Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

NHỮNG MẨU CHUYỆN VỀ ĐỜI HOẠT ĐỘNG CỦA HỒ CHỦ TỊCH

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 09h:39' 29-12-2023
Dung lượng: 598.2 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích: 0 người
Những mẩu chuyện về
đời hoạt động của Hồ Chủ tịch
Tác giả: Trần Dân Tiên
Nhà xuất bản Trẻ
Năm xuất bản: 2005
Tạo ebook: Cotyba
Ngày hoàn thành: 11/02/2007
Epub (02/2019): @lamtam, tve-4u.org

PHẦN 1

Nhiều nhà văn, nhà báo Việt Nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử
của vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhưng mãi đến
nay, chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rất giản đơn: Chủ
tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lại thân thế của mình.
Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, lần đầu tiên tôi trông thấy Hồ Chủ
tịch. Đó là một ngày lịch sử. Ngày hôm ấy, đứng trước rất đông quần
chúng hoan hô nhiệt liệt, Hồ Chủ tịch trang nghiêm đọc bản Tuyên
ngôn Độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Ngày thứ hai tôi viết thư xin phép được gặp Hồ Chủ tịch. Ngay
chiều hôm ấy, tôi rất sung sướng nhận được thư trả lời của Hồ Chủ
tịch viết như thế này:
"Ngày mai 7 giờ 30 mời chú đến"
Ký tên: HỒ CHÍ MINH
Thư trả lời chóng, nội dung thư giản đơn và giờ hẹn gặp sớm
khiến tôi rất băn khoăn.
Sáng ngày mồng 4 tháng 9, 7 giờ 25, tôi đến dinh Chủ tịch. Đúng 7
giờ 30, một người thanh niên đến phòng khách, lễ phép nói với tôi:
"Hồ Chủ tịch đang đợi anh ở phòng làm việc". Phòng làm việc của
Chủ tịch là một gian phòng rất rộng, một bên có nhiều cửa sổ lớn.
Trong phòng có một cái bàn làm việc, một chiếc giường, một tủ
sách nhỏ kê sát vào tường, và hai bàn nhỏ của hai thư ký. Phía trên
lò sưởi, có một lọ hoa. Đây là tất cả những đồ trong phòng làm việc,
không có một thứ trang trí gì khác.
Hồ Chủ tịch thường mặc bộ quần áo ka ki, đi giày vải đen. Tóc
Người đã hoa râm, trán rộng và cao, đôi mắt sáng ngời, mũi thẳng,
râu che nửa miệng, mặt gầy, da ngăm ngăm đen, khiến ta nghĩ đến
sương gió dãi dầu trong rừng sâu và những nỗi gian khổ của chiến
tranh du kích.
Lần mới gặp, tôi có cảm giác Người giống một thầy giáo ở nông

thôn.
Tôi bước vào phòng kính cẩn chào. Chủ tịch đứng dậy bắt tay tôi
và mời ngồi trước bàn làm việc. Trước hết, Người hỏi thăm sức khỏe
của thầy mẹ tôi và sau mới nói: "Tôi có thể giúp chú việc gì nào?". Tôi
nói rõ mục đích của tôi. Chủ tịch chú ý nghe. Sau khi tôi nói xong.
Người cười và đáp:
"Tiểu sử. Đấy là một ý kiến hay. Nhưng hiện nay còn nhiều việc
cần thiết hơn. Rất nhiều đồng bào đang đói khổ. Sau tám mươi năm
nô lệ, nước ta bị tàn phá, bây giờ chúng ta phải xây dựng lại. Chúng
ta nên làm những công việc hết sức cần kíp đi đã! Còn tiểu sử của
tôi… thong thả sẽ nói đến!"
Tôi như chạm phải một bức tường. Nhưng tôi không thất vọng.
Về sau tôi đặt kế hoạch khác:
Phương pháp trực tiếp, nghĩa là nói chuyện thẳng thắn với Hồ Chủ
tịch để có tài liệu, điều ấy đã không thành. Sau khi suy nghĩ kỹ càng,
tôi mới hiểu là phương pháp ấy không thể không thất bại. Một người
như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và
đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể lại cho tôi
nghe bình sinh của Người được?
Hiện nay, chỉ còn phương pháp gián tiếp, nghĩa là hỏi những người
trước kia, trong một thời gian nào đó, đã trực tiếp hoặc gián tiếp biết
Hồ Chủ tịch, không cứ người đó là người Việt Nam hay ngoại quốc,
để lấy tài liệu viết tiểu sử. Phương pháp này rất khó khăn và cần
nhiều thì giờ, nhưng may ra thì thành công. Cuối cùng kết quả chứng
tỏ cách ấy là đúng. Tôi theo phương pháp ấy, sau hai năm làm việc,
cuối cùng có khá tài liệu để viết một ít chuyện về Hồ Chủ tịch.
Tôi cũng nhận rằng trong quyển sách này còn thiếu nhiều đoạn.
Trong đời hoạt động của Hồ Chủ tịch những đoạn ấy phải chăng là rất
quan trọng? Tôi không thể biết, đồng thời tôi cũng nghĩ rằng: ngoài Hồ
Chủ tịch, thì không ai có thể trả lời được câu hỏi đó.
***
Hồ Chủ tịch sinh năm 1890. Quê Người ở làng Kim Liên, huyện
Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (Trung bộ). Phụ thân Người là một cựu Phó
bảng, nhưng gia đình Người là một gia đình nông dân. Trong thời kỳ
ấy, Pháp mới xâm chiếm Việt Nam. Nhân dân Việt Nam đều oán ghét

bọn chủ mới. Các chiến sĩ du kích già thường nhắc đến cụ Phan Đình
Phùng, Hoàng Hoa Thám, hai vị lãnh tụ đã lãnh đạo chiến tranh du
kích chống Pháp.
Cụ Phan Đình Phùng là một học giả nổi tiếng và một vị quan to. Ở
Trung bộ. Cụ là người chí sĩ yêu nước đầu tiên đứng lên chống lại
bọn đế quốc Pháp xâm lược. Cụ tổ chức những phần tử trí thức và
nông dân Trung bộ, lãnh đạo họ đấu tranh gian khổ chống bọn xâm
lược, trải qua chín, mười năm. Tuy Cụ đã mất nhưng tên Cụ trở thành
tượng trưng cho lòng yêu nước.
Cụ Hoàng Hoa Thám là một nông dân Bắc bộ. Trong mấy năm, Cụ
lãnh đạo một số chiến sĩ du kích đấu tranh anh dũng. Năm 1913,
trong khi sơ suất, Cụ bị tay sai của Pháp ám sát.
Đầu thế kỷ XX, để đắp con đường Cửa Rào, bọn Pháp bắt nông
dân từ mười tám đến năm mươi tuổi phải đi phu. Vì bọn đốc công
Pháp rất tàn bạo, nước độc và lương thực thiếu nên nhiều người phu
bị chết, những người sống thì đều đau ốm. Điều đó khơi sâu thêm
lòng căm thù của nhân dân ta đối với thực dân.
Kinh tế thuộc địa xâm nhập, đảo lộn kinh tế trong nước. Giai cấp tư
sản dân tộc không ngóc đầu lên được. Giai cấp tiểu tư sản bắt đầu
phá sản. Để củng cố thế lực còn yếu, thực dân Pháp ra sức giúp đỡ
thế lực phong kiến và bọn tay sai của chúng. Hối lộ công khai. Nhân
dân khốn khổ.
Thuế má nặng nề, sưu dịch phiền phức, bắt buộc phải uống rượu
Pháp nấu, khuyến khích hút thuốc phiện… Tất cả những điều đó đã
biến Việt Nam thành một địa ngục.
Cũng trong thời kỳ ấy, cuộc vận động cải lương phát triển ở Trung
Quốc, trước thì có Lương Khải Siêu, sau thì có bác sĩ Tôn Dật Tiên.
Đồng thời chiến tranh Nga - Nhật kết thúc. Đế quốc Nhật thắng Nga
hoàng.
Cụ Phan Chu Trinh mở trường học, bí mật truyền bá chủ nghĩa yêu
nước và công kích bọn cầm quyền Pháp. Vì vậy, Cụ bị kết án tử hình,
nhưng được Hội Nhân quyền Pa – ri cứu.
Cụ Phan Bội Châu sang Nhật, sau sang Trung Quốc. Ở nước
ngoài, Cụ kêu gọi nhân dân Việt Nam làm cách mạng. Những bài thơ
của Cụ được bí mật truyền tụng trong nhân dân Việt Nam.

Năm 1907, lần đầu tiên nông dân các tỉnh Trung bộ nổi dậy chống
thuế. Họ đi tay không, không có khí giới. Họ chỉ yêu cầu giảm thuế.
Để tỏ tình đoàn kết nhất trí, họ đều cắt tóc ngắn và gọi nhau là "đồng
bào".
Bọn Pháp dùng khủng bố đại quy mô để trả lời họ. Chúng giết hơn
một nghìn người cầm đầu và những người bị nghi là có dính dáng đến
việc đó. Nhà tù chật ních người. Những người cất giấu báo chí Trung
Quốc hoặc báo chí gì khác, nếu giặc tìm ra, đều bị trừng phạt nặng.
Hầu hết các phần tử trí thức yêu nước đều bị bắt bỏ tù. Những nhà
học giả nổi tiếng được nhân dân kính mến cũng bị chém đầu.
Bon Pháp gọi phong trào ấy là "án đồng bào cắt tóc" vì nông dân
dùng hai tiếng "đồng bào" để gọi nhau.
Đó là tình trạng trong nước và ngoài nước, khi Chủ tịch Hồ Chủ
tịch còn là người thiếu niên mười lăm tuổi. Người thiếu niên ấy đã
sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc
bấy giờ, anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh
đã tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc. Anh khâm phục
các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh và Phan
Bội Châu, nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người
nào. Vì:
Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương.
Anh nhận điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng
thương.
Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất
nguy hiểm, chẳng khác gì "đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau".
Cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn, vì trực tiếp đấu tranh chống
Pháp. Nhưng theo lời người ta kể thì Cụ còn nặng cốt cách phong
kiến.
Anh thấy rõ và quyết định con đường nên đi. Cụ Phan Bội Châu
vào bậc chú bác của anh. Cụ Phan Bội Châu muốn đưa anh và một
số thanh niên sang Nhật.
Nhưng anh không đi. Anh muốn làm gì?
Một vị trí thức ở Sài Gòn kể lại cho tôi:
"Trong khi còn học ở trường Sát–xơ–lúp Lô–ba (Chasseloup–
Laubat) tôi gặp một người thanh niên ở Trung bộ vào Sài Gòn ở nhà

một người bạn. Vì cùng một lứa tuổi, cho nên chúng tôi lập tức trở
nên đôi bạn thân. Tôi đưa anh đến trước tiệm cà phê của Pháp xem
đèn điện, xem chiếu bóng và máy nước. Những cái đó trước kia anh
chưa hề thấy.
Một hôm tôi mời anh ăn kem. Anh rất lạ. Lần đầu tiên anh mới nếm
mùi kem.
Sau ít hôm, anh đột nhiên hỏi tôi.
"Anh Lê, anh có yêu nước không?"
Tôi ngạc nhiên và đáp: "Tất nhiên là có chứ!"
"Anh có thể giữ bí mật không?"
"Có".
"Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi
xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta.
Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi
đau ốm… Anh muốn đi với tôi không?"
"Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi?"
"Đây, tiền đây" – Anh bạn của tôi vừa nói vừa giơ hai bàn tay –
"Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để
đi. Thế thì anh cùng đi với tôi chứ?"
Bị lôi cuốn vì lòng hăng hái của anh, tôi đồng ý.
Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ về cuộc phiêu lưu, tôi không có đủ can
đảm để giữ lời hứa.
Vài ngày sau, tôi không gặp lại anh bạn nữa. Tôi đoán là anh ta đã
đi ngoại quốc. Anh ta đi bằng cách nào? Tôi không biết. Về sau, tôi
chỉ biết người thanh niên yêu nước đầy nhiệt huyết ấy là Cụ Nguyễn
Ái Quốc, là Hồ Chủ tịch của chúng ta ngày nay".
Chính ông Mai ở Hải Phòng, nhân viên cũ trên một chiếc tàu Pháp
của hãng "Vận tải hợp nhất" đã cho chúng tôi biết những điều mà ông
Lê không rõ.
Ông Mai kể lại:
"Vào khoảng cuối năm 1911 hay 1912 – tôi không nhớ đúng nữa –
tôi làm việc ở phòng ăn của các sĩ quan trên tàu. Tàu chúng tôi cặp
bến Sài Gòn để lấy hàng và đón khách.

Một buổi trưa, một người trai trẻ lên tàu. Sau một phút ngập
ngừng, anh ta hỏi xin việc.
Chúng tôi trả lời là không có việc và có chăng nữa, chúng tôi cũng
không có quyền nhận anh ta.
Chúng tôi cười vì chàng trai có vẻ một anh học trò, không phải là
người lao động như chúng tôi. Chúng tôi nói nhỏ với nhau: "Một
người như thế có thể làm được công việc gì trên tàu?".
Tôi không hiểu tại sao tôi thấy thương hại anh ta và tôi nói: "Đi theo
tôi, tôi sẽ dẫn anh đến gặp chủ tàu. Có lẽ ông ta sẽ có việc cho anh
làm".
Chủ tàu hỏi: "Anh có thể làm việc gì?"
"Tôi có thể làm bất cứ việc gì!" – Chàng trai trả lời.
"Được, ta sẽ lấy anh làm phụ bếp. Sáng mai anh đến đây nhận
việc".
Chàng trai ấy xưng tên là Ba. Vì tôi đã giúp anh ta việc nhỏ ấy, cho
nên anh ta rất thân với tôi, và cũng vì anh ta rất dễ mến tôi cũng rất
thân với anh ấy. Việc gì tôi làm được là tôi cố làm để giúp anh ta, vì
anh ta chưa biết gì cả. Vả lại, anh ấy có can đảm và nhẫn nại. Phụ
bếp trên tàu, mỗi ngày anh ta phải làm từ bốn giờ sáng, quét dọn sạch
sẽ nhà bếp lớn trên tàu, tối đốt lửa trong các lò. Sau đó đi khuân than,
rồi xuống hầm lấy rau, thịt cá, nước đá v.v. Công việc khá nặng nhọc
vì dưới bếp rất nóng và trong hầm rất rét. Nhất là khi vừa phải vác
một bao nặng vừa leo lên những bậc thang trong khi tàu tròng trành.
Xong công việc ấy, phải dọn cho bọn chủ bếp Pháp ăn. Sau đấy,
nhặt rau, rửa chảo nồi và đun lò lại. Công việc kéo dài suốt ngày.
Nhà bếp lo cho bảy, tám trăm người cả nhân viên và hành khách.
Có nhiều cái chảo bằng đồng lớn và nặng quá, đến nỗi anh Ba phải
kéo lê trên sàn. Và những cái nồi cao quá, anh phải leo lên ghế để
chùi nồi. Luôn luôn nghe tiếng:
"Ba, đem nước đây!"
"Ba, dọn chảo đi!"
"Ba, thêm than chỗ này, thêm than chỗ kia!"
Suốt ngày, anh Ba đẫm nước, hơi và mồ hôi, mình đầy bụi than.
Người ta thấy anh Ba phải dùng hết tinh thần và sức lực để làm cho

xong công việc. Và hơn nữa vì chưa quen việc, anh phải gọt xong
đống củ cải và khoai tây. Anh không biết làm thế nào. Tôi dạy cho
anh. Tôi còn nhớ một lần gọt măng tây. Đây là lần đầu tiên anh Ba
thấy măng tây. Anh ta bắt đầu gọt trơ trụi, thì vừa lúc tôi đến. Tôi hối
hả quẳng xuống bể tất cả măng đã gọt và tôi bày cho anh ta phải làm
như thế nào. Nhờ thế không xảy ra việc gì.
Mỗi ngày, chín giờ tối, công việc mới xong. Anh Ba mệt lử. Nhưng
trong khi chúng tôi nghỉ hoặc đánh bài, anh Ba đọc hay viết đến mười
một giờ hoặc nửa đêm. Về thứ bậc, anh Ba là người dưới chúng tôi,
chúng tôi là những người có chức vị, còn anh Ba chỉ là người phụ
bếp. Nhưng vì anh Ba hiểu biết – anh giúp những người bạn mù chữ
của tôi viết thư về cho gia đình họ và anh không bao giờ nói tục, vì
vậy anh Ba được tất cả chúng tôi yêu mến.
Một lần, dọc đường, anh Ba suýt chết đuối. Biển nổi sóng. Làn
sóng to như những quả núi chồm lên đổ xuống. Hầu hết mọi người
say sóng. Như mọi ngày, anh Ba đi lên đi xuống từ bếp đến hầm.
Không thể vác những rổ rau lên vai vì tàu tròng trành, anh phải buộc
rổ rau vào dây sắt để kéo đi, chuyến thứ hai một ngọn sóng lớn thình
lình phủ lên sàn tàu và cuốn xuống biển mọi vật trên sàn tàu. Cả
những rổ rau và anh Ba nữa. Anh bị đẩy vào giữa cột buồm và dây
xích, nhờ vậy mà thoát chết.
Cái gì đối với anh Ba cũng mới, anh phải học tất cả. Ví dụ mới đầu
anh không ăn được bánh mì và bơ. Ăn xúp thì anh dùng nĩa.
Vài ngày sau tàu rời bến, có hai hành khách – hai người lính trẻ
tuổi giải ngũ về Pháp. Tôi không hiểu tại sao hai anh này đã trở nên
bạn thân của anh Ba. Họ giúp anh nhặt rau và buổi tối họ cho anh
mượn những quyển sách nhỏ, dạy cho anh đọc và viết. Và anh Ba lại
dạy họ quốc ngữ và thỉnh thoảng dấm dúi cho họ cốc cà phê. Anh nói
với tôi với một vẻ ngạc nhiên: "Anh Mai, cũng có những người Pháp
tốt, anh ạ".
Hồi ấy, Bùi Quang Chiêu, kỹ sư canh nông vào làng Tây, đi tầu
hạng nhất cùng gia đình. Ông ta đưa con sang Pháp học. Trông thấy
Ba, ông ta gọi anh lại và thân mật bảo:
"Tại sao con lại làm cái nghề khó nhọc này? Bỏ nghề đi. Con nên
chọn một nghề khác, danh giá hơn…" Anh Ba lễ phép cảm ơn ông
Chiêu, nhưng không nói đồng ý hay không.

Đến Mác–xây, chúng tôi lĩnh lương mỗi nhân viên Việt Nam được
từ một trăm đến hai trăm quan, thêm vào đấy tiền thưởng của hành
khách. Anh Ba là phụ bếp, chỉ được mười quan.
Anh ta được ít lương, nhưng anh học được nhiều chuyện mới lạ.
Coi tôi là bạn thân thiết nhất, anh ta nói với tôi tất cả những điều anh
trông thấy và suy nghĩ.
"Ơ! Ở Pháp cũng có người nghèo như bên ta!".
Trông thấy những gái điếm đến làm tiền trên tàu, Ba nói với tôi:
"Tại sao người Pháp không "khai hoá" đồng bào của họ trước khi
đi "Khai hoá" chúng ta, sao thế anh Mai?"
Tàu điện đối với anh Ba là một chuyện kỳ lạ.
Lần đầu tiên anh ta trông thấy những "cái nhà biết chạy" ấy. Cái gì
cũng làm anh ta chú ý, vì cái gì đối với anh ta cũng mới cả. Luôn luôn
anh ta nói:
"Lần đầu tiên, tôi mới thấy cái này…"
Công việc trong ngày xong, tôi cho anh ta mượn bộ áo quần, và
chúng tôi đi đến tiệm cà phê ở đường Ca–nơ–bia. Không cần phải
nói, đây là lần đầu tiên anh ta vào tiệm cà phê và cũng là lần đầu tiên
người Pháp gọi anh bằng "ông".
Sau những ngày đầu tiên ở Mác–xây, anh Ba tóm tắt cảm tưởng
của mình bằng mấy chữ:
"Người Pháp ở Pháp tốt, lễ phép hơn người Pháp ở Đông dương".
Chúng tôi đi theo tàu lên Ha–vơ–rơ (Havre) để sửa chữa. Chúng
tôi được đưa sang làm việc ở một chiếc tàu khác, trở về Đông
Dương. Anh Ba không muốn trở về. Ông chủ đem anh về nhà. Từ
đấy, tôi không được tin tức gì của anh Ba nữa…
Không bao giờ tôi đoán rằng người bạn nhỏ của tôi, người phụ
bếp, anh Ba ngây thơ, siêng năng và ngoan ngoãn ấy, lại trở thành
Chủ tịch chính phủ ta, người xây dựng nên nước Cộng hoà chúng ta".
Cho đến nay, cách của tôi – cách làm tập thể - hình như được việc.
Những người cộng tác đầu tiên và tôi cứ nhẫn nại theo đường dây,
ghi chép cẩn thận những mẩu chuyện giữ nguyên như thế. Và đây là
một tiểu sử trung thành, đúng đắn, sinh động, không thêu dệt, không
bày đặt.

Theo địa chỉ ông Mai mách, anh Trần, người cộng tác trẻ của tôi,
đến gặp ông Dân ở Nha Trang. Đây là những điều anh Trần ghi chép:
"Ông Dân sáu mươi hai tuổi, chủ một cửa hàng nhỏ sạch sẽ và đông
khách, nhà đông con. Ông ta tiếp tôi niềm nở và kể chuyện:
"Tôi có hai con trai đi Vệ quốc quân và một con gái đi cứu thương.
Nhà tôi còn ba con nữa; hai mươi hai, hai mươi và mười sáu tuổi, đều
là đoàn viên của đoàn Thanh niên cứu quốc. Cả ba đứa đều muốn đi
Vệ quốc quân. Khi nào Tổ quốc cần đến chúng nó, tôi sẵn sàng hiến
con cho Tổ quốc. Có lẽ điều đó dễ làm cho mẹ cháu buồn, nhưng đàn
bà thì bao giờ chẳng thế. Tôi cũng nên nói để ông rõ là bà nhà tôi
cũng là đoàn viên phụ nữ cứu quốc. Còn tôi, thủ quỹ của Việt Minh
địa phương. Cả gia đình tôi đều làm việc nước. Cả làng này đều thế.
Ai cũng là Việt minh, Việt minh, Việt Nam, Việt Nam, Việt minh –
Không thể có Việt Nam mà không có Việt minh".
Ông Dân có tài nói. Ông bắt chuyện này sang chuyện khác rất thần
tình. Kéo ông về câu chuyện mà tôi đặc biệt chú ý không phải là dễ.
Nhưng sau đó tôi đã thành công.
"Có chứ, tôi còn nhớ anh Ba ấy. Chắc chắn tôi còn nhớ anh ta mặc
dầu cách đây đã ba mươi năm.
Tôi ở với ông chủ của tôi ở Xanh A–đơ–ret (Saint–Adresse), một
ngoại ô của Ha–vơ–rơ, một hôm, ông chủ già dẫn về một người trẻ
tuổi, gầy yếu, quần áo lôi thôi nhưng có vẻ lanh lợi. Tên anh ta là Ba.
Ở nước ngoài mà gặp được một người đông hương thì lập tức người
ta dễ trở thành bạn thân. Chúng tôi cũng vậy.
Chúng tôi ở một biệt thự có vườn hoa. Ông chủ già khi rảnh việc
thì ở câu lạc bộ thành phố. Bà chủ thường đến nhà người con gái, vợ
một nhân viên của công ty. Một bà nấu bếp, một người tốt, nếu anh
khéo nịnh thì bà ta cho anh ăn ngon, nhưng khi bà ta cáu thì như một
mụ yêu tinh. Một cô sen xinh xinh hay làm dáng, có một "bà mẹ hay
ốm" – "Bà mẹ ốm" chính là một chàng thủy thủ. Để đi gặp tình nhân,
chị ta lừa chúng tôi luôn và nói là đi thăm mẹ ốm. Trong nhà tất cả là
sáu người.
Đồ đồng đánh bóng, đồ đạc lau xong, bàn ghế sạch bụi, thế là ông
chủ bà chủ bằng lòng và rất tốt, luôn mồm một điều "con" hai điều
"con". Nhưng phần lớn công việc do cô sen làm. Chị ta muốn cho
chóng xong để đi gặp "bà mẹ ốm".

Vì vậy chúng tôi có rất nhiều thì giờ rảnh. Anh Ba dùng thì giờ
chăm bón hoa với người làm vườn hoặc giở những tờ báo có ảnh
trong tủ sách ra xem. Sau khi đến được ba ngày, anh hỏi tôi: "Anh
Dân, anh có biết chữ quốc ngữ không?". Tôi hơi thẹn nhưng trả lời
thành thật: "Không, tôi không biết". Anh Ba liền giảng giải và khuyến
khích tôi học. Tôi làm theo lời anh. Anh Ba cũng thế, anh học tiếng
Pháp với cô sen. Ngày nay tôi đọc được và viết được chính là nhờ
anh Ba. Để trả ơn, thỉnh thoảng tôi dẫn anh Ba đi xem chiếu bóng
hoặc xem xiếc.
Chúng tôi ở với nhau được một tháng. Một buổi chiều người chủ
già đi làm về, nói với anh Ba: "Có một chuyến tàu đi vòng quanh châu
Phi. Không có hành khách. Chỉ có hàng hoá. Anh có muốn nhận làm
bồi cho các sĩ quan trên tàu ấy không? Họ không đông lắm đâu, và
đều là những người tốt, anh sẽ thấy anh không đến nỗi vất vả ở trên
tàu. Đồng ý chứ?"
Anh Ba vui vẻ nhận lời. Sau tôi nói với anh: "Ba ơi, khí hậu ở châu
Phi rất nóng, nóng hơn ở bên ta. Và một chiếc tàu chở hàng rất tròng
trành, rất dễ làm cho anh say sóng. Đi như thế anh dại dột lắm, nhất
là một thân một mình, bầu bạn không có…" Anh Ba nói với tôi: "Anh
không nên nói như thế. Tôi là thanh niên, tôi khỏe, tôi chịu được khổ.
Và tôi muốn đến xem các nước". Ngày hôm sau anh Ba đáp tàu đi,
anh có viết thư cho tôi hai ba lần, kể cho tôi nghe vô số chuyện, nói
đến người da đen, người Ả-rập, nói đến xứ Tê–nê–ri–pho, xứ Lít–bon,
đến những con vẹt… Anh cũng cho biết là người nấu bếp trên tàu
cũng là một đồng hương tên là Bốn…
Không để cho ông Dân nói hết câu, tôi hỏi: "Ông có biết ông Bốn
ấy không?"
"Có, tôi biết. Tôi biết chắc chắn. Anh ta là một người ngớ ngẩn, có
khi như là một người điên. Về già, anh ta trở nên khôn ngoan hơn.
Anh ta làm việc như một con bò. Anh ta lĩnh được rất nhiều tiền.
Nhưng mỗi lần tàu cập bến, anh ta tiêu xài trong hai, ba ngày thì hết
sạch số tiện kiếm được trong hai ba tháng. Chả bài bạc gì. Anh ta chỉ
thích đi theo gái. Anh ta xấu như con quỷ, nhưng anh ta bắt tình nhân
với một cô gái nhảy… Và khi nào hết xu, chỉ nàng đuổi anh ra cửa.
"Bây giờ anh ấy ở đâu?"
"Ông đến Quỳnh Lâm và hỏi Bốn Sẹo thì ở đấy ai cũng biết. Bây

giờ anh ta đã khôn ngoan hơn và được mọi người mến".
Để kết luận cuộc phỏng vấn của tôi, tôi hỏi ông Dân:
"Ông có biết anh Ba hiện nay thế nào không?"
"Không, tôi rất tiếc là không biết".
"Ông có muốn tôi nói cho ông biết không?"
"Còn gì bằng nữa!"
"Ông quay lại xem, anh Ba ấy đây kìa". Tôi vừa nói vừa chỉ chân
dung Hồ Chủ tịch treo trên bàn thờ giữa những bình hoa, bình hương,
đèn nến. Ông Dân quay đầu, mở to đôi mắt, há miệng gãi tai. Và ông
bật lên như một cái lò xo và kêu:
"Hồ Chủ tịch! Hồ Chủ tịch của chúng ta! A-di-đà-phật! Nhưng làm
sao anh biết? Anh nói thật đấy chứ? Ờ, ơ, lạ quá nhỉ. Hồ Chủ tịch là
anh Ba ấy ngày xưa. Hay quá nhỉ! Tôi sẽ kể điều đó cho bà nhà tôi
nghe, cho các cháu nghe. Chúng nó sẽ mừng biết mấy! Cha của
chúng nó được quen biết Cụ Hồ ngày xưa…"
Tôi lại tìm đến ông Bốn. Tính tình ông Bốn hoàn toàn khác với ông
Dân, và cũng không giống như anh Bốn trai trẻ mà ông Dân đã nói.
Đấy là một ông già hơn 60 tuổi, hiền lành. Với một giọng nhè nhẹ, ông
kể lại đời mình cho tôi nghe và những mối quan hệ giữa ông với anh
Ba hồi ấy. Ông nói:
"Lúc còn trẻ, tôi đi vòng quanh thế giới làm nghề nấu bếp ở trên
tàu. Tôi kiếm được rất nhiều tiền. Nhưng tôi không gửi một xu nhỏ về
cho gia đình. Tôi chạy theo một cô gái nhảy, có bao nhiêu nó nướng
hết.
Tôi đi nhiều, nhưng tôi không thấy gì, không học gì. Tôi hoàn toàn
dốt đặc, không biết đọc, chẳng biết viết. Một lần đi trên một chiếc tàu
nhỏ chở hàng, tôi có người bạn đồng hương trẻ tuổi, tên là Ba. Sau
những giờ làm việc, anh Ba viết và đọc sách. Chính anh đã khuyên tôi
học chữ quốc ngữ. Anh Ba có một lối thuyết phục người rất giỏi. Nhờ
những lời khuyên bảo và sự giúp đỡ của anh Ba, tôi trở nên một
người khá.
Chiếc tàu nhỏ rời Ha–vơ–rơ. Đỗ lại ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,
An Giê Ri, Tuy Ni Di và những cửa bể Đông châu Phi cho đến Công
Gô. Đến đâu anh Ba cũng để ý xem xét. Mỗi lần tàu cập bến, thế nào
anh Ba cũng kiếm cách đi thăm thành phố. Khi trở về, anh có những

ảnh và những hộp diêm đầy túi. Anh thích thu thập những thứ ấy.
Đến Đa–ca, biển nổi sóng rất dữ. Tàu không thể vào bờ. Cũng
không thể thả ca–nô xuống vì sóng rất to. Để liên lạc với tàu, bọn
Pháp trên bờ bắt những người da đen Pháp phải bơi ra chiếc tàu.
Một, hai, ba, bốn người da đen nhảy xuống nước. Người này đến
người kia, họ bị sóng biển cuốn đi.
Cảnh tượng ấy mọi người coi là thường. Nhưng điều đó làm cho
anh Ba hết sức cảm động, anh khóc. Ngạc nhiên, tôi hỏi tại sao? Anh
Ba buồn rầu trả lời tôi:
“Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt. Song những người
Pháp thực dân rất hung ác, vô nhân đạo. Ở đâu chúng nó cũng thế. Ở
ta, tôi cũng thấy chuyện như thế xảy ra ở Phan Rang. Bọn Pháp cười
sặc sụa trong khi đồng bào ta chết đuối vì chúng nó. Đối với bọn thực
dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không
đáng một xu.”
Chiếc tàu của chúng tôi chở rượu ngon của Boóc–đô và An–giê–ri
cho những thuộc địa khác. Tất cả mọi người trên tàu dùng rượu đó. Vì
rượu rất nhiều. Tôi đã trông thấy nhiều thủy thủ say rượu suốt chuyến
tàu. Chỉ cần dùi một lỗ nhỏ vào thùng rượu, ấn một ống cao su nhỏ
vào đấy, hút thật mạnh để đầu ống kia vào một cái chai. Và như thế
tha hồ mà uống. Nhưng anh Ba không bao giờ uống rượu và khuyên
tôi không nên làm như thế.
Anh Ba rất tốt với mọi người và không bao giờ cãi cọ với ai. Nhưng
anh Ba hơi khác thường. Mỗi ngày, anh dậy thật sớm để xem mặt trời
mọc. Và trong những đêm trăng, anh hầu như không ngủ, anh đi đi lại
lại trên tàu, ngắm trời ngắm bể. Chúng tôi đậu lại ở Tê–nê–rít–pho
vào lúc hoàng hôn, biển lặng sóng, hòn đảo giống như một cái chụp
đèn khổng lồ để trên mặt biển, phía trên lóng lánh, phía dưới xanh
xanh. Chỉ có thế thôi, mà anh Ba ngây người. Anh nhắc đi nhắc lại:
"Bốn, anh nhìn kìa! Đẹp quá! Hùng vĩ quá!"
Đến lúc trở về Ha–vơ–rơ, nhớ lời khuyên của anh Ba, tôi không
đến thăm cô gái nhảy nữa. Tôi còn đi một vài chuyến, dành được ít
tiền thì tôi trở về nước, mở một cửa hàng nhỏ, và lấy vợ. Nghĩ đến
tình bạn giữa chúng tôi, tôi đã đặt tên cho đứa con đầu lòng của tôi là
Ba, điều đó làm cho những người chung quanh lấy làm lạ. Việc đó
cách đây đã ba mươi năm. Ngày giờ đi chóng quá."

Ông Bốn ngừng lại. Tôi hỏi tiếp:
"Thế còng ông bạn Ba của ông, sau đấy đi đâu?"
"Ba cũng rời chiếc tàu, nói là đi Anh".
"Tại sao đi Anh?"
"Ba nói để học tiếng Anh".
"Thế ông có được tin tức của anh Ba không?"
"Có, hai ba lần gì đấy, anh Ba kể cho tôi nghe đã gặp ở Luân Đôn
một người đồng hương tên là Nam".
"Ông có biết ông Nam không?"
"Có, hầu hết chúng tôi biết nhau, vì chúng tôi đều ở cả trong tổ
chức".
"Tổ chức gì?"
"Trước kia là một hội kín, nhưng từ khi nước ta độc lập thì công
khai. Chính là công đoàn hải ngoại".
"Và từ bấy đến nay, anh Ba ấy không viết thư cho ông sao?"
"Rất tiếc là không. Vài năm sau, nghĩa là sau đại chiến Thứ nhất,
thỉnh thoảng một ông bạn lại đến nhà tôi đem theo một gói to tướng
sách báo và nói với tôi: "Ông Ba nhờ ông giữ hộ những thứ này, trong
vài ngày một người bạn tên là X. Sẽ đến lấy". Cứ thế kéo dài trong
mấy năm. Nhưng từ khi cửa hàng của tôi bị người Pháp khám xét thì
không thấy anh Ba gửi nữa. Được gặp anh Ba, thì nếu mất nửa gia
tài, tôi cũng vui lòng".
Ông Thanh, thư ký công đoàn thủy thủ Vinh, giới thiệu tôi với ông
Nam. Sau khi chào hỏi, tôi đi ngay vào câu chuyện về anh Ba.
Ông Nam là một người làm bánh rán có tiếng trong thành phố. Ông
ta ở trong Ban Chấp hành Công đoàn cứu quốc hải ngoại. Ông có
năm người con trai, hai người đi bộ đội và hai người vào tự vệ; người
con thứ năm học ở trường đại học Hà Nội; cô Nam, con gái trẻ đẹp 18
xuân xanh và con út của ông bà Nam làm cứu thương.
Ông Nam kể:
"Trước tôi làm việc ở tiệm ăn Các–lơ–tông, một tiệm sang có tiếng
ở Luân Đôn. Người làm bếp độ trăm người đủ các hạng. Có cả người
Pháp, người Anh, người Đức, người Nga, người châu Á và tôi người

Việt Nam. Chính ông Ét-cốp-phi-e, ông vua đầu bếp, được huân
chương danh dự, điều khiển nhà bếp. Về ông Ét-cốt-phi-e, có một
chuyện đáng kể lại: Tài nấu bếp của ông ta, thế giới đều biết. Những
chủ quán lớn nhất trên thế giới trả tiền rất nhiều để mời ông ta làm
chủ bếp. Khi có những yến tiệc lớn, người ta mời ông đến làm thức
ăn và điều khiển nhà bếp. Lần vua Đức sang thăm Luân Đôn, vua
Anh mời ông Ét-cốt-phi-e phụ trách bữa tiệc. Và tất nhiên với một số
lương rất hậu. Ông già Ét-cốt-phi-e kiêu hãnh trả lời: "Tôi là người
Pháp. Tôi không nấu cho kẻ thù của dân tộc tôi".
"Vâng, bây giờ chúng ta nói chuyện anh Ba. Vào khoảng một năm
trước đại chiến, một hôm, tôi gặp ở phòng lau chùi thìa, nĩa, một
người Á đông trẻ tuổi. Tôi không để ý đến anh ấy vì tôi tưởng anh ấy
là người Trung Quốc. Đến ngày thứ ba, chính anh ấy đến nói chuyện
với tôi bằng tiếng Việt Nam. Cố nhiên tôi rất sung sướng được gặp
một người đồng hương. Từ ngày ấy, chúng tôi trở nên đôi bạn thân.
"Ai đưa anh đến đây, đến nước Anh?" – Tôi hỏi anh Ba.
"Tôi đến đây một mình để học tiếng Anh".
"Hay đấy, nhưng tiếng Anh rất khó học. Đã hai năm tôi ở thành phố
này mà không biết hơn, ngoài hai chữ Yes và No (vâng và không)."
"Phải học chứ. Chúng ta sẽ cùng nhau học."
"Trước khi đến đây, anh làm ở đâu?"
"Hôm thứ nhất, tôi nhận việc cào tuyết trong một trường học. Một
công việc rất mệt nhọc. Mình mẩy tôi đẫm mồ hôi mà tay chân thì rét
cóng. Và cuốc được đống tuyết cũng rất khó khăn vì tuyết trơn. Sau
tám giờ làm công việc này, tôi mệt lử và đói bụng. Tôi đành phải bỏ
việc. Ông hiệu trưởng là một người tốt. Ông ấy trả cho tôi cả ngày làm
việc sáu đồng và vừa nói vừa cười: "Chính thế, công việc này quá
sức anh".
Hai ngày sau tôi tìm được một việc khác. Lần này thì phải đốt lò.
Từ năm giờ sáng, một người nữa với tôi chui xuống hầm để nhóm
lửa. Suốt ngày chúng tôi đổ than thay than trong lò. Ở đây thật đáng
sợ. Luôn luôn ở trong cảnh tranh tối tranh sáng. Tôi không biết người
ta làm cái gì ở tầng trên, vì không bao giờ tôi lên đấy. Người bạn tôi là
một người âm thầm, có lẽ anh ta câm. Suốt hai ngày làm việc, anh ta
không hề nói một tiếng. Anh vừa làm việc vừa hút thuốc. Khi nào anh

ta cần tôi làm việcviệc thì anh ta ra hiệu. Nhưng không nói một tiếng.
Trong hầm hết sức nóng, ngoài trời hết sức rét, và không có đủ quần
áo, tôi luôn bị cảm. Vì vậy, tôi nghỉ việc luôn hai tuần lễ. Với số tiền để
dành, tôi trả tiền phòng, tiền bơ và bánh mì, và sáu bài học chữ Anh.
Khi chỉ còn sáu hào nữa, tôi đến sở tìm việc ở Sô–hô, và người ta
đưa tôi đến đây".
Công việc làm từ tám giờ đến mười hai giờ và chiều từ năm giờ
đến mười giờ. Hàng ngày, buổi sáng sớm và buổi chiều, anh Ba ngồi
trong vườn hoa Hay–đơ (Hyde), tay cầm một quyển sách và một cái
bút chì. Hàng tuần vào ngày nghỉ, anh đi học tiếng Anh với một giáo
sư người Ý. Ba thường khuyên tôi nên học như Ba, nhưng tôi hết sức
lười, bây giờ tôi mới tiếc.
Mỗi ngày có một người dọn dẹp đồ đạc. Những người phục vụ,
sau khi dọn chỗ khách ăn, phải dọn bát đĩa bỏ tất cả chén bát và thức
ăn lẫn lộn vào trong một cái thang điện đưa xuống bếp. Lúc bấy giờ
người dọn dẹp phải để đồ đạc riêng một bên, bát đĩa để riêng một bên
để người ta đem đi rửa. Khi đến lượt anh Ba, anh làm rất cẩn thận.
Đáng lẽ vứt thức ăn thừa vào một cái thùng, đôi khi còn cả phần tư
con gà, những miếng bít-tết to tướng v.v. thì anh giữ gìn sạch sẽ và
đưa lại cho nhà bếp. Chú ý đến việc này, ông già Ét-cốp–phi–e hỏi
anh: "Tại sao anh không quẳng thức ăn thừa vào thùng, như những
người kia?"
"Không nên vứt đi. Ông có thể cho người nghèo những thứ ấy."
"Ông bạn trẻ của tôi ơi, anh nghe tôi.” Ông Ét-cốt–phi–e vừa nói
vừa cười và có vẻ bằng lòng. “Tạm thời anh hãy gác ý nghĩ cách
mạng của anh lại một bên, và tôi sẽ dạy cho anh cách làm bếp. Làm
ngon và anh sẽ được nhiều tiền. Anh bằng lòng chứ?"
Và ông Ét-cốt–phi–e không để cho anh Ba phải rửa bát nữa mà
đưa anh vào chỗ làm bánh, với một số lương cao hơn.
Thật là một việc lớn xảy ra trong nhà bếp, vì chính là lần đầu tiên
mà ông "vua bếp" làm như thế.
Anh Ba rất giàu tình cảm. Một hôm tôi gặp anh cầm tờ báo và chảy
nước mắt. Tôi hỏi anh vì sao buồn thế. Anh đưa cho tôi tờ báo và giải
thích: "Anh xem đây. Đây là tin tức ông thị trưởng Coóc (Cook), một
nhà đại ái quốc Ailen. Ông ta bị bắt và bị người Anh bỏ tù. Ông ta

tuyệt thực. Không những ông không ăn uống, mà còn không nói năng,
không cử động nữa. Ông nằm nghiêng một phía im lìm như thế hơn
bốn mươi ngày. Da thịt và áo quần phía ấy thối hết. Và ông chết, chết
vì tổ quốc. Can đảm biết bao! Dũng cảm biết bao! Một dân tộc có
những người như ông Coóc sẽ không bao giờ đầu hàng.
Chúng ta cũng thế, chúng ta ...
 
Gửi ý kiến

↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓