trưng của trẻ mầm non.
Có bốn dạng hoạt động cơ bản sau: Vẽ, nặn, cắt – xé – dán – Lắp ghép xây
dựng. Trẻ 5 - 6 tuổi đã bước đầu biết sắp xếp các hình tượng trong mối quan hệ
giữa chúng. Trẻ có khả năng phân biệt và sử dụng được nhiều màu, với đặc
điểm như vậy nên năng khiếu nghệ thuật thường được nảy sinh ngay từ tuổi ấu
thơ. Vì vậy việc giáo dục thẩm mĩ cần được bồi dưỡng ngay từ tuổi mẫu giáo để
ươm mầm những tài năng nghệ thuật cho tương lai.
Hoạt động tạo hình góp phần góp phần quan trọng trong giáo dục thẩm mĩ
cho trẻ mầm non đặc biệt là đối với trẻ 5 - 6 tuổi, thông qua hoạt động tạo hình
phát triển ở trẻ khả năng cảm thụ thẩm mĩ và bồi dưỡng những cảm xúc thẩm
mĩ. Những vẻ đẹp đa dạng của hình dáng, sự phong phú về màu sắc của đồ vật,
thiên nhiên và sự lặp đi lặp lại của các yếu tố tạo hình như sự cân đối đa dạng về
cấu trúc hình dạng về tính truyền cảm của đường nét … đã thu hút hứng thú và
gây cho trẻ những xúc cảm, tình cảm thẩm mĩ ở trẻ được nảy sinh và trở lên sâu
sắc cùng với sự phát triển của cảm giác và sự phong phú của các biểu tượng, trẻ
tri giác thế giới xung quanh ngày càng có ý thức hơn.
Việc làm quen, tiếp xúc với các tác phẩm nghệ thuật tạo hình còn giúp trẻ
cảm thụ được vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống thể hiện qua ngôn ngư tạo hình
là đường nét, hình dáng, màu sắc và bố cục … càng làm cho trẻ hứng thú mong
4
muốn được tạo ra sản phẩm. Khi miêu tả đồ vật hiện tượng trẻ không chỉ miêu tả
lại hình dáng một cách thụ động mà bằng cảm xúc tích cực của trẻ, nảy sinh yếu
tố sáng tạo.
Thông qua hoạt động tạo hình, trẻ được tiếp thu cái đẹp, trẻ được trực tiếp
trải nghiệm các xúc cảm, các trạng thái tình cảm trong giao tiếp, học hỏi về các
kỹ năng xã hội và trẻ biết cách đánh giá các hành vi xã hội, qua hoạt động tạo
hình giúp trẻ có thói quen tự giác làm việc. Như vậy hoạt động tạo hình chỉ có
tính chất sáng tạo khi sự cảm thụ thẩm mĩ được phát triển và trẻ đã nắm được
những kỹ năng, kỹ sảo cần thiết, tạo hình là phương tiện diễn tả ý nghĩ và tình
cảm. Trẻ mầm non được tiếp xúc với nghệ thuật hoạt động tạo hình từ rất sớm,
ngay từ giai đoạn tiền tạo hình trẻ có trong tay những nguyên vật liệu nhưng các
hoạt động của các bộ phận như tay, mắt còn vô ý thức. Đến giai đoạn phát triển
sự liên tưởng của trẻ xuất hiện nhưng không bền vững. Cho đến giai đoạn tạo
hình trẻ đã biết và nắm vững các kiến thức kỹ năng về hoạt động tạo hình như:
Biết thể hiện sản phẩm nghệ thuật của mình bằng những đường nét, hình khối,
luật xa gần vào sản phẩm của mình.
2. Cơ sở thực tiễn
* Thuận lợi:
Trường Mầm non ………………… là trường có điều kiện cơ sở vật chất
đang còn thiếu rất nhiều, nhưng luôn được sự quan tâm của Phòng GD, Đảng
uỷ, UBND xã, các ban ngành đoàn thể, các bậc phụ huynh học sinh cùng với sự
nỗ lực, năng động sáng tạo của Ban giám hiệu và tập thể giáo viên trong nhà
trường trong nhiều năm qua đã có sự chuyển biến rõ rệt đặc biệt là về chất lượng
chăm sóc và giáo dục trẻ.
Nhà trường có đội ngũ giáo viên trẻ, khỏe, nhiệt tình yêu nghề mến trẻ.
Nhà trường luôn đề cao công tác chăm sóc và giáo dục trẻ, đó là việc làm quan
trọng và cần thiết đầu tiên. Nhà trường đã tạo điều kiện cho cán bộ giáo viên
5
tham gia các lớp chuyên đề, bồi dưỡng kiến thức nâng cao năng lực cho giáo
viên trong công tác dạy và học.
Phụ huynh luôn quan tâm đưa đón trẻ đến trường đi học đầy đủ. Thường
xuyên phối kết hợp với nhà trường, gia đình trong việc chăm sóc giáo dục trẻ,
tạo cho phụ huynh có niềm tin nơi giáo viên.
Bản thân được nhà trường phân công giáo viên chủ nhiệm lớp 5 – 6 tuổi,
có kinh nghiệm trong công tác giảng dạy.
Cảnh quan nhà trường thoáng mát, có cây che bóng mát, cây cảnh góp
phần rất lớn cho trẻ quan sát, từ đó cung cấp cho trẻ những biểu tượng thể hiện
sự hiểu biết của mình về thế giới xung quanh. Trẻ phần lớn là con em nông thôn
nên có điều kiện tiếp xúc trải nghiệm nhiều với môi trường thực tế.
* Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi nhà trường và giáo viên trong quá trình thực
hiện cũng gặp không ít khó khăn như:
Trường mầm non xã Thụy Hùng có địa bàn dài, có thôn xóm cách trường
xa nên trong những ngày thời tiết không thuận lợi vất vả cho phụ huynh trong
việc đưa đón trẻ đến trường. Phòng học diện tích hẹp, cấu trúc không hợp lý nên
việc tổ chức giờ hoạt động tạo hình còn gặp rất nhiều trở ngại như không có diện
tích trưng bày sản phẩm.
Môi trường cho trẻ hoạt động còn nghèo nàn. Tài liệu tham khảo còn hạn
chế. Cơ sở vật chất trang thiết bị trong và ngoài nhóm lớp còn chưa đầy đủ để
phục vụ cho các hoạt động chung, hoạt động tạo hình nói riêng còn hạn chế.
Do điều kiện kinh tế khó khăn phụ huynh phải đi làm ăn xa, gửi con cho ông
bà chăm sóc, dẫn đến việc chăm sóc giáo dục cũng như đưa trẻ đến trường còn gặp
khó khăn. Chất lượng trẻ ở trên lớp không đồng đều. Việc phụ huynh nhận thức về
hoạt động tạo hình còn chưa rõ ràng dẫn đến kết quả của trẻ chưa cao.
Ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên trẻ còn nghỉ học ở nhà nhiều
6
Xuất phát từ những thuận lợi và khó khăn trên tôi không ít trăn trở và tìm
ra phương pháp, biện pháp để phát huy hết khả năng hứng thú làm sao để trẻ có
nhiều “ý tưởng sáng tạo” trong hoạt động tạo hình một cách hiệu quả nhất.
Khảo sát thực trạng:
Bảng 1: Kết quả khảo sát thực trạng:
Số
Đạt yêu cầu
Chưa yêu cầu
trẻ
Số trẻ
%
Số trẻ
%
Hứng thú tạo hình
20
12
60
8
40
Hiểu biết xã hội
20
12
60
8
40
Có kỹ năng tạo hình
20
10
50
10
50
Có ý tưởng sáng tạo
20
9
45
11
55
Nội dung khảo sát
Qua khảo sát ban đầu như trên, tôi thấy kết quả trên trẻ chưa đạt yêu cầu
còn cao dao động từ 40% đến 55%
Nguyên nhân: Trong quá trình hoạt động dạy và học của cô và trò còn tồn
tại vấn đề sau:
Trẻ chưa có kỹ năng về nghệ thuật tạo hình.
Trẻ chưa biết cảm nhận được cái đẹp và sáng tạo ra cái đẹp trong tác
phẩm của mình.
Việc lập kế hoạch và thiết kế hoạt động của cô chưa linh hoạt sáng tạo
còn gò bó áp đặt trẻ.
Giáo viên chưa thật sự tạo cơ hội cho trẻ tự do hoạt động, tự do thể hiện
cảm xúc – suy nghĩ hay tự chọn sản phẩm.
Nguyên vật liệu tạo hình khá cứng nhắc và thậm chí quá hạn hẹp đối với
trẻ, thiếu sự kết hợp những nguyên vật liệu đơn giản và gần gũi từ thiên nhiên.
7
Phương pháp tích hợp lồng ghép các chuyên đề còn lúng túng, chưa phù
hợp với chủ đề và nội dung cho nên chất lượng chưa cao.
III – NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Nội dung và những kết quả nghiên cứu của sáng kiến:
1.1 Biện pháp 1: Xây dựng môi trường giáo dục nhằm phát triển khả
năng sáng tạo cho trẻ
Xây dựng môi trường vật chất: Tôi đã trang trí các góc chơi trong lớp học
với nhiều hình ảnh, màu sắc vui tươi, ngộ nghĩnh để cho trẻ được tiếp xúc với
cái đẹp, giúp trẻ hứng thú tham gia vào các hoạt động. Bố trí góc tạo hình có đủ
ảnh sánh, đồ dùng đồ chơi đa dạng, với những nguyên vật liệu mở để cho trẻ
phát huy sức sáng tạo của mình
VD: Các loại giấy màu, dây trang trí, giây ruybang, đất nặn, bút sáp, bút
chì màu, kim sa…
Nguyên vật liệu thiên nhiên: lá cây, vỏ sò, hến; hột hạt
Nguyên vật liệu tái sử dụng: Tranh ảnh cũ, bìa cattong, len vụn, vải vụn…
Các nguyên liệu đồ dùng trong góc tạo hình được trang trí xắp xếp mang
tính gợi mở, phù hợp với chủ đề, kích thích trẻ tích cực hoạt động theo khả
năng, hứng thú, sở thích của trẻ. VD: Để trẻ dễ lựa chọn đồ dùng khi vào góc tạo
hình tôi đã phân loại theo chất liệu từng loại sau đó cho vào mỗi chiếc hộp, hay
để trong rổ có dán kí hiệu minh họa.
Để tạo môi trường tinh thần cho trẻ tôi luôn có những cử chỉ nhẹ nhàng,
những lời gợi mở, khuyến khích trẻ như vậy sẽ làm cho trẻ tự tin tích cực tham
gia vào hoạt động. Đồng thời tôi luôn hướng vào việc lấy trẻ làm trung tâm, để
trẻ tự đặt ra những câu hỏi nhằm khám phá về đối tượng
VD: Trẻ hỏi: Cô ơi! bông này để làm gì vậy cô? Cô ơi tô con chó màu gì?
Thông thường giáo viên sẽ chỉ đưa ra lời chỉ dẫn, hướng dẫn trẻ để giúp trẻ
nhanh chóng hoàn thiện bài tạo hình của trẻ, nhưng để phát huy chó thường có
màu gì? Con thích tô con chó màu gì? Như vậy sẽ khơi gợi được cảm xúc thẩm
mĩ và hứng thú cho trẻ.
8
Khi nhận xét sản phẩm của trẻ, tôi luôn để trẻ tự chọn những sản phẩm
mà trẻ yêu thích, sau đó tôi hỏi tại sao con lại yêu thích sản phẩm đó, sản phẩm
đó có đặc điểm gì, sau đó tôi sẽ để tác giả của sản phẩm đó nêu lên cách thực
hiện nên tác phẩm đó, qua đó trẻ được nói lên cảm nhận, suy nghĩ của mình, góp
phần vào việc giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
Để lôi cuốn trẻ tham gia vào các hoạt động, hoạt động ổn định gây hứng
thú vô cùng quan trọng, để giúp trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động, tôi đã sử
dụng các thủ thuật để lôi cuốn trẻ như: tạo tình huống, đóng kịch, cho đi xem
triển lãm tranh... với những bức tranh được chuẩn bị cẩn thận, chu đáo, để cho
trẻ quan sát, hứng thú, tham gia vào hoạt động.
Ví dụ: Đề tài “Xé dán trang trí thiệp chúc mừng 8/3” (Thể loại mẫu) Tôi
tạo một tình huống là nhân ngày 8/3 hàng năm, ngày hội của các cô giáo thì
chúng mình hãy cùng trang trí những tấm thiệp chúc mừng đẹp nhất gửi đến các
cô giáo.
1.2. Biện pháp 2: Tận dụng các phế liệu sẵn có ở địa phương để tạo ra
sản phẩm nghệ thuật tạo hình.
Để tạo ra các sản phẩm tạo hình, tôi đã tận dụng những học liệu ở địa
phương có sẵn, dễ tìm để dạy trẻ làm đồ chơi. Ví dụ: Dạy trẻ “Làm đồ chơi bằng
các loại lá cây”. Trong giờ hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ nhặt các loại lá cây ở
sân trường, cô chuẩn bị lá xanh các loại để vào giờ hoạt động tạo hình hoặc hoạt
động góc hướng cho trẻ làm. Ví dụ: Chủ đề: động vật cho trẻ làm những con vật
bằng lá cây (chủ yếu lá vàng và lá khô),
Ở góc sáng tạo, tôi đã sử dụng các nguyên vật liệu sẵn có như chai nhựa,
vỏ hộp sữa, ống nhựa, túi bóng.... để làm những đồ dùng đồ chơi cho trẻ. Sử
dụng các nguyên vật liệu mở như bông, hạt đỗ, hạt ngô, ống hút... để tạo thành
các bức tranh mẫu cho trẻ quan sát. Từ đó khơi gợi sự sáng tạo cho trẻ
Biện pháp này đã giúp trẻ ý thức quan sát sự vật xung quanh để sưu tập
hình ảnh đẹp, phù hợp với chủ đề. Các học liệu rất cần thiết để cho hoạt động
9
tạo hình của trẻ nhưng vật liệu đó phải đảm bảo vệ sinh và an toàn cho trẻ. Có
như vậy thì giờ hoạt động tạo hình mới thu được kết quả cao hơn.
1.3. Biện pháp 3: Tạo tình huống gợi mở cho trẻ nhằm phát triển ý tưởng
sáng tạo và phát huy tính tích cực chủ động của trẻ trong hoạt động nghệ thuật
tạo hình.
Để khơi gợi sự sáng tạo cho trẻ, tôi luôn tạo cho trẻ nhiều tình huống khác
nhau để trẻ làm thử hoặc lựa chọn cách giải quyết của mình, ở đây tuỳ vào
trường hợp cụ thể tôi cho trẻ tự giải quyết và dùng những từ hình tượng để miêu
tả cảm xúc của mình, ý kiến của mình.
Ví dụ: Với chủ đề “Nghề nghiệp” Tôi tạo ra một tình huống hỏi trẻ:
Ước mơ của con khi lớn lên các con sẽ làm nghề gì? (Trẻ trả lời)
Vậy để ước mơ đó được trở thành hiện thực thì con phải làm gì?
Công việc của nghề đó là làm những công việc gì?
Phương tiện, công cụ của nghề đó là gì? (Trẻ kể)
Từ ý thích đó trẻ thực hiện vào sản phẩm đạt hiệu quả rất cao. Mỗi trẻ đã
vẽ được đồ dùng, phương tiện … của nghề đó với hình dạng rất sinh động phong
phú và có cả những chi tiết sáng tạo trong từng sản phẩm nghệ thuật. Qua một
số tình huống như vậy tôi đã quan sát thấy trẻ không những hứng thú tham gia
vào hoạt động học tập mà còn tạo ra nhiều ý tưởng sáng tạo cho trẻ.
Việc sử dụng câu hỏi mở trong hoạt động tạo hình của trẻ vô cùng quan
trọng, tôi đã tăng cường sử dụng các câu hỏi gợi mở, gợi ý để giúp trẻ vận dụng
những kiến thức kỹ năng kinh nghiệm đã lĩnh hội được trong các hoạt động khác
nhau, khuyến khích trẻ suy nghĩ tìm ra cách giải quyết vấn đề và trẻ sẽ có nhiều
ý tưởng sáng tạo cho cách hiểu, cách cảm nhận của riêng mình.
Ví dụ: Đề tài “Vẽ hoa mùa xuân”. Tôi sử dụng một số câu hỏi trò chuyện
với trẻ như sau:
Mùa xuân thường có các loại hoa nào?
Các bông hoa thường có màu gì?
Cánh hoa có những dạng cánh như nào? (Cánh tròn, cánh nhọn...)
10
Qua một số câu hỏi gợi mở, trò chuyện cùng trẻ tôi đã giúp trẻ tư duy, tìm
tòi suy nghĩ sáng tạo ra những bức tranh vẽ về biển như sau: Có trẻ vẽ hoa cánh
nhọn, trẻ vẽ hoa cánh tròn, trẻ vẽ hoa màu đỏ, trẻ vẽ hoa màu vàng...
Qua việc sử dụng các câu hỏi gợi mở trong hoạt động tạo hình cho trẻ, trẻ
hăng say phát biểu, cùng khám phá các hiện tượng sự vật. Từ đó trẻ đã biết vận
dụng kiến thức, kỹ năng đã học đã biết của mình để sáng tạo ra sản phẩm có nội
dung phong phú phù hợp với yêu cầu của cô
1.4. Biện pháp 4: Tích hợp các hoạt động giáo dục vào trong hoạt động
tạo hình nhằm phát huy sự sáng tạo của trẻ
Việc lồng ghép tích hợp các hoạt động mang tính giáo dục vào tiết dạy là
việc làm giúp bổ ích giúp trẻ tích lũy và phát huy sự sáng tạo của mình trong
từng sản phẩm và mang tính chất giáo dục cao.
Với chủ đề: Gia đình lồng ghép chuyên đề tiết kiệm năng lượng điện,
nước và phòng tránh tai nạn cho trẻ. Ví dụ: Với đề tài “Nặn đồ dùng trong gia
đình” (Thể loại đề tài) tôi đã lồng ghép chuyên đề tiết kiệm năng lượng điện và
phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ. Qua bài học này giáo dục trẻ biết cách
sử dụng, giữ gìn và bảo vệ các đồ dùng trong gia đình. Đối với đồ dùng sử dụng
điện khi dùng phải cẩn thận, không được chơi gần ổ điện, không được tự ý cắm
điện rất nguy hiểm, dễ bị bỏng và bị điện giật, nên nhớ khi nào cần dùng thì mới
mở điện và khi nào không dùng phải tắt để tiết kiệm điện.
1.5. Biện pháp 5: Đổi mới hình thức nhận xét, đánh giá sản phẩm tạo
hình của trẻ
Đánh giá sản phẩm tạo hình của trẻ là một khâu quan trọng của quá trình
dạy trẻ hoạt động tạo hình và là khâu cuối cùng của giờ học, sản phẩm tạo hình
bao gồm bài vẽ, xé, dán, nặn. Khi nhận xét sản phẩm tạo hình của trẻ tôi luôn
đứng ở góc độ tạo hình song không nhìn nó theo các quy chuẩn thật chính xác.
Sản phẩm của trẻ còn thô, vụng về, vẽ nét cong, nét thẳng chưa đẹp, chưa đúng,
còn thiếu nét, do vậy khi đánh giá, tôi luôn đứng về phía trẻ, để hiểu trẻ định
miêu tả cái gì, sản phẩm thể hiện được trẻ suy nghĩ gì. Muốn diễn tả điều gì để
11
thấy được cái hay, sự trong sáng trong tâm hồn trẻ, tính độc đáo chỉ có ở trẻ.
Việc nhận xét sản phẩm của giáo viên đối với sản phẩm của trẻ cũng rất
quan trọng, nó giúp cho trẻ rút được những kinh nghiệm để làm tốt hơn vào lần
sau, cũng như bước đầu hình thành khả năng nhận xét đánh giá tác phẩm nghệ
thuật trên bản thân trẻ. Biết rõ điều đó trong các giờ tạo hình tôi luôn biết cách
động viên khích lệ trẻ đúng lúc và cũng khéo léo nêu ra những hạn chế còn trên trẻ
để không làm trẻ tự thấy thoả mãn ở khả năng bản thân của mình để tiếp tục cố
gắng hơn nữa. Bên cạnh đó, trong các giờ hoạt động tôi luôn đặt những câu hỏi
như:
Để hình thành ở trẻ những tiền đề đánh giá, nhận xét sản phẩm, khi đánh
giá sản phẩm của trẻ tôi không trực tiếp đánh giá ngay kết quả sản phẩm trẻ vừa
làm được, mà đối với những bài chưa hoàn chỉnh hay trẻ làm chưa đúng với yêu
cầu tôi đều hỏi trẻ và động viên khích lệ trẻ để sản phẩm bài sau của trẻ được
hoàn chỉnh tốt hơn. Đối với tiết mẫu cho trẻ nhận xét bài của bạn, của mình, bài
của bạn có đẹp không, có giống hệt mẫu của cô không, với tiết đề tài cho trẻ tự
đánh giá và nhận xét bài của nhau, sau khi trẻ nhận xét xong thì cô bổ xung về
cách bố cục, các nét vẽ, cách tô di mầu.
1.6 Biện pháp 6: Phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
Trong giờ đón trẻ cô trò chuyện với trẻ về chủ đề đang thực hiện, chủ đề
này có những bài hoạt động tạo hình gì.
Khi đến giờ hoạt động góc tôi dành thời gian cho trẻ vẽ thêm để bức tranh
hoàn chỉnh phù hợp với yêu cầu và đạt được ý tưởng sáng tạo của trẻ.
Trong giờ hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ quan sát sự vật, hiện tượng
ngoài trời. Sau khi cô cho trẻ vào lớp yêu cầu trẻ kể lại những gì trẻ vừa quan sát
được. Cô gợi ý để trẻ kể lại và đến giờ hoạt động chiều cô cho trẻ vẽ lại vào giấy
những gì trẻ quan sát được. Tôi thấy có trẻ vẽ vườn hoa có nụ, có hoa còn có cả
những con ong, con bướm đang bay lượn đậu trên hoa. Thông qua hoạt động ở
mọi lúc mọi nơi tôi thấy kết quả tạo hình và ý tưởng sáng tạo của trẻ ngày càng
12
được phát triển, trẻ mạnh dạn, tự tin hơn. Vì vậy mà sản phẩm sáng tạo cũng
nhanh chóng hoàn thiện trong hoạt động tạo hình.
1.7. Biện pháp 7: Phối hợp với phụ huynh nhằm phát triển khả năng
sáng tạo cho trẻ thông qua hoạt động tạo hình.
Tôi đã phối kết hợp với gia đình để phụ huynh biết cách chăm sóc và tạo
môi trường học tập cho trẻ trong hoạt động tạo hình thông qua việc trao đổi trực
tiếp với phụ huynh hoặc gián tiếp qua nhóm Zalo của lớp.
Những sản phẩm hoạt động tạo hình của trẻ tôi luôn treo ở khu vực sản
phẩm tạo hình ở bên ngoài lớp học để cho phụ huynh có thể quan sát khi mỗi lần
đón trả trẻ.
Khi kết hợp giữa gia đình và giáo viên chủ nhiệm tôi thấy trẻ có sự khác
biệt rõ nét hơn so với khi trẻ mới đến trường. Trẻ đã có khả năng quan sát, tư
duy, ghi nhớ và thể hiện khả năng sáng tạo trong hoạt động tạo hình. Đây cũng
là điều đáng ghi nhận của phụ huynh và những phấn khởi của họ khi thấy con
mình tiến bộ. Sau khi đưa ra các giải pháp và những biện pháp thực hiện tôi đã
tiến hành khảo sát trẻ với kết quả sau:
2. Đánh giá kết quả thu được
2.1. Tính mới, tính sáng tạo
Như chúng ta đã biết trẻ em là một thực thể tự nhiên giáo dục bắt đầu từ
đứa trẻ, trẻ là trung tâm của mọi hoạt động. Muốn đạt được mục tiêu đó trước
tiên tôi phải chú ý đến đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Trẻ ở đây sự tập trung chú ý
chưa bền vững trẻ thích những cái đẹp mới lạ có hấp dẫn cao, nên việc gây hứng
thú cho trẻ ở bộ hoạt động này lại càng quan trọng hơn bởi tính chất cứng nhắc
và khô khan có phần “kỷ luật”. Nếu như cô giáo cứ ép buộc trẻ ngồi học một
cách tuân thủ như một học sinh tiểu học hoặc một tiết dạy không có sáng tạo,
rập khuôn chưa có hình thức đổi mới còn theo phương pháp cũ dẫn đến trẻ uể
oải trong tiết học phân tán tư tưởng, nhàm chán, tiếp thu bài hạn chế. Và tôi đã
tìm ra một số giải pháp gây sự hứng thú cho trẻ đó là: Trước hết là chuẩn bị đầy
đủ đồ dùng cho cô và trẻ vì đồ dùng rất cần thiết, trẻ mẫu giáo suy nghĩ bằng
13
hình thức tư duy hình tượng tư duy gắn liền với tình cảm. Trẻ ghi nhớ những gì
gây ấn tượng mạnh, một câu chuyện hấp dẫn hay một bức tranh đẹp mới lạ.
Chính vì thế khi dạy một tiết “tạo hình” tôi cho rằng đồ dùng trực quan là yếu tố
đầu tiên yêu cầu điểm đặc biệt phải đảm bảo an toàn.
Khi trẻ tô màu trẻ thường cầm bút sai, ngồi không đúng tư thế, đối với
những trẻ cầm bút chưa đúng thì chúng tôi trực tiếp cầm tay cháu hướng dẫn trẻ
tô, viết sau đó để tự tô nhưng phải đứng gần trẻ để quan sát, hướng dẫn. Những
trẻ tô chậm thì tôi cho trẻ ngồi cạnh những trẻ giỏi để trẻ dễ quan sát học hỏi bạn
bên cạnh. Và với sự kiên trì cố gắng của cả cô và trẻ cuối cùng đa số trẻ lớp tôi
đã ngồi đúng tư thế khi tô, tô màu đẹp hơn, biết cách cầm bút…và thích các giờ
học tạo hình
2.2. Khả năng áp dụng và mang lại lợi ích thiết thực của sáng kiến
a. Khả năng áp dụng hoặc áp dụng thử, nhân rộng.
Bản thân tôi đã căn cứ vào cơ sở thực tiễn của trẻ, của giáo viên, của
tr
 








Các ý kiến mới nhất