NHỮNG NHÀ KHÁM PHÁ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 16h:37' 27-02-2024
Dung lượng: 6.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 16h:37' 27-02-2024
Dung lượng: 6.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Và chúng ta nhận lấy trách nhiệm lý giải sự bí ẩn của mọi vật,
Như thể chúng ta là điệp viên của Thượng đế.
—SHAKESPEARE, Vua Lear, hồi V, cảnh 3
TẶNG RUTH
Cũng chính vua Solomon, mặc dù nổi danh về các kho báu và các tòa nhà
hoành tráng, về đóng tàu và hàng hải, về đám cận thần và người hầu, về
tiếng tăm và danh vọng, vân vân, ngài đã chẳng để ý đến những danh tiếng
ấy, mà chỉ coi trọng vinh quang trong tìm kiếm chân lý; vì chính ngài đã
thốt ra đầy biểu cảm: “Vinh quang của Thượng đế là giấu kín một sự vật,
còn vinh quang của một ông vua là tìm ra nó”; giống như trong trò chơi vô
tư của con trẻ, Đấng Chí tôn thích thú giấu đi các thành quả sáng tạo của
mình, để cuối cùng chúng được tìm ra; như thể các ông vua không có vinh
dự nào lớn hơn vinh dự được làm bạn chơi với Thượng đế trong trò chơi
này.
—FRANCIS BACON, Con đường tiến lên của Tri thức (1605)
Vài lời với bạn đọc
Nhân vật của tôi là Con Người Khám Phá. Thế giới mà ngày nay chúng ta
quan sát thấy từ nền Văn minh phương Tây - dòng thời gian, đất liền và
biển cả, các thiên thể và cơ thể của chính chúng ta, động vật và thực vật,
lịch sử và các xã hội loài người trong quá khứ và hiện tại - đã được mở ra
cho chúng ta bởi vô số các Columbus vô danh. Họ là những người không ai
biết tên, chìm khuất trong những nẻo quá khứ xa xôi. Khi tiến gần đến
hiện tại, thì họ mới hiện ra trong ánh sáng của lịch sử, một loạt những nhân
vật đa dạng như chính bản tính của con người. Các khám phá trở thành
những tình tiết trong các bản tiểu sử, khôn lường như những thế giới mới
mà các nhà khám phá đã mở ra trước mắt chúng ta.
Những trở ngại trên con đường đến với khám phá - những ảo tưởng,
nhầm lẫn của tri thức - cũng là một phần câu chuyện này. Chỉ có đặt mình
vào phông nền đã bị lãng quên của điều được coi là hiểu biết thường tình
thời đó cùng những huyền thoại thời của họ, chúng ta mới cảm thấy được
lòng can đảm, mức độ liều lĩnh, những đột phá vừa anh hùng vừa giàu
tưởng tượng của các nhà khám phá lớn. Họ đã phải đấu tranh vất vả với
những “sự thật hiển nhiên” đương thời cùng bao nhiêu giáo điều của các
bậc có học thức. Tôi đã cố gắng truyền tải những ảo tưởng đó - về Trái đất,
các lục địa và biển cả trước khi có Columbus và Balboa, Magellan và
thuyền trưởng Cook; về bầu trời trước khi có Copernicus, Galileo và
Kepler; về cơ thể con người trước khi có Paracelsus, Vesalius và Harvey;
về động vật và thực vật trước khi có Ray và Linnaeus, Darwin và Pasteur;
về quá khứ trước khi có Petrarch và Winkelmann, Thomsen và Schliemann;
về của cải trước khi có Adam Smith và Keynes; về thế giới vật lý và
nguyên tử trước khi có Newton, Dalton và Faraday, Clerk Maxwell và
Einstein.
Tôi đã đặt ra vài câu hỏi ít người đặt ra. Tại sao không phải là người
Trung Hoa “khám phá” ra châu Âu hay châu Mỹ? Tại sao không phải là
người Arập đi vòng quanh châu Phi và thế giới? Tại sao phải mất nhiều
thời gian đến thế con người mới hiểu rằng Trái đất quay quanh Mặt trời?
Tại sao tới một ngày nào đó con người mới nghĩ ra là có các “loài” động
vật và thực vật khác nhau? Tại sao các dữ kiện tiền sử và công cuộc khám
phá ra tiến bộ của nền văn minh lại đến chậm như vậy?
Tôi chỉ đưa vào đây một số khám phá thiết yếu - đồng hồ, la bàn, kính
viễn vọng và kính hiển vi, máy in và chữ in rời - những công cụ cốt yếu
của khám phá. Tôi sẽ không kể ra đây chuyện hình thành các chính phủ,
hay nổ ra các cuộc chiến tranh, sự hưng thịnh lẫn sụp đổ của các đế chế.
Tôi cũng không viết biên niên sử văn hóa, chuyện về con Người Sáng Tạo,
về kiến trúc, hội họa, điêu khắc, âm nhạc và văn học, mặc dù những lĩnh
vực này đã nhân lên gấp bội những niềm khoan khoái của con người. Tôi
chỉ tập trung vào nhu cầu được hiểu biết của nhân loại - hiểu biết về những
gì diễn ra xung quanh ta.
Bố cục tổng thể của cuốn sách là theo dòng thời gian, còn về chi tiết nó
là sự chồng lớp lên nhau. Mỗi phần trong tổng số 15 phần sẽ gối lên phần
trước về mặt niên đại khi câu chuyện đi từ thời cổ đại đến hiện tại. Tôi bắt
đầu bằng chủ đề Thời gian, cái bí hiểm và khó nắm bắt nhất trong số các
chiều kích cơ bản mà chúng ta trải nghiệm. Rồi tôi chuyển sang tầm nhìn
ngày càng mở rộng của thế giới phương Tây về Trái đất và Biển cả. Sau
đó quay sang Tự nhiên - những vật thể trên trời và dưới đất, thực vật và
động vật, cơ thể con người và các quá trình diễn ra trong đó. Cuối cùng là
Xã hội, với phát hiện rằng quá khứ của con người không phải như những gì
ta đã tưởng tượng, về sự tự khám phá bản thân của Con Người Khám Phá,
và về những lục địa mờ tối bên trong nguyên tử.
Đây là một câu chuyện không có kết thúc. Thế giới vẫn còn là một châu
Mỹ cần khám phá. Và cụm từ nhiều hứa hẹn nhất từng được viết lên bản
đồ tri thức của con người chính là terra incognita - vùng đất chưa biết.
QUYỂN MỘT
THỜI GIAN
Thời gian là kẻ đổi mới vĩ đại nhất.
—FRANCIS BACON, “VỀ NHỮNG ĐỔI MỚI”
(1625)
Khám phá lớn đầu tiên là thời gian, khung cảnh của sự trải nghiệm. Chỉ
bằng cách phân định tháng, tuần và năm, ngày và giờ, phút và giây, nhân
loại mới thoát khỏi sự lặp đi lặp lại đơn điệu của chu kỳ thời gian. Dòng
chuyển động của bóng râm, cát, nước, và của bản thân thời gian, được
chuyển thành tiếng tích tắc của đồng hồ, trở thành công cụ đo hữu ích các
chuyển động của con người trên khắp hành tinh. Những khám phá về thời
gian và không gian đã trở thành một chiều kích liên tục. Những cộng đồng
chung một thời gian sinh ra những cộng đồng đầu tiên chung một nền kiến
thức, chia sẻ khám phá, cùng tiến đến ranh giới chung của những điều
chưa biết.
PHẦN I
VƯƠNG QUỐC
THƯỢNG GIỚI
Thượng Đế không tạo ra các hành tinh và ngôi sao để chúng thống trị con
người, mà để chúng, cũng giống như các sinh vật khác, vâng lời và phục vụ con
người.
—PARACELSUS, Bàn về Bản chất của sự vật (khoảng 1541)
1
Sự cám dỗ của Mặt trăng
T
Ừ đảo Greenland xa xôi mạn tây bắc đến mỏm cực nam Patagonia[1],
đâu đâu mọi người cũng chào đón trăng mới - thời khắc để ca hát và
cầu nguyện, để ăn và uống. Người Eskimo bày tiệc, những phù thủy của họ
trổ ngón nghề, họ tắt đèn và đổi phụ nữ. Những thổ dân châu Phi thì khấn
tụng: “Trăng non!… Chào Trăng non!” Dưới ánh trăng ai cũng muốn nhảy
múa. Nhưng trăng còn có những phẩm tính khác nữa. Các cộng đồng người
Đức xưa kia, theo mô tả của Tacitus[2] gần hai ngàn năm về trước, thường
tổ chức tụ họp vào những đêm trăng mới hoặc trăng tròn, “thời điểm thuận
nhất để bắt đầu công việc”.
Chúng ta thấy dấu tích của những ý nghĩa thần thoại, thần bí, lãng mạn
ở khắp mọi nơi - như các từ tiếng Anh moonstruck (trúng đòn trăng) chỉ
người gàn, hâm hâm, lunatic (gốc tiếng Latin luna nghĩa là trăng) chỉ
người điên dại, mất trí, moonshine (ánh trăng) có nghĩa bỏng là ảo tưởng,
ảo mộng, chuyện tưởng tượng; và dưới ánh trăng các đôi tình nhân hò hẹn
gặp nhau. Mối liên hệ nguyên thủy giữa Mặt trăng và đo lường còn sâu
hơn. Từ moon trong tiếng Anh và những từ cùng cội nguồn trong các ngôn
ngữ khác bắt nguồn từ từ tố me nghĩa là đo (như trong từ Hy Lạp metron,
và trong các từ Anh meter - “dụng cụ đo, đồng hồ đo” và measure - phép
đo), nhắc chúng ta về tác dụng cổ xưa của trăng là công cụ đo thời gian phổ
quát đầu tiên.
Mặc dù, hay chính bởi vì dễ dàng sử dụng trăng làm thước đo thời gian,
mà trăng đã thành một cái bẫy đối với loài người ngây thơ. Bởi trong khi
các pha của Mặt trăng[3] là thứ chu kỳ tiện lợi mà trên toàn thế giới ai cũng
nhìn thấy, các pha ấy cũng là ngõ cụt cám dỗ. Cái mà những người săn bắn
và nông dân cần nhất là một cuốn lịch thể hiện các mùa - một cách để dự
đoán mưa và tuyết, nóng và lạnh. Bao lâu nữa thì đến mùa gieo trồng? Khi
nào sẽ xuất hiện đợt sương giá đầu tiên? Rồi mùa mưa bão?
Với những nhu cầu đó, Mặt trăng chả giúp được gì mấy. Có điều, các
chu kỳ của Mặt trăng tương ứng lạ lùng với chu kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ,
vì một tháng sao - tức là thời gian cần để Mặt trăng quay trở lại đúng vị trí
cũ trên bầu trời đêm - ngắn hơn 28 ngày một chút, và sau đúng 10 tháng
Mặt trăng này, người phụ nữ mang thai sẽ hạ sinh. Nhưng còn năm tính
theo Mặt trời - số ngày chính xác để các mùa quay trở lại - lại kéo dài
365¼ ngày. Các chu kỳ của Mặt trăng, mà dân gian quen gọi là tuần trăng,
là do chuyển động của Mặt trăng quanh Trái đất, trong khi đó Trái đất lại
quay quanh Mặt trời. Quỹ đạo Mặt trăng có hình elip, và nghiêng một góc
khoảng 5° so với quỹ đạo của Trái đất quanh Mặt trời. Điều này cắt nghĩa
tại sao nhật thực không xảy ra hằng tháng.
Cái điều bất tiện là các chu kỳ của Mặt trăng và các chu kỳ của Mặt trời
không thông ước với nhau (không tỷ lệ với nhau) quả thực kích thích suy
nghĩ. Giá như có thể tính năm, một vòng của các mùa, bằng cách đơn giản
nhân lên các chu kỳ của Mặt trăng, thì nhân loại đã đỡ đi bao nhiêu phiền
toái. Nhưng khi đó biết đâu chúng ta cũng mất đi động lực nghiên cứu bầu
trời và không giỏi toán học.
Các mùa trong năm, như ngày nay chúng ta đã biết, bị chi phối bởi
chuyển động của Trái đất quanh Mặt trời. Mỗi một vòng quay của các mùa
đánh dấu việc Trái đất trở lại đúng vị trí cũ trong quỹ đạo tuần hoàn của
nó, một quãng thời gian từ tiết phân (hay tiết chí) này đến tiết phân (hay
tiết chí) kế tiếp. Con người cần có một thời lịch để đánh dấu mốc cho các
mùa. Bắt đầu như thế nào đây?
Người Babylon cổ đại đã khởi đầu với lịch mặt trăng (âm lịch) và khư khư
giữ lấy nó. Sự bảo thủ của họ trong việc gắn chặt với các chu kỳ của Mặt
trăng khi làm lịch đã mang lại những hệ quả quan trọng. Trong khi tìm tòi
cách thức đo chu kỳ của các mùa bằng cách nhân lên các chu kỳ của Mặt
trăng, rốt cuộc vào khoảng năm 432 TCN họ đã phát hiện ra cái gọi là chu
kỳ Meton (lấy theo tên một nhà thiên văn) dài 19 năm. Họ nhận thấy rằng
nếu sử dụng một chu kỳ 19 năm, trong đó 7 năm kéo dài thành 13 tháng
mỗi năm, 12 năm còn lại giữ nguyên 12 tháng, thì họ có thể tiếp tục dùng
các pha nhìn thấy được một cách thuận tiện của Mặt trăng làm cơ sở cho
lịch của mình. Phép “đặt tháng nhuận”, tức là tăng thêm tháng vào một
năm, đã giúp họ tránh được sự “trôi dạt” bất tiện của năm so với các mùa,
nghĩa là các mùa cứ trôi lệch dần dần qua các tháng âm lịch, mà như vậy
thì không dễ biết một mùa mới sẽ khởi đầu vào tháng nào. Lịch Meton này
với các cụm 19 năm thật quá phức tạp để sử dụng hằng ngày.
Nhà sử học Hy Lạp Herodotus, sống và viết vào thế kỷ 5 TCN, đã minh
họa những sự phức tạp đó trong một đoạn văn bản nổi tiếng khi ông kể
chuyện nhà thông thái Solon đã trả lời Croesus[4] giàu có và nóng nảy ra
sao, khi ông vua này hỏi ai hạnh phúc nhất trong số những người trần tục.
Để gây ấn tượng với Croesus về sự thay đổi hết sức khó lường của số
phận, Solon đã theo lịch Hy Lạp đang được sử dụng thời đó tính số ngày
của 70 năm mà ông lấy làm giới hạn của đời người. “Trong 70 năm ấy,”
ông nói, “nếu không tính các tháng nhuận, sẽ có 25.200 ngày. Cứ hai năm
lại thêm một tháng nhuận vào, để cho các mùa đến tương đối đúng thời
điểm, thì sẽ có thêm 35 tháng nữa, tức là 1.050 ngày, ngoài số ngày của 70
năm kể trên. Tổng số ngày có trong 70 năm vị chi là 26.250 ngày. Mà ngày
nào cũng có thể xảy ra các sự kiện không giống những ngày còn lại. Do vậy
con người hoàn toàn là sự ngẫu nhiên mà thôi, về phần ngài, thưa ngài
Croesus, tôi biết rằng ngài rất giàu và là chúa tể của nhiều dân tộc. Nhưng
về câu hỏi của ngài, thì tôi không thể có câu trả lời, cho đến khi nào tôi
nghe nói rằng cuộc đời của ngài khép lại một cách hạnh phúc.”
Người Ai Cập đã tìm được cách thoát khỏi sự cám dỗ của Mặt trăng. Như
chúng ta được biết, họ là dân tộc đầu tiên tìm ra độ dài của năm Mặt trời và
xác định nó một cách thực tiễn và hữu ích. Cũng như với những thành tựu
khác của nhân loại, chúng ta biết câu hỏi cái gì, nhưng vẫn còn băn khoăn
về câu hỏi tại sao, như thế nào, thậm chí câu hỏi khi nào. Băn khoăn thứ
nhất là, tại sao đó lại là người Ai Cập. Họ không có các dụng cụ thiên văn
mà thế giới Hy Lạp-La Mã cổ đại từng biết rõ. Họ cũng không thể hiện tài
năng gì đặc biệt về phương diện toán học. Thiên văn học của họ rất thô sơ
nếu so với thiên văn học của người Hy Lạp hay các dân tộc khác ở vùng
Địa Trung Hải, lại còn bị chi phối bởi lễ nghi tôn giáo. Nhưng đến khoảng
năm 2500 TCN họ đã biết cách dự đoán khi nào mặt trời mọc hay lặn sẽ rọi
vào điểm mút của một đài kỷ niệm cụ thể nào đó, giúp họ tăng thêm ánh
sáng rực rỡ cho các lễ kỷ niệm của mình.
Phương pháp của người Babylon giữ lại các chu kỳ của Mặt trăng và cố
điều chỉnh chúng cho phù hợp với năm theo mùa (hay năm Mặt trời) bằng
cách “đặt tháng nhuận” thực ra không thuận tiện. Thói quen ở các địa
phương luôn thắng thế. Chẳng hạn ở Hy Lạp, nơi có núi non và vịnh biển
chia cắt các vùng miền cảnh quan đa dạng, mỗi một thị quốc (nhà nước có
quy mô thành phố) lại đặt ra lịch riêng của mình, tùy tiện thêm tháng nhuận
để đánh dấu một lễ hội địa phương hoặc phục vụ nhu cầu chính trị. Kết quả
là họ đã đánh mất chính mục đích của phép làm lịch là sắp xếp thời gian để
kết nối mọi người với nhau, giúp lập kế hoạch chung được dễ dàng, chẳng
hạn cùng thỏa thuận gieo trồng mùa màng và chuyên chở hàng hóa.
Người Ai Cập, cho dù thua kém người Hy Lạp về mặt toán học, đã giải
quyết được vấn đề thực tiễn. Họ đã phát minh ra một loại lịch phục vụ cho
nhu cầu hằng ngày trên khắp mảnh đất của mình. Ngay từ năm 3200 TCN,
toàn bộ vùng thung lũng sông Nile đã thống nhất với vùng châu thổ sông
Nile thành một vương quốc duy nhất tồn tại suốt 3.000 năm, cho đến tận
thời đại Cleopatra. Sự thống nhất về chính trị được củng cố bởi thiên
nhiên. Giống như các thiên thể, sông Nile cũng thể hiện một nhịp điệu tự
nhiên đều đặn dù kịch tính hơn. Là con sông dài nhất châu Phi, Nile trải ra
gần 6.500 kilômét từ thượng nguồn xa xôi, thu nước mưa và nước tuyết
tan của cao nguyên Ethiopia và toàn bộ phần đông bắc của châu lục vào
một dòng chảy lớn duy nhất đổ ra Địa Trung Hải. Lãnh địa của các pharaoh
được gọi rất có lý là vương quốc sông Nile. Người cổ đại, mượn lời nói ẩn
dụ của Herodotus, đã gọi Ai Cập là “món quà của sông Nile”. Cuộc tìm
kiếm đầu nguồn sông Nile, cũng giống như đi tìm Chén Thánh, mang
những sắc thái huyền bí, khuấy động các nhà thám hiểm bất chấp nguy
hiểm đến tính mạng cho đến tận thế kỷ 19.
Sông Nile giúp cho mùa màng, thương mại, và kiến trúc Ai Cập phát
triển. Là con đường thương mại huyết mạch, sông Nile cũng là con đường
vận chuyển nguyên vật liệu cho các đền đài và kim tự tháp khổng lồ. Ba
ngàn tấn đá hoa cương cho một đài kỷ niệm có lẽ đã được khai thác ở
Aswan rồi xuôi dòng sông hơn 320 kilômét đến Thebes. Sông Nile nuôi
sống các đô thị tập trung dọc hai bên bờ sông. Không có gì ngạc nhiên khi
người Ai Cập đã gọi sông Nile là “biển”, còn trong Kinh Thánh nó được
gọi đơn giản là “con sông”.
Nhịp điệu của sông Nile cũng là nhịp điệu của đời sống Ai Cập. Nước
sông dâng lên hằng năm đã tạo ra một thứ lịch gieo trồng và gặt hái với ba
mùa: mùa lụt, mùa trồng cây và mùa thu hoạch. Nước lụt sông Nile từ cuối
tháng 6 đến tận cuối tháng 10 mang lại phù sa màu mỡ, rồi cây lương thực
được trồng trên đó và tăng trưởng từ cuối tháng 10 đến cuối tháng 2 năm
sau, sau đó được thu hoạch từ cuối tháng 2 đến tận cuối tháng 6. Nước
sông Nile dâng cũng đều đặn và thiết yếu đối với đời sống như mặt trời
mọc, đánh dấu khởi điểm một “năm sông Nile”. Lịch Ai Cập sơ khai, một
cách tự nhiên, chính là “Nile kế” - thang đo đơn giản theo chiều thẳng
đứng có các vạch ghi dấu nước lụt hằng năm. Chỉ cần vài năm quan sát
“năm sông Nile” cũng thấy nó không tương ứng với các pha của Mặt trăng.
Nhưng ngay từ rất sớm người Ai Cập đã nhận thấy rằng 12 tháng mà mỗi
tháng gồm 30 ngày có thể tạo thành một loại lịch hữu ích biểu thị các mùa,
nếu thêm năm ngày nữa vào cuối năm, để một năm có 365 ngày. Đó chính
là năm “dân sự”, hay “năm sông Nile”, mà người Ai Cập bắt đầu sử dụng
ngay từ năm 4241 TCN.
Để tránh chu kỳ thuận tiện đầy cám dỗ của Mặt trăng, người Ai Cập đã
tìm những dấu hiệu khác để đánh dấu năm của họ: sao Sirius, hay sao
Thiên Lang, ngôi sao sáng nhất trên bầu trời. Mỗi năm một lần, vào buổi
sáng sao Sirius mọc trên cùng một đường thẳng với Mặt trời. Sự kiện sao
“Sirius mọc cùng”, năm nào cũng xảy ra vào giữa mùa lụt sông Nile, đã
được chọn làm mốc khởi đầu năm Ai Cập. Nó được đánh dấu bằng một lễ
hội suốt năm ngày “ngoại thời” (ngày nằm ngoài các tháng), kỷ niệm lần
lượt ngày sinh của thần Osiris, của con trai thần là Horus, của kẻ thù của
thần là Set, của người chị em đồng thời là vợ thần Iris, và của Nephthys,
vợ Set.
Vì năm Mặt trời không gồm chính xác 365 ngày, nên năm Ai Cập gồm
365 ngày qua các thế kỷ sẽ trở thành một “năm trôi dạt”, nghĩa là mỗi tháng
đã được đặt tên sẽ dần dần xuất hiện vào một mùa khác. Sự sai lệch nhỏ
đến mức phải mất nhiều năm, dài hơn cuộc đời của bất cứ người nào, thì
sai lệch ấy mới ảnh hưởng đến đời sống hằng ngày. Mỗi tháng sẽ chu du
qua tất cả các mùa trong chu kỳ 1.460 năm. Dù sao thì lịch Ai Cập này vẫn
tốt hơn nhiều so với bất cứ thứ lịch nào khác vào thời đó nên nó đã được
Julius Caesar lấy làm lịch Julius của mình. Nó đã sống qua cả thời Trung
đại và vẫn được Copernicus sử dụng trong các bảng hành tinh của ông vào
thế kỷ 16.
Trong khi người Ai Cập đã biết thoát khỏi sự phụ thuộc vào Mặt trăng
trong lịch sinh hoạt hằng ngày của mình, Mặt trăng vẫn giữ được sự mê
hoặc đối với người nguyên thủy. Nhiều dân tộc, trong đó có cả người Ai
Cập, vẫn giữ chu kỳ Mặt trăng để tính toán các ngày lễ tôn giáo và các lễ kỷ
niệm thần bí. Ngay cả ngày nay những người chịu ảnh hưởng tôn giáo vẫn
để các chu kỳ Mặt trăng chi phối. Sự bất tiện của việc sống theo lịch mặt
trăng trở thành minh chứng hằng ngày cho đức tin tôn giáo.
Chẳng hạn, người Do Thái vẫn duy trì lịch mặt trăng của mình, và mỗi
tháng của lịch Do Thái vẫn bắt đầu vào kỳ trăng mới. Để giữ cho lịch mặt
trăng hòa hợp với năm dựa theo mùa, người Do Thái đã thêm một tháng
vào mỗi năm nhuận, và lịch Do Thái trở thành tâm điểm nghiên cứu bí
truyền của giới giáo sĩ. Năm Do Thái được chia thành 12 tháng, mỗi tháng
có 29 hoặc 30 ngày, tổng cộng có 354 ngày. Để cho đầy năm Mặt trời - theo
chu kỳ Meton của người Babylon - người ta thêm một tháng vào các năm
thứ ba, thứ sáu, thứ tám, thứ mười một, thứ mười bốn, thứ mười bảy và
thứ mười chín của mỗi chu kỳ mười chín năm, thành các năm nhuận Do
Thái. Đôi lúc cũng cần các điều chỉnh khác để làm cho các ngày lễ đến vào
đúng mùa - ví dụ, lễ vượt qua, là ngày lễ mùa xuân, phải đến sau ngày xuân
phân. Trong Kinh Thánh, hầu hết các tháng vẫn giữ tên gọi Babylon, chứ
không phải tên gọi Do Thái.
Đạo Kitô lấy lại hầu hết các lễ kỷ niệm tôn giáo của đạo Do Thái và vẫn
giữ sự kết nối với lịch mặt trăng như cũ. Các “ngày lễ lưu động” của giáo
hội được dịch chuyển trong lịch mặt trời để ăn khớp với các chu kỳ Mặt
trăng. Chúng vẫn gợi cho chúng ta nhớ về sự quyến rũ nguyên thủy của thứ
ánh sáng rạng rỡ nhất trong bầu trời đêm. Quan trọng nhất trong số các
ngày lễ Kitô giáo lấy theo trăng ấy tất nhiên là Lễ Phục sinh, kỷ niệm sự
kiện Chúa Jesus sống lại. Sách Nghi lễ cầu kinh của Anh quy định: “Ngày
Phục sinh bao giờ cũng là ngày Chúa nhật (Chủ nhật) đầu tiên sau trăng
tròn, đến vào đúng hoặc sau ngày 21 tháng 3. Nếu ngày trăng tròn rơi đúng
vào ngày Chúa nhật, thì ngày Phục sinh là ngày Chúa nhật kế tiếp.” Ít nhất
có hơn chục ngày lễ khác của giáo hội được xác định theo tương quan với
Lễ Phục sinh và với ngày tháng theo lịch mặt trăng của nó, kết quả là Lễ
Phục sinh chi phối khoảng mười bảy tuần trong lịch phụng vụ giáo hội.
Việc ấn định ngày Lễ Phục sinh - nói cách khác là xác định lịch - trở thành
một vấn đề quan trọng và một biểu tượng. Vì Tân Ước nói rằng Jesus bị
đóng đinh trên thập giá vào ngày lễ vượt qua, nên lễ kỷ niệm Jesus sống lại
vào Lễ Phục sinh hiển nhiên phải gắn với lịch Do Thái. Hệ quả tất yếu là
ngày Lễ Phục sinh phải phụ thuộc vào các tính toán phức tạp về Mặt trăng
của Sanhedrin, tức Hội đồng Do Thái tối cao, để xác định ngày lễ vượt
qua.
Nhiều tín đồ Kitô giáo thuở ban sơ ấy, tuân thủ từng ly từng tí sự giải
thích Kinh Thánh của họ, nên đã xác định ngày mất của Jesus vào đúng
một ngày thứ Sáu, còn ngày Jesus sống lại, ngày Phục sinh, vào ngày Chủ
nhật liền kề. Nhưng nếu kỷ niệm ngày lễ ấy theo đúng lịch mặt trăng của
người Do Thái, thì không có gì chắc chắn là ngày Phục sinh sẽ rơi vào Chủ
nhật. Sự tranh cãi gay gắt về lịch đã dẫn đến một trong những rạn nứt đầu
tiên giữa giáo hội Chính thống phương Đông và giáo hội La Mã. Những tín
đồ Kitô giáo phương Đông theo lịch mặt trăng vẫn tiếp tục làm Lễ Phục
sinh vào ngày thứ mười bốn của tháng mặt trăng, bất kể hôm đó là ngày
nào trong tuần. Ngay tại công đồng chung (hội nghị giám mục toàn cầu)
đầu tiên họp tại Nicaea ở Tiểu Á năm 325, một trong những vấn đề cần
thống nhất toàn cầu chính là xác định ngày Phục sinh. Một ngày thống
nhất đã được chọn, sao cho vừa phù hợp với lịch mặt trăng truyền thống
lại vừa bảo đảm rằng sẽ luôn luôn rơi đúng vào ngày Chủ nhật.
Nhưng vấn đề vẫn chưa được giải quyết hoàn toàn. Để tổ chức lễ lạt,
cộng đồng vẫn cần có người tính trước các pha Mặt trăng và tìm nó trong
lịch mặt trời. Nhiệm vụ tinh tế này được Công đồng Nicaea giao cho giám
mục Alexandria. Ở trung tâm thiên văn học thời cổ đại ấy, vị giám mục
phải dự báo các pha Mặt trăng cho tất cả các năm trong tương lai. Thế
nhưng bất đồng xung quanh việc chọn pha Mặt trăng nào đã dẫn tới sự
chia rẽ trong giáo hội. Kết quả là ở các vùng khác nhau trên thế giới người
ta tiếp tục làm Lễ Phục sinh vào các ngày Chủ nhật khác nhau.
Cuộc cải cách lịch của Giáo hoàng Gregorius XIII là cần thiết vì độ dài
năm mà Julius Caesar lấy từ lịch Ai Cập để phục vụ cho xã hội phương
Tây đã không đủ chính xác. Năm mặt trời thực, hay chu kỳ Mặt trời - thời
gian cần thiết để Trái đất quay trọn một vòng quỹ đạo quanh Mặt trời - là
365 ngày 5 giờ 48 phút 46 giây, ít hơn 11 phút 14 giây so với năm dài 365
1/4 ngày tính theo lịch Julius. Kết quả là ngày tháng theo lịch này cứ mất
dần mối liên hệ ban đầu đối với các hiện tượng theo Mặt trời và đối với
các mùa. Một ngày tháng quan trọng nhất là tiết xuân phân, dùng làm căn
cứ để tính ngày Phục sinh, đã được Công đồng Nicaea thứ nhất ấn định
vào ngày 21 tháng 3. Thế nhưng sự sai lệch tích tụ trong lịch Julius đã dẫn
tới hệ quả là vào năm 1582 tiết xuân phân đến vào ngày 11 tháng 3.
Giáo hoàng Gregorius XIII, tuy khét tiếng về thái độ tán dương cuộc tàn
sát đẫm máu những người theo đạo Tin Lành ở Paris trong ngày lễ thánh
Bartholomew (năm 1572), nhưng lại là một nhà cải cách năng nổ trong một
số vấn đề. Ông quyết tâm sửa lại lịch. Đẩy lên đến cao trào xu hướng cải
cách lịch vốn đã phát triển ít nhất trong một thế kỷ, năm 1582 Giáo hoàng
Gregorius XIII đã ra tông chiếu quy định sau ngày mồng 4 tháng 10 là
ngày 15 tháng 10. Sự “cắt ngăn” này cũng có nghĩa năm sau đó tiết xuân
phân lại rơi đúng vào ngày 21 tháng 3, như đòi hỏi của lịch mặt trời tương
ứng với các mùa. Như vậy lại phục hồi năm tương ứng với mùa như từng
tồn tại vào năm 325. Các năm nhuận của lịch Julius cũ cũng được điều
chính. Để tránh sự sai lệch tích tụ 11 phút hằng năm, lịch của Gregorius đã
bỏ một ngày nhuận trong các năm tận cùng chẵn trăm, trừ trường hợp năm
ấy chia hết cho 400. Lịch hiện đại của phương Tây chúng ta sử dụng ngày
nay đã ra đời như vậy.
Chỉ vì cải cách này xuất phát từ La Mã, mà xứ Anh (England) cùng với
các thuộc địa châu Mỹ theo đạo Tin Lành đã ngoan cố không chịu tuân
theo. Phải mãi đến năm 1752 người ta mới chịu thay đổi. Năm theo lịch cũ
đang sử dụng bấy giờ bắt đầu vào ngày 25 tháng 3[5], trong khi năm theo
lịch mới bắt đầu vào ngày 1 tháng 1. Sau khi thêm vào 11 ngày cần thiết thì
ngày sinh của George Washington, vốn dĩ theo lịch cũ là 11 tháng 2 năm
1731, chuyển sang lịch mới sẽ là 22 tháng 2 năm 1732, chênh lệch hơn một
năm!
Trở lại năm 1582, việc Giáo hoàng Gregorius quyết định loại bỏ 10 ngày
ra khỏi lịch đã gây ra những oán trách và lúng túng. Các gia nô đòi trả đủ
tiền công cho tháng bị cắt ngắn đó, nhưng các ông chủ từ chối. Có người
phản đối vì năm tháng tuổi đời của họ ngắn lại chỉ vì một sắc lệnh của Giáo
hoàng. Nhưng khi nước Anh và các thuộc địa châu Mỹ của nó cuối cùng
cũng chấp nhận sự thay đổi, thì Benjamin Franklin, khi ấy 46 tuổi và cũng
bị mất 10 ngày trong đời mình, với tài thông minh dí dỏm vốn có, đã
khuyên những người đọc cuốn Poor Richard's Almanack (Niên giám của
Richard Nghèo khổ) nên vui vì:
Đừng có sửng sốt hay cau có khi bị mất mươi ngày, bạn đọc thân mến ạ, cũng
chẳng nên tiếc mình bị mất nhiều thời gian đến thế, mà hãy lấy đó làm điều an
ủi, rằng chi tiêu của bạn sẽ ít đi và tinh thần của bạn sẽ thoải mái hơn. Còn gì
khoan khoái hơn cho những ai thích ngủ vùi khi được nằm khểnh từ tối ngày
mồng hai tháng này cho mãi tới sáng ngày mười bốn mới phải dậy.
Thế giới chưa bao giờ chấp nhận hoàn toàn cải cách của Gregorius. Giáo
hội Chính thống giáo phương Đông, cho rằng không việc gì phải phục tùng
quy định của La Mã, vẫn giữ lịch Julius để tính ngày Lễ Phục sinh theo
cách của mình, vậy là thế giới Kitô giáo, lẽ ra phải gắn bó bởi có cùng một
Đấng Hòa giải, thậm chí đã không thể nhất trí về ngày lễ kỷ niệm Đấng
Cứu thế của họ sống lại.
Tuy vậy, đối với các sinh hoạt thế tục hằng ngày, cả thế giới Kitô giáo
vẫn dùng chung một loại lịch mặt trời thuận tiện cho cả nhà nông lẫn nhà
buôn. Trong khi đó đạo Hồi, cương quyết tuân thủ từng lời của Đấng Tiên
tri Muhammad và câu chữ chỉ huấn của kinh Koran, vẫn sinh sống theo các
chu kỳ của Mặt trăng.
Hình lưỡi liềm biểu tượng cho trăng mới xuất hiện trên quốc kỳ của các
nước theo đạo Hồi. Cho dù các học giả còn tranh cãi về nguồn gốc của
biểu tượng hình lưỡi liềm ấy, điều không còn nghi ngờ là nó rất phù hợp
với các dân tộc đã ngoan ngoãn giao phó các mốc thời gian đời mình cho
thước đo thần thánh của Mặt trăng. Nó lại có ý nghĩa quan trọng gấp đôi
nếu lưu ý rằng đây là một ngoại lệ nổi bật trong đạo Hồi, vốn cấm mọi
cách biểu thị các vật thể thiên nhiên. Ít nhất thì cũng ngay từ thế kỷ 13 hình
lưỡi liềm đã trở thành biểu tượng quân sự và tôn giáo của người Ottoman.
Có lý do để tin rằng việc nó được chấp nhận và dùng làm biểu tượng trong
đạo Hồi lâu như thế bắt nguồn từ vai trò chủ đạo của trăng mới: nó không
chỉ đánh dấu sự khởi đầu và kết thúc của mùa nhịn ăn ban ngày kéo dài
một tháng trong đạo Hồi mà còn là dấu mốc thường xuyên cho toàn bộ lịch
pháp.
Trăng mới, theo kinh Koran, “Là thời gian cố định cho mọi người sinh
hoạt và cho cuộc hành hương”. Thế giới Hồi giáo, với sự tỉ mỉ chính
thống, luôn cố gắng sống theo Mặt trăng. Cũng như Caesar đã cương quyết
gắn thế giới của mình với sự tiện lợi của năm mặt trời, Muhammad cũng
cương quyết gắn thế giới hằng ngày của mình vào các chu kỳ Mặt trăng.
Các chu kỳ Mặt trăng này sẽ chỉ dẫn cho tín đồ những ngày tháng thiêng
liêng theo quy định dành cho các nghi lễ tôn giáo trọng đại - hành hương
tới Mecca và tháng Ramadan nhịn ăn ban ngày. Năm Hồi giáo gồm mười
hai tháng mặt trăng, luân phiên là 29 và 30 ngày. Phần điều chỉnh thập phân
để giữ cho các tháng cũng nhịp với Mặt trăng được thực hiện bằng cách
thay đổi độ dài của tháng thứ mười hai trong năm. Người ta đã xác định
một chu kỳ ba mươi năm Hồi giáo, trong đó mười chín năm có tháng cuối
cũng dài 29 ngày, tháng cuối của các năm còn lại gồm 30 ngày. Vì lịch Hồi
giáo chỉ gồm 354 hoặc 355 ngày, nên các tháng không có liên hệ cố định
với các mùa. Ramadan, tháng thứ chín - tháng nhịn ăn ban ngày mà một tín
đồ Hồi giáo đích thực phải tuân thủ - và Dhu'l-Hijja, tháng thứ mười hai,
trong hai tuần đầu tín đồ phải hành hương tới Mecca, có thể đến vào mùa
hè hoặc mùa đông. Mỗi năm lễ Ramadan và lễ Hành hương đến sớm hơn
năm trước mười hoặc mười một ngày. Những bất tiện hằng ngày kiểu đó
của lịch chẳng qua là một chứng cứ khác nữa về việc một tín đồ Hồi giáo
ngoan đạo phục tùng ý chí của Đấng Allah. Đối với những người khác, bản
thân lịch chỉ đơn giản là thời giờ dự kiến những vụ việc trần thế, nhưng
người Hồi giáo biến nó thành sự khẳng định đức tin.
Sự phục tùng bất di bất dịch của đạo Hồi đối với chu kỳ Mặt trăng có
vài hệ quả thú vị. Sống theo các pha Mặt trăng hiển hiển rõ ràng, do
Thượng đế ban tặng (chứ không phải là theo sự tính toán của con người khi
nào dự kiến sẽ đến kỳ trăng mới) dĩ nhiên có nghĩa việc cử hành lễ nghi
phải đợi đúng khi nhìn thấy Mặt trăng thật sự. Hầu hết các tín đồ Hồi giáo
đều có cách hiểu như vậy, do tuân theo phát ngôn xưa nay được coi là của
nhà tiên tri Muhammad: “Không nhịn ăn cho đến khi nào người nhìn thấy
trăng mới, và không chấm dứt nhịn ăn cho đến khi nào người lại nhìn thấy
nó; còn khi nó bị che khuất [bởi mây hay sương mù] thì hãy đợi cho tròn
thời hạn.” Nếu mây hay sương mù khiến ở một vài làng mạc không nhìn
thấy trăng mới, những nơi này sẽ khởi đầu và kết thúc lễ Ramadan vào
những thời điểm khác so với các vùng lân cận.
Một trong những vấn đề tranh cãi quyết liệt nhất là liệu có thể cho phép
xác định sự khởi đầu và kết thúc các lễ nghi không phải bằng quan sát mà
bằng “viện dẫn đến tính toán”. Các thành viên của giáo phái Ismail đã tách
biệt mình ra theo xu hướng này, nhưng không thể thuyết phục phần lớn
những người anh em cùng tôn giáo vẫn bám giữ nhu cầu quan sát, nghĩa là,
phải thực sự nhìn thấy trăng mới. Việc tuân thủ nghiêm ngặt lịch mặt trăng
đã trở thành thành trì của lòng trung thành với đạo Hồi truyền thống. “Viện
dẫn đến tính toán”, tức là nhờ đến toán học hiện đại tính năm Mặt trời
(dương lịch) chứ không chịu dựa theo vòng cương tỏa đơn giản, rõ ràng
của chu kỳ Mặt trăng, đã đánh dấu sự nổi loạn thời hiện đại chống lại
truyền thống. Năm 1926, khi Kemal Atatürk (Mustapha Kemal) tuyên bố
chấm dứt vương quốc Hồi giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ và 'hiện đại hóa” quốc gia
này bằng việc thông qua một bộ luật mới, bắt buộc đăng ký hôn nhân dân
sự, và quy định bãi bỏ việc đội mũ đuôi seo (fez) đối với nam giới cùng
mạng che mặt đối với phụ nữ, ông cũng bãi bỏ lịch mặt trăng của Hồi giáo
và phê chuẩn lịch mặt trời của phương Tây.
Trong khi nhiều người phương Tây coi lịch chỉ là một hệ thống ghi sổ
thời gian, thực tế nó là một trong những thiết chế cứng nhắc nhất của con
người. Tính cứng nhắc bắt nguồn một phần từ hào quang thần bí hùng
mạnh của Mặt trời và Mặt trăng, một phần từ những ranh giới cố định của
các mùa. Các nhà cách mạng thường ra sức thay đổi lịch, nhưng thành quả
của họ khá đoản mệnh. Quốc ước của Cách mạng Pháp đã lập ra một ủy
ban cải cá...
Như thể chúng ta là điệp viên của Thượng đế.
—SHAKESPEARE, Vua Lear, hồi V, cảnh 3
TẶNG RUTH
Cũng chính vua Solomon, mặc dù nổi danh về các kho báu và các tòa nhà
hoành tráng, về đóng tàu và hàng hải, về đám cận thần và người hầu, về
tiếng tăm và danh vọng, vân vân, ngài đã chẳng để ý đến những danh tiếng
ấy, mà chỉ coi trọng vinh quang trong tìm kiếm chân lý; vì chính ngài đã
thốt ra đầy biểu cảm: “Vinh quang của Thượng đế là giấu kín một sự vật,
còn vinh quang của một ông vua là tìm ra nó”; giống như trong trò chơi vô
tư của con trẻ, Đấng Chí tôn thích thú giấu đi các thành quả sáng tạo của
mình, để cuối cùng chúng được tìm ra; như thể các ông vua không có vinh
dự nào lớn hơn vinh dự được làm bạn chơi với Thượng đế trong trò chơi
này.
—FRANCIS BACON, Con đường tiến lên của Tri thức (1605)
Vài lời với bạn đọc
Nhân vật của tôi là Con Người Khám Phá. Thế giới mà ngày nay chúng ta
quan sát thấy từ nền Văn minh phương Tây - dòng thời gian, đất liền và
biển cả, các thiên thể và cơ thể của chính chúng ta, động vật và thực vật,
lịch sử và các xã hội loài người trong quá khứ và hiện tại - đã được mở ra
cho chúng ta bởi vô số các Columbus vô danh. Họ là những người không ai
biết tên, chìm khuất trong những nẻo quá khứ xa xôi. Khi tiến gần đến
hiện tại, thì họ mới hiện ra trong ánh sáng của lịch sử, một loạt những nhân
vật đa dạng như chính bản tính của con người. Các khám phá trở thành
những tình tiết trong các bản tiểu sử, khôn lường như những thế giới mới
mà các nhà khám phá đã mở ra trước mắt chúng ta.
Những trở ngại trên con đường đến với khám phá - những ảo tưởng,
nhầm lẫn của tri thức - cũng là một phần câu chuyện này. Chỉ có đặt mình
vào phông nền đã bị lãng quên của điều được coi là hiểu biết thường tình
thời đó cùng những huyền thoại thời của họ, chúng ta mới cảm thấy được
lòng can đảm, mức độ liều lĩnh, những đột phá vừa anh hùng vừa giàu
tưởng tượng của các nhà khám phá lớn. Họ đã phải đấu tranh vất vả với
những “sự thật hiển nhiên” đương thời cùng bao nhiêu giáo điều của các
bậc có học thức. Tôi đã cố gắng truyền tải những ảo tưởng đó - về Trái đất,
các lục địa và biển cả trước khi có Columbus và Balboa, Magellan và
thuyền trưởng Cook; về bầu trời trước khi có Copernicus, Galileo và
Kepler; về cơ thể con người trước khi có Paracelsus, Vesalius và Harvey;
về động vật và thực vật trước khi có Ray và Linnaeus, Darwin và Pasteur;
về quá khứ trước khi có Petrarch và Winkelmann, Thomsen và Schliemann;
về của cải trước khi có Adam Smith và Keynes; về thế giới vật lý và
nguyên tử trước khi có Newton, Dalton và Faraday, Clerk Maxwell và
Einstein.
Tôi đã đặt ra vài câu hỏi ít người đặt ra. Tại sao không phải là người
Trung Hoa “khám phá” ra châu Âu hay châu Mỹ? Tại sao không phải là
người Arập đi vòng quanh châu Phi và thế giới? Tại sao phải mất nhiều
thời gian đến thế con người mới hiểu rằng Trái đất quay quanh Mặt trời?
Tại sao tới một ngày nào đó con người mới nghĩ ra là có các “loài” động
vật và thực vật khác nhau? Tại sao các dữ kiện tiền sử và công cuộc khám
phá ra tiến bộ của nền văn minh lại đến chậm như vậy?
Tôi chỉ đưa vào đây một số khám phá thiết yếu - đồng hồ, la bàn, kính
viễn vọng và kính hiển vi, máy in và chữ in rời - những công cụ cốt yếu
của khám phá. Tôi sẽ không kể ra đây chuyện hình thành các chính phủ,
hay nổ ra các cuộc chiến tranh, sự hưng thịnh lẫn sụp đổ của các đế chế.
Tôi cũng không viết biên niên sử văn hóa, chuyện về con Người Sáng Tạo,
về kiến trúc, hội họa, điêu khắc, âm nhạc và văn học, mặc dù những lĩnh
vực này đã nhân lên gấp bội những niềm khoan khoái của con người. Tôi
chỉ tập trung vào nhu cầu được hiểu biết của nhân loại - hiểu biết về những
gì diễn ra xung quanh ta.
Bố cục tổng thể của cuốn sách là theo dòng thời gian, còn về chi tiết nó
là sự chồng lớp lên nhau. Mỗi phần trong tổng số 15 phần sẽ gối lên phần
trước về mặt niên đại khi câu chuyện đi từ thời cổ đại đến hiện tại. Tôi bắt
đầu bằng chủ đề Thời gian, cái bí hiểm và khó nắm bắt nhất trong số các
chiều kích cơ bản mà chúng ta trải nghiệm. Rồi tôi chuyển sang tầm nhìn
ngày càng mở rộng của thế giới phương Tây về Trái đất và Biển cả. Sau
đó quay sang Tự nhiên - những vật thể trên trời và dưới đất, thực vật và
động vật, cơ thể con người và các quá trình diễn ra trong đó. Cuối cùng là
Xã hội, với phát hiện rằng quá khứ của con người không phải như những gì
ta đã tưởng tượng, về sự tự khám phá bản thân của Con Người Khám Phá,
và về những lục địa mờ tối bên trong nguyên tử.
Đây là một câu chuyện không có kết thúc. Thế giới vẫn còn là một châu
Mỹ cần khám phá. Và cụm từ nhiều hứa hẹn nhất từng được viết lên bản
đồ tri thức của con người chính là terra incognita - vùng đất chưa biết.
QUYỂN MỘT
THỜI GIAN
Thời gian là kẻ đổi mới vĩ đại nhất.
—FRANCIS BACON, “VỀ NHỮNG ĐỔI MỚI”
(1625)
Khám phá lớn đầu tiên là thời gian, khung cảnh của sự trải nghiệm. Chỉ
bằng cách phân định tháng, tuần và năm, ngày và giờ, phút và giây, nhân
loại mới thoát khỏi sự lặp đi lặp lại đơn điệu của chu kỳ thời gian. Dòng
chuyển động của bóng râm, cát, nước, và của bản thân thời gian, được
chuyển thành tiếng tích tắc của đồng hồ, trở thành công cụ đo hữu ích các
chuyển động của con người trên khắp hành tinh. Những khám phá về thời
gian và không gian đã trở thành một chiều kích liên tục. Những cộng đồng
chung một thời gian sinh ra những cộng đồng đầu tiên chung một nền kiến
thức, chia sẻ khám phá, cùng tiến đến ranh giới chung của những điều
chưa biết.
PHẦN I
VƯƠNG QUỐC
THƯỢNG GIỚI
Thượng Đế không tạo ra các hành tinh và ngôi sao để chúng thống trị con
người, mà để chúng, cũng giống như các sinh vật khác, vâng lời và phục vụ con
người.
—PARACELSUS, Bàn về Bản chất của sự vật (khoảng 1541)
1
Sự cám dỗ của Mặt trăng
T
Ừ đảo Greenland xa xôi mạn tây bắc đến mỏm cực nam Patagonia[1],
đâu đâu mọi người cũng chào đón trăng mới - thời khắc để ca hát và
cầu nguyện, để ăn và uống. Người Eskimo bày tiệc, những phù thủy của họ
trổ ngón nghề, họ tắt đèn và đổi phụ nữ. Những thổ dân châu Phi thì khấn
tụng: “Trăng non!… Chào Trăng non!” Dưới ánh trăng ai cũng muốn nhảy
múa. Nhưng trăng còn có những phẩm tính khác nữa. Các cộng đồng người
Đức xưa kia, theo mô tả của Tacitus[2] gần hai ngàn năm về trước, thường
tổ chức tụ họp vào những đêm trăng mới hoặc trăng tròn, “thời điểm thuận
nhất để bắt đầu công việc”.
Chúng ta thấy dấu tích của những ý nghĩa thần thoại, thần bí, lãng mạn
ở khắp mọi nơi - như các từ tiếng Anh moonstruck (trúng đòn trăng) chỉ
người gàn, hâm hâm, lunatic (gốc tiếng Latin luna nghĩa là trăng) chỉ
người điên dại, mất trí, moonshine (ánh trăng) có nghĩa bỏng là ảo tưởng,
ảo mộng, chuyện tưởng tượng; và dưới ánh trăng các đôi tình nhân hò hẹn
gặp nhau. Mối liên hệ nguyên thủy giữa Mặt trăng và đo lường còn sâu
hơn. Từ moon trong tiếng Anh và những từ cùng cội nguồn trong các ngôn
ngữ khác bắt nguồn từ từ tố me nghĩa là đo (như trong từ Hy Lạp metron,
và trong các từ Anh meter - “dụng cụ đo, đồng hồ đo” và measure - phép
đo), nhắc chúng ta về tác dụng cổ xưa của trăng là công cụ đo thời gian phổ
quát đầu tiên.
Mặc dù, hay chính bởi vì dễ dàng sử dụng trăng làm thước đo thời gian,
mà trăng đã thành một cái bẫy đối với loài người ngây thơ. Bởi trong khi
các pha của Mặt trăng[3] là thứ chu kỳ tiện lợi mà trên toàn thế giới ai cũng
nhìn thấy, các pha ấy cũng là ngõ cụt cám dỗ. Cái mà những người săn bắn
và nông dân cần nhất là một cuốn lịch thể hiện các mùa - một cách để dự
đoán mưa và tuyết, nóng và lạnh. Bao lâu nữa thì đến mùa gieo trồng? Khi
nào sẽ xuất hiện đợt sương giá đầu tiên? Rồi mùa mưa bão?
Với những nhu cầu đó, Mặt trăng chả giúp được gì mấy. Có điều, các
chu kỳ của Mặt trăng tương ứng lạ lùng với chu kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ,
vì một tháng sao - tức là thời gian cần để Mặt trăng quay trở lại đúng vị trí
cũ trên bầu trời đêm - ngắn hơn 28 ngày một chút, và sau đúng 10 tháng
Mặt trăng này, người phụ nữ mang thai sẽ hạ sinh. Nhưng còn năm tính
theo Mặt trời - số ngày chính xác để các mùa quay trở lại - lại kéo dài
365¼ ngày. Các chu kỳ của Mặt trăng, mà dân gian quen gọi là tuần trăng,
là do chuyển động của Mặt trăng quanh Trái đất, trong khi đó Trái đất lại
quay quanh Mặt trời. Quỹ đạo Mặt trăng có hình elip, và nghiêng một góc
khoảng 5° so với quỹ đạo của Trái đất quanh Mặt trời. Điều này cắt nghĩa
tại sao nhật thực không xảy ra hằng tháng.
Cái điều bất tiện là các chu kỳ của Mặt trăng và các chu kỳ của Mặt trời
không thông ước với nhau (không tỷ lệ với nhau) quả thực kích thích suy
nghĩ. Giá như có thể tính năm, một vòng của các mùa, bằng cách đơn giản
nhân lên các chu kỳ của Mặt trăng, thì nhân loại đã đỡ đi bao nhiêu phiền
toái. Nhưng khi đó biết đâu chúng ta cũng mất đi động lực nghiên cứu bầu
trời và không giỏi toán học.
Các mùa trong năm, như ngày nay chúng ta đã biết, bị chi phối bởi
chuyển động của Trái đất quanh Mặt trời. Mỗi một vòng quay của các mùa
đánh dấu việc Trái đất trở lại đúng vị trí cũ trong quỹ đạo tuần hoàn của
nó, một quãng thời gian từ tiết phân (hay tiết chí) này đến tiết phân (hay
tiết chí) kế tiếp. Con người cần có một thời lịch để đánh dấu mốc cho các
mùa. Bắt đầu như thế nào đây?
Người Babylon cổ đại đã khởi đầu với lịch mặt trăng (âm lịch) và khư khư
giữ lấy nó. Sự bảo thủ của họ trong việc gắn chặt với các chu kỳ của Mặt
trăng khi làm lịch đã mang lại những hệ quả quan trọng. Trong khi tìm tòi
cách thức đo chu kỳ của các mùa bằng cách nhân lên các chu kỳ của Mặt
trăng, rốt cuộc vào khoảng năm 432 TCN họ đã phát hiện ra cái gọi là chu
kỳ Meton (lấy theo tên một nhà thiên văn) dài 19 năm. Họ nhận thấy rằng
nếu sử dụng một chu kỳ 19 năm, trong đó 7 năm kéo dài thành 13 tháng
mỗi năm, 12 năm còn lại giữ nguyên 12 tháng, thì họ có thể tiếp tục dùng
các pha nhìn thấy được một cách thuận tiện của Mặt trăng làm cơ sở cho
lịch của mình. Phép “đặt tháng nhuận”, tức là tăng thêm tháng vào một
năm, đã giúp họ tránh được sự “trôi dạt” bất tiện của năm so với các mùa,
nghĩa là các mùa cứ trôi lệch dần dần qua các tháng âm lịch, mà như vậy
thì không dễ biết một mùa mới sẽ khởi đầu vào tháng nào. Lịch Meton này
với các cụm 19 năm thật quá phức tạp để sử dụng hằng ngày.
Nhà sử học Hy Lạp Herodotus, sống và viết vào thế kỷ 5 TCN, đã minh
họa những sự phức tạp đó trong một đoạn văn bản nổi tiếng khi ông kể
chuyện nhà thông thái Solon đã trả lời Croesus[4] giàu có và nóng nảy ra
sao, khi ông vua này hỏi ai hạnh phúc nhất trong số những người trần tục.
Để gây ấn tượng với Croesus về sự thay đổi hết sức khó lường của số
phận, Solon đã theo lịch Hy Lạp đang được sử dụng thời đó tính số ngày
của 70 năm mà ông lấy làm giới hạn của đời người. “Trong 70 năm ấy,”
ông nói, “nếu không tính các tháng nhuận, sẽ có 25.200 ngày. Cứ hai năm
lại thêm một tháng nhuận vào, để cho các mùa đến tương đối đúng thời
điểm, thì sẽ có thêm 35 tháng nữa, tức là 1.050 ngày, ngoài số ngày của 70
năm kể trên. Tổng số ngày có trong 70 năm vị chi là 26.250 ngày. Mà ngày
nào cũng có thể xảy ra các sự kiện không giống những ngày còn lại. Do vậy
con người hoàn toàn là sự ngẫu nhiên mà thôi, về phần ngài, thưa ngài
Croesus, tôi biết rằng ngài rất giàu và là chúa tể của nhiều dân tộc. Nhưng
về câu hỏi của ngài, thì tôi không thể có câu trả lời, cho đến khi nào tôi
nghe nói rằng cuộc đời của ngài khép lại một cách hạnh phúc.”
Người Ai Cập đã tìm được cách thoát khỏi sự cám dỗ của Mặt trăng. Như
chúng ta được biết, họ là dân tộc đầu tiên tìm ra độ dài của năm Mặt trời và
xác định nó một cách thực tiễn và hữu ích. Cũng như với những thành tựu
khác của nhân loại, chúng ta biết câu hỏi cái gì, nhưng vẫn còn băn khoăn
về câu hỏi tại sao, như thế nào, thậm chí câu hỏi khi nào. Băn khoăn thứ
nhất là, tại sao đó lại là người Ai Cập. Họ không có các dụng cụ thiên văn
mà thế giới Hy Lạp-La Mã cổ đại từng biết rõ. Họ cũng không thể hiện tài
năng gì đặc biệt về phương diện toán học. Thiên văn học của họ rất thô sơ
nếu so với thiên văn học của người Hy Lạp hay các dân tộc khác ở vùng
Địa Trung Hải, lại còn bị chi phối bởi lễ nghi tôn giáo. Nhưng đến khoảng
năm 2500 TCN họ đã biết cách dự đoán khi nào mặt trời mọc hay lặn sẽ rọi
vào điểm mút của một đài kỷ niệm cụ thể nào đó, giúp họ tăng thêm ánh
sáng rực rỡ cho các lễ kỷ niệm của mình.
Phương pháp của người Babylon giữ lại các chu kỳ của Mặt trăng và cố
điều chỉnh chúng cho phù hợp với năm theo mùa (hay năm Mặt trời) bằng
cách “đặt tháng nhuận” thực ra không thuận tiện. Thói quen ở các địa
phương luôn thắng thế. Chẳng hạn ở Hy Lạp, nơi có núi non và vịnh biển
chia cắt các vùng miền cảnh quan đa dạng, mỗi một thị quốc (nhà nước có
quy mô thành phố) lại đặt ra lịch riêng của mình, tùy tiện thêm tháng nhuận
để đánh dấu một lễ hội địa phương hoặc phục vụ nhu cầu chính trị. Kết quả
là họ đã đánh mất chính mục đích của phép làm lịch là sắp xếp thời gian để
kết nối mọi người với nhau, giúp lập kế hoạch chung được dễ dàng, chẳng
hạn cùng thỏa thuận gieo trồng mùa màng và chuyên chở hàng hóa.
Người Ai Cập, cho dù thua kém người Hy Lạp về mặt toán học, đã giải
quyết được vấn đề thực tiễn. Họ đã phát minh ra một loại lịch phục vụ cho
nhu cầu hằng ngày trên khắp mảnh đất của mình. Ngay từ năm 3200 TCN,
toàn bộ vùng thung lũng sông Nile đã thống nhất với vùng châu thổ sông
Nile thành một vương quốc duy nhất tồn tại suốt 3.000 năm, cho đến tận
thời đại Cleopatra. Sự thống nhất về chính trị được củng cố bởi thiên
nhiên. Giống như các thiên thể, sông Nile cũng thể hiện một nhịp điệu tự
nhiên đều đặn dù kịch tính hơn. Là con sông dài nhất châu Phi, Nile trải ra
gần 6.500 kilômét từ thượng nguồn xa xôi, thu nước mưa và nước tuyết
tan của cao nguyên Ethiopia và toàn bộ phần đông bắc của châu lục vào
một dòng chảy lớn duy nhất đổ ra Địa Trung Hải. Lãnh địa của các pharaoh
được gọi rất có lý là vương quốc sông Nile. Người cổ đại, mượn lời nói ẩn
dụ của Herodotus, đã gọi Ai Cập là “món quà của sông Nile”. Cuộc tìm
kiếm đầu nguồn sông Nile, cũng giống như đi tìm Chén Thánh, mang
những sắc thái huyền bí, khuấy động các nhà thám hiểm bất chấp nguy
hiểm đến tính mạng cho đến tận thế kỷ 19.
Sông Nile giúp cho mùa màng, thương mại, và kiến trúc Ai Cập phát
triển. Là con đường thương mại huyết mạch, sông Nile cũng là con đường
vận chuyển nguyên vật liệu cho các đền đài và kim tự tháp khổng lồ. Ba
ngàn tấn đá hoa cương cho một đài kỷ niệm có lẽ đã được khai thác ở
Aswan rồi xuôi dòng sông hơn 320 kilômét đến Thebes. Sông Nile nuôi
sống các đô thị tập trung dọc hai bên bờ sông. Không có gì ngạc nhiên khi
người Ai Cập đã gọi sông Nile là “biển”, còn trong Kinh Thánh nó được
gọi đơn giản là “con sông”.
Nhịp điệu của sông Nile cũng là nhịp điệu của đời sống Ai Cập. Nước
sông dâng lên hằng năm đã tạo ra một thứ lịch gieo trồng và gặt hái với ba
mùa: mùa lụt, mùa trồng cây và mùa thu hoạch. Nước lụt sông Nile từ cuối
tháng 6 đến tận cuối tháng 10 mang lại phù sa màu mỡ, rồi cây lương thực
được trồng trên đó và tăng trưởng từ cuối tháng 10 đến cuối tháng 2 năm
sau, sau đó được thu hoạch từ cuối tháng 2 đến tận cuối tháng 6. Nước
sông Nile dâng cũng đều đặn và thiết yếu đối với đời sống như mặt trời
mọc, đánh dấu khởi điểm một “năm sông Nile”. Lịch Ai Cập sơ khai, một
cách tự nhiên, chính là “Nile kế” - thang đo đơn giản theo chiều thẳng
đứng có các vạch ghi dấu nước lụt hằng năm. Chỉ cần vài năm quan sát
“năm sông Nile” cũng thấy nó không tương ứng với các pha của Mặt trăng.
Nhưng ngay từ rất sớm người Ai Cập đã nhận thấy rằng 12 tháng mà mỗi
tháng gồm 30 ngày có thể tạo thành một loại lịch hữu ích biểu thị các mùa,
nếu thêm năm ngày nữa vào cuối năm, để một năm có 365 ngày. Đó chính
là năm “dân sự”, hay “năm sông Nile”, mà người Ai Cập bắt đầu sử dụng
ngay từ năm 4241 TCN.
Để tránh chu kỳ thuận tiện đầy cám dỗ của Mặt trăng, người Ai Cập đã
tìm những dấu hiệu khác để đánh dấu năm của họ: sao Sirius, hay sao
Thiên Lang, ngôi sao sáng nhất trên bầu trời. Mỗi năm một lần, vào buổi
sáng sao Sirius mọc trên cùng một đường thẳng với Mặt trời. Sự kiện sao
“Sirius mọc cùng”, năm nào cũng xảy ra vào giữa mùa lụt sông Nile, đã
được chọn làm mốc khởi đầu năm Ai Cập. Nó được đánh dấu bằng một lễ
hội suốt năm ngày “ngoại thời” (ngày nằm ngoài các tháng), kỷ niệm lần
lượt ngày sinh của thần Osiris, của con trai thần là Horus, của kẻ thù của
thần là Set, của người chị em đồng thời là vợ thần Iris, và của Nephthys,
vợ Set.
Vì năm Mặt trời không gồm chính xác 365 ngày, nên năm Ai Cập gồm
365 ngày qua các thế kỷ sẽ trở thành một “năm trôi dạt”, nghĩa là mỗi tháng
đã được đặt tên sẽ dần dần xuất hiện vào một mùa khác. Sự sai lệch nhỏ
đến mức phải mất nhiều năm, dài hơn cuộc đời của bất cứ người nào, thì
sai lệch ấy mới ảnh hưởng đến đời sống hằng ngày. Mỗi tháng sẽ chu du
qua tất cả các mùa trong chu kỳ 1.460 năm. Dù sao thì lịch Ai Cập này vẫn
tốt hơn nhiều so với bất cứ thứ lịch nào khác vào thời đó nên nó đã được
Julius Caesar lấy làm lịch Julius của mình. Nó đã sống qua cả thời Trung
đại và vẫn được Copernicus sử dụng trong các bảng hành tinh của ông vào
thế kỷ 16.
Trong khi người Ai Cập đã biết thoát khỏi sự phụ thuộc vào Mặt trăng
trong lịch sinh hoạt hằng ngày của mình, Mặt trăng vẫn giữ được sự mê
hoặc đối với người nguyên thủy. Nhiều dân tộc, trong đó có cả người Ai
Cập, vẫn giữ chu kỳ Mặt trăng để tính toán các ngày lễ tôn giáo và các lễ kỷ
niệm thần bí. Ngay cả ngày nay những người chịu ảnh hưởng tôn giáo vẫn
để các chu kỳ Mặt trăng chi phối. Sự bất tiện của việc sống theo lịch mặt
trăng trở thành minh chứng hằng ngày cho đức tin tôn giáo.
Chẳng hạn, người Do Thái vẫn duy trì lịch mặt trăng của mình, và mỗi
tháng của lịch Do Thái vẫn bắt đầu vào kỳ trăng mới. Để giữ cho lịch mặt
trăng hòa hợp với năm dựa theo mùa, người Do Thái đã thêm một tháng
vào mỗi năm nhuận, và lịch Do Thái trở thành tâm điểm nghiên cứu bí
truyền của giới giáo sĩ. Năm Do Thái được chia thành 12 tháng, mỗi tháng
có 29 hoặc 30 ngày, tổng cộng có 354 ngày. Để cho đầy năm Mặt trời - theo
chu kỳ Meton của người Babylon - người ta thêm một tháng vào các năm
thứ ba, thứ sáu, thứ tám, thứ mười một, thứ mười bốn, thứ mười bảy và
thứ mười chín của mỗi chu kỳ mười chín năm, thành các năm nhuận Do
Thái. Đôi lúc cũng cần các điều chỉnh khác để làm cho các ngày lễ đến vào
đúng mùa - ví dụ, lễ vượt qua, là ngày lễ mùa xuân, phải đến sau ngày xuân
phân. Trong Kinh Thánh, hầu hết các tháng vẫn giữ tên gọi Babylon, chứ
không phải tên gọi Do Thái.
Đạo Kitô lấy lại hầu hết các lễ kỷ niệm tôn giáo của đạo Do Thái và vẫn
giữ sự kết nối với lịch mặt trăng như cũ. Các “ngày lễ lưu động” của giáo
hội được dịch chuyển trong lịch mặt trời để ăn khớp với các chu kỳ Mặt
trăng. Chúng vẫn gợi cho chúng ta nhớ về sự quyến rũ nguyên thủy của thứ
ánh sáng rạng rỡ nhất trong bầu trời đêm. Quan trọng nhất trong số các
ngày lễ Kitô giáo lấy theo trăng ấy tất nhiên là Lễ Phục sinh, kỷ niệm sự
kiện Chúa Jesus sống lại. Sách Nghi lễ cầu kinh của Anh quy định: “Ngày
Phục sinh bao giờ cũng là ngày Chúa nhật (Chủ nhật) đầu tiên sau trăng
tròn, đến vào đúng hoặc sau ngày 21 tháng 3. Nếu ngày trăng tròn rơi đúng
vào ngày Chúa nhật, thì ngày Phục sinh là ngày Chúa nhật kế tiếp.” Ít nhất
có hơn chục ngày lễ khác của giáo hội được xác định theo tương quan với
Lễ Phục sinh và với ngày tháng theo lịch mặt trăng của nó, kết quả là Lễ
Phục sinh chi phối khoảng mười bảy tuần trong lịch phụng vụ giáo hội.
Việc ấn định ngày Lễ Phục sinh - nói cách khác là xác định lịch - trở thành
một vấn đề quan trọng và một biểu tượng. Vì Tân Ước nói rằng Jesus bị
đóng đinh trên thập giá vào ngày lễ vượt qua, nên lễ kỷ niệm Jesus sống lại
vào Lễ Phục sinh hiển nhiên phải gắn với lịch Do Thái. Hệ quả tất yếu là
ngày Lễ Phục sinh phải phụ thuộc vào các tính toán phức tạp về Mặt trăng
của Sanhedrin, tức Hội đồng Do Thái tối cao, để xác định ngày lễ vượt
qua.
Nhiều tín đồ Kitô giáo thuở ban sơ ấy, tuân thủ từng ly từng tí sự giải
thích Kinh Thánh của họ, nên đã xác định ngày mất của Jesus vào đúng
một ngày thứ Sáu, còn ngày Jesus sống lại, ngày Phục sinh, vào ngày Chủ
nhật liền kề. Nhưng nếu kỷ niệm ngày lễ ấy theo đúng lịch mặt trăng của
người Do Thái, thì không có gì chắc chắn là ngày Phục sinh sẽ rơi vào Chủ
nhật. Sự tranh cãi gay gắt về lịch đã dẫn đến một trong những rạn nứt đầu
tiên giữa giáo hội Chính thống phương Đông và giáo hội La Mã. Những tín
đồ Kitô giáo phương Đông theo lịch mặt trăng vẫn tiếp tục làm Lễ Phục
sinh vào ngày thứ mười bốn của tháng mặt trăng, bất kể hôm đó là ngày
nào trong tuần. Ngay tại công đồng chung (hội nghị giám mục toàn cầu)
đầu tiên họp tại Nicaea ở Tiểu Á năm 325, một trong những vấn đề cần
thống nhất toàn cầu chính là xác định ngày Phục sinh. Một ngày thống
nhất đã được chọn, sao cho vừa phù hợp với lịch mặt trăng truyền thống
lại vừa bảo đảm rằng sẽ luôn luôn rơi đúng vào ngày Chủ nhật.
Nhưng vấn đề vẫn chưa được giải quyết hoàn toàn. Để tổ chức lễ lạt,
cộng đồng vẫn cần có người tính trước các pha Mặt trăng và tìm nó trong
lịch mặt trời. Nhiệm vụ tinh tế này được Công đồng Nicaea giao cho giám
mục Alexandria. Ở trung tâm thiên văn học thời cổ đại ấy, vị giám mục
phải dự báo các pha Mặt trăng cho tất cả các năm trong tương lai. Thế
nhưng bất đồng xung quanh việc chọn pha Mặt trăng nào đã dẫn tới sự
chia rẽ trong giáo hội. Kết quả là ở các vùng khác nhau trên thế giới người
ta tiếp tục làm Lễ Phục sinh vào các ngày Chủ nhật khác nhau.
Cuộc cải cách lịch của Giáo hoàng Gregorius XIII là cần thiết vì độ dài
năm mà Julius Caesar lấy từ lịch Ai Cập để phục vụ cho xã hội phương
Tây đã không đủ chính xác. Năm mặt trời thực, hay chu kỳ Mặt trời - thời
gian cần thiết để Trái đất quay trọn một vòng quỹ đạo quanh Mặt trời - là
365 ngày 5 giờ 48 phút 46 giây, ít hơn 11 phút 14 giây so với năm dài 365
1/4 ngày tính theo lịch Julius. Kết quả là ngày tháng theo lịch này cứ mất
dần mối liên hệ ban đầu đối với các hiện tượng theo Mặt trời và đối với
các mùa. Một ngày tháng quan trọng nhất là tiết xuân phân, dùng làm căn
cứ để tính ngày Phục sinh, đã được Công đồng Nicaea thứ nhất ấn định
vào ngày 21 tháng 3. Thế nhưng sự sai lệch tích tụ trong lịch Julius đã dẫn
tới hệ quả là vào năm 1582 tiết xuân phân đến vào ngày 11 tháng 3.
Giáo hoàng Gregorius XIII, tuy khét tiếng về thái độ tán dương cuộc tàn
sát đẫm máu những người theo đạo Tin Lành ở Paris trong ngày lễ thánh
Bartholomew (năm 1572), nhưng lại là một nhà cải cách năng nổ trong một
số vấn đề. Ông quyết tâm sửa lại lịch. Đẩy lên đến cao trào xu hướng cải
cách lịch vốn đã phát triển ít nhất trong một thế kỷ, năm 1582 Giáo hoàng
Gregorius XIII đã ra tông chiếu quy định sau ngày mồng 4 tháng 10 là
ngày 15 tháng 10. Sự “cắt ngăn” này cũng có nghĩa năm sau đó tiết xuân
phân lại rơi đúng vào ngày 21 tháng 3, như đòi hỏi của lịch mặt trời tương
ứng với các mùa. Như vậy lại phục hồi năm tương ứng với mùa như từng
tồn tại vào năm 325. Các năm nhuận của lịch Julius cũ cũng được điều
chính. Để tránh sự sai lệch tích tụ 11 phút hằng năm, lịch của Gregorius đã
bỏ một ngày nhuận trong các năm tận cùng chẵn trăm, trừ trường hợp năm
ấy chia hết cho 400. Lịch hiện đại của phương Tây chúng ta sử dụng ngày
nay đã ra đời như vậy.
Chỉ vì cải cách này xuất phát từ La Mã, mà xứ Anh (England) cùng với
các thuộc địa châu Mỹ theo đạo Tin Lành đã ngoan cố không chịu tuân
theo. Phải mãi đến năm 1752 người ta mới chịu thay đổi. Năm theo lịch cũ
đang sử dụng bấy giờ bắt đầu vào ngày 25 tháng 3[5], trong khi năm theo
lịch mới bắt đầu vào ngày 1 tháng 1. Sau khi thêm vào 11 ngày cần thiết thì
ngày sinh của George Washington, vốn dĩ theo lịch cũ là 11 tháng 2 năm
1731, chuyển sang lịch mới sẽ là 22 tháng 2 năm 1732, chênh lệch hơn một
năm!
Trở lại năm 1582, việc Giáo hoàng Gregorius quyết định loại bỏ 10 ngày
ra khỏi lịch đã gây ra những oán trách và lúng túng. Các gia nô đòi trả đủ
tiền công cho tháng bị cắt ngắn đó, nhưng các ông chủ từ chối. Có người
phản đối vì năm tháng tuổi đời của họ ngắn lại chỉ vì một sắc lệnh của Giáo
hoàng. Nhưng khi nước Anh và các thuộc địa châu Mỹ của nó cuối cùng
cũng chấp nhận sự thay đổi, thì Benjamin Franklin, khi ấy 46 tuổi và cũng
bị mất 10 ngày trong đời mình, với tài thông minh dí dỏm vốn có, đã
khuyên những người đọc cuốn Poor Richard's Almanack (Niên giám của
Richard Nghèo khổ) nên vui vì:
Đừng có sửng sốt hay cau có khi bị mất mươi ngày, bạn đọc thân mến ạ, cũng
chẳng nên tiếc mình bị mất nhiều thời gian đến thế, mà hãy lấy đó làm điều an
ủi, rằng chi tiêu của bạn sẽ ít đi và tinh thần của bạn sẽ thoải mái hơn. Còn gì
khoan khoái hơn cho những ai thích ngủ vùi khi được nằm khểnh từ tối ngày
mồng hai tháng này cho mãi tới sáng ngày mười bốn mới phải dậy.
Thế giới chưa bao giờ chấp nhận hoàn toàn cải cách của Gregorius. Giáo
hội Chính thống giáo phương Đông, cho rằng không việc gì phải phục tùng
quy định của La Mã, vẫn giữ lịch Julius để tính ngày Lễ Phục sinh theo
cách của mình, vậy là thế giới Kitô giáo, lẽ ra phải gắn bó bởi có cùng một
Đấng Hòa giải, thậm chí đã không thể nhất trí về ngày lễ kỷ niệm Đấng
Cứu thế của họ sống lại.
Tuy vậy, đối với các sinh hoạt thế tục hằng ngày, cả thế giới Kitô giáo
vẫn dùng chung một loại lịch mặt trời thuận tiện cho cả nhà nông lẫn nhà
buôn. Trong khi đó đạo Hồi, cương quyết tuân thủ từng lời của Đấng Tiên
tri Muhammad và câu chữ chỉ huấn của kinh Koran, vẫn sinh sống theo các
chu kỳ của Mặt trăng.
Hình lưỡi liềm biểu tượng cho trăng mới xuất hiện trên quốc kỳ của các
nước theo đạo Hồi. Cho dù các học giả còn tranh cãi về nguồn gốc của
biểu tượng hình lưỡi liềm ấy, điều không còn nghi ngờ là nó rất phù hợp
với các dân tộc đã ngoan ngoãn giao phó các mốc thời gian đời mình cho
thước đo thần thánh của Mặt trăng. Nó lại có ý nghĩa quan trọng gấp đôi
nếu lưu ý rằng đây là một ngoại lệ nổi bật trong đạo Hồi, vốn cấm mọi
cách biểu thị các vật thể thiên nhiên. Ít nhất thì cũng ngay từ thế kỷ 13 hình
lưỡi liềm đã trở thành biểu tượng quân sự và tôn giáo của người Ottoman.
Có lý do để tin rằng việc nó được chấp nhận và dùng làm biểu tượng trong
đạo Hồi lâu như thế bắt nguồn từ vai trò chủ đạo của trăng mới: nó không
chỉ đánh dấu sự khởi đầu và kết thúc của mùa nhịn ăn ban ngày kéo dài
một tháng trong đạo Hồi mà còn là dấu mốc thường xuyên cho toàn bộ lịch
pháp.
Trăng mới, theo kinh Koran, “Là thời gian cố định cho mọi người sinh
hoạt và cho cuộc hành hương”. Thế giới Hồi giáo, với sự tỉ mỉ chính
thống, luôn cố gắng sống theo Mặt trăng. Cũng như Caesar đã cương quyết
gắn thế giới của mình với sự tiện lợi của năm mặt trời, Muhammad cũng
cương quyết gắn thế giới hằng ngày của mình vào các chu kỳ Mặt trăng.
Các chu kỳ Mặt trăng này sẽ chỉ dẫn cho tín đồ những ngày tháng thiêng
liêng theo quy định dành cho các nghi lễ tôn giáo trọng đại - hành hương
tới Mecca và tháng Ramadan nhịn ăn ban ngày. Năm Hồi giáo gồm mười
hai tháng mặt trăng, luân phiên là 29 và 30 ngày. Phần điều chỉnh thập phân
để giữ cho các tháng cũng nhịp với Mặt trăng được thực hiện bằng cách
thay đổi độ dài của tháng thứ mười hai trong năm. Người ta đã xác định
một chu kỳ ba mươi năm Hồi giáo, trong đó mười chín năm có tháng cuối
cũng dài 29 ngày, tháng cuối của các năm còn lại gồm 30 ngày. Vì lịch Hồi
giáo chỉ gồm 354 hoặc 355 ngày, nên các tháng không có liên hệ cố định
với các mùa. Ramadan, tháng thứ chín - tháng nhịn ăn ban ngày mà một tín
đồ Hồi giáo đích thực phải tuân thủ - và Dhu'l-Hijja, tháng thứ mười hai,
trong hai tuần đầu tín đồ phải hành hương tới Mecca, có thể đến vào mùa
hè hoặc mùa đông. Mỗi năm lễ Ramadan và lễ Hành hương đến sớm hơn
năm trước mười hoặc mười một ngày. Những bất tiện hằng ngày kiểu đó
của lịch chẳng qua là một chứng cứ khác nữa về việc một tín đồ Hồi giáo
ngoan đạo phục tùng ý chí của Đấng Allah. Đối với những người khác, bản
thân lịch chỉ đơn giản là thời giờ dự kiến những vụ việc trần thế, nhưng
người Hồi giáo biến nó thành sự khẳng định đức tin.
Sự phục tùng bất di bất dịch của đạo Hồi đối với chu kỳ Mặt trăng có
vài hệ quả thú vị. Sống theo các pha Mặt trăng hiển hiển rõ ràng, do
Thượng đế ban tặng (chứ không phải là theo sự tính toán của con người khi
nào dự kiến sẽ đến kỳ trăng mới) dĩ nhiên có nghĩa việc cử hành lễ nghi
phải đợi đúng khi nhìn thấy Mặt trăng thật sự. Hầu hết các tín đồ Hồi giáo
đều có cách hiểu như vậy, do tuân theo phát ngôn xưa nay được coi là của
nhà tiên tri Muhammad: “Không nhịn ăn cho đến khi nào người nhìn thấy
trăng mới, và không chấm dứt nhịn ăn cho đến khi nào người lại nhìn thấy
nó; còn khi nó bị che khuất [bởi mây hay sương mù] thì hãy đợi cho tròn
thời hạn.” Nếu mây hay sương mù khiến ở một vài làng mạc không nhìn
thấy trăng mới, những nơi này sẽ khởi đầu và kết thúc lễ Ramadan vào
những thời điểm khác so với các vùng lân cận.
Một trong những vấn đề tranh cãi quyết liệt nhất là liệu có thể cho phép
xác định sự khởi đầu và kết thúc các lễ nghi không phải bằng quan sát mà
bằng “viện dẫn đến tính toán”. Các thành viên của giáo phái Ismail đã tách
biệt mình ra theo xu hướng này, nhưng không thể thuyết phục phần lớn
những người anh em cùng tôn giáo vẫn bám giữ nhu cầu quan sát, nghĩa là,
phải thực sự nhìn thấy trăng mới. Việc tuân thủ nghiêm ngặt lịch mặt trăng
đã trở thành thành trì của lòng trung thành với đạo Hồi truyền thống. “Viện
dẫn đến tính toán”, tức là nhờ đến toán học hiện đại tính năm Mặt trời
(dương lịch) chứ không chịu dựa theo vòng cương tỏa đơn giản, rõ ràng
của chu kỳ Mặt trăng, đã đánh dấu sự nổi loạn thời hiện đại chống lại
truyền thống. Năm 1926, khi Kemal Atatürk (Mustapha Kemal) tuyên bố
chấm dứt vương quốc Hồi giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ và 'hiện đại hóa” quốc gia
này bằng việc thông qua một bộ luật mới, bắt buộc đăng ký hôn nhân dân
sự, và quy định bãi bỏ việc đội mũ đuôi seo (fez) đối với nam giới cùng
mạng che mặt đối với phụ nữ, ông cũng bãi bỏ lịch mặt trăng của Hồi giáo
và phê chuẩn lịch mặt trời của phương Tây.
Trong khi nhiều người phương Tây coi lịch chỉ là một hệ thống ghi sổ
thời gian, thực tế nó là một trong những thiết chế cứng nhắc nhất của con
người. Tính cứng nhắc bắt nguồn một phần từ hào quang thần bí hùng
mạnh của Mặt trời và Mặt trăng, một phần từ những ranh giới cố định của
các mùa. Các nhà cách mạng thường ra sức thay đổi lịch, nhưng thành quả
của họ khá đoản mệnh. Quốc ước của Cách mạng Pháp đã lập ra một ủy
ban cải cá...
 









Các ý kiến mới nhất