NHỮNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:13' 20-02-2024
Dung lượng: 983.9 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:13' 20-02-2024
Dung lượng: 983.9 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
NHỮNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI
—★—
Tác giả: Maksim Gorki
Người dịch: Trần Khuyến
Cẩm Tiêu
Nhà xuất bản Kim Đồng
ebook©vctvegroup
21-07-2018
LỜI GIỚI THIỆU
Những trường đại học của tôi là tác phẩm đầu tiên M.Gorky
viết trong thời đại mới ‒ thời đại Xô viết. Gorky sáng tác Những
trường đại học của tôi chủ yếu vào năm 1922. Đây là tập cuối
trong bộ ba tác phẩm tự thuật của ông. Những trường đại học của
tôi phản ánh cuộc sống của Gorky ở Kazan (1884 ‒ 1888) và ở
làng Krasnovidovo trên sông Volga (từ tháng 6 đến tháng 9 năm
1888).
Khác với Thời thơ ấu và Kiếm sống, Những trường đại học của
tôi là một tùy bút ghi nhanh. Có thể gọi Những trường đại học của
tôi là một phòng trưng bày các kiểu chân dung người Nga khác
nhau. Nhân vật chính liên kết những bức chân dung đó là
Peskov, một chàng thanh niên đang đi tìm chân lí của cuộc sống.
Chủ động hoặc ngẫu nhiên do hoàn cảnh bắt buộc, Peskov tiếp
xúc với rất nhiều người, những cuộc gặp gỡ thường diễn ra trong
một khoảng thời gian ngắn. Có lẽ điều đó đã quyết định cách
phác họa nhân vật của Gorky trong Những trường đại học của tôi.
Tuy rất ít miêu tả vẻ bề ngoài, song những chi tiết miêu tả vô
cùng sắc nét. Trong mỗi bức chân dung, Gorky chỉ lựa chọn một
số nét, nhưng là những nét tiêu biểu; ông xếp đặt và làm sáng tỏ
những nét ấy khiến cho mỗi hình ảnh trở nên sinh động, tính
cách và thế giới nội tâm của từng nhân vật đều nổi bật.
Tên gọi của cuốn sách ‒ Những trường đại học của tôi ‒ rất
đáng chú ý. Trường đại học là nơi người ta được học những kiến
thức chuyên sâu về một ngành khoa học. Gorky sử dụng số nhiều
(“những trường đại học”) để nhấn mạnh không phải chỉ có một
trường mà có nhiều trường. “Những trường đại học” này của
Gorky là cuộc sống muôn màu muôn vẻ, hối hả, phức tạp, rắc rối,
có những sự kiện nặng nề, đôi khi kì quặc đến quái gở, tươi vui
cũng có, mà ảm đạm cũng có.
Tên sách không có ý mỉa mai, cũng không có vẻ hài hước,
châm biếm, mà vang lên âm điệu bi thảm. Gorky kể cho chúng ta
ông đã trải qua “trường đại học đường đời” gian khổ như thế nào
khi còn là một thanh niên. Ngôi trường với những con người có tư
chất tinh thần, tâm lí khác nhau một cách kì lạ, có những quan
điểm về con người, xã hội, nhà nước… nhiều khi trái ngược hoàn
toàn.
Chàng thanh niên Peskov khao khát những kiến thức sâu
rộng, muốn lĩnh hội chúng một cách có hệ thống, nhưng thực tế
phũ phàng đem lại cho trí tuệ ham hiểu biết nhưng còn chưa
vững vàng của anh một mớ hỗn độn những ấn tượng, những
quan niệm. Nhiều lần Peskov phải băn khoăn thắc mắc sau
những cuộc gặp gỡ bất ngờ. Anh phải nghĩ nát óc để tự tìm ra lời
giải đáp.
Mỗi người Peskov tiếp xúc trong thời kì ở “những trường đại
học” đều đem lại cho anh, khi tích cực, khi thụ động, một bài học
đường đời bổ ích. Peskov luôn luôn tìm kiếm, trông chờ ở họ
những lời giải đáp cho bao câu hỏi quay cuồng trong đầu óc anh.
Chính vì vậy, anh đã gần gũi mọi người, nghe ngóng, quan sát họ.
Đấy cũng là lí do vì sao ở Những trường đại học của tôi, khác với
Thời thơ ấu và Kiếm sống, hầu như hoàn toàn không miêu tả đời
sống hằng ngày.
Nhân vật chính của cuốn sách là chàng thanh niên Peskov,
nhưng nội dung chính lại xoay quanh những con người mà
Peskov tiếp xúc, thế giới nội tâm và thái độ của họ với hiện thực.
Peskov không đặt “cái tôi” của mình vào trung tâm của cuộc
sống xung quanh. Vấn đề làm anh băn khoăn, lo lắng nhất là làm
thế nào để trở thành một người thực sự có ích cho nhân dân
mình.
Peskov đã trải qua “những trường đại học đường đời” vào lúc
tình hình chính trị nước Nga những năm 80 của thế kỉ XIX vô
cùng phức tạp, bắt đầu sau thất bại của phong trào cách mạng
dân túy. Vào thời kì này, trong một thời gian nhất định nào đấy,
chủ nghĩa Tolstoy trở nên thịnh hành. Một số trí thức dân chủ đã
bắt đầu tuyên truyền học thuyết Tolstoỵ.
Nhưng cũng vào những năm 80, học thuyết cách mạng vĩ đại ‒
chủ nghĩa Marx ‒ đã xuất hiện ở Nga và đang trên đà phát triển
mạnh mẽ; nó xua tan bóng tối của chế độ phản động, soi sáng
con đường đúng đắn duy nhất để tiến lên. Cũng vào những năm
ấy, ở Kazan, người kế tục thiên tài học thuyết Marx ‒ Engels là V.
I. Lenin đã trưởng thành về mặt tư tưởng và chính trị. Ở một số
thành phố đã thành lập những nhóm Marxist đầu tiên. Một trong
những nhóm xuất sắc trong thời kì này là nhóm Kazan do nhà
cách mạng nổi tiếng N. E. Fedoseev lãnh đạo.
Vai trò của Fedoseev trong việc tuyên truyền chủ nghĩa Marx
và cuộc đấu tranh của ông chống lại phong trào dân túy đã được
V. I. Lenin đánh giá cao trong bài báo Mấy lời về N. E Fedoseev,
Lenin viết:
“Đối với vùng Povolzhie cũng như đối với một số địa phương
thuộc khu vực trung tâm nước Nga, vai trò của Fedoseev rất quan
trọng; quần chúng đang ở trong bước ngoặt sang chủ nghĩa Marx
và chịu ảnh hưởng rất lớn của nhà cách mạng thiên tài và vô
cùng trung thành với sự nghiệp cách mạng ấy.”
Thế giới quan của Peskov trong tác phẩm tuy chưa phát triển
thật hoàn thiện, nhưng con đường anh đi đã được phác họa và
được xác định. Con đường đó nhất định sẽ dẫn anh đến với giai
cấp vô sản, với chủ nghĩa Marx, với cách mạng.
Trong Những trường đại học của tôi, vấn đề nhân dân và giới
trí thức chiếm một vị trí quan trọng. Câu hỏi “Làm gì?” thường
xuyên được đặt ra trước Peskov lúc còn ở nhà ông ngoại cũng
như khi đi kiếm sống giờ đây lại có một ý nghĩa mới mẻ đối với
chàng thanh niên.
Thời thơ ấu và niên thiếu, Peskov đã trải qua trường học
đường đời gian khổ. Nhưng sau khoảng thời gian cực nhọc ấy,
chàng thanh niên đã có ước mơ về cuộc sống tươi đẹp, nhân đạo,
với những “con người cao thượng”. Anh đồng ý với lời khuyên
nhủ của Yevreinov, một học sinh trung học cũng hay mơ mộng
và ngây thơ như anh. Anh đã tới Kazan để thi vào trường đại học.
Suốt thời gian khoảng bốn năm sống ở Kazan, trong tâm trí anh
luôn diễn ra cuộc xung đột gay gắt giữa ước mơ viển vông và hiện
thực khủng khiếp.
Cuối cùng, thay cho việc vào học tại trường đại học, để khỏi
chết đói, Peskov đành làm phu thợ trên các bến tàu Volga. Tại
đây, sống giữa những công nhân khuân vác, những kẻ giang hồ
và kẻ cắp, anh cảm thấy mình “là một thỏi sắt được vùi vào đống
than đỏ rực”. Những “vị giáo sư” đầu tiên của anh trong “trường
đại học” muôn hình muôn vẻ: Bashkin ‒ kẻ cắp chuyên nghiệp
chuyên bịa ra những bài hát “tàn nhẫn”; Chusov ‒ một tay thợ
chuyên làm những việc ám muội như tiêu thụ đồ ăn cắp. Nhiều
chàng trai đã ngả theo con đường của “những người thầy” như
vậy. Nhưng Peskov đã đứng vững.
Cuộc gặp gỡ với nhà cách mạng Guri Pletnyov đã giúp Peskov
có ít nhiều cơ sở vững chắc hơn trong nhận thức. Anh bắt đầu
tham gia hoạt động trong một nhóm cách mạng bí mật. Nhưng về
sau nhóm này lại biểu lộ sự suy đồi về chính trị của giới trí thức.
Sự kiện quan trọng hơn cả trong thời kì Peskov sống ở Kazan
là việc anh tham gia vào nhóm dân túy tụ tập tại cửa hiệu của
Derenkov. Ở đây, sau khi tiếp xúc với những sinh viên có đầu óc
cách mạng, tư tưởng của Peskov thay đổi nhiều. Nhờ hiểu biết
thực tế phong phú, quan niệm của Peskov về nhân dân trái
ngược với quan niệm của những người dân túy. Tuy vậy, lòng tin
của những người dân túy vào phẩm chất của nhân dân mà họ
“tạo ra”, lòng yêu mến của họ đối vói nhân dân đã cổ vũ chàng
thanh niên, tiếp thêm sức mạnh cho anh.
Peskov bắt đầu thấy rõ hoạt động của giới trí thức tách rời
nhân dân sẽ không đưa lại kết quả gì. Lời nói của nhà Marxist
Fedoseev đã làm cho Peskov vững tin vào lí tưởng của mình.
Trong những ngày khó khăn đi tìm chân lí ấy, trong lúc nghi
ngờ sự đúng đắn của giới trí thức thuộc phái dân tuý, Peskov
cũng đã làm quen với “những nhà lí luận” khác của cuộc sống.
Tuy họ đối địch hẳn với anh, nhưng những cuộc gặp gỡ ấy đối với
anh không phải là vô ích. Anh đụng phải thái độ thụ động của
những người thợ làm bánh mì, họ “chịu đựng một cách ngoan
cường” tất cả những lời nhạo báng của chủ, có đầu óc vô chính
phủ và thái độ hay kêu than. Những lời nói của ông giáo dạy Sử
về sự vô nghĩa của cuộc sống và sự vô ích của lao động, rằng
người ta đi tìm sự lãng quên, sự an ủi, chứ đâu có phải đi tìm kiến
thức ‒ những lời nói ấy đã ảnh hưởng tới Peskov và làm anh sửng
sốt. Những cuộc tiếp xúc với người theo chủ nghĩa Tolstoy là
Klopsky, lão cảnh sát Nikitorich càng làm cho Peskov thêm bối
rối.
Thế là Peskov, vào tuổi thanh niên khó khăn nhất, đã ở giữa
“đám sương mù” của những tư tưởng và lí thuyết trái ngược, đôi
khi phủ định lẫn nhau. Anh thường lạc lối, cảm thấy bất lực trước
những bài toán cuộc đời mà anh không thể nào giải nổi. Trong
thời gian ấy, những ý nghĩ của anh về cuộc sống “không kém
phần nặng nề so với chính bản thân cuộc sống” (thậm chí năm
1887, trong giây phút tuyệt vọng, Peskov đã có ý định tự tử). Thời
kì “những trường đại học ở Kazan” của Peskov kết thúc một cách
bi thảm như thế.
Mùa hè năm 1888, Peskov cùng với nhà cách mạng thuộc phái
dân tuý là Romass rời tới làng Krasnovidovo. Một giai đoạn mới
trên con đường đi tìm chân lí của chàng thanh niên Peskov bắt
đầu. Theo kết cấu của tác phẩm, đó là phần hai của Những
trường đại học của tôi.
Cuộc sống thực tế ở nông thôn nước Nga hóa ra hoàn toàn
không giống như người ta mô tả trong các bản thuyết trình ở nhà
Derenkov. Peskov đụng phải chủ nghĩa cá nhân, bản năng tư hữu
đã được nuôi dưỡng hàng trăm năm của chế độ nông nô, sự ngu
dốt, thất học, thiếu tin tưởng vào giới trí thức. Ở đây, anh thấy rõ
tình cảnh của người nông dân Nga do hoàn cảnh lịch sử gây nên.
Ở đây, anh gặp nhiều người, muôn hình muôn vẻ, có trình độ
nhận thức rất khác nhau. Trong cuộc mưu sinh gian khổ hằng
ngày để kiếm một mẩu bánh mì, trái tim và tâm hồn con người
trở nên cằn cỗi.
Nhưng đồng thời, ở mỗi người cũng có nhiều điểm tốt đẹp, dịu
dàng, đôi khi là tâm hồn ngây thơ thực sự.
Izot, Barinov, Kukushkin là những con người như vậy. Họ làm
cho Peskov nhớ lại một cách sinh động những người mà anh đã
gặp trước đây trong Thời thơ ấu: ngoài đường phố, sau hàng rào
nhà ông ngoại; khi Kiếm sống: trên tàu thủy, ở xưởng làm tượng
thánh, ở nhà người thầu khoán. Tất cả những người nông dân
Nga này “đều sống mò mẫm như những người mù, tất cả đều sợ
hãi một cái gì đó, không tin cậy nhau…”
Trong phần này của cuốn truyện, cảm giác vui mừng trước
con đường đã tìm thấy, ý thức tham gia vào công việc thực tiễn
chứ không chỉ trên sách vở ngày càng tăng.
Peskov hiểu kế hoạch của Romass có điểm hạn chế, nhưng kế
hoạch ấy đã thu hút anh vì anh cảm thấy đó là kế hoạch hành
động thực tế. Nhưng thực ra đó cũng vẫn chỉ là ý định thể hiện
bằng đường lối hoà bình những lí tưởng cũ của phái dân túy,
chưa thể giải quyết những nhiệm vụ cách mạng cụ thể đương
thời. Chính vì vậy mà Romass đã không đạt được mục đích. lzot
bị giết, cửa hiệu của Romass bị bọn phú nông đốt, những người
bần nông mà Romass đặt nhiều hi vọng cũng không ủng hộ anh.
Peskov đã rời khỏi làng Krasnovidovo, cảm thấy cần thiết phải
đi tìm một học thuyết cách mạng tích cực có khả năng chiếu sáng
con đường cách mạng sau này. Thế là trước mắt chúng ta lại xuất
hiện những lớp người mới, những sự kiện mới. Tiếp xúc với tầng
lớp sinh viên cách mạng, với nông dân, công nhân, Peskov đã có
được lòng tin vào khả năng thực tế cải tạo thế giới.
Những trường đại học của tôi là một bài ca lao động. Là người
ca ngợi lao động sáng tạo của con người, trong cuốn sách này
Gorky đã miêu tả những hình thức lao động khác nhau: lao động
chân tay, trí óc và thẩm mĩ.
Lao động chân tay tuy vất vả, cực nhọc, nhưng đồng thời cũng
rất vui thú. Cảnh bốc hàng khỏi một chiếc sà lan bị chìm đã được
Gorky miêu tả một cách say sưa và thích thú. Trong đó có cả xúc
cảm cao độ lẫn sự hùng vĩ, có cả màu sắc rực rỡ lẫn điệu nhạc
hùng tráng. Từ bức tranh ấy toát ra khí thế anh hùng đầy chất
thần thoại. Nhìn chung, đó là một bức tranh đồ sộ và là một khúc
nhạc giao hưởng.
Tác giả đã trực tiếp tham gia vào bản anh hùng ca lao động ấy;
nó để lại trong ý thức ông, trong cơ thể ông một niềm vui dào dạt,
bất tận. Lần đầu tiên ông rung cảm với bản trường ca hùng tráng
của lao động, hiểu được “thế giới loài người dồi dào biết bao sức
mạnh hùng hậu”. Ông cảm thấy những con người ấy là những
dũng sĩ trong các truyện thần thoại, họ “có thể nắm lấy những
tháp chuông và những gác nhà thờ của thành phố lôi đi đâu thì
lôi”.
Bức tranh lao động đã hun đúc tinh thần ông, gây lòng tin
không gì lay chuyển nổi vào con người lao động.
Năm 1920, trước những chiến công lao động đầu tiên của
nhân dân Xô viết, Gorky đã viết một loạt bài báo và “tọa đàm” về
lao động. “Lao động thật là vui vẻ và sảng khoái, không có con
đường nào đi tới hạnh phúc đúng đắn hơn là con đường lao động
tự do!” Bài báo ngày mồng 1 tháng 5 của Gorky Con đường đi tới
hạnh phúc đã kết luận như vậy. Sau khi biết tin ngày mùng 1
tháng 5 công nhân thành phố Kostroma đã xây dựng xong ngôi
nhà Nhân dân trong một ngày, Gorky viết trong bài báo Những
cuộc tọa đàm vê lao động: “Điều đó gần giống như trong truyện
thần thoại” và tuyên bố rằng bằng con đường lao động tự do “có
thể đạt được những kết quả giống như trong truyện thần thoại”.
Sự tiên đoán của ông trong Những trường đại học của tôi về
tấm gương lao động dũng cảm của những người Nga sống trong
xiềng xích của chế độ chuyên chế và tư bản phải chăng cũng
giống những lời phát biểu tươi sáng của Gorky: “Dường như
không gì có thể chống lại sức mạnh điên cuồng và phấn khởi, sức
mạnh có khả năng tạo nên những điều kì diệu trên trái đất đầy
thành phố và lâu đài tráng lệ như trong truyện thần thoại tiên
tri.”
Thời kì “những trường đại học” là một giai đoạn quan trọng
trong bước đường phát triển nghệ thuật của Aleksej Peskov ‒
nhân vật chính trong cuốn sách của Gorky. Qua cuộc đời sáng tác
của Gorky, nhất là những năm 90, chúng ta thấy thời kì Kazan là
một kho tàng phong phú đối với nhà văn. Những ấn tượng của
Gorky do “những trường đại học” ở Kazan đem lại là cơ sở cho
những tác phẩm rất nổi tiếng như Konovalov, Hai mươi sáu anh
chàng và một cô gái, Người chủ, Một chuyện xảy ra trong cuộc
đời Makar…
Các nhà văn Xô viết và các nhà văn tiến bộ trên thế giới đã
nhiệt liệt đón chào Những trường đại học của tôi. L.Seifullina[1],
M.Prishvin[2], S.Zweig[3], R.Rolland[4] đã viết cho Gorky về ấn
tượng mạnh mẽ sau khi đọc cuốn sách của ông và ý nghĩa của nó
đối với nền văn học và văn hóa Xô viết.
Những trường đại học của tôi là một trong những tác phẩm
của M. Gorky được V. I. Lenin ưa thích. Ngày 28 tháng Giêng năm
1924, khi kể về những ngày cuối đời của Vladimir llyich Lenin, N.
K. Krupskaja[5] đã viết cho Gorky như sau: “Chiều chiều tôi
thường đọc cho anh ấy nghe những cuốn sách mà anh ấy chọn
trong số sách được đưa từ thành phố tới. Anh ấy đã chọn cuốn
Những trường đại học của tôi. Lúc đầu anh ấy đề nghị tôi đọc cho
anh ấy nghe Korolenko[6], sau đó là Những trường đại học của
tôi.”
Những trường đại học của tôi của M. Gorky là cuốn sách giáo
khoa về cuộc sống không bao giờ cũ đối với thanh niên Xô viết và
thanh niên toàn thế giới. Đúng như lời M. Prisvin đã viết cho
Gorky: “Cuốn sách này là một sự kiện lớn trong nền văn học Nga,
lớp thanh niên của chúng ta sẽ học tập theo nó.” Bằng một câu
chuyện đơn giản nhưng mạnh mẽ về cuộc đời chàng thanh niên
Peskov, cuốn sách dạy chúng ta không sợ khó khăn, dạy chúng ta
đấu tranh và chiến thắng.
Khoảng cách giữa thời kì “những trường đại học” của Peskov
và ngày xuất hiện đầu tiên của nhà văn M. Gorky trên văn đàn
(1892) còn phải trải qua bốn năm gian truân với nhiều chặng
đường gian khó, nhưng cuối cùng Peskov cũng đã vượt qua, bởi
con người ấy đã bước trên đường đời với “kiến thức đại học” độc
đáo ‒ kinh nghiệm sống phong phú, “gói hành lí” trí óc to lớn và
lòng tin mãnh liệt vào con người. Với mỗi bước đường đời mới, ở
Peskov đã nảy sinh Danko đầy lòng hi sinh, Chim ưng dũng cảm
và Bài ca Chim báo bão kiêu hãnh giương cánh tiếp thêm sức
mạnh cho anh.
Trần Khuyến
Thế là tôi lên đường để xin vào trường đại học Kazan
[7],
không thể nào đừng được.
Người gợi cho tôi ý nghĩ xin vào trường đại học là Nikolai
Yevreinov, một thanh niên dễ mến, học sinh trung học, đẹp trai,
có đôi mắt dịu dàng như mắt phụ nữ. Anh ở trên gác thượng cùng
một nhà với tôi. Vì thường gặp tôi cầm sách trên tay nên anh rất
chú ý, và chúng tôi đã làm quen với nhau. Ít lâu sau, Yevreinov
bắt đầu khẳng định rằng tôi có “những khả năng đặc biệt về khoa
học”.
– Cậu vốn sinh ra để phục vụ khoa học. ‒ Anh vừa nói vừa lắc
mái tóc dài trông rất đẹp.
Lúc bấy giờ tôi chưa biết rằng ngay cả con thỏ cũng có thể
phục vụ cho khoa học, và Yevreinov đã chứng minh rất hùng hồn
với tôi rằng các trường đại học đang cần những thanh niên như
tôi. Tất nhiên anh có nhắc đến gương Mikhail Lomonosov.
Yevreinov nói rằng đến Kazan tôi sẽ ở tại nhà anh, trong suốt
mùa thu và mùa đông sẽ học qua chương trình trung học, sẽ thi
“mấy môn gì đó” ‒ đây là nguyên văn lời anh nói: “mấy môn gì
đó” ‒ vào đại học tôi sẽ được cấp học bổng của nhà nước, và năm
năm sau tôi sẽ trở thành “nhà bác học”. Mọi việc đều rất đơn
giản, vì Yevreinov mới mười chín tuổi đầu và rất tốt bụng.
Thi trung học xong anh đi trước, khoảng hai tuần lễ sau tôi
cũng lên đường.
Lúc tiễn chân tôi, bà tôi dặn dò:
– Cháu đừng có nóng nảy với người khác, lúc nào cháu cũng
hằm hằm, cháu trở nên nghiêm nghị và kiêu căng rồi đấy! Cháu
giống tính ông ngoại, mà ông cháu thì thế nào? Một ông già đau
khổ, càng sống càng đâm ra đần độn. Cháu phải nhớ điều này:
Chúa không hay quở phạt người đời, chỉ có ma quỷ mới thích
chuyện đó! Thôi, vĩnh biệt cháu…
Bà tôi đưa tay lau mấy giọt nước mắt lấm tấm trên hai gò má
nhăn nheo màu nâu sẫm và nói:
– Chắc bà cháu ta sẽ không gặp nhau nữa, cháu sẽ đi xa, nay
đây mai đó, còn bà thì chằng sống được bao lâu nữa…
Dạo gần đây tôi luôn sống xa người bà thân yêu và cũng ít khi
gặp mặt, nhưng lúc này bỗng nhiên tôi đau đớn cảm thấy rằng tôi
sẽ không bao giờ còn được gặp lại con người ấy, con người vô
cùng gần gũi và gắn bó với lòng tôi.
Đứng ở đuôi tàu, tôi nhìn thấy bà tôi đứng trên bến, một tay
làm dấu thánh giá, còn tay kia cầm góc chiếc khăn san cũ lau
mặt, lau đôi mắt đen sẫm long lanh, chan chứa lòng thương yêu
vô hạn đối với con người.
Và đây, tôi đã đến một thành phố nửa Tatar, sống trong một
gian phòng chật chội tại một ngôi nhà một tầng. Ngôi nhà nhỏ
đơn độc nhô lên trên một cái gò ở cuối khu phố nghèo nàn và
chật hẹp, một mặt tường giáp với khoảnh đất trống của một ngôi
nhà bị cháy, cỏ dại mọc đầy. Giữa những khóm ngải cứu, ngưu
bàng và chua me, giữa những bụi cây hương mộc, nổi lên cảnh
điêu tàn của một tòa nhà gạch; bên dưới là một cái hầm nhà
rộng, nơi trú ngụ và cũng là nơi gửi thây của lũ chó hoang vô chủ.
Tôi còn nhớ rất rõ cái hầm nhà ấy, nó là một trong những trường
đại học của tôi.
Gia đình Yevreinov ‒ một mẹ và hai con trai ‒ sống nhờ vào
món tiền trợ cấp ít ỏi. Ngay từ những ngày đầu mới đến tôi đã
được trông thấy cảnh người đàn bà góa bụa bé nhỏ, tiều tụy ấy đi
chợ về với vẻ buồn thảm hại, bày các thứ mua được lên mặt bàn
trong bếp và giải một bài tính hóc búa: Phải dùng những mẩu thịt
vụn tồi tàn này thế nào để nấu một món ăn ngon đủ cho ba chàng
thanh niên khỏe mạnh, chưa kể phần cho chính mình.
Bà là một người trầm lặng. Trong cặp mắt xám của bà đọng lại
sự ngoan cường và tuyệt vọng của một con ngựa kiệt sức: Con
ngựa kéo chiếc xe lên núi, nó biết rằng không kéo nổi, nhưng vẫn
cứ kéo!
Tôi đến đây được khoảng ba ngày thì một buổi sáng, khi hai
con bà còn đang ngủ, tôi vào bếp giúp bà gọt khoai, bà khe khẽ và
dè dặt hỏi tôi:
– Anh về đây làm gì?
– Cháu về học, cháu xin vào trường đại học.
Đôi lông mày cùng với lớp da trán vàng khè của bà dồn cả lên
phía trên, lưỡi dao chạm phải làm đứt ngón tay; bà vừa cho tay
vào miệng mút máu vừa ngồi xuống ghế, nhưng lại đứng lên ngay
và nói:
– Ôi, quỷ quái thật…
Bà lấy khăn mùi soa buộc ngón tay đứt lại, rồi khen tôi:
– Anh gọt khoai thạo lắm!
Còn phải nói! Rồi tôi kể cho bà nghe về thời tôi làm công trên
tàu thủy. Bà hỏi:
– Anh tưởng thế là đủ để xin vào trường đại học đấy à?
Hồi ấy tôi còn chậm hiểu những lối nói hài hước. Tưởng bà hỏi
thật, tôi liền kể cho bà nghe trình tự những việc cần làm để cuối
cùng cửa “lâu đài khoa học” phải mở ra trước mặt tôi.
Bà thở dài:
– Ôi dào, Nikolai, Nikolai ơi…
Vừa lúc đó Nikolai cũng bước vào bếp để rửa mặt, vẻ mặt còn
ngái ngủ, đầu tóc rối bù và vẫn vui vẻ như mọi ngày.
– Mẹ ơi, giá làm được món mằn thắn thì hay tuyệt!
– Được rồi.‒ Bà mẹ bằng lòng.
Vì muốn phô trương sự hiểu biết của mình về nghệ thuật nấu
nướng, tôi mới bảo rằng thịt tồi thế này thì khó mà làm mằn thắn
được, đã vậy lại ít nữa.
Bà Varvara Ivanovna liền nổi giận và nói mấy câu khá gay gắt
khiến hai tai tôi đỏ bừng và như mọc dài thêm ra. Bà vứt bó cà rốt
lên bàn rồi bỏ ra ngoài. Nikolai nháy mắt ra hiệu và giải thích cho
tôi về cử chỉ của bà:
‒Bực mình đấy…
Anh ngồi xuống ghế dài và nói với tôi rằng đàn bà thường dễ
nổi giận hơn đàn ông, đó là bản tính của họ. Một nhà bác học lớn,
người Thụy Sĩ thì phải, đã chứng minh rõ ràng điều đó. John
Stuart Mill[8], một người Anh, cũng đã có ý kiến bàn về vấn đề
này.
Nikolai rất thích kèm cặp tôi học, anh tận dụng mọi dịp thuận
tiện để nhồi nhét vào óc tôi những điều cần thiết không thể nào
thiếu để sống ở đời. Tôi lắng nghe anh như nuốt từng lời; về sau
những cái tên Puocault[9], La Rocherfoucauld[10] và La
Rochejaquelein[11] cứ lẫn lộn trong đầu óc tôi như tất cả chỉ là
một, và tôi không sao nhớ được ai đã lấy đầu ai: Lavoisier[12] lấy
đầu Dumouriez[13], hay ngược lại? Chàng thanh niên dễ mến ấy
thành thật mong muốn “dạy cho tôi nên người”. Anh hứa với tôi
một cách chắc chắn rằng anh sẽ làm việc đó, nhưng anh không
có thì giờ và tất cả những điều kiện khác để dạy tôi học một cách
nghiêm chỉnh. Tính ích kỉ và sự nông nổi của tuổi thanh niên
không cho phép anh thấy được mẹ anh đã lo toan việc nhà một
cách khó nhọc và khôn khéo như thế nào. Em trai anh, một học
sinh trung học trầm lặng và khó tính, càng không nhận ra điều
đó. Còn tôi thì từ lâu đã tường tận những mánh khóe phức tạp
của khoa hóa học và kinh tế học trong nhà bếp, tôi thấy rõ tài
tháo vát của người đàn bà hằng ngày phải đánh lừa dạ dày của
con cái mình và phải nuôi báo cô một anh chàng có diện mạo
đáng ghét và cử chỉ thô bỉ. Dĩ nhiên mỗi mẩu bánh mì mà tôi
nhận được giống như một tảng đá đè lên tâm hồn tôi. Tôi bắt đầu
đi tìm một công việc gì để làm. Tôi ra khỏi nhà từ sáng sớm để
tránh bữa trưa, và những hôm xấu trời thì ngồi lì một chỗ trong
gian hầm ở khu đất trống. Tại đây, mũi ngửi mùi hôi thối của xác
chó mèo, tai nghe tiếng mưa ào ào và tiếng gió rít, chẳng bao lâu
tôi nhận ra trường đại học đối với tôi chỉ là ảo tưởng, giá mà tôi
sang Ba Tư có phải khôn ngoan hơn không. Tôi hình dung thấy
mình là một thầy phù thủy râu tóc bạc phơ, tìm ra phép trồng
được những hạt lúa mì to bằng quả táo, những củ khoai tây nặng
hàng pood[14] và nói chung nghĩ ra được nhiều việc tốt để giúp
cho quả đất mà trên đó không chỉ có mình tôi phải lê bước một
cách khổ cực ghê gớm như thế này.
Tôi học được cách mơ ước đến những việc mạo hiểm phi
thường và những chiến công vĩ đại. Điều đó giúp tôi rất nhiều
trong những ngày gian nan của đời mình, và vì những ngày gian
nan ấy rất nhiều, nên tôi lại càng giỏi bịa ra những mộng tưởng.
Tôi không chờ đợi sự giúp đỡ từ bên ngoài và không hi vọng vào
sự may mắn, ngược lại trong người tôi dần dần nảy nở tính bướng
bỉnh, và hoàn cảnh sống càng khó khăn thì tôi càng cảm thấy
mình vững vàng hơn, thậm chí khôn ngoan hơn. Tôi sớm hiểu
rằng con người được tạo nên bởi khả năng chống chọi với nghịch
cảnh.
Để khỏi bị chết đói, tôi tìm đến sông Volga, tới các bến tàu thủy
là những nơi dễ kiếm được mười lăm, hai mươi kopek. Tại đây ‒
sống giữa những người khuân vác, những kẻ lưu lạc và trộm cắp,
tôi cảm thấy mình là một thỏi sắt được vùi vào đống than đỏ rực,
mỗi ngày đem lại cho tôi không biết bao nhiêu ấn tượng sâu sắc,
nóng hổi.
Tại những nơi ấy, những con người cuồng vọng, bản tính thô
lỗ, quay cuồng trước mắt tôi như một cơn lốc; tôi thích thái độ
căm giận, thù ghét, châm chọc của họ đối với mọi thứ trên đời và
thái độ vô tâm của họ đối với chính bản thân. Những gì tôi đã trực
tiếp trải qua lôi kéo tôi đến gần với những con người ấy, khiến
cho tôi muốn hòa mình vào hoàn cảnh đau xót của họ. Những
truyện của Bret Harte[15] và rất nhiều tiểu thuyết “rẻ tiền” mà tôi
đã đọc càng khiến tôi có nhiều thiện cảm đối với lớp người ấy.
Gã kẻ cắp chuyên nghiệp Bashkin, trước đây vốn là học sinh
trường Sư phạm, đã từng chịu bao nhiêu sự giày vò tàn nhẫn và
đang mắc bệnh lao phổi, khuyên tôi một cách hùng hồn:
– Chú mày cứ thẹn thò bẽn lẽn y như con gái ấy, hay là sợ mất
danh dự? Đối với con gái, danh dự là tất cả giá trị của họ, còn đối
với chú mày danh dự chỉ là cái ách. Con bò sở dĩ hiền lành vì nó
có cỏ khô để ăn no bụng.
Tóc hung, râu cạo nhẵn nhụi y hệt một diễn viên, với những cử
chỉ nhanh nhẹn và mềm mại của cái thân hình bé nhỏ, Bashkin
trông giống một con mèo con. Đối với tôi, gã có thái độ bảo ban,
che chở, và tôi nhận thấy gã thành thật mong cho tôi gặp may
mắn và hạnh phúc. Là người rất thông minh, gã đọc khá nhiều
sách hay, và thích nhất là cuốn Bá tước Monte Cristo.
– Cuốn sách ấy viết vừa có thông điệp, vừa giàu tình cảm. ‒ Gã
nói.
Gã rất hám đàn bà và thường kể chuyện về họ, vừa nói gã vừa
chép chép miệng một cách ngon lành, lộ rõ vẻ háo hức, và thân
hình phờ phạc của gã run lên bần bật. Trong cử động run rẩy đó
có cái gì bệnh hoạn khiến tôi kinh tởm, nhưng tôi lắng nghe câu
chuyện của gã một cách chăm chú và cảm thấy cái đẹp của nó.
– Đàn bà, đàn bà! ‒ Gã nói như hát, nước da vàng ệch trên
khuôn mặt gã đỏ ửng, cặp mắt đen ánh lên vẻ mê thích. ‒ Vì đàn
bà, tớ có thể làm tất cả. Đối với họ, cũng như đối với quỷ sứ vậy,
chẳng có gì là tội lỗi cả! Không gì thích thú bằng được sống để
yêu đương!
Gã là một tay kể chuyện có tài và có thể dễ dàng sáng tác
những bài ca cảm động nói về nỗi đau buồn của mối tình bất
hạnh để tặng cho các ả gái điếm. Những bài ca của gã được người
ta hát ở khắp các thành phố dọc sông Volga, trong số đó phổ biến
rộng rãi nhất là bài ca sau đây:
Tôi nghèo mà cũng chằng xinh
Ăn mặc xoàng xĩnh, thân hình lem nhem
Vì thế nền chẳng ai thèm
Lấy tôi làm vợ để đem về nhà…
Chusov ‒ một con người có nhiều hành động khả nghi ‒ đối xử
với tôi cũng rất tốt. Lão ta có vẻ mặt dễ chịu, hay ăn diện và có
những ngón tay nhỏ nhắn như tay nhạc công. Tại xóm Admiralty
lão có một cửa hiệu nhỏ, bên ngoài treo tấm biển “Thợ sửa chữa
đồng hồ” nhưng lão lại làm nghề tiêu thụ đồ ăn cắp.
– Peskov, chú mày đừng học những thói ăn cắp! ‒ Lão ta vừa
bảo tôi vừa đưa tay vuốt vuốt bộ râu điểm bạc với dáng điệu oai
vệ, cặp mắt ranh mãnh, trơ tráo nheo lại. ‒ Tao thấy chú mày có
con đường khác, chú mày là một người cao thượng.
– Thế nào là cao thượng?
– À, cao thượng là người không ghen ghét ai, chỉ có một đức
tính là hiếu kì…
Điều đó không đúng với tôi. Tôi hay ghen ghét và ghen ghét
nhiều cái. Ngay cả tài nói chuyện của Bashkin cũng kích thích
lòng ghen ghét của tôi. Gã có tài nói giọng đặc biệt, giống như
người ngâm thơ và hay dùng những cách so sánh, những lối nói
bất ngờ. Tôi còn nhớ rõ đoạn đầu một câu chuyện tình của gã
như sau:
“Một đêm trời ảm đạm, tớ ngồi trong một gian buồng tại thành phố
Sviyazhsk nghèo nàn, như con cú vọ trong hốc cây. Dạo ấy vào mùa thu,
khoảng tháng Mười, ngoài trời mưa lất phất, gió thổi rít lên giống như
một gã Tatar đang lúc bực mình cất tiếng hát ngân nga, tiếng hát kéo
dài không dứt: O.o.o.u.u.u…
… Thế rồi nàng đến, nhẹ nhàng, hồng hào, như một áng mây lúc mặt
trời vừa mọc và trong đôi mắt nàng lộ vẻ trong sạch giả dối của tâm hồn.
“Anh yêu.” Nàng nói, giọng thành thật. “Em có làm gì không phải với
anh đâu!” Tớ biết là nàng nói dối, nhưng tớ lại tin là thật! Lí trí thì biết
chắc chắn thế, nhưng tình cảm thì không thể nào không tin được! ”
Gã vừa kể vừa lắc lư người một cách nhịp nhàng, mắt lim dim,
tay nhẹ nhàng xoa xoa ngực, chỗ trái tim.
Giọng gã trầm trầm, nhưng lời nói vẫn lanh lảnh, dường như
trong đó có tiếng hót của chim họa mi.
Tôi ghen cả với Chusov, con người ấy nói về Siberia, Khiva và
Bukhara thật hay tuyệt, còn nói về cuộc sống của bọn đại giáo
chủ thì hài hước và rất cay độc. Một hôm, với vẻ bí mật, lão nói về
Aleksandr đệ tam:
– Tên vua ấy đúng là một tên vua nhà nghề!
Tôi có cảm tưởng như Chusov là một “tên độc ác” trong một
thiên tiểu thuyết mà người đọc không ngờ về cuối, tên ấy lại hóa
thành nhân vật rộng lượng.
Thỉnh thoảng, vào những đêm oi ả, những con người này vượt
sông Kazanka, mò về phía cánh đồng cỏ, chui vào các bụi cây,
cùng nhau đánh chén, trò chuyện về việc làm của họ, nhưng
thường thường họ bàn luận về cuộc đời phức tạp, về những quan
hệ rối ren lạ lùng giữa người này với người khác, đặc biệt là bàn
nhiều về đàn bà. Họ nói về đàn bà với vẻ phẫn nộ, buồn buồn, đôi
khi với thái độ mủi lòng và hầu như lúc nào cũng như nhìn vào
bóng tối đầy những sự bất ngờ khủng khiếp. Tôi đã sống với họ
hai ba đêm như thế dưới bầu trời đen tối điểm những vì sao lờ
mờ, trong hơi nóng ngột ngạt của khu đất trũng mọc đầy liễu dại.
Giữa đêm tối tràn ngập không khí ẩm ướt của vùng ven sông
Volga, những ánh đèn trên các cột buồm bò ngang dọc như đàn
nhện vàng, khối lửa và những vệt lửa chiếu những vết loang lổ
vào bờ dốc đen ngòm, đó là ánh đèn từ cửa sổ các quán rượu và
nhà ở của thôn Uslon trù phú. Chân vịt của tàu thủy khua động
mặt nước; thủy thủ trên dãy sà lan la hét ầm ĩ, nghe như tiếng
chó sói; đâu đó vang lên tiếng búa nện vào sắt; một bài hát ảo não
kéo dài, dường như tâm hồn ai đang âm ỉ ‒ nghe tiếng hát ấy một
nỗi buồn phủ lên lòng ta như một lớp tro tàn.
Càng buồn chán hơn khi nghe tiếng nói thì thầm của những
con người này. Họ suy nghĩ về cuộc sống, và mọi người đều nói về
mình, hầu như chẳng ai chịu nghe ai. Hoặc nằm hoặc ngồi dưới
các lùm cây, họ hút thuốc, chốc chốc lại nhắp rượu bia hoặc
vodka và nhớ về những kỉ niệm xa xôi…
– Ngày trước tôi gặp câu chuyện thế này… ‒ Một người nằm
bẹp dưới đất trong bóng tối ban đêm lên tiếng.
Nghe xong câu chuyện, mọi người tán thành:
– Có thể đấy, tất cả đều có thể…
“Đã có”, “thường có”, “có lúc” ‒ tôi lắng nghe và cảm thấy như
trong đêm hôm ấy người ta đang sống những giờ phút cuối cùng
của đời mình, tất cả đều đã qua và sẽ không còn gì sau đây nữa!
Điều này làm tôi dần dần xa cách Bashkin và Chusov, nhưng
dẫu sao tôi vẫn thích họ, và cứ theo logic...
—★—
Tác giả: Maksim Gorki
Người dịch: Trần Khuyến
Cẩm Tiêu
Nhà xuất bản Kim Đồng
ebook©vctvegroup
21-07-2018
LỜI GIỚI THIỆU
Những trường đại học của tôi là tác phẩm đầu tiên M.Gorky
viết trong thời đại mới ‒ thời đại Xô viết. Gorky sáng tác Những
trường đại học của tôi chủ yếu vào năm 1922. Đây là tập cuối
trong bộ ba tác phẩm tự thuật của ông. Những trường đại học của
tôi phản ánh cuộc sống của Gorky ở Kazan (1884 ‒ 1888) và ở
làng Krasnovidovo trên sông Volga (từ tháng 6 đến tháng 9 năm
1888).
Khác với Thời thơ ấu và Kiếm sống, Những trường đại học của
tôi là một tùy bút ghi nhanh. Có thể gọi Những trường đại học của
tôi là một phòng trưng bày các kiểu chân dung người Nga khác
nhau. Nhân vật chính liên kết những bức chân dung đó là
Peskov, một chàng thanh niên đang đi tìm chân lí của cuộc sống.
Chủ động hoặc ngẫu nhiên do hoàn cảnh bắt buộc, Peskov tiếp
xúc với rất nhiều người, những cuộc gặp gỡ thường diễn ra trong
một khoảng thời gian ngắn. Có lẽ điều đó đã quyết định cách
phác họa nhân vật của Gorky trong Những trường đại học của tôi.
Tuy rất ít miêu tả vẻ bề ngoài, song những chi tiết miêu tả vô
cùng sắc nét. Trong mỗi bức chân dung, Gorky chỉ lựa chọn một
số nét, nhưng là những nét tiêu biểu; ông xếp đặt và làm sáng tỏ
những nét ấy khiến cho mỗi hình ảnh trở nên sinh động, tính
cách và thế giới nội tâm của từng nhân vật đều nổi bật.
Tên gọi của cuốn sách ‒ Những trường đại học của tôi ‒ rất
đáng chú ý. Trường đại học là nơi người ta được học những kiến
thức chuyên sâu về một ngành khoa học. Gorky sử dụng số nhiều
(“những trường đại học”) để nhấn mạnh không phải chỉ có một
trường mà có nhiều trường. “Những trường đại học” này của
Gorky là cuộc sống muôn màu muôn vẻ, hối hả, phức tạp, rắc rối,
có những sự kiện nặng nề, đôi khi kì quặc đến quái gở, tươi vui
cũng có, mà ảm đạm cũng có.
Tên sách không có ý mỉa mai, cũng không có vẻ hài hước,
châm biếm, mà vang lên âm điệu bi thảm. Gorky kể cho chúng ta
ông đã trải qua “trường đại học đường đời” gian khổ như thế nào
khi còn là một thanh niên. Ngôi trường với những con người có tư
chất tinh thần, tâm lí khác nhau một cách kì lạ, có những quan
điểm về con người, xã hội, nhà nước… nhiều khi trái ngược hoàn
toàn.
Chàng thanh niên Peskov khao khát những kiến thức sâu
rộng, muốn lĩnh hội chúng một cách có hệ thống, nhưng thực tế
phũ phàng đem lại cho trí tuệ ham hiểu biết nhưng còn chưa
vững vàng của anh một mớ hỗn độn những ấn tượng, những
quan niệm. Nhiều lần Peskov phải băn khoăn thắc mắc sau
những cuộc gặp gỡ bất ngờ. Anh phải nghĩ nát óc để tự tìm ra lời
giải đáp.
Mỗi người Peskov tiếp xúc trong thời kì ở “những trường đại
học” đều đem lại cho anh, khi tích cực, khi thụ động, một bài học
đường đời bổ ích. Peskov luôn luôn tìm kiếm, trông chờ ở họ
những lời giải đáp cho bao câu hỏi quay cuồng trong đầu óc anh.
Chính vì vậy, anh đã gần gũi mọi người, nghe ngóng, quan sát họ.
Đấy cũng là lí do vì sao ở Những trường đại học của tôi, khác với
Thời thơ ấu và Kiếm sống, hầu như hoàn toàn không miêu tả đời
sống hằng ngày.
Nhân vật chính của cuốn sách là chàng thanh niên Peskov,
nhưng nội dung chính lại xoay quanh những con người mà
Peskov tiếp xúc, thế giới nội tâm và thái độ của họ với hiện thực.
Peskov không đặt “cái tôi” của mình vào trung tâm của cuộc
sống xung quanh. Vấn đề làm anh băn khoăn, lo lắng nhất là làm
thế nào để trở thành một người thực sự có ích cho nhân dân
mình.
Peskov đã trải qua “những trường đại học đường đời” vào lúc
tình hình chính trị nước Nga những năm 80 của thế kỉ XIX vô
cùng phức tạp, bắt đầu sau thất bại của phong trào cách mạng
dân túy. Vào thời kì này, trong một thời gian nhất định nào đấy,
chủ nghĩa Tolstoy trở nên thịnh hành. Một số trí thức dân chủ đã
bắt đầu tuyên truyền học thuyết Tolstoỵ.
Nhưng cũng vào những năm 80, học thuyết cách mạng vĩ đại ‒
chủ nghĩa Marx ‒ đã xuất hiện ở Nga và đang trên đà phát triển
mạnh mẽ; nó xua tan bóng tối của chế độ phản động, soi sáng
con đường đúng đắn duy nhất để tiến lên. Cũng vào những năm
ấy, ở Kazan, người kế tục thiên tài học thuyết Marx ‒ Engels là V.
I. Lenin đã trưởng thành về mặt tư tưởng và chính trị. Ở một số
thành phố đã thành lập những nhóm Marxist đầu tiên. Một trong
những nhóm xuất sắc trong thời kì này là nhóm Kazan do nhà
cách mạng nổi tiếng N. E. Fedoseev lãnh đạo.
Vai trò của Fedoseev trong việc tuyên truyền chủ nghĩa Marx
và cuộc đấu tranh của ông chống lại phong trào dân túy đã được
V. I. Lenin đánh giá cao trong bài báo Mấy lời về N. E Fedoseev,
Lenin viết:
“Đối với vùng Povolzhie cũng như đối với một số địa phương
thuộc khu vực trung tâm nước Nga, vai trò của Fedoseev rất quan
trọng; quần chúng đang ở trong bước ngoặt sang chủ nghĩa Marx
và chịu ảnh hưởng rất lớn của nhà cách mạng thiên tài và vô
cùng trung thành với sự nghiệp cách mạng ấy.”
Thế giới quan của Peskov trong tác phẩm tuy chưa phát triển
thật hoàn thiện, nhưng con đường anh đi đã được phác họa và
được xác định. Con đường đó nhất định sẽ dẫn anh đến với giai
cấp vô sản, với chủ nghĩa Marx, với cách mạng.
Trong Những trường đại học của tôi, vấn đề nhân dân và giới
trí thức chiếm một vị trí quan trọng. Câu hỏi “Làm gì?” thường
xuyên được đặt ra trước Peskov lúc còn ở nhà ông ngoại cũng
như khi đi kiếm sống giờ đây lại có một ý nghĩa mới mẻ đối với
chàng thanh niên.
Thời thơ ấu và niên thiếu, Peskov đã trải qua trường học
đường đời gian khổ. Nhưng sau khoảng thời gian cực nhọc ấy,
chàng thanh niên đã có ước mơ về cuộc sống tươi đẹp, nhân đạo,
với những “con người cao thượng”. Anh đồng ý với lời khuyên
nhủ của Yevreinov, một học sinh trung học cũng hay mơ mộng
và ngây thơ như anh. Anh đã tới Kazan để thi vào trường đại học.
Suốt thời gian khoảng bốn năm sống ở Kazan, trong tâm trí anh
luôn diễn ra cuộc xung đột gay gắt giữa ước mơ viển vông và hiện
thực khủng khiếp.
Cuối cùng, thay cho việc vào học tại trường đại học, để khỏi
chết đói, Peskov đành làm phu thợ trên các bến tàu Volga. Tại
đây, sống giữa những công nhân khuân vác, những kẻ giang hồ
và kẻ cắp, anh cảm thấy mình “là một thỏi sắt được vùi vào đống
than đỏ rực”. Những “vị giáo sư” đầu tiên của anh trong “trường
đại học” muôn hình muôn vẻ: Bashkin ‒ kẻ cắp chuyên nghiệp
chuyên bịa ra những bài hát “tàn nhẫn”; Chusov ‒ một tay thợ
chuyên làm những việc ám muội như tiêu thụ đồ ăn cắp. Nhiều
chàng trai đã ngả theo con đường của “những người thầy” như
vậy. Nhưng Peskov đã đứng vững.
Cuộc gặp gỡ với nhà cách mạng Guri Pletnyov đã giúp Peskov
có ít nhiều cơ sở vững chắc hơn trong nhận thức. Anh bắt đầu
tham gia hoạt động trong một nhóm cách mạng bí mật. Nhưng về
sau nhóm này lại biểu lộ sự suy đồi về chính trị của giới trí thức.
Sự kiện quan trọng hơn cả trong thời kì Peskov sống ở Kazan
là việc anh tham gia vào nhóm dân túy tụ tập tại cửa hiệu của
Derenkov. Ở đây, sau khi tiếp xúc với những sinh viên có đầu óc
cách mạng, tư tưởng của Peskov thay đổi nhiều. Nhờ hiểu biết
thực tế phong phú, quan niệm của Peskov về nhân dân trái
ngược với quan niệm của những người dân túy. Tuy vậy, lòng tin
của những người dân túy vào phẩm chất của nhân dân mà họ
“tạo ra”, lòng yêu mến của họ đối vói nhân dân đã cổ vũ chàng
thanh niên, tiếp thêm sức mạnh cho anh.
Peskov bắt đầu thấy rõ hoạt động của giới trí thức tách rời
nhân dân sẽ không đưa lại kết quả gì. Lời nói của nhà Marxist
Fedoseev đã làm cho Peskov vững tin vào lí tưởng của mình.
Trong những ngày khó khăn đi tìm chân lí ấy, trong lúc nghi
ngờ sự đúng đắn của giới trí thức thuộc phái dân tuý, Peskov
cũng đã làm quen với “những nhà lí luận” khác của cuộc sống.
Tuy họ đối địch hẳn với anh, nhưng những cuộc gặp gỡ ấy đối với
anh không phải là vô ích. Anh đụng phải thái độ thụ động của
những người thợ làm bánh mì, họ “chịu đựng một cách ngoan
cường” tất cả những lời nhạo báng của chủ, có đầu óc vô chính
phủ và thái độ hay kêu than. Những lời nói của ông giáo dạy Sử
về sự vô nghĩa của cuộc sống và sự vô ích của lao động, rằng
người ta đi tìm sự lãng quên, sự an ủi, chứ đâu có phải đi tìm kiến
thức ‒ những lời nói ấy đã ảnh hưởng tới Peskov và làm anh sửng
sốt. Những cuộc tiếp xúc với người theo chủ nghĩa Tolstoy là
Klopsky, lão cảnh sát Nikitorich càng làm cho Peskov thêm bối
rối.
Thế là Peskov, vào tuổi thanh niên khó khăn nhất, đã ở giữa
“đám sương mù” của những tư tưởng và lí thuyết trái ngược, đôi
khi phủ định lẫn nhau. Anh thường lạc lối, cảm thấy bất lực trước
những bài toán cuộc đời mà anh không thể nào giải nổi. Trong
thời gian ấy, những ý nghĩ của anh về cuộc sống “không kém
phần nặng nề so với chính bản thân cuộc sống” (thậm chí năm
1887, trong giây phút tuyệt vọng, Peskov đã có ý định tự tử). Thời
kì “những trường đại học ở Kazan” của Peskov kết thúc một cách
bi thảm như thế.
Mùa hè năm 1888, Peskov cùng với nhà cách mạng thuộc phái
dân tuý là Romass rời tới làng Krasnovidovo. Một giai đoạn mới
trên con đường đi tìm chân lí của chàng thanh niên Peskov bắt
đầu. Theo kết cấu của tác phẩm, đó là phần hai của Những
trường đại học của tôi.
Cuộc sống thực tế ở nông thôn nước Nga hóa ra hoàn toàn
không giống như người ta mô tả trong các bản thuyết trình ở nhà
Derenkov. Peskov đụng phải chủ nghĩa cá nhân, bản năng tư hữu
đã được nuôi dưỡng hàng trăm năm của chế độ nông nô, sự ngu
dốt, thất học, thiếu tin tưởng vào giới trí thức. Ở đây, anh thấy rõ
tình cảnh của người nông dân Nga do hoàn cảnh lịch sử gây nên.
Ở đây, anh gặp nhiều người, muôn hình muôn vẻ, có trình độ
nhận thức rất khác nhau. Trong cuộc mưu sinh gian khổ hằng
ngày để kiếm một mẩu bánh mì, trái tim và tâm hồn con người
trở nên cằn cỗi.
Nhưng đồng thời, ở mỗi người cũng có nhiều điểm tốt đẹp, dịu
dàng, đôi khi là tâm hồn ngây thơ thực sự.
Izot, Barinov, Kukushkin là những con người như vậy. Họ làm
cho Peskov nhớ lại một cách sinh động những người mà anh đã
gặp trước đây trong Thời thơ ấu: ngoài đường phố, sau hàng rào
nhà ông ngoại; khi Kiếm sống: trên tàu thủy, ở xưởng làm tượng
thánh, ở nhà người thầu khoán. Tất cả những người nông dân
Nga này “đều sống mò mẫm như những người mù, tất cả đều sợ
hãi một cái gì đó, không tin cậy nhau…”
Trong phần này của cuốn truyện, cảm giác vui mừng trước
con đường đã tìm thấy, ý thức tham gia vào công việc thực tiễn
chứ không chỉ trên sách vở ngày càng tăng.
Peskov hiểu kế hoạch của Romass có điểm hạn chế, nhưng kế
hoạch ấy đã thu hút anh vì anh cảm thấy đó là kế hoạch hành
động thực tế. Nhưng thực ra đó cũng vẫn chỉ là ý định thể hiện
bằng đường lối hoà bình những lí tưởng cũ của phái dân túy,
chưa thể giải quyết những nhiệm vụ cách mạng cụ thể đương
thời. Chính vì vậy mà Romass đã không đạt được mục đích. lzot
bị giết, cửa hiệu của Romass bị bọn phú nông đốt, những người
bần nông mà Romass đặt nhiều hi vọng cũng không ủng hộ anh.
Peskov đã rời khỏi làng Krasnovidovo, cảm thấy cần thiết phải
đi tìm một học thuyết cách mạng tích cực có khả năng chiếu sáng
con đường cách mạng sau này. Thế là trước mắt chúng ta lại xuất
hiện những lớp người mới, những sự kiện mới. Tiếp xúc với tầng
lớp sinh viên cách mạng, với nông dân, công nhân, Peskov đã có
được lòng tin vào khả năng thực tế cải tạo thế giới.
Những trường đại học của tôi là một bài ca lao động. Là người
ca ngợi lao động sáng tạo của con người, trong cuốn sách này
Gorky đã miêu tả những hình thức lao động khác nhau: lao động
chân tay, trí óc và thẩm mĩ.
Lao động chân tay tuy vất vả, cực nhọc, nhưng đồng thời cũng
rất vui thú. Cảnh bốc hàng khỏi một chiếc sà lan bị chìm đã được
Gorky miêu tả một cách say sưa và thích thú. Trong đó có cả xúc
cảm cao độ lẫn sự hùng vĩ, có cả màu sắc rực rỡ lẫn điệu nhạc
hùng tráng. Từ bức tranh ấy toát ra khí thế anh hùng đầy chất
thần thoại. Nhìn chung, đó là một bức tranh đồ sộ và là một khúc
nhạc giao hưởng.
Tác giả đã trực tiếp tham gia vào bản anh hùng ca lao động ấy;
nó để lại trong ý thức ông, trong cơ thể ông một niềm vui dào dạt,
bất tận. Lần đầu tiên ông rung cảm với bản trường ca hùng tráng
của lao động, hiểu được “thế giới loài người dồi dào biết bao sức
mạnh hùng hậu”. Ông cảm thấy những con người ấy là những
dũng sĩ trong các truyện thần thoại, họ “có thể nắm lấy những
tháp chuông và những gác nhà thờ của thành phố lôi đi đâu thì
lôi”.
Bức tranh lao động đã hun đúc tinh thần ông, gây lòng tin
không gì lay chuyển nổi vào con người lao động.
Năm 1920, trước những chiến công lao động đầu tiên của
nhân dân Xô viết, Gorky đã viết một loạt bài báo và “tọa đàm” về
lao động. “Lao động thật là vui vẻ và sảng khoái, không có con
đường nào đi tới hạnh phúc đúng đắn hơn là con đường lao động
tự do!” Bài báo ngày mồng 1 tháng 5 của Gorky Con đường đi tới
hạnh phúc đã kết luận như vậy. Sau khi biết tin ngày mùng 1
tháng 5 công nhân thành phố Kostroma đã xây dựng xong ngôi
nhà Nhân dân trong một ngày, Gorky viết trong bài báo Những
cuộc tọa đàm vê lao động: “Điều đó gần giống như trong truyện
thần thoại” và tuyên bố rằng bằng con đường lao động tự do “có
thể đạt được những kết quả giống như trong truyện thần thoại”.
Sự tiên đoán của ông trong Những trường đại học của tôi về
tấm gương lao động dũng cảm của những người Nga sống trong
xiềng xích của chế độ chuyên chế và tư bản phải chăng cũng
giống những lời phát biểu tươi sáng của Gorky: “Dường như
không gì có thể chống lại sức mạnh điên cuồng và phấn khởi, sức
mạnh có khả năng tạo nên những điều kì diệu trên trái đất đầy
thành phố và lâu đài tráng lệ như trong truyện thần thoại tiên
tri.”
Thời kì “những trường đại học” là một giai đoạn quan trọng
trong bước đường phát triển nghệ thuật của Aleksej Peskov ‒
nhân vật chính trong cuốn sách của Gorky. Qua cuộc đời sáng tác
của Gorky, nhất là những năm 90, chúng ta thấy thời kì Kazan là
một kho tàng phong phú đối với nhà văn. Những ấn tượng của
Gorky do “những trường đại học” ở Kazan đem lại là cơ sở cho
những tác phẩm rất nổi tiếng như Konovalov, Hai mươi sáu anh
chàng và một cô gái, Người chủ, Một chuyện xảy ra trong cuộc
đời Makar…
Các nhà văn Xô viết và các nhà văn tiến bộ trên thế giới đã
nhiệt liệt đón chào Những trường đại học của tôi. L.Seifullina[1],
M.Prishvin[2], S.Zweig[3], R.Rolland[4] đã viết cho Gorky về ấn
tượng mạnh mẽ sau khi đọc cuốn sách của ông và ý nghĩa của nó
đối với nền văn học và văn hóa Xô viết.
Những trường đại học của tôi là một trong những tác phẩm
của M. Gorky được V. I. Lenin ưa thích. Ngày 28 tháng Giêng năm
1924, khi kể về những ngày cuối đời của Vladimir llyich Lenin, N.
K. Krupskaja[5] đã viết cho Gorky như sau: “Chiều chiều tôi
thường đọc cho anh ấy nghe những cuốn sách mà anh ấy chọn
trong số sách được đưa từ thành phố tới. Anh ấy đã chọn cuốn
Những trường đại học của tôi. Lúc đầu anh ấy đề nghị tôi đọc cho
anh ấy nghe Korolenko[6], sau đó là Những trường đại học của
tôi.”
Những trường đại học của tôi của M. Gorky là cuốn sách giáo
khoa về cuộc sống không bao giờ cũ đối với thanh niên Xô viết và
thanh niên toàn thế giới. Đúng như lời M. Prisvin đã viết cho
Gorky: “Cuốn sách này là một sự kiện lớn trong nền văn học Nga,
lớp thanh niên của chúng ta sẽ học tập theo nó.” Bằng một câu
chuyện đơn giản nhưng mạnh mẽ về cuộc đời chàng thanh niên
Peskov, cuốn sách dạy chúng ta không sợ khó khăn, dạy chúng ta
đấu tranh và chiến thắng.
Khoảng cách giữa thời kì “những trường đại học” của Peskov
và ngày xuất hiện đầu tiên của nhà văn M. Gorky trên văn đàn
(1892) còn phải trải qua bốn năm gian truân với nhiều chặng
đường gian khó, nhưng cuối cùng Peskov cũng đã vượt qua, bởi
con người ấy đã bước trên đường đời với “kiến thức đại học” độc
đáo ‒ kinh nghiệm sống phong phú, “gói hành lí” trí óc to lớn và
lòng tin mãnh liệt vào con người. Với mỗi bước đường đời mới, ở
Peskov đã nảy sinh Danko đầy lòng hi sinh, Chim ưng dũng cảm
và Bài ca Chim báo bão kiêu hãnh giương cánh tiếp thêm sức
mạnh cho anh.
Trần Khuyến
Thế là tôi lên đường để xin vào trường đại học Kazan
[7],
không thể nào đừng được.
Người gợi cho tôi ý nghĩ xin vào trường đại học là Nikolai
Yevreinov, một thanh niên dễ mến, học sinh trung học, đẹp trai,
có đôi mắt dịu dàng như mắt phụ nữ. Anh ở trên gác thượng cùng
một nhà với tôi. Vì thường gặp tôi cầm sách trên tay nên anh rất
chú ý, và chúng tôi đã làm quen với nhau. Ít lâu sau, Yevreinov
bắt đầu khẳng định rằng tôi có “những khả năng đặc biệt về khoa
học”.
– Cậu vốn sinh ra để phục vụ khoa học. ‒ Anh vừa nói vừa lắc
mái tóc dài trông rất đẹp.
Lúc bấy giờ tôi chưa biết rằng ngay cả con thỏ cũng có thể
phục vụ cho khoa học, và Yevreinov đã chứng minh rất hùng hồn
với tôi rằng các trường đại học đang cần những thanh niên như
tôi. Tất nhiên anh có nhắc đến gương Mikhail Lomonosov.
Yevreinov nói rằng đến Kazan tôi sẽ ở tại nhà anh, trong suốt
mùa thu và mùa đông sẽ học qua chương trình trung học, sẽ thi
“mấy môn gì đó” ‒ đây là nguyên văn lời anh nói: “mấy môn gì
đó” ‒ vào đại học tôi sẽ được cấp học bổng của nhà nước, và năm
năm sau tôi sẽ trở thành “nhà bác học”. Mọi việc đều rất đơn
giản, vì Yevreinov mới mười chín tuổi đầu và rất tốt bụng.
Thi trung học xong anh đi trước, khoảng hai tuần lễ sau tôi
cũng lên đường.
Lúc tiễn chân tôi, bà tôi dặn dò:
– Cháu đừng có nóng nảy với người khác, lúc nào cháu cũng
hằm hằm, cháu trở nên nghiêm nghị và kiêu căng rồi đấy! Cháu
giống tính ông ngoại, mà ông cháu thì thế nào? Một ông già đau
khổ, càng sống càng đâm ra đần độn. Cháu phải nhớ điều này:
Chúa không hay quở phạt người đời, chỉ có ma quỷ mới thích
chuyện đó! Thôi, vĩnh biệt cháu…
Bà tôi đưa tay lau mấy giọt nước mắt lấm tấm trên hai gò má
nhăn nheo màu nâu sẫm và nói:
– Chắc bà cháu ta sẽ không gặp nhau nữa, cháu sẽ đi xa, nay
đây mai đó, còn bà thì chằng sống được bao lâu nữa…
Dạo gần đây tôi luôn sống xa người bà thân yêu và cũng ít khi
gặp mặt, nhưng lúc này bỗng nhiên tôi đau đớn cảm thấy rằng tôi
sẽ không bao giờ còn được gặp lại con người ấy, con người vô
cùng gần gũi và gắn bó với lòng tôi.
Đứng ở đuôi tàu, tôi nhìn thấy bà tôi đứng trên bến, một tay
làm dấu thánh giá, còn tay kia cầm góc chiếc khăn san cũ lau
mặt, lau đôi mắt đen sẫm long lanh, chan chứa lòng thương yêu
vô hạn đối với con người.
Và đây, tôi đã đến một thành phố nửa Tatar, sống trong một
gian phòng chật chội tại một ngôi nhà một tầng. Ngôi nhà nhỏ
đơn độc nhô lên trên một cái gò ở cuối khu phố nghèo nàn và
chật hẹp, một mặt tường giáp với khoảnh đất trống của một ngôi
nhà bị cháy, cỏ dại mọc đầy. Giữa những khóm ngải cứu, ngưu
bàng và chua me, giữa những bụi cây hương mộc, nổi lên cảnh
điêu tàn của một tòa nhà gạch; bên dưới là một cái hầm nhà
rộng, nơi trú ngụ và cũng là nơi gửi thây của lũ chó hoang vô chủ.
Tôi còn nhớ rất rõ cái hầm nhà ấy, nó là một trong những trường
đại học của tôi.
Gia đình Yevreinov ‒ một mẹ và hai con trai ‒ sống nhờ vào
món tiền trợ cấp ít ỏi. Ngay từ những ngày đầu mới đến tôi đã
được trông thấy cảnh người đàn bà góa bụa bé nhỏ, tiều tụy ấy đi
chợ về với vẻ buồn thảm hại, bày các thứ mua được lên mặt bàn
trong bếp và giải một bài tính hóc búa: Phải dùng những mẩu thịt
vụn tồi tàn này thế nào để nấu một món ăn ngon đủ cho ba chàng
thanh niên khỏe mạnh, chưa kể phần cho chính mình.
Bà là một người trầm lặng. Trong cặp mắt xám của bà đọng lại
sự ngoan cường và tuyệt vọng của một con ngựa kiệt sức: Con
ngựa kéo chiếc xe lên núi, nó biết rằng không kéo nổi, nhưng vẫn
cứ kéo!
Tôi đến đây được khoảng ba ngày thì một buổi sáng, khi hai
con bà còn đang ngủ, tôi vào bếp giúp bà gọt khoai, bà khe khẽ và
dè dặt hỏi tôi:
– Anh về đây làm gì?
– Cháu về học, cháu xin vào trường đại học.
Đôi lông mày cùng với lớp da trán vàng khè của bà dồn cả lên
phía trên, lưỡi dao chạm phải làm đứt ngón tay; bà vừa cho tay
vào miệng mút máu vừa ngồi xuống ghế, nhưng lại đứng lên ngay
và nói:
– Ôi, quỷ quái thật…
Bà lấy khăn mùi soa buộc ngón tay đứt lại, rồi khen tôi:
– Anh gọt khoai thạo lắm!
Còn phải nói! Rồi tôi kể cho bà nghe về thời tôi làm công trên
tàu thủy. Bà hỏi:
– Anh tưởng thế là đủ để xin vào trường đại học đấy à?
Hồi ấy tôi còn chậm hiểu những lối nói hài hước. Tưởng bà hỏi
thật, tôi liền kể cho bà nghe trình tự những việc cần làm để cuối
cùng cửa “lâu đài khoa học” phải mở ra trước mặt tôi.
Bà thở dài:
– Ôi dào, Nikolai, Nikolai ơi…
Vừa lúc đó Nikolai cũng bước vào bếp để rửa mặt, vẻ mặt còn
ngái ngủ, đầu tóc rối bù và vẫn vui vẻ như mọi ngày.
– Mẹ ơi, giá làm được món mằn thắn thì hay tuyệt!
– Được rồi.‒ Bà mẹ bằng lòng.
Vì muốn phô trương sự hiểu biết của mình về nghệ thuật nấu
nướng, tôi mới bảo rằng thịt tồi thế này thì khó mà làm mằn thắn
được, đã vậy lại ít nữa.
Bà Varvara Ivanovna liền nổi giận và nói mấy câu khá gay gắt
khiến hai tai tôi đỏ bừng và như mọc dài thêm ra. Bà vứt bó cà rốt
lên bàn rồi bỏ ra ngoài. Nikolai nháy mắt ra hiệu và giải thích cho
tôi về cử chỉ của bà:
‒Bực mình đấy…
Anh ngồi xuống ghế dài và nói với tôi rằng đàn bà thường dễ
nổi giận hơn đàn ông, đó là bản tính của họ. Một nhà bác học lớn,
người Thụy Sĩ thì phải, đã chứng minh rõ ràng điều đó. John
Stuart Mill[8], một người Anh, cũng đã có ý kiến bàn về vấn đề
này.
Nikolai rất thích kèm cặp tôi học, anh tận dụng mọi dịp thuận
tiện để nhồi nhét vào óc tôi những điều cần thiết không thể nào
thiếu để sống ở đời. Tôi lắng nghe anh như nuốt từng lời; về sau
những cái tên Puocault[9], La Rocherfoucauld[10] và La
Rochejaquelein[11] cứ lẫn lộn trong đầu óc tôi như tất cả chỉ là
một, và tôi không sao nhớ được ai đã lấy đầu ai: Lavoisier[12] lấy
đầu Dumouriez[13], hay ngược lại? Chàng thanh niên dễ mến ấy
thành thật mong muốn “dạy cho tôi nên người”. Anh hứa với tôi
một cách chắc chắn rằng anh sẽ làm việc đó, nhưng anh không
có thì giờ và tất cả những điều kiện khác để dạy tôi học một cách
nghiêm chỉnh. Tính ích kỉ và sự nông nổi của tuổi thanh niên
không cho phép anh thấy được mẹ anh đã lo toan việc nhà một
cách khó nhọc và khôn khéo như thế nào. Em trai anh, một học
sinh trung học trầm lặng và khó tính, càng không nhận ra điều
đó. Còn tôi thì từ lâu đã tường tận những mánh khóe phức tạp
của khoa hóa học và kinh tế học trong nhà bếp, tôi thấy rõ tài
tháo vát của người đàn bà hằng ngày phải đánh lừa dạ dày của
con cái mình và phải nuôi báo cô một anh chàng có diện mạo
đáng ghét và cử chỉ thô bỉ. Dĩ nhiên mỗi mẩu bánh mì mà tôi
nhận được giống như một tảng đá đè lên tâm hồn tôi. Tôi bắt đầu
đi tìm một công việc gì để làm. Tôi ra khỏi nhà từ sáng sớm để
tránh bữa trưa, và những hôm xấu trời thì ngồi lì một chỗ trong
gian hầm ở khu đất trống. Tại đây, mũi ngửi mùi hôi thối của xác
chó mèo, tai nghe tiếng mưa ào ào và tiếng gió rít, chẳng bao lâu
tôi nhận ra trường đại học đối với tôi chỉ là ảo tưởng, giá mà tôi
sang Ba Tư có phải khôn ngoan hơn không. Tôi hình dung thấy
mình là một thầy phù thủy râu tóc bạc phơ, tìm ra phép trồng
được những hạt lúa mì to bằng quả táo, những củ khoai tây nặng
hàng pood[14] và nói chung nghĩ ra được nhiều việc tốt để giúp
cho quả đất mà trên đó không chỉ có mình tôi phải lê bước một
cách khổ cực ghê gớm như thế này.
Tôi học được cách mơ ước đến những việc mạo hiểm phi
thường và những chiến công vĩ đại. Điều đó giúp tôi rất nhiều
trong những ngày gian nan của đời mình, và vì những ngày gian
nan ấy rất nhiều, nên tôi lại càng giỏi bịa ra những mộng tưởng.
Tôi không chờ đợi sự giúp đỡ từ bên ngoài và không hi vọng vào
sự may mắn, ngược lại trong người tôi dần dần nảy nở tính bướng
bỉnh, và hoàn cảnh sống càng khó khăn thì tôi càng cảm thấy
mình vững vàng hơn, thậm chí khôn ngoan hơn. Tôi sớm hiểu
rằng con người được tạo nên bởi khả năng chống chọi với nghịch
cảnh.
Để khỏi bị chết đói, tôi tìm đến sông Volga, tới các bến tàu thủy
là những nơi dễ kiếm được mười lăm, hai mươi kopek. Tại đây ‒
sống giữa những người khuân vác, những kẻ lưu lạc và trộm cắp,
tôi cảm thấy mình là một thỏi sắt được vùi vào đống than đỏ rực,
mỗi ngày đem lại cho tôi không biết bao nhiêu ấn tượng sâu sắc,
nóng hổi.
Tại những nơi ấy, những con người cuồng vọng, bản tính thô
lỗ, quay cuồng trước mắt tôi như một cơn lốc; tôi thích thái độ
căm giận, thù ghét, châm chọc của họ đối với mọi thứ trên đời và
thái độ vô tâm của họ đối với chính bản thân. Những gì tôi đã trực
tiếp trải qua lôi kéo tôi đến gần với những con người ấy, khiến
cho tôi muốn hòa mình vào hoàn cảnh đau xót của họ. Những
truyện của Bret Harte[15] và rất nhiều tiểu thuyết “rẻ tiền” mà tôi
đã đọc càng khiến tôi có nhiều thiện cảm đối với lớp người ấy.
Gã kẻ cắp chuyên nghiệp Bashkin, trước đây vốn là học sinh
trường Sư phạm, đã từng chịu bao nhiêu sự giày vò tàn nhẫn và
đang mắc bệnh lao phổi, khuyên tôi một cách hùng hồn:
– Chú mày cứ thẹn thò bẽn lẽn y như con gái ấy, hay là sợ mất
danh dự? Đối với con gái, danh dự là tất cả giá trị của họ, còn đối
với chú mày danh dự chỉ là cái ách. Con bò sở dĩ hiền lành vì nó
có cỏ khô để ăn no bụng.
Tóc hung, râu cạo nhẵn nhụi y hệt một diễn viên, với những cử
chỉ nhanh nhẹn và mềm mại của cái thân hình bé nhỏ, Bashkin
trông giống một con mèo con. Đối với tôi, gã có thái độ bảo ban,
che chở, và tôi nhận thấy gã thành thật mong cho tôi gặp may
mắn và hạnh phúc. Là người rất thông minh, gã đọc khá nhiều
sách hay, và thích nhất là cuốn Bá tước Monte Cristo.
– Cuốn sách ấy viết vừa có thông điệp, vừa giàu tình cảm. ‒ Gã
nói.
Gã rất hám đàn bà và thường kể chuyện về họ, vừa nói gã vừa
chép chép miệng một cách ngon lành, lộ rõ vẻ háo hức, và thân
hình phờ phạc của gã run lên bần bật. Trong cử động run rẩy đó
có cái gì bệnh hoạn khiến tôi kinh tởm, nhưng tôi lắng nghe câu
chuyện của gã một cách chăm chú và cảm thấy cái đẹp của nó.
– Đàn bà, đàn bà! ‒ Gã nói như hát, nước da vàng ệch trên
khuôn mặt gã đỏ ửng, cặp mắt đen ánh lên vẻ mê thích. ‒ Vì đàn
bà, tớ có thể làm tất cả. Đối với họ, cũng như đối với quỷ sứ vậy,
chẳng có gì là tội lỗi cả! Không gì thích thú bằng được sống để
yêu đương!
Gã là một tay kể chuyện có tài và có thể dễ dàng sáng tác
những bài ca cảm động nói về nỗi đau buồn của mối tình bất
hạnh để tặng cho các ả gái điếm. Những bài ca của gã được người
ta hát ở khắp các thành phố dọc sông Volga, trong số đó phổ biến
rộng rãi nhất là bài ca sau đây:
Tôi nghèo mà cũng chằng xinh
Ăn mặc xoàng xĩnh, thân hình lem nhem
Vì thế nền chẳng ai thèm
Lấy tôi làm vợ để đem về nhà…
Chusov ‒ một con người có nhiều hành động khả nghi ‒ đối xử
với tôi cũng rất tốt. Lão ta có vẻ mặt dễ chịu, hay ăn diện và có
những ngón tay nhỏ nhắn như tay nhạc công. Tại xóm Admiralty
lão có một cửa hiệu nhỏ, bên ngoài treo tấm biển “Thợ sửa chữa
đồng hồ” nhưng lão lại làm nghề tiêu thụ đồ ăn cắp.
– Peskov, chú mày đừng học những thói ăn cắp! ‒ Lão ta vừa
bảo tôi vừa đưa tay vuốt vuốt bộ râu điểm bạc với dáng điệu oai
vệ, cặp mắt ranh mãnh, trơ tráo nheo lại. ‒ Tao thấy chú mày có
con đường khác, chú mày là một người cao thượng.
– Thế nào là cao thượng?
– À, cao thượng là người không ghen ghét ai, chỉ có một đức
tính là hiếu kì…
Điều đó không đúng với tôi. Tôi hay ghen ghét và ghen ghét
nhiều cái. Ngay cả tài nói chuyện của Bashkin cũng kích thích
lòng ghen ghét của tôi. Gã có tài nói giọng đặc biệt, giống như
người ngâm thơ và hay dùng những cách so sánh, những lối nói
bất ngờ. Tôi còn nhớ rõ đoạn đầu một câu chuyện tình của gã
như sau:
“Một đêm trời ảm đạm, tớ ngồi trong một gian buồng tại thành phố
Sviyazhsk nghèo nàn, như con cú vọ trong hốc cây. Dạo ấy vào mùa thu,
khoảng tháng Mười, ngoài trời mưa lất phất, gió thổi rít lên giống như
một gã Tatar đang lúc bực mình cất tiếng hát ngân nga, tiếng hát kéo
dài không dứt: O.o.o.u.u.u…
… Thế rồi nàng đến, nhẹ nhàng, hồng hào, như một áng mây lúc mặt
trời vừa mọc và trong đôi mắt nàng lộ vẻ trong sạch giả dối của tâm hồn.
“Anh yêu.” Nàng nói, giọng thành thật. “Em có làm gì không phải với
anh đâu!” Tớ biết là nàng nói dối, nhưng tớ lại tin là thật! Lí trí thì biết
chắc chắn thế, nhưng tình cảm thì không thể nào không tin được! ”
Gã vừa kể vừa lắc lư người một cách nhịp nhàng, mắt lim dim,
tay nhẹ nhàng xoa xoa ngực, chỗ trái tim.
Giọng gã trầm trầm, nhưng lời nói vẫn lanh lảnh, dường như
trong đó có tiếng hót của chim họa mi.
Tôi ghen cả với Chusov, con người ấy nói về Siberia, Khiva và
Bukhara thật hay tuyệt, còn nói về cuộc sống của bọn đại giáo
chủ thì hài hước và rất cay độc. Một hôm, với vẻ bí mật, lão nói về
Aleksandr đệ tam:
– Tên vua ấy đúng là một tên vua nhà nghề!
Tôi có cảm tưởng như Chusov là một “tên độc ác” trong một
thiên tiểu thuyết mà người đọc không ngờ về cuối, tên ấy lại hóa
thành nhân vật rộng lượng.
Thỉnh thoảng, vào những đêm oi ả, những con người này vượt
sông Kazanka, mò về phía cánh đồng cỏ, chui vào các bụi cây,
cùng nhau đánh chén, trò chuyện về việc làm của họ, nhưng
thường thường họ bàn luận về cuộc đời phức tạp, về những quan
hệ rối ren lạ lùng giữa người này với người khác, đặc biệt là bàn
nhiều về đàn bà. Họ nói về đàn bà với vẻ phẫn nộ, buồn buồn, đôi
khi với thái độ mủi lòng và hầu như lúc nào cũng như nhìn vào
bóng tối đầy những sự bất ngờ khủng khiếp. Tôi đã sống với họ
hai ba đêm như thế dưới bầu trời đen tối điểm những vì sao lờ
mờ, trong hơi nóng ngột ngạt của khu đất trũng mọc đầy liễu dại.
Giữa đêm tối tràn ngập không khí ẩm ướt của vùng ven sông
Volga, những ánh đèn trên các cột buồm bò ngang dọc như đàn
nhện vàng, khối lửa và những vệt lửa chiếu những vết loang lổ
vào bờ dốc đen ngòm, đó là ánh đèn từ cửa sổ các quán rượu và
nhà ở của thôn Uslon trù phú. Chân vịt của tàu thủy khua động
mặt nước; thủy thủ trên dãy sà lan la hét ầm ĩ, nghe như tiếng
chó sói; đâu đó vang lên tiếng búa nện vào sắt; một bài hát ảo não
kéo dài, dường như tâm hồn ai đang âm ỉ ‒ nghe tiếng hát ấy một
nỗi buồn phủ lên lòng ta như một lớp tro tàn.
Càng buồn chán hơn khi nghe tiếng nói thì thầm của những
con người này. Họ suy nghĩ về cuộc sống, và mọi người đều nói về
mình, hầu như chẳng ai chịu nghe ai. Hoặc nằm hoặc ngồi dưới
các lùm cây, họ hút thuốc, chốc chốc lại nhắp rượu bia hoặc
vodka và nhớ về những kỉ niệm xa xôi…
– Ngày trước tôi gặp câu chuyện thế này… ‒ Một người nằm
bẹp dưới đất trong bóng tối ban đêm lên tiếng.
Nghe xong câu chuyện, mọi người tán thành:
– Có thể đấy, tất cả đều có thể…
“Đã có”, “thường có”, “có lúc” ‒ tôi lắng nghe và cảm thấy như
trong đêm hôm ấy người ta đang sống những giờ phút cuối cùng
của đời mình, tất cả đều đã qua và sẽ không còn gì sau đây nữa!
Điều này làm tôi dần dần xa cách Bashkin và Chusov, nhưng
dẫu sao tôi vẫn thích họ, và cứ theo logic...
 








Các ý kiến mới nhất