Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

NIÊN LỊCH MIỀN GIÓ CÁT

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 10h:00' 15-03-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích: 0 người
Niên Lịch Miền Gió Cát
Tác giả: Aldo Leopold
Người dịch: Dương Mạnh Hùng
Phát hành: Phương Nam Book
NXB Lao động – Xã hội 6/2020
—★—
ebook©vctvegroup

Niên Lịch Miền Gió Cát như một sự tổng hòa giữa lịch sử
tự nhiên, nghệ thuật miêu tả phong cảnh bằng ngôn từ và
cả triết học. Bằng việc ghi chép lại những thay đổi của sinh
vật tại khu trang trại ở Wisconsin, Leopold đã khéo léo mô
tả vẻ đẹp thiên nhiên, mối liên hệ giữa từng sinh vật với cả
hệ sinh thái. Những bài viết này không chỉ thể hiện sự quan
sát, khảo cứu và kiến văn của Leopold về địa chất - sinh
thái, mà còn thể hiện rõ quan điểm của ông về đạo đức đất
đai: Một hành động là đúng đắn khi nó hướng tới việc bảo
tồn được tính toàn vẹn, ổn định và vẻ đẹp của cộng đồng
sinh vật. Hành động đó là sai nếu không bảo tồn được
những điều vừa nói…
Năm 1990, Hiệp hội Nghiên cứu Tự nhiên Mỹ đã bầu
chọn Niên Lịch Miền Gió Cát cùng với Mùa xuân vắng lặng
(Silent Spring) của Rachel Carson là hai cuốn sách đáng
trân trọng và đáng chú ý nhất về chủ đề môi trường trong
thế kỷ 20.
Đã một thế kỷ trôi qua kể từ khi Darwin vén màn bí mật
về nguồn gốc muôn loài. Chúng ta giờ đây đã biết những
điều mà các thế hệ đi trước không hề hay biết: con người
chỉ là những người bạn đồng hành cùng các loài vật khác
trong chuyến phiêu lưu tiến hóa. Nhận thức mới này đáng
lẽ giờ đây đã phải khiến chúng ta có một tình anh em khăng
khít với các sinh vật khác, một mong ước được sống và cùng
sống, một tâm thế ngưỡng mộ trước sự đường bệ và chiều
dài tiến hóa của cả cộng đồng sinh thể.

Và trên hết, sau một thế kỷ, chúng ta đáng lẽ đã phải
nhận ra rằng, mặc dù con người giờ đây đã trở thành
thuyền trưởng lèo lái con tàu phiêu lưu này nhưng chúng ta
không phải là hành khách duy nhất, và những lầm tưởng về
vị thế của chúng ta đều bắt nguồn từ sự mông lung ngu
muội.

“Một trong những tác phẩm cực kỳ quan trọng và có
tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào môi trường.”
— The Boston Globe
“Cuốn sách có thể được đặt trên cùng kệ với các tác
phẩm của Thoreau và John Muir.”
— The San Francisco Chronicle

ALDO LEOPOLD (1887-1948) là nhà khoa học, nhà địa
chất học, nhà triết học và nhà môi trường học người Mỹ.
Tên tuổi của ông có tầm ảnh hưởng lớn đối với lịch sử phát
triển của lĩnh vực đạo đức môi trường, đặc biệt trong phong
trào bảo tồn thiên nhiên hoang dã.
Ông là giáo sư tại Đại học Wisconsin và nổi tiếng với tác
phẩm Niên lịch miền gió cát – cuốn sách đã bán được hơn
hai triệu bản.

LỜI TỰA

Trong

cuộc sống, những gì thuộc về tự nhiên có thể
không cần thiết với người này, nhưng lại hoàn toàn thiết
yếu cho sự tồn tại của người khác. Những tiểu luận này chia
sẻ niềm hân hoan cũng như nỗi trăn trở của một kẻ không
thể sống thiếu thiên nhiên.
Như gió và hoàng hôn, chúng ta luôn coi những gì hoang
dã là nghiễm nhiên có được trong tay, cho đến ngày công
cuộc phát triển dẹp bỏ chúng đi. Giờ đây, chúng ta phải đối
diện với câu hỏi rằng liệu một mức sống “ngày càng cao” có
đáng để đánh đổi những điều tự do và hoang dã hay không.
Với nhóm thiểu số chúng tôi, cơ hội ngắm nhìn một đàn
ngỗng còn quan trọng hơn xem ti-vi, và việc tìm thấy một
bông hoa đồng nội là một quyền lợi không thể chối cãi như
quyền tự do ngôn luận vậy.
Những thứ hoang dã này, tôi công nhận, chứa đựng rất ít
giá trị con người cho tới khi máy móc cơ giới đảm bảo cho
chúng ta bữa ăn sáng thịnh soạn, và cho tới khi khoa học
bóc tách mổ xẻ câu chuyện về nguồn gốc cũng như cách
sống của chúng.
Mâu thuẫn giữa hai phe đa số và thiểu số vì thế tóm gọn
lại trong câu hỏi về mức độ. Nhóm thiểu số chúng tôi nhận

thấy một quy luật: giá trị nhận lại đang ngày càng giảm,
còn nhóm đối kháng với chúng tôi thì không.
დღდ
Chúng ta luôn phải học cách liệu cơm gắp mắm. Những
bài viết được gộp thành ba phần này là nỗ lực thực hiện
điều đó của tôi.
Phần I kể về những gì gia đình tôi thấy và làm trong
những buổi cuối tuần đi trốn khỏi thế giới hiện đại ngột
ngạt bủa vây, khi chúng tôi lánh tới “túp lều”. Tại trang trại
trên miền gió cát này ở Wisconsin, mới đầu là một nơi xập
xệ bị xã hội quên lãng, chúng tôi đã cố gắng gầy dựng lại,
với xẻng và cưa, những gì chúng tôi đã đánh mất ở các nơi
khác. Chính tại nơi đây chúng tôi tìm kiếm, đến giờ vẫn tìm,
nguồn lương thực từ Chúa trời.
Những bài viết này được sắp xếp theo tháng thành một
“Niên lịch Miền gió cát”.
Phần II, “Những phác họa đó đây”, hồi tưởng lại những
trải nghiệm trong đời đã khiến tôi dần dần nhận ra một
cách chua xót rằng xã hội của chúng ta đang ngày càng đi
lệch quỹ đạo. Những hành trình trải rộng khắp châu lục
qua bốn mươi năm này đại diện cho các vấn đề nằm cùng
dưới một cái nhãn mang tên bảo tồn.
Phần III, “Buổi yến tiệc”, bày biện theo trình tự lô-gích
một vài ý tưởng mà nhóm thiểu số chúng tôi dùng để minh
chứng cho ý kiến bất đồng của mình. Chỉ có những người
đọc với sự đồng cảm sâu sắc mới muốn thử thách mình

bằng những câu hỏi triết lý ở phần III. Tôi nghĩ rằng những
bài viết trong phần này sẽ gợi dẫn cho chúng ta cách để
đưa xã hội quay trở về quỹ đạo.
დღდ
Việc bảo tồn đang không đi đến đâu vì nó không ăn nhập
gì với khái niệm của chúng ta về đất đai từ thời ông tổ
Abraham. Chúng ta lạm dụng đất đai vì chúng ta coi nó như
một thứ của cải thuộc về mình, chỉ khi nào chúng ta nhìn
nhận đất đai như một phần cộng đồng chúng ta thuộc về,
khi đó chúng ta mới có thể bắt đầu sử dụng nó một cách
yêu thương trân trọng. Sẽ không có cách nào khác để đất
đai tiếp tục chịu đựng ảnh hưởng của xã hội cơ giới hóa,
hay để chúng ta tiếp tục gặt hái những mùa màng bội thu
và giá trị văn hóa từ đất đai.
Việc coi đất đai như một tổ hợp cộng đồng là một khái
niệm cơ bản trong sinh thái học, nhưng việc coi đất đai như
một thứ để yêu thương trân trọng lại là phần mở rộng của
đạo đức. Sự thật rằng đất đai hàm ẩn các giá trị văn hóa là
một sự thật lâu đời, nhưng gần đây hầu như đã rơi vào quên
lãng.
Các tiểu luận sau đây sẽ cố gắng khơi lại ba suy niệm
trên.
Cách hiểu như vậy về đất và người hẳn nhiên phụ thuộc
rất nhiều vào lớp lang trải nghiệm và định kiến cá nhân.
Nhưng dẫu cho sự thật nằm ở đâu thì ta cũng nhận thấy
một điều hiển nhiên, rằng xã hội ngày càng “phồn vinh”
của chúng ta giờ đây chẳng khác gì một kẻ mắc bệnh

tưởng, ám ảnh về sức khỏe kinh tế của mình đến độ hoàn
toàn mất đi khả năng đề kháng. Cả thế giới phát cuồng lên
sản xuất bồn tắm hàng loạt đến độ chúng ta mất đi thế cân
bằng để sản xuất, hay thậm chí là để tắt vòi nước. Giờ đây,
không có điều gì đáng tuyên dương hơn là một chút khinh
thường gờn gợn với những núi vật chất ngồn ngộn này.
Có lẽ sự thay đổi trong hệ giá trị đó có thể đạt được nếu
chúng ta nhìn nhận lại những gì phi tự nhiên, đã thuần hóa
và trói buộc qua lăng kính của những gì tự nhiên, hoang dã
và tự do.
ALDO LEOPOLD
Madison, Wisconsin
Ngày 4 tháng Ba năm 1948

PHẦN I
NIÊN LỊCH MIỀN GIÓ CÁT

THÁNG GIÊNG
Tháng Giêng tuyết tan

Hàng năm, sau những cơn bão tuyết giữa kỳ đông chí, sẽ
có một buổi tối mà khắp đất trời tí tách vang lên tiếng
những giọt tuyết tan chảy khi vạn vật chuyển mình rã đông.
Thời khắc này không chỉ làm xao động tâm hồn các giống
loài đang say ngủ, mà còn đánh động cả những loài đã ngủ
vùi trong suốt mùa đông. Con chồn hôi ngủ đông, lúc này
đang cuộn tròn sâu bên trong ổ, duỗi mình và bước ra thăm
thú sục sạo thế giới ẩm ướt bên ngoài, kéo lê cái bụng trên
lớp tuyết. Dấu vết mà nó để lại sẽ đánh dấu một trong
những mốc sự kiện sớm nhất trong cái chu kỳ của khởi
nguồn và kết thúc mà chúng ta vẫn gọi là một năm.
Vết chân con chồn ít khi thể hiện một mối bận tâm đến
những diễn biến đời thường hiếm gặp trong các mùa khác;
nó cứ băng băng chạy thẳng qua miền đồng quê, như thể
chủ nhân của con đương tự tạo này đã buông dây cương cỗ
xe của mình và để cho nó cứ thế bám đuôi một vì tinh tú.
Tôi lần theo dấu chân con chồn, lòng không khỏi tò mò
muốn luận ra suy tư cũng như tập tính ăn uống của con vật,
hay cả đích đến nếu có trong đầu nó.

დღდ
Các tháng trong năm, từ tháng Giêng đến tháng Sáu, là
một chuỗi tịnh tiến theo cấp số nhân của vô vàn những điều
cám dỗ lòng người. Vào tháng Giêng, ta có thể lần theo vết
chân loài chồn hôi, hay tìm kiếm bầy chim bạc má, hay
quan sát xem lũ hươu đang nhấm nháp những nhánh thông
non nào, hay lùng xem những cái tổ chuột xạ hương mới
đắp. Trong những cuộc thăm thú tháng Giêng lãng đãng và
dung dị như sương tuyết, dàn trải như cái lạnh cuối đông,
chỉ thỉnh thoảng thì tâm trí ta mới xao nhãng và sa đà vào
việc khác. Thời gian dư dả cho phép ta không chỉ mục sở thị
loài nào đã làm những gì, mà còn ngẫm ngợi về lý do đằng
sau của chúng.
დღდ
Một con chuột đồng, giật mình khi nghe tiếng chân tôi
bước lại gần, phóng ngang qua vệt đường ướt nước mà con
chồn hôi để lại. Tại sao nó lại hiện hữu ngay giữa ban ngày
như thế? Có lẽ nó đang lấy làm phiền lòng vì mùa tuyết tan.
Hôm nay, mê lộ mà nó đã dày công gặm nhấm tạo lối trong
đám cỏ bết chôn vùi dưới tuyết không còn là những đường
hầm bí mật nữa, mà chỉ còn là những tuyến đường lộ thiên
phơi bày ra cho thiên hạ soi mới chế nhạo. Quả thực, ánh
nắng sưởi ấm của mặt trời đã giễu cợt nơi trú thân căn bản
trong hệ thống sinh hoạt loài chuột!
Con chuột đồng như một công dân thức thời hiểu rằng
cỏ mọc sẽ giúp nó tích trữ những bó rơm làm đường, và

tuyết rơi sẽ tạo điều kiện cho nó dùng từng bó rơm đó để
xây nên những đường hầm: một trật tự cung - cầu và vận
chuyển hết sức chặt chẽ. Với con chuột, tuyết rơi đồng
nghía với việc được giải thoát khỏi nhu cầu sinh tồn và nỗi
sợ thường trực.
დღდ
Một con diều hâu chân xù đang từ trên trời sà xuống
phía cánh đồng trước mặt. Lúc thì nó dừng lại, có lúc lại
chao liệng như một con bói cá, rồi bổ nhào xuống đồng cỏ
ngập nước như một trái bom phủ lông. Nó không bay lên
sau đó nữa, nên tôi dám chắc rằng nó đã bắt được mồi, và
giờ thì đang xé thịt một kỹ sư chuột đồng nào đó không đủ
kiên nhẫn để đợi trời tối trước khi mò ra xem xét những chỗ
sập lở trong cái thế giới ngăn nắp mà mình tạo ra.
Con diều hâu không màng gì đến chuyện tại sao cỏ lại
mọc, nhưng nó nhận thức rõ rệt rằng tuyết tan sẽ giúp cho
diều hâu có thể tiếp tục bắt chuột. Và nó đã bay xuống đây
từ Bắc cực lạnh giá với hy vọng sẽ gặp đúng mùa tuyết tan,
vì tuyết tan đối với loài diều hâu đồng nghĩa với việc được
giải thoát khỏi nhu cầu sinh tồn và nỗi sợ thường trực.
დღდ
Vết chân con chồn dẫn vào trong khu rừng, cắt ngang
một trảng rừng thưa nơi những con thỏ đã kịp để lại vết
chân của mình cùng những vệt nước tiểu lấm tấm hồng trên
nền tuyết trắng. Những mâm cây sồi mới nhú chào đón mùa
tuyết tan băng những chồi non vừa tẽ vỏ. Các búi lồng thỏ

rơi vãi đánh dấu những cuộc tranh giành mở màn giữa mấy
con đực rạo rực men tình. Đi sau hơn nữa, tôi tìm thấy một
vũng máu nhỏ, viền xung quanh là vòng cung sải cánh của
loài cú. Với con đực xấu số này, mùa tuyết tan mang lại sự
tự do ham muốn, nhưng đồng thời cũng khiến con vật liều
mạng quên đi nỗi sợ bản năng. Và con cú đã nhắc nhở nó
rằng mùa xuân về không đồng nghĩa với việc ta được phép
lơ là bất cẩn.
დღდ
Con chồn vẫn tiếp tục để lại những vết chân, dường như
tâm trí nó lúc này không dành cho việc kiếm tìm thức ăn,
mà cũng chẳng màng đến những chuyện hỉ nộ ái ố của các
bên hàng xóm. Tôi băn khoăn trong đầu nó đang suy nghĩ
điều gì; cái gì đã đưa chân nó ra khỏi ổ? Liệu có phải anh
chàng cũng đang kéo lê cái bụng bự trên nền tuyết bùn
nhão nhoét để tìm nơi thỏa chí yêu đương? Sau cùng thì vết
chân đi vào trong một đám cành củi trôi dạt và không thấy
trở ra. Tôi lắng tai nghe tiếng những giọt nước chảy tong
tỏng qua những thân củi, và tôi đồ rằng con chồn hẳn cũng
nghe thấy. Tôi quay bước về nhà, lòng vẫn miên man tự hỏi.

THÁNG HAI
Gỗ sồi

Có hai điều nguy hại cho tâm hồn con người nếu chúng
ta không sở hữu một trang trại. Thứ nhất là việc chúng ta
tưởng rằng bữa sáng đến từ cửa tiệm; thứ hai là nguồn
nhiệt đến từ lò đốt.
Để tránh điều nguy thứ nhất, ta nên trồng một khu vườn,
tốt nhất là ở nơi cách xa những cửa hàng tạp phẩm để tránh
làm câu chuyện thêm rắc rối.
Để tránh điều nguy thứ hai, ta nên bắc một khúc gỗ sồi
lên vỉ lò sưởi, tốt nhất là nên cách xa các lò đốt, và để nhiệt
từ khúc củi làm ấm hai cẳng chân ta trong khi bên ngoài
những cơn bão tháng Hai đang vần vũ rung lắc những tán
sồi. Nếu ai đó đã từng tự tay chặt, bổ, kéo, và chất củi sồi
thành đống, trong lúc đầu óc vu vơ nghĩ ngợi, người đó hẳn
sẽ nhớ lấy câu chuyện về nơi xuất phát của nguồn nhiệt kia,
với những chi tiết dồi dào phong phú không dành cho
những ai chỉ biết ngồi bên máy sưởi những ngày cuối tuần
nơi phố thị.
დღდ

Khúc gỗ sồi giờ đây đang bập bùng tỏa sáng trên vỉ lò
sưởi nhà tôi từng là một trong những thân cây mọc ven con
đường của các di dân thuở trước, uốn quanh quả đồi đất cát
pha. Khi tôi đốn hạ thân cây, đường kính phần gốc cây đo
được là 76 xen-ti-mét (30inch). Bề mặt cắt ngang cho thấy
80 vòng tròn tuổi thọ, chứng tỏ rằng cái vòng đầu tiên hẳn
đã xuất hiện từ năm 1865, vào khoảng giai đoạn cuối cuộc
Nội chiến (American Civil War). Nhưng dựa trên lịch sử thu
thập của các cây sồi giống hiện thời, tôi cũng biết rằng bất
cứ cây sồi nào mọc lên cao khỏi tầm với của lũ thỏ cũng
phải trải qua ít nhất một thập kỷ bị bầy thú gặm nhấm này
bào vỏ mỗi mùa đông, để rồi lại cố gắng mọc vỏ trở lại khi
xuân về. Quả tình, thật quá rõ ràng rằng tất cả các cây sồi
sống sót đến tuổi trưởng thành đều là do bị lũ thỏ bỏ sót
hoặc may mắn mọc trúng vào mùa ít thỏ. Một ngày không
xa, vài nhà thực vật học kiên nhẫn nào đó sẽ vẽ đồ thị tần
suất sinh trưởng của họ nhà sồi, để thấy rằng cứ hết mười
năm thì vòng cung đồ thị lại nhô lên; mỗi lần nhô lên sau
mười năm của họ nhà sồi sẽ ứng với một lần lõm xuống sau
mười năm trong đồ thị tần suất của họ nhà thỏ. (Quá trình
giằng co qua lại trong cùng một loài và giữa các loài khác
nhau này khiến cho hệ động vật và hệ thực vật cùng nhau
đạt đến ngưỡng trường sinh bất tử.)
Theo giả thuyết này, có lẽ đã có một đợt số lượng thỏ
giảm xuống vào giữa những năm sáu mươi khi cây sồi tôi
đốn hạ bắt đầu tỏa ra các vòng tuổi thọ qua từng năm,
nhưng hạt sồi gốc của nó thì đã chạm đất trước đó cả thập
kỷ, khi các cỗ xe ngựa kéo đang lăn bánh trên con đường

đến với miền tây Bắc Mỹ rộng lớn. Có lẽ chính việc xe cộ đi
lại của đoàn dân di cư nọ đã cày xới con đường này rồi tạo
điều kiện cho hạt sồi kia bén rễ và vươn những chiếc lá đầu
tiên về phía mặt trời. Cứ một nghìn hạt sồi thì chỉ có một
hạt lớn thành cây đủ cao để cự nổi bầy thỏ; số còn lại thì
chết dưới những gợn sóng trên đại dương thảo nguyên bao
la.
Việc cây sồi này chẳng những không chết yểu mà còn
sống tới tám mươi năm để tiếp nạp ánh mặt trời tháng Sáu
khiến tôi cảm thấy ấm lòng đôi chút. Nguồn ánh sáng mặt
trời đó giờ đang tỏa ra thành nhiệt, dưới sự can thiệp của
cái rìu và cái cưa của tôi, để sưởi ấm tinh thần tôi cùng căn
lán nho giữa muôn vàn bão tố vây quanh. Và cứ mỗi lọn
khói luồn lách qua ống khói của tôi lại trở thành nhân
chứng, cho bất cứ ai để tâm, rằng mặt trời đã không tỏa
sáng một cách vô ích.
Chú chó của tôi thì chẳng mấy bận tâm xem nhiệt đến từ
đâu, nhưng nó tha thiết quan tâm rằng nhiệt sẽ đến, và đến
sớm. Và quả thật nó coi khả năng tạo ra nhiệt của tôi là một
điều thần kỳ, vì mỗi sáng khi tôi ra khỏi giường lúc trời còn
tờ mờ và run run quỳ xuống bên cạnh lò sưởi để nhóm lửa,
nó sẽ nhẹ nhàng lách mình vào giữa tôi và khúc củi đang
bén lửa mà tôi vừa đặt lên đống muội than. Thậm chí, tôi
còn phải luồn tay giữa hai chân nó để quẹt diêm nhóm lửa.
Niềm tin nhường ấy, theo tôi, hẳn là thứ có thể dời non lấp
bể.
Một tia sét chính là thứ đã kết liễu sự nghiệp tích gỗ
trồng rừng của cây sồi này. Một đêm tháng Bảy nọ, cả hai

chúng tôi dựng người thức dậy khi tiếng chớp ầm ầm đi
kèm với tiếng đổ ngã vang trời; chúng tôi nhận ra sét hẳn
đã đánh xuống đâu quanh đây, nhưng vì nó không đánh
thẳng vào lán nên chúng tôi cứ thế đi ngủ tiếp. Con người
dùng bản thân làm phép thử cho vạn vật, và điều này đặc
biệt đúng với những ca sét đánh.
Sáng hôm sau, trong lúc tàn bộ lên đồi đất cát pha và
hân hoan tận hưởng khi trời mát mẻ sau cơn mưa cùng
những bông cúc nhụy nón và những khóm cỏ ba lá, chúng
tôi bất gặp một miếng vỏ cây bị sét gọt khỏi thân cây sồi
bên lề đường. Trên thân cây vẫn còn in một vết sẹo dích
dắc kéo dài do nhựa cây rỉ ra từ phần thân không còn vỏ,
rộng khoảng 30 xen-ti-mét và còn tươi rói, chưa vàng đi
dưới ánh mặt trời. Qua ngày hôm sau thì lá cây đã héo rũ
xuống, và chúng tôi biết rằng lưỡi sét kia đã ban cho chúng
tôi ít nhất ba bó củi đốt[1].
Dù vẫn tiếc nuối trước sự ra đi của cây sồi cổ thụ, chúng
tôi biết rằng có ít nhất một tá con cái của nó đang ngẩng
cao đầu kiêu dũng trên nền đất cát và sẵn sàng kế thừa sự
nghiệp trồng rừng của cây mẹ.
Chúng tôi để cho thân cây liệt sĩ nằm phơi một năm dưới
mặt trời giờ đây đã trở nên vô nghĩa với nó, để rồi vào một
ngày đông se sắt, chúng tôi đốn hạ thành trì gốc rễ của nó
bằng một lưỡi cưa mới mài dũa. Trong thâm tâm chúng tôi
nhận thấy rằng hai núi mùn cưa sau khi đốn cây ẩn chứa
điều gì sâu xa hơn là những phần gỗ dư thừa: chúng là mặt
cắt ngang của một thế kỷ; với từng lưỡi cưa, chúng tôi lại
cắt sâu hơn qua từng thập kỷ, dọc theo biên niên ký của

một cuộc đời viết bằng những vòng tròn đồng tâm loang ra
qua từng năm trên mặt gỗ sồi.
დღდ
Chỉ cần khoảng một tá lần kéo là lưỡi cưa đã vượt qua số
năm ít ỏi mà trang trại này thuộc về chúng tôi, khoảng thời
gian khi chúng tôi đã học cách yêu thương trân trọng nơi
này. Ngay sau đó, chúng tôi cắt qua thời đại của người chủ
trang trại trước đó, một tay buôn bán hàng lậu và hết sức
căm ghét mảnh đất này, người đã hút kiệt chất màu còn lại
trong nó, trước khi châm lửa đốt căn nhà nông trang và
quăng trả nó lại cho quyền quản lý của hạt (đồng thời cũng
bùng luôn việc đóng thuế), sau đó thì gã biến mất vào dòng
người di cư không miếng đất cắm dùi trong giai đoạn Đại
Khủng Hoảng (The Great Depression). Dù vậy thì bao dung
với gã; những mùn gỗ trong thời kỳ của gã vẫn đậm hương,
mịn màng, và ửng hồng như trong thời của chúng tôi tôi
vậy. Mà một cây sồi thì có quan tâm gì đến con người xung
quanh đâu.
Thời trị vì của gã buôn lậu mãn hạn đâu đó giữa những
mùa hạn hán khô cằn từ 1936, 1934, 1933, đến 1930. Khói
gỗ sồi từ kho chung cất rượu và than bùn quyện lại sau khi
đốt đầm lầy hẳn đã che mờ ánh mặt trời trong những năm
ấy, và các cơ quan đặc trách phục hồi tái trồng rừng cứ thế
lan ra khắp nơi, nhưng những mùn gỗ kia thì vẫn chẳng hề
thay đổi.
Nghỉ tay! Trưởng nhóm thợ cưa cất giọng, và chúng tôi
tạm nghỉ lấy hơi.

დღდ
Giờ thì lưỡi cưa đã cắt đến những năm 1920, thập kỷ của
Tầng lớp Trung lưu (Babbittian decade) khi mọi thứ đều
được thổi phồng và nâng cấp một cách ẩu tả và ngạo mạn chí ít là đến năm 1929 khi sập sàn chứng khoán. Giả như
cây sồi có nghe thấy tiếng đổ rầm của sàn chứng khoán thì
những thớ gỗ của nó cũng chẳng mảy may rung động. Và nó
cũng sẽ chẳng bận tâm đến những kháng nghị nhằm bảo vệ
cây cối của Cơ quan Lập pháp: một đạo luật về Rừng Quốc
Gia và khai thác sản vật rừng được thông qua năm 1927,
một khu bảo tồn ở vùng bãi bồi sông Thượng Mississippi
năm 1924, và một chính sách khai thác rừng mới vào năm
1921. Và có lẽ nó cũng không nhận thấy ngày tàn của loài
chồn mác-tét ở bang Wisconsin năm 1925, hay sự xuất hiện
lần đầu của bầy sáo ghi nhận vào năm 1923.
Vào tháng Ba nãm 1922, trong khi cơn mưa đá biệt danh
Cỡ Đại (Big Sleet) đã băm nát những cây du xung quanh
thành từng mảng, thì sồi của chúng ta vẫn không hề hấn gì.
Một tấn băng đá thì có sá gì so với một cây sồi cổ thụ?
Nghỉ tay! Trưởng nhóm thợ cưa cất giọng, và chúng tôi
tạm nghỉ lấy hơi.
დღდ
Giờ thì lưỡi cưa đã cắt đến giai đoạn 1910 - 1920, thập
kỷ của khát khao rút nước, khi những máy xúc chạy bằng
hơi nước đã hút cạn những đầm lầy miền trung Wisconsin
để lấy đất làm trang trại, và kết cục chỉ để lại một mớ tàn

dư thất bại. Những đầm lầy liên tục trốn thoát, không phải
do sự bất cẩn hay thiếu tiền liệu của các kỹ sư nạo vét, mà
bởi vì chúng luôn được con sông hùng hổ cấp nước vào mỗi
tháng Tư - một sự hùng hổ mang tính tự vệ - trong những
năm 1913 - 1916. Cây sồi thì vẫn tiếp tục lên vỏ gỗ, ngay cả
vào năm 1915, khi Tòa án Tối cao bãi bỏ việc các bang tự
quản lý rừng, và Thống đốc bang là Phillip lên mặt phán
rằng “ngành lâm nghiệp không phải là một đề án kinh
doanh tốt cho các bang”. (Ngài Thống đốc đã không tính
đến chuyện có thể có nhiều hơn một định nghĩa cho cái gì
là tốt, hay thậm chí là cái gì có thể được coi là kinh doanh.
Ngài cũng không dự trù được rằng, trong khi tòa án đang
thảo ra một cách hiểu của chữ “tốt”, thì cùng lúc đó những
trận cháy rừng lại đang viết xuống trên nền đất một cách
hiểu khác xa. Có lẽ để có thể giữ cương vị Thống đốc thì
đầu óc người ta cần thông suốt kiên định trong những vấn
đề ngữ nghĩa như vậy.)
Trong khi lâm nghiệp ở thập kỷ này suy giảm, những khu
bảo tồn chuyên dành cho săn bắt lại gia tăng. Vào năm
1916, loài gà lôi chính thức chuyển hộ khẩu đến hạt
Waukesha; năm 1915, một đạo luật liên bang nghiêm cấm
săn bắn vào mùa xuân; năm 1913 một trang trại thú săn
của bang Wisconsin được thành lập; năm 1912, một đạo
luật “hươu đực” ra đời để bảo vệ luôn cả các con hươu cái;
năm 1911, một đại dịch những khu bảo tồn lan ra khắp toàn
bang. “Bảo tồn” trở thành một từ thiêng liêng, nhưng cây
sồi vẫn hoàn toàn không hay biết.

Nghỉ tay! Trưởng nhóm thợ cưa cất giọng, và chúng tôi
tạm nghỉ lấy hơi.
დღდ
Giờ thì chúng tôi cắt đến năm 1910, trong lúc một hiệu
trưởng trường đại học danh giá xuất bản một cuốn sách về
bảo tồn, một nạn dịch ong cắn lá đã càn quét hàng triệu
cây thông rụng lá, một trận đại hạn hán làm cho các rừng
thông héo tàn, và một cái máy nạo vét cỡ đại đã hút cạn
kiệt đầm lầy Horicon.
Chúng tôi cắt đến năm 1909, khi cá trứng lần đầu được
nuôi thả trong vùng Ngũ Đại Hồ (The Great Lakes), và vào
một mùa hè ẩm ướt thì Cơ quan Lập pháp quyết định cắt
giảm ngân sách cho việc phòng chống cháy rừng.
Chúng tôi cắt đến năm 1908, một năm khô hạn với
những đợt cháy rừng lớn hoành hành, và Wisconsin nói lời
từ biệt với con báo sư tử cuối cùng còn sót lại trong bang.
Chúng tôi cắt đến năm 1907, khi một con linh miêu lang
thang kiếm tìm miền đất hứa ở nhầm chỗ, và kết cục là bỏ
xác lại giữa những trang trại trong hạt Dane.
Chúng tôi cắt đến năm 1906, khi người kiểm lâm đầu
tiên của bang nhậm chức, và những trận cháy rừng tàn phá
gần 7000 héc-ta rừng trong những hạt thuộc vùng đất cát
pha này; chúng tôi cắt đến năm 1905 khi một bầy ưng
ngỗng bay xuống từ phương Bắc và ngốn ngấu đến hết đám
gà gô trăng bản địa (chúng hẳn đã bay tới đậu trên cây sồi
này và gắp mất vài con gà gô của tôi). Chúng tôi cắt tới

những năm 1902 - 1903, một mùa đông giá buốt khắc
nghiệt; năm 1901, năm xảy ra một trận hạn hán lịch sử
(mưa rơi chưa đầy một mét nước trong cả năm); năm 1900,
một năm kỷ niệm 100 năm hy vọng, nguyện cầu, và một
vòng đời thường niên nữa trên thân sồi.
Nghỉ tay! Trưởng nhóm thợ cưa cất giọng, và chúng tôi
tạm nghỉ lấy hơi.
დღდ
Bây giờ thì lưỡi cưa đã cắt đến những năm 1890, quãng
thời gian hứng khởi vui tươi cho những ai hướng mắt về
phía ánh đèn thành phố thay vì nhìn xuống đất dưới chân
mình. Chúng tôi cắt tiếp vào năm 1899, khi một hòn đạn
đâm xuyên con chim bồ câu di cư cuối cùng ở gần hạt
Babcock, cách nơi này khoảng hai hạt nữa về phía bắc;
chúng tôi cắt tới năm 1898 vào một ngày trời thu khô hanh,
tiếp nối bằng một mùa đông không một bông tuyết nhưng
đủ lạnh để làm băng giá len lỏi vào sâu hơn hai mét đất và
giết chết những cây táo; năm 1897, lại một năm hạn hán,
năm của một ủy ban lâm nghiệp nữa ra đời; năm 1896, khi
chỉ nội ngôi làng Spooner đã vận chuyển được 25.000 con
gà gồ đồng cỏ ra chợ bán; năm 1895, lại một năm cháy
rừng; năm 1894, thêm một năm hạn hán; và năm 1893, năm
của trận bão Chim Sơn Ca (The Bluebird Storm), khi một
cơn bão tuyết tháng Ba quét sạch đến gần như không sót
lại một con chim sơn ca di cư nào. (Những con sơn ca đầu
tiên luôn cất cánh từ cội sồi già này, nhưng vào giữa những
năm 90 có lẽ chúng đã bỏ qua nơi này.) Chúng tôi kéo lưỡi

cưa vào đến năm 1892, thêm một năm cháy rừng nữa; năm
1891, một mùa kém sinh sản với loài gà gô trắng; và năm
1890, năm của Phương pháp Định lượng Chất béo trong
Sữa do Giáo sư Babcock sáng chế (Babcock Milk Tester),
tạo đà cho phát biểu nửa thế kỷ sau của Thống đốc bang là
Heil rằng Wisconsin là Thủ phủ Bơ sữa của nước Mỹ. Không
có ai, ngay cả Giáo sư Babcock, có thể ngờ rằng biệt danh
ấy giờ đây sẽ nằm chễm chệ trên bất cứ biển số xe nào
trong bang.
Cũng trong năm 1890 đó, những bè chở gỗ thông lớn
nhất trong lịch sử đã xuôi dòng về phía hạ nguồn sông
Wisconsin và trôi ngang cây sồi của tôi, để sau đó dựng xây
nên một đế chế những nông trang gỗ đỏ cho những đàn bò
của các bang thảo nguyên nước Mỹ. Chính những thân gỗ
thông đó đã che chở cho những con bò khỏi cơn bão tuyết,
giống như những vách gỗ sồi đang bảo bọc tôi khỏi cái lạnh
thấu xương bên ngoài.
Nghỉ tay! Trưởng nhóm thợ cưa cất giọng, và chúng tôi
tạm nghỉ lấy hơi.
დღდ
Bây giờ thì lưỡi cưa đã chạm tới những năm 1880; năm
1889, một năm khô hạn, năm mà Lễ trồng cây Arbor được
phát động trên toàn bang; năm 1887, khi Wisconsin bổ
nhiệm người giám sát luật săn bắn đầu tiên; năm 1886, khi
Đại học Nông nghiệp tổ chức khóa học ngắn hạn đầu tiên
cho nông dân; năm 1885, mở màn bằng một mùa đông “dài
và lạnh lẽo chưa từng thấy trong lịch sử”; năm 1883, khi

Chủ nhiệm khoa W. H. Henry báo cáo rằng các loại hoa mùa
xuân ở Madison nở muộn hơn 13 ngày so với bình thường;
năm 1882, khi hồ Mendota mở cửa đón khách muộn hơn
một tháng do trận bão Đại Hàn (Big Snow) lịch sử kèm theo
tiết trời lạnh buốt trong những năm 1881 - 1882.
Cũng chính vào năm 1881, Hội Nông nghiệp Wisconsin
đưa ra thảo luận câu hỏi, “Làm sao chúng ta cắt nghĩa được
kỳ tăng trưởng thứ sinh[2] của giống cây sồi gỗ đen, vốn đã
và đang bén rễ đâm chồi trên toàn quốc trong ba mươi năm
qua?” Cây sồi của tôi là một trong số các cá thể đó. Một cử
tri nhận xét là do sinh sản ngẫu nhiên, người khác lại cho
rằng đó là do lũ bồ câu di cư về phương Nam đã nhả ngược
hạt sồi ra.
Nghỉ tay! Trưởng nhóm thợ cưa cất giọng, và chúng tôi
tạm nghỉ lấy hơi.
დღდ
Giờ lưỡi cưa đã liếm vào đến những năm 1870, thập kỷ
của cơn say túy lúy với việc trồng lúa mì ở Wisconsin. Vào
thứ Hai, chúng tôi tiến đến năm 1879, khi lũ bọ lúa mì, ấu
trùng bọ cánh cứng, bệnh rỉ sắt, và đất thiếu màu cuối cùng
đã buộc các nông dân Wisconsin đối mặt với sự thật rằng
họ không thể tiếp tục mở rộng diện tích đất trồng lúa mì
trên các thảo nguyên hoang sơ về phía tây, nếu họ không
muốn đất dưới chân trở nên cằn cỗi đến không thể cứu vãn
nổi. Linh tính mách bảo tôi rằng trang trại này cũng góp
phần trong cuộc chơi “phát rừng làm rẫy” đó, và những hạt

cát khô cằn thổi về phía bắc cây sồi của tôi có nguồn gốc từ
giai đoạn lạm phát trồng lúa mì đó.
Cũng trong năm 1879, chúng ta chứng kiến đàn cá chép
đầu tiên được thả nuôi ở Wisconsin, kèm theo là chuyến đi
lậu vé của giống cỏ lúa mì từ châu Âu vào trong bang. Vào
ngày 27 tháng Mười năm 1879, sáu con gà gô đồng cỏ di
trú đậu trên đòn nóc của Nhà thờ Giám lý Đức quốc
(German Methodist Church) ở Madison, nhìn ngắm thành
phố đang ngày càng phát triển này. Vào ngày 8 tháng Mười
một, các chợ ở Madison đầy ắp những con vịt bán đổ đống
với giá chỉ 10 cent một con.
Năm 1878, một thợ săn hươu đến từ Sauk Rapids đưa ra
lời nhận xét có phần tiên đoán, “Số thợ săn rồi sẽ áp đảo số
lượng hươu”.
Vào ngày 10 tháng Chín năm 1877, hai anh em thợ săn ở
hồ Muskego đã bắn hạ và đóng túi 210 con mòng két đuôi
xanh chỉ trong một ngày.
Năm 1876 là năm ẩm ướt nhất trong lịch sử bang, với
lượng nước mưa dâng lên đến gần một mét rưỡi, số lượng
gà gô đồng cỏ tụt xuống, có lẽ phần vì mưa lớn.
Năm 1875, bốn thợ săn đã bắn chết 153 con gà gô đồng
cỏ trên thảo nguyên York, cách đây một hạt về hướng đông.
Trong cùng năm ấy, Hiệp hội Thủy sản Hoa Kỳ đã thả giống
cá hồi Đại Tây Dương vào hồ Devil, cách cây sồi của tôi tầm
16 cây số về phía nam.
Năm 1874, những thước dây kẽm gai đầu tiên sán xuất
trong nhà máy được bấm dập xung quanh các gốc sồi. Tôi

hy vọng là không có thứ “cổ vật” nào như thế còn kẹt lại
trong thân sồi chúng tôi đang cưa này!
Năm 1873, một công ty ở Chicago đã tiếp nhận và tung
ra thị trường 25.000 con gà gô đồng cỏ. Người tiêu dùng ở
Chicago đã mua tổng cộng 600.000 con ở mức giá 3,25 đôla một tá.
Năm 1872, con gà tây hoang dã cuối cùng ở Wisconsin
đã bị săn hạ, ở địa điểm cách đây hai hạt về hướng tây nam.
Thật hợp tình hợp lý khi thập kỷ đánh dấu sự thoái trào
trong cơn sốt tiên phong trồng lúa mì cũng kết thúc luôn
cơn sốt săn bắt bồ câu. Vào năm 1871, trong vòng bán kính
80 cây số tính từ cây sồi của tôi về phía tây bắc, ước tính có
khoảng 136 triệu con bồ câu đã làm tổ; một số con có lẽ đã
làm tổ ngay trên cây sồi này, vì lúc đó nó đã là một cây sồi
con lớn mạnh cao tầm sáu mét. Những tay săn bồ câu lũ
lượt truy kích những con chim với bẫy lưới và họng súng
săn, dùi cui và những cục muối liếm nhử mồi, để rồi sau đó
chất đầy những con bồ câu để nhồi nhân bánh nướng lên
các toa tàu chạy hướng nam và đông về các thành phố. Đó
là đợt làm tổ lớn cuối cùng của loài bồ câu ở Wisconsin, và
có lẽ cũng là lần gần cuối ở bất cứ bang nào khác.
Cùng trong năm 1871, xuất hiện các bằng chứng khác
về cuộc hành quân của đế chế loài người: Trận cháy
Peshtigo thiêu rụi cây cối và đất đai của một vài hạt, và
Trận cháy Chicago, nghe đồn là bắt đầu từ cú đá hậu phản
đối của một con bò cái.
Vào năm 1870, đế chế chuột đồng đã bắt đầu cuộc càn
quét của riêng mình; chúng dọn sạch các vườn cây trái của

tiểu bang lúc đó còn non trẻ, chỉ để đó kéo nhau chết hàng
loạt. Chúng không kịp gậm nhấm cây sồi của tôi, phần vì
lớp vỏ cây lúc đó đã quá dày và cứng với lũ chuột.
Đồng thời, trong năm 1870, một tay súng đã khoe
khoang trên kênh American Sportsman (Thể thao Nước Mỹ)
rằng mình đã giết được 6.000 con vịt chỉ trong một mùa săn
bắn gần Chicago.
Nghỉ tay! Trưởng nhóm thợ cưa cất giọng, và chúng tôi
tạm nghĩ lấy hơi.
დღდ
Lưỡi cưa giờ đã tiến đến những năm 1860, khi hàng
nghìn người tử trận trong cuộc Nội chiến chỉ để trả lời câu
hỏi: liệu cộng đồng giữa người với người này có dễ dàng
chia tách đến vậy? Cuối cùng thì mọi chuyện cũng qua đi,
tuy nhiên họ đã không thấy được, và chúng ta đến giờ vẫn
chưa nhận ra, rằng câu hỏi tương tự đó cũng ứng với mối
quan hệ giữa con ngư...
 
Gửi ý kiến