Nhà Văn Vũ Trọng Phụng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hạnh Phúc
Ngày gửi: 16h:39' 05-02-2023
Dung lượng: 248.0 KB
Số lượt tải: 7
Nguồn:
Người gửi: Hạnh Phúc
Ngày gửi: 16h:39' 05-02-2023
Dung lượng: 248.0 KB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích:
0 người
Nhà văn hiện đại (trích) - Vũ Ngọc Phan
(...) Vũ Trọng Phụng là một nhà văn sở trường về phóng sự dài (...) Những tập xuất sắc nhất
của ông là Kỹ nghệ lấy Tây và Cơm thầy cơm cô.
(...) Quyển Kỹ nghệ lấy Tây chỉ có giá trị ở những đoạn tả chân nho nhỏ, ở những sen đấu
khẩu, những sen đánh nhau, những sen gợi tình rất linh hoạt và rất tức cười của mấy cặp vợ
chồng. Ở những đoạn ấy, đôi khi người ta thấy một lối tả chân triệt để, làm cho người đọc có
cái cảm tưởng như thấy trước mắt một cảnh tượng bẩn thỉu, ghê gớm (chương III - Mày
không muốn nhận tao là chồng? trang 34 -Chương IX - Tư tưởng độc quyền, trang 112, vân
vân)
Cơm thầy cơm cô là một tập phóng sự về những kẻ làm tôi tớ. Tập này là một phóng sự hay
nhất của Vũ Trọng Phụng. Ngòi bút tả chân của ông thật là tuyệt xảo khi ông tả những cảnh
nghèo khổ. (...) Trong tập phóng sự này, họ Vũ tự đóng một vai đứa ở, cũng như Tam Lang
đã tự nhận mình là một chân xe hàng. Nhờ đóng một vai đứa ở, nên cái việc kháo chuyện chủ
nhà với bọn “cơm thầy cơm cô” hóa ra một chuyện dễ, và cũng nhờ đấy, câu chuyện hóa ra
đằm thắm, thân mật, như những chuyện nói xấu chủ nhà của anh chàng Gil Blas. Nhà này chủ
ác nghiệt, nhà kia chủ có con gái hư, nhà kia ông chủ biển lận. Thật không bao giờ hết
chuyện. Tác giả có thể viết dài nữa về chỗ đứa ở kháo chuyện chủ nhà, nhưng tác giả đã muốn
dè dặt, có lẽ vì chính mình cũng là... một ông chủ.
Chương VII (Bi hài kịch) trong quyển Cơm thầy cơm cô là một chương tuyệt hay. Vui buồn,
đủ cả, linh hoạt vô cùng và cũng thảm thiết vô cùng. Đây là mấy điệu chèo cổ, rồi kia là đám
thính giả nheo nhóc và khốn nạn, rồi nào cái cảnh thảm thương của con sen động kinh, câu
chuyện của anh đầu trọc, của thằng bé ho lao, của bà cụ già, rồi lại chuyện lính mật thám đến
bắt, thật là đủ cách, đủ trò, việc dồn dập một cách tuần tự và mạnh mẽ. Chỉ mười một trang
giấy mà biết bao tình nhân loại, biết bao nỗi thương tâm (...)
Lục sì là một cuộc điều tra về nạn mãi dâm ở Hà Nội, hay là một thiên nghị luận về nghề mãi
dâm theo những giấy tờ của chính phủ thì đúng hơn là một thiên phóng sự.
Cuộc điều tra này lại chỉ ở trong phạm vi đề phòng cứu chữa và trừng trị, nên tác giả chọn hai
chữ “Lục sì” làm nhan quyển sách. Nhà Lục sì ở Hà Nội, theo ý tác giả, tuy là nơi chữa thí,
nơi dạy dỗ không lấy tiền cho vài trăm “gái có giấy” nhưng nhà ấy đành chịu bó tay trước
hàng bốn năm nghìn “gái” đi ngang về tắt. (...)
Cây bút của Vũ Trọng Phụng trong những năm đầu là một cây bút phóng sự, một cây bút
phóng sự sắc sảo và khôn ngoan, sau ông luyện ra nó một cây bút tiểu thuyết, nhưng cái giọng
phóng sự vẫn còn.
(...) Khi Giông tố của Vũ Trọng Phụng mới ra đời với cái nhan đề cũ là Thị Mịch, (...) người
ta bảo: tiểu thuyết ấy chỉ hay ở chỗ gợi lòng dâm dục (...) Những lời phê bình nghiêm khắc
của người ta hồi đó đã gợi tính tò mò của tôi, làm cho tôi phải tìm tập tiểu thuyết của Vũ
Trọng Phụng mà đọc. Cái đoạn tôi đọc hồi đó là đoạn Thị Mịch đã về nhà riêng Nghị Hách,
đã bị lão bỏ lửng, mặc nàng ôm bụng chửa mà buồn rầu tựa cửa sổ, đứng nhìn trên gác xuống
đường. Rồi từ một cô gái thơ ngây, Mịch đã hóa ra một người đàn bà oán giận, muốn tưởng
tượng cho mình một cảnh gian díu với những khách qua đường để báo thù lại kẻ đã đầy đọa
tấm thân mình.
Cái đoạn ấy là một đoạn thật hay. Trước khi đưa ta đến cái việc sắp xảy ra (việc Mịch hiến
thân cho Long), tác giả đã mở bộ óc của Mịch cho ta trông thấy, chẳng khác nào một người
thợ mở cho ta xem các bánh xe và ống dẫn hơi nước, trước khi chỉ cho ta thấy cái động cơ ở
ngoài.
Đến khi quyển Giông tố ra đời, tôi đã đọc từ đầu đến cuối và thấy cái đoạn tôi vừa kể, tác giả
là một đồ đệ của Freud. Tác giả tả Thị Mịch một cách vừa giản dị, vừa tỷ mỷ. Một cô gái quê
khỏe mạnh, vốn nhà nghèo, đã “biết mùi đời” trong một chiếc xe hòm kín đáo, bây giờ lại sa
vào cảnh nhàn hạ và phong lưu, cái cảnh làm cho khối óc non nớt dễ mơ tưởng đến những
điều dâm dục. Freud chả ví tình dục của người ta với một sự đói khát ăn uống là gì? Thị Mịch
chính là kẻ đói khát về đường tình đó.
Nhưng chỉ có riêng về đoạn ấy, không đủ rõ cái giá trị của Giông tố. Quyển tiểu thuyết của
Vũ Trọng Phụng làm cho người ta thấy rõ ảnh hưởng mạnh mẽ của hoàn cảnh là nhường nào!
Vì hoàn cảnh gia đình, vì hoàn cảnh xã hội, hai kẻ vốn tính hiền lành và ngay thẳng như Mịch
và Long, rút cục đã trở nên người đàn bà bất chính và một thiếu niên hư hỏng. Ấy là chưa kể
Long là một kẻ đau khổ nhất vì hoàn cảnh... Đọc chuyện Vũ Trọng Phụng người ta thấy mọi
việc liên tiếp một cách rất tự nhiên. Đó là tất cả cái tài dàn cảnh của tác giả.
Tác giả lập chuyện rất khéo, từ cái xã hội “xôi thịt” mục nát ở thôn quê, đến cái xã hội “sâm
banh xì gà” ở thành thị, từ cái óc bủn xỉn của anh đồ kiết cho đến cái thói hoang tàn của anh
trọc phú, ta thấy đầy những ngu dốt, mê tín, bất công, mà vai trò nào cũng đều có mặt. Cái vai
Long tôi đã cho là không được tự nhiên trong khi chưa đọc hết chuyện, nhưng trong mấy đoạn
cuối, tác giả làm cho chàng hóa ra một kẻ chơi bời, không thiết đến gia đình, rồi sau đến phải
tự tử. Một kẻ vốn lương thiện, vốn đạo đức như Long mà phải ở vào cái cảnh đáng ghét như
thế, đành mặc việc đời xô đẩy mình một cách bất ngờ như thế, nếu chẳng chơi bời thì sống
làm sao được. Cái lúc chàng tỉnh mộng là lúc chàng quyên sinh.
Giông tố là một tiểu thuyết đúc trong một luân lý sâu xa trên một nền gia đình và xã hội thật
đầy đủ. Ta chả thấy đủ các vai trong gia đình là gì? Rồi ngoài xã hội ta thấy một vị quan ngay
thẳng, một tay mọt dân nhảy lên đến tột bậc trong quan trường, một thiếu niên trí thức, vài cô
thiếu nữ tân thời với cái thói đua chen dí dỏm, một thằng con bán trời không văn tự, những
cảnh trụy lạc trong làng bẹp, trong xóm yên hoa, một tay “cách mệnh”, một lũ dân đen, một
nhóm thợ thuyền, ấy là chưa kể Thị Mịch, Long và nghị Hách, những kẻ có thể làm tiêu biểu
cho nhiều người trong xã hội.
Ngoài bìa quyển sách, tác giả đề là “Xã hội tiểu thuyết”. Nhưng nếu theo ý kiến của các nhà
phê bình Âu tây thì “xã hội tiểu thuyết” là loại thiểu thuyết viết rặt về cảnh lầm than, vất vả
của thợ thuyền và dân quê. Giông tố không phải tiểu thuyết loại ấy. Nó chỉ là một tập tiểu
thuyết về phong tục thôi.
Những nhân vật trong tiểu thuyết Giông tố đáng lý ra nhiều chỗ phải được tả bằng những nét
bút não nùng cho hợp với cảnh thê lương của họ, thì lại hiện dưới những nét bút sắc sảo quá,
dưới những nét phóng sự mà chủ ý gây cho người đọc mối căm hờn đối với những sự bất
công. Về đường nghệ thuật, có lẽ chỗ ấy là chỗ sút kém trong Giông tố.
Nhưng nếu xét một cách tương đối, quyển Giông tố cũng đáng kể vào số tiểu thuyết có giá trị
của chúng ta ngày nay.
Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là một quyển tiếu thuyết hoạt kê nhưng một lối hoạt kê không lấy
gì làm cao cho lắm.
“Xuân tóc đỏ”, một gã nhặt banh ở sân quần chỉ nhờ ở sự may mắn, ở “số đỏ” mà thấm thoắt
từ phận một gã lang thang trở nên một tay đắc lực cho một hiệu may tân thời, rồi dần dần
đóng vai “đốc tờ”, đóng vai diễn giả, đứng lên cải cách Phật giáo, rồi trở nên một tay cứu
quốc, một bậc vĩ nhân!
Có ai tưởng tượng được rằng trong một cuộc tranh đấu quần vợt của tuyển thủ hai nước, nếu
tuyển thủ của nước mình giữ phần thắng thì nước kia sẽ khai chiến với nước mình không? Ấy
Vũ Trọng Phụng đã tưởng tượng được như thế. Cái lối khôi hài của ông trong Số đỏ là cái lối
khôi hài nông nổi, tuy nhạo đời, nhưng không căn cứ. Nó giông như lối khôi hài ở một rạp
chèo, hay “văn minh” hơn, nó giống lối khôi hài của mấy vai hề trên màn bạc.
Đọc Số đỏ không ai nhịn được cười, người ta cũng phải cười như nghe mấy vai bông lơn
trong một đám chèo hay xem mấy tay tài tử pha trò trong một phim chớp bóng, nhưng không
phải cái cười thú vị và thấm thía như ta đọc hài kịch của Molière.
Những đoạn tức cười như đoạn các nhân viên sở Cẩm phạt lẫn nhau, đoạn Xuân chữa thuốc
cho cụ Cố, đoạn Xuân ứng khẩu một bài thơ, đoạn Xuân nhét những tờ giấy nguy hiểm vài túi
quần hai nhà vô địch tennit để rồi giữ giải quán quân, đều là những đoạn nông nổi, tuy làm
cho người ta phải cười, nhưng chỉ có một lần thôi, vì nó là những việc không “đứng” được.
Trong Số đỏ cũng như trong những tiểu thuyết khác của Vũ Trọng Phụng, tác giả tin ở thuyết
tình dục quá, sự tin ấy đôi khi đàn áp cả mọi xét đoán của ông, làm cho mỗi khi gặp một “ca”
khó hiểu, ông lại đem thuyết ấy ra giải quyết.
(...) Cái thuyết của Freud không phải hoàn toàn đúng cả, vậy nếu lại tin ở thuyết tình dục một
cách thiên vị, không khỏi có sự sai lầm.
Riêng về mặt tả chân, ngòi bút của Vũ Trọng Phụng thật tuyệt. Có những sen con con, ông tả
khéo vô cùng. Đây là một gã nhặt banh ở sân quần đùa cợt nhả với một chị hàng mía: (...)
Những sen khác như sen bà Phó Đoan xem tướng, sen Xuân đưa Tuyết vào nhà bà Phó Đoan
một buổi sớm và tiếp đến sen cưỡng bức đều là những sen tả rất đúng. Có thể coi là những sen
tả chân triệt để.
Nhưng đọc quyển Số đỏ người ta thấy tư tưởng gì của tác giả? - Tư tưởng thủ cựu. Trong cả
quyển sách, những chỗ nhạo cái mới, chế giễu những phong trào cấp tiến đều đầy dẫy. Ông
nhạo báng, chế giễu một cách hằn học những cái mới, những cái mà người đời cho là tiến bộ,
nhưng ông không hề đề xướng lên một luân lý nào nên theo cả. Trong quyển Số đỏ, ông là
một người “phản động”, cái tên mà những người “khuynh tả” thường dùng để chỉ những
người không đồng ý kiến với họ.
(...) Làm đĩ cũng là một tiểu thuyết mà Vũ Trọng Phụng dùng chủ nghĩa tình dục của Freud
làm nền tảng. Nhưng vì muốn hơn Giông tố một bực, nên ngoài sự phân tích ái tình mà tác giả
cho nó một nghĩa hẹp là dâm, tác giả muốn “tìm một nền luân lý cho sự dâm và giáo hóa cho
thiếu niên biết rõ tình dục là gì”(Thay lời tựa, Làm đĩ, trang 11). Trong khi đưa chúng ta vào
mấy bụi cây và phòng ngủ để nhìn cho rõ cái dâm của loài người với hết cả mọi sự suồng sã,
tác giả lại khoác áo nhà mô phạm và giảng giải cho chúng ta biết sự rùng rợn của những việc
về xác thịt. Như vậy, thật là khó, vì hai sự hành động ấy không đi đôi được với nhau. Vũ
Trọng Phụng có can đảm hô hào, nhưng ông không đạt tới mục đích. Muốn đem vấn đề “nam
nữ giao hợp giảng cho tuổi trẻ”, mà hạng tuổi trẻ này là hạng chín mười tuổi cho đến mười
lăm, mười sáu. Nhưng tôi dám chắc tác giả chỉ viết trên giấy thôi, chứ không bao giờ dám
thực hành.
Cái khuynh hướng quá thiên của ông về tính giáo dục làm cho quyển tiểu thuyết tả chân của
ông kém hẳn đi. Vì giảng giải một chuyện tình theo khoa học trong một quyển tiểu thuyết là
một việc nhà văn khó lòng làm được.
(...) Quyển Làm đĩ còn một cái nhược điểm này làm cho người đọc mất cả hứng thú, tác giả
đã dồn chứa đủ tất cả các việc làm cho Huyền nhất định phải sa vào vòng trụy lạc, không còn
sức gì để chống đỡ cả. Tác giả tả Huyền là một cô gái dâm dục, rồi từ chín tuổi trở đi, mỗi
ngày nàng một bị sa ngã, như bị lăn trên dốc xuống vực sâu, không còn bám bíu vào đâu
được: Nào hết gặp thằng Ngôn ranh mãnh trong lúc thơ ngây, đến gặo người anh họ đến trọ
học trong lúc gia đình suy đốn, đến lúc lấy chồng, chồng lại mắc sẵn bệnh giang mai đồng
thời chồng nàng lại có một người bạn rất lịch sự, đẹp trai vừa giàu tiền vừa giàu trí, rồi đến
lúc dan díu với bạn chồng và việc thông dâm vỡ lở, thì người bạn ấy lại bỏ đi phương khác,
làm cho nàng phải theo mà không gặp, đến nỗi tiền hết và phải hiến thân cho khách làng chơi
để sống qua ngày. Khi các ông thấy một vật gì lăn trên một dốc thẳng băng, không có một chỗ
nào mấp mô hay quanh co ngăn cản, tất nhiên các ông đoán ngay rằng thế nào nó cũng lăn
tuột xuống hố. Vậy đọc quyển Làm đĩ cũng thế, đến đoạn Huyền lấy phải anh chồng có sẵn
bệnh giang mai và gần nàng lại có thêm anh chàng đẹp trai và sang trọng, người ta cũng đoán
chắc đời Huyền sẽ kết liễu như thế nào. Thành ra năm mươi trang gần như thừa.
Có một đoạn làm cho khi mới đọc, người ta phải cảm động, đó là đoạn Huyền bị chồng hành
hạ và biết hối quá. Nhưng xét cho kỹ, một kẻ tội nhân bị xích chân và bị cùm kẹp, rồi mới
chịu đi đập đá thì cũng không lấy gì làm lạ.
Thật ra Huyền chỉ là một “ca” đặc biệt. Nếu căn cứ hết cả vào Huyền để giảng giải cái dục
tình chung của tất cả các phụ nữ thì rất sai. Vì không thể căn cứ vào một việc đặc biệt để rút
lấy một phương pháp giáo dục chung được. Vả lại, vệc giáo dục con gái ở như sự gìn giữ họ,
chứ không phải ở như sự giảng giải cho họ biết việc nam nữ giao hợp. Đến thời kỳ biết họ sẽ
biết, cái biết do ở bản năng, như tôi đã nói trên. Theo sự xét nhận của các nhà giáo dục, nếu
giữ gìn cho người đàn bà được đến năm 25-26 tuổi - sự gìn giữ này phải là sự gìn giữ âu yếm
của người mẹ hay người chồng - thì không còn lo ngại mấy, vì tuổi này là tuổi thành nhân của
đàn bà.
Cũng như những quyển khác của Vũ Trọng Phụng, quyển Làm đĩ cũng có những đoạn tả
người tả cảnh thú vị, tỏ ra tác giả là một người lịch duyệt việc đời, đã từng băn khoăn về
những điều trông thấy (...)
*
Người ta bảo những người ngực yếu phần nhiều là những người dâm dục. Vũ Trọng Phụng
cũng thuộc về cái “ca” ấy. Trong tất cả các văn phẩm của ông, dù là phóng sự hay tiểu thuyết,
bao giờ ông cũng bị ý tưởng dâm dục ám ảnh. Từ Kỹ nghệ lấy Tây cho đến Lấy nhau vì tình,
không một phóng sự nào không một tiểu thuyết nào của ông là không có những chuyện hiếp
dâm với những ảnh hưởng tai hại của nó. Ông tin ở chủ nghĩa tính dục một cách thái quá và
tưởng rằng bất kỳ việc gì ở đời cũng có thể đem chủ nghĩa ấy ra giảng giải: bởi thế cho nên
nhiều khi xét đoán rất sai lầm.
Người ta sở dĩ ham đọc văn ông là vì ngọn bút tả chân của ông. Ngọn bút ấy thật là sắc sảo,
nó tả như vẽ, chỉ vài ba nét người ta đã hình dung được những cảnh vật mà tác giả định tả với
những màu sắc linh động vô cùng. Nếu chỉ đứng về mặt tả chân đừng xen lẫn những ý kiến về
luân lý, về giáo dục vào, có lẽ tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng sẽ là những tập văn rất giá trị.
Nhưng ông đã đi lạc đường và ông đã sớm khuất, không kịp trông cậy vào thời gian để sửa
chữa.
Về phóng sự, những sự bừa bãi, những điều giảng giải nhiều khi có thể tha thứ, nên về phóng
sự ông thành công hơn là về tiểu thuyết.
Tuy đời văn của ông ngắn ngủi (ông mất chưa đầy ba mươi tuổi) nhưng ông đã để lại một lối
văn riêng, gây nên được nhiều đồ đệ, trong số đó có người gần được như thầy.
Ông là một người không ưa những sự đổi mới, những tư tưởng cấp tiến, nhưng ông cũng
không phải người xu nịnh kẻ quyền quý hay tán dương những sự giàu sang. Ông là một nhà
văn không thiên về chính trị và không thuộc một đảng phái nào. Bảo ông có óc bảo thủ, cũng
khí quá, vì thật ra ông chỉ ưa những sự phải chăng. Đối với giàu sang, ông thường hằn học,
thường tả bằng nét bút căm hờn, đối với những cái ngu dại, kém hèn của hạng bình dân, ông
thường tả bằng những nét bút tai ác, tàn nhẫn, vậy ai có thể bảo ông có óc bình dân hay quý
phái được? Ông chỉ theo lương chi mà viết, đôi khi theo cả bản năng mà viết nữa, nên có lúc
thì rất hợp lẽ phải và có lúc thật là thiên vị, làm cho người đọc phải ngạc nhiên.
Người ta ham độc ông còn vì những tư tưởng trào lộng của ông nữa. Ông mỉa đời một cách
cay độc, coi đời như một trò múa rối và điều thú vị là ông biết chính mình cũng phải đóng
một vai trò như tất cả mọi người.
Về phần ông, tấn tuồng đã xong rồi (1), ông có thể hoàn toàn sung sướng, vì cái vai trò về
đường trí thức và tinh thần của ông, tuy ông đóng không bền, mà đã lỗi lạc hơn nhiều người
múa may từ lâu trên sân khấu.
-------(1) La farce est jouée - Rábelais
Trích sách NHÀ VĂN HIỆN ĐẠI. Quyển ba.
Nxb. Tân Dân, 1942.
Vũ Trọng Phụng - con người và tác phẩm, Nguyễn Hoàng Khung - Lại Nguyên Ân sưu tầm
và biên soạn, Nxb. Hội Nhà văn, H., 1994., tr. 140-150.
Vũ Trọng Phụng bàn về phóng sự và tiểu thuyết tả chân - Nguyễn Ngọc Thiện
Trong vài ba thập niên đầu thế kỷ XX, trong xu thế tìm đường hiện đại hóa văn xuôi chữ quốc
ngữ, các thể tài tiểu thuyết, phóng sự được một số nhà văn dụng bút thể nghiệm. Bước vào
làng văn bằng truyện ngắn đăng báo từ năm 1931, qua đời ở tuổi 27 với cuốn tiểu thuyết còn
dang dở, những tác phẩm tiêu biểu của văn nghiệp Vũ Trọng Phụng thuộc về 2 thể tài tiểu
thuyết và phóng sự tả chân: ông để lại 9 cuốn tiểu thuyết và 7 tập phóng sự.
Tác phẩm gây sự chú ý của dư luận đương thời đối với Vũ Trọng Phụng là phóng sự đầu tay
Cạm bẫy người - ký bút danh Thiên Hư, đăng trên báo Nhật Tân, xuất bản tại Hà Nội, từ số 1
(02/08/1933) đến số 14 (01/11/1933). Năm sau, cũng trên báo này, ông lại cho in thêm phóng
sự thứ hai Kỹ nghệ lấy Tây (từ số 69 - 5/12/1934). Và chỉ với 2 phóng sự này, cùng cây bút
đàn anh đi trước Tam Lang Vũ Đình Chí và nhà văn đồng trang lứa Vũ Bằng, ông được liệt
vào hàng vài ba “nhà văn mở đầu cho nghề phóng sự của nước ta” (Lê Tràng Kiều - Văn học
tạp chí, số 4/1935). Đặc biệt, ông được Mai Xuân Nhân tôn vinh là “ông vua phóng sự của đất
Bắc” (dẫn theo Việt Trung, tập san Nghiên cứu văn học, số 5/1960). Danh hiệu này sau được
nhiều người tán thành, gọi theo, vì quả thực xưng tụng như vậy là xứng đáng với văn tài nhà
văn trẻ.
Mãi đến năm 1934, Vũ Trọng Phụng mới cho ra mắt cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tay Dứt tình
(còn có tên khác là Bởi không duyên kiếp) đăng trên tờ Hải Phòng tuần báo. Với tiểu thuyết
này, ông chứng tỏ là “ngòi bút tả chân thực đã khéo léo” và tác phẩm có thể coi là “một bức
tranh... phỏng theo sự thực của cuộc đời, không tô điểm cho đẹp thêm, cũng không bôi nhọ
cho xấu đi” (Tràng An).
Song, sang năm 1936, ngòi bút tiểu thuyết của ông nở rộ, đạt kỷ lục xuất sắc: chỉ trong vòng 1
năm, 4 cuốn tiểu thuyết được lần lượt xuất hiện trên báo, thu hút sự tìm đọc của công chúng.
Đó là Giông tố (trên Hà Nội báo từ số 1 - 01/01/1936); rồi Số đỏ (cũng trên Hà Nội báo, từ số
40, 7/10/1936). Tiếp đó là Vỡ đê (trên báo Tương lai, từ số ngày 27/09/1936) rồi đến Làm đĩ
(đăng trên Sông Hương, phát hành tại Huế năm 1936).
Với những phóng sự, tiểu thuyết nói trên, tên tuổi của Vũ Trọng Phụng đã trở nên quen biết
với người đọc. Ông xác lập chỗ đứng chắc chắn trong làng văn, chiếm được cảm tình của
đông đảo bạn đọc. Một cây bút đương thời không ngần ngại xem ông là “một tay thiện nghệ
trong văn tả thực” (Lê Tràng Kiều). Nhà văn Phùng Tất Đắc khen ngợi Vũ Trọng Phụng đã có
“những công trình có thể vạch phương hướng cho văn nghệ... góp được tài liệu cho đời sau
khảo sát về buổi này”.
Bên cạnh đó cũng có không ít ý kiến chê bai, phản bác Vũ Trọng Phụng về các tác phẩm nói
trên. Từ năm 1936 đến khi Vũ Trọng Phụng qua đời năm 1939, đã nổ ra cuộc tranh luận
chung quanh vấn đề “Dâm hay không Dâm” trong phóng sự, tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng.
Đối thoại, đáp lại những ý kiến nhằm vào công kích ông và tác phẩm của ông, Vũ Trọng
Phụng đã có dịp thẳng thắn, công khai trình bày quan điểm nghệ thuật của mình, về động cơ
và mục đích của lối viết tả chân mà ông đã thực thi trong sáng tác. Tất cả gom lại khoảng ngót
chục bài báo gồm: thư ngỏ gửi Thái Phỉ; thư ngỏ cho một độc giả; đáp lại bài của Nhất Chi
Mai; bác lại ý kiến của báo Phong hóa, báo Ngày nay; trả lời phỏng vấn của Lê Thanh về 2
tiểu thuyết Giông tố, Làm đĩ; bài thay lời tựa cho tiểu thuyết Làm đĩ khi in thành sách; những
lời giới thiệu phê bình cuốn tiểu thuyết mới Tắt đèn của Ngô Tất Tố... Ngoài ra cũng cần kể
thêm vào đó những bài lược dịch của Vũ Trọng Phụng về các ý kiến của các nhà văn, nhà thơ
nước ngoài như G. Maupassant, J. Richepin, A. de Vigny; bài viết của ông về đặc tính của
kịch lãng mạn cũng như câu chuyện ông kể về một nhà văn sĩ vô danh đã sáng tác như thế
nào... đăng trên báo những năm 1931-1932. Qua đó, chúng ta có thể hiểu sâu hơn, từ ngọn
nguồn nào đã khiến ông có lập trường rõ ràng, dứt khoát và quyết liệt khi tranh luận, đụng
chạm trực tiếp sau này.
1. Vũ Trọng Phụng lược thuật ý kiến của các nhà văn hiện thực G. Maupassant, J. Richepin,
qua đó bộc lộ thiên hướng sáng tác văn tả chân và tư cách nhà văn xã hội
Những năm đầu bước vào làng văn, thể nghiệm các sáng tác đầu tay ở thể tài truyện ngắn và
kịch, Vũ Trọng Phụng đã bộc lộ khuynh hướng tìm đến với chủ nghĩa hiện thực, có cảm tình
với các nhà văn tả chân xã hội. Ông tìm đọc họ, lược dịch để truyền bá quan điểm, tư tưởng
nghệ thuật của các nhà văn phương Tây thuộc trào lưu hiện thực phê phán (thế kỷ trước hoặc
đương thời) như G. Maupassant, J. Richepin... Qua đó ông gián tiếp bộc lộ khuynh hướng
sáng tác của mình cùng đồng nhất với các nhà văn này. Từ ý kiến của các nhà văn nói trên,
Vũ Trọng Phụng tập trung nhấn mạnh các khía cạnh mà theo ông là chủ yếu đối với nhà văn
tả chân:
- “Chỉ tả sự thực, toàn một giống thực”. Nhưng sự thực ở đời và sự thực trong sách là có
khoảng cách, không giống nhau hoàn toàn. “Đó là những sự thực có ý vị, chớ chẳng cốt nêu
cái thực hoàn toàn”.
- Nhà văn tả chân phải là người từng trải cuộc đời, chú mục phơi bày những cảnh đời bình dị,
những con người bình thường. Tác phẩm của họ cần phô diễn tính tình và hành động của các
hạng người sao cho sinh động, thanh thoát, tự nhiên. Qua sự cảm nhận và kinh lịch của mình,
nhà văn tả chân giúp người đọc tỏ tường các mặt thực của đời, chiều sâu của đời sống xã hội,
sự phồn tạp trong hoạt động tinh thần, tâm - sinh lý của các hạng người đời.
- Không thể kết án nhà văn tả chân khi họ miêu tả những thói xấu của xã hội, những cái đê
tiện của người đời và gọi chúng bằng tên thật của nó. Nhà văn tả chân dũng cảm đối diện với
sự thật, dù nó tàn nhẫn, khắc nghiệt, trái với sự mong đợi của mình. Anh ta khi viết không đổi
trắng ra đen, không che đậy hoặc huyễn hoặc lừa mình, dối người, cũng không cốt làm hại
đến luân lý, phong hóa cần được tôn trọng. Viết trung thực, có sao nói vậy, không thêm bớt,
tô điểm, vẽ vời, tức là tôn trọng người đọc, nêu cao tinh thần khoa học, để có thể khám phá
chân lý cuộc sống. Khuynh hướng tả chân như vậy là phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã
hội, đáp ứng đòi hỏi của người đọc trong một thế giới văn minh, hiện đại (1).
2. Quan điểm của Vũ Trọng Phụng trong tranh luận “Dâm hay không Dâm”.
Cuộc tranh luận từ lúc mở đầu đến lúc kết thúc, kéo dài trong 3 năm, từ cuối năm 1936 đến
cuối 1939.
Chính Thái Phỉ, chủ bút báo Tin văn, trên số báo 25 ra ngày 01/09/1936 là người châm ngòi
cho cuộc tranh luận qua bài Văn chương dâm uế. Trong bài này, ông không nhằm vào cá nhân
Vũ Trọng Phụng, người mà ông vẫn quý mến văn tài. Ông chỉ muốn gióng lên hồi chuông
cảnh báo một khuynh hướng văn chương nguy hại tả cái dâm uế một cách quá táo bạo, khó
coi, trần truồng hết sức gây phản cảm trong độc giả. Ông gọi đó là thứ “văn chương dâm uế”
không có tính nghệ thuật cần có.
Thái Phỉ không hẹp hòi đối với việc lấy dâm uế, sự xấu xa bẩn thỉu làm đối tượng miêu tả của
văn chương. Ông chỉ phản đối cách miêu tả những cái đó một cách quá đà, quá mức đến lõa
lồ, sống sượng cốt đánh vào cân não người đọc mà không chú trọng đến mục đích cao đẹp
hoàn toàn của nghệ thuật lành mạnh. Ở đây Thái Phỉ đã chú ý phân biệt cái mà ngày nay
chúng ta gọi là đối tượng miêu tả, động cơ và hiệu quả của tác phẩm trong đời sống xã hội,
trong sự tiếp nhận của công chúng.
Phải nhận rằng bài viết này của Thái Phỉ tuy sơ sài, nhưng quan điểm là đúng mực, có tính
chất xây dựng, không có ý định gì công kích tác phẩm của họ Vũ, hoặc biểu lộ “cái lòng
không thành thực” của ông đối với Vũ Trọng Phụng, như sau đó Vũ Trọng Phụng ngộ nhận
(2).
Chính Thái Phỉ, cách đấy 2 năm trên Ngọ báo đã có bài khen ngợi thành công của Vũ Trọng
Phụng với phóng sự Cạm bẫy người. Ông thực lòng khen họ Vũ đã có một tác phẩm “có giá
trị về phương diện khảo chứng (documentation) cũng như về phương diện văn chương”. Cạm
bẫy người được viết một cách có nghệ thuật, có “sức cám dỗ người đọc” với mục đích chính
đáng là phê phán, “lật tẩy” hiện tượng xã hội xấu xa là cờ bạc bịp. Giọng trào phúng mát mẻ
của Vũ Trọng Phụng được coi là thích hợp. Thái Phỉ cũng đã rất tinh khi nhận ra khuynh
hướng tả chân mà họ Vũ theo gót các bậc thầy như G. Maupassant, G. Flaubert, đồng thời ông
cũng dè chừng lối viết mà theo ông dễ bị quy là tính chất khiêu dâm trên những truyện ngắn
đầu tay của Vũ Trọng Phụng.
Bởi vậy, người đọc lấy làm ngạc nhiên khi thấy Vũ Trọng Phụng phản ứng gay gắt với Thái
Phỉ qua bài Thư ngỏ cho ông Thái Phỉ, chủ bút báo Tin văn về bài “Văn chương dâm uế”
đăng trên Hà Nội báo số 38 ngày 23/09/1936. Phải chăng bài của Thái Phỉ chỉ là cái cớ để Vũ
Trọng Phụng nói cho đã, cho hả, công khai đối lập quan điểm với những người khác vì đố kỵ,
vì muốn tranh độc giả mà châm chọc ông?
Vũ Trọng Phụng nhận rằng do mình là một trong số những nhà văn tả chân, nên khi đọc bài
của Thái Phỉ, ông thấy có trách nhiệm phải bộc lộ thái độ cho rành mạch. Ông thẳng thắn nói
rằng lý lẽ của Thái Phỉ là không có sức thuyết phục, bởi tối tăm, luẩn quẩn, là sự phỉ báng,
phạm thượng đối với văn chương tả thực.
Bắt bẻ chữ nghĩa của Thái Phỉ đã dùng, Vũ Trọng Phụng đứng ở vị trí người viết phản ứng dè
chừng trước ý đồ quy chụp thiển cận rằng ông đã miêu tả cái dâm để khiêu dâm người đọc,
khiến họ mất đi sự tỉnh táo, phê phán cần thiết. Họ Vũ tự tin với mục đích viết văn chính đáng
của mình: viết về cái xấu xa, nhơ bẩn, dâm uế để tố cáo, lên án nó, khơi dậy trong độc giả sự
công phẫn, đối phó chống lại thực trạng và những kẻ thủ phạm gây ra những tệ nạn xã hội xấu
xa ấy.
Có thể thấy, trên những nét cơ bản, quan điểm của Thái Phỉ cũng như của Vũ Trọng Phụng về
đối tượng và mục đích viết về những cái xấu xa, dâm uế, nhơ bẩn của xã hội... là gần gũi,
đồng thuận nhau. Chỗ khác nhau trong quan niệm của mỗi ông chỉ là ở chỉ mức độ và cách
viết như thế nào thì là phải và có thể chấp nhận được, để không rơi vào tình trạng khiêu dâm
người đọc.
Như trên đã nói, Thái Phỉ e ngại về sự miêu tả quá đà, nhồi nhét quá mức cảnh dâm uế vào bất
cứ đâu, làm cho người đọc mụ mị trong cân não mà hoặc ghê sợ hoặc “rung động” một cách
lệch lạc, bị kích thích về mặt thú tính của con người.
Còn Vũ Trọng Phụng thì sao? Ông khẳng định: nhà văn tả chân có quyền và bổn phận tả
những cảnh thuộc về đời sống tình dục tự nhiên của con người, về cái dâm thuộc về thiên tính
- nhưng lúc nào cần tả, lúc nào không nên tả thì cần phải cân nhắc để văn chương không rơi
vào khiêu dâm. Còn thứ dâm uế, dâm loạn - tức những hành vi xấu xa, cần lên án thì cần phải
mô tả kỹ về nó, lôi nó ra dưới ánh sáng ban ngày, có vậy mới khiến người đọc bất bình, công
phẫn, lên án nó. Vũ Trọng Phụng không tán thành lối viết nửa kín, nửa hở, che đậy bằng
những câu văn thanh nhã, bóng bẩy vì như vậy chỉ tổ làm cho người đọc tò mò mà thôi. Ông
chủ trương lối viết thẳng thắn, nói toạc ra các khía cạnh của sự thật dù có tàn nhẫn, khó coi
nhưng đó sẽ là sự thật cay nghiệt giống như liều thuốc đắng khó nuốt nhưng sẽ làm cho người
bệnh mau khỏi.
Ở đây, không thể không thấy sự cực đoan trong quan điểm nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng.
Bởi trong miêu tả nghệ thuật, ranh giới giữa hiệu quả gây tỉnh táo để phê phán, tố cáo với xui
khiến sự tò mò, chuộng lạ, thích thú tự nhiên, bản năng... thật khó mà phân biệt một cách
khách quan trên văn bản.
Một năm sau những ý kiến qua lại giữa Thái Phỉ và Vũ Trọng Phụng, cuộc tranh luận được
đẩy lên đến đỉnh cao khi Nhất Chi Mai viết bài: Ý kiến một người đọc: Dâm hay không Dâm?
đăng trên báo Ngày nay, số 51 ra ngày 14/03/1937.
Nhất Chi Mai không ngần ngại chỉ trích đích danh Vũ Trọng Phụng là một nhà văn xã hội kỳ
quặc “nhìn thế giới qua cặp kính đen, có một bộ óc cũng đen và một nguồn văn càng đen
nữa”. Theo Nhất Chi Mai, bức tranh xã hội và đời sống con người trong tác phẩm của Vũ
Trọng Phụng thuần một màu đen tối, như một địa ngục với những kẻ giết người, làm đĩ, ăn
tục, nói càn. Qua đó, không hé ra cho người ta thấy một tư tưởng lạc quan nào, một tia hy
vọng nào. Mà tệ hơn nữa, ông lại viết những câu văn sống sượng, trần truồng, mô tả những
cảnh nhơ nhớp một cách khoái trá, thích thú chẳng khác nào khiêu dâm người đọc.
Nhất Chi Mai chỉ trích loại văn nói trên không thể xem là “kiệt tác”, “đúng sự thực”, “can
đảm” được, thực chất chỉ là một loại văn “dơ dáy, bẩn thỉu, nhơ nhớp” mà thôi - độc giả có
lương tri không nên để mình bị lừa mị mà tin theo những lời rỗng tuếch, huênh hoang, tâng
bốc nhau của họ.
Lúc này Vũ Trọng Phụng không thể không lên tiếng một lần nữa. Ông viết một bài dài “Để
đáp lại báo Ngày nay: Dâm hay là không Dâm?” bác lại hoàn toàn ý kiến của Nhất Chi Mai.
Vũ Trọng Phụng vạch chân tướng của Nhất Chi Mai, chỉ ra rằng Nhất Chi Mai đã né tránh khi
chỉ nhận mình trong tư cách một độc giả bình thường, trong khi Vũ Trọng Phụng biết một
cách tỏ tường rằng Nhất Chi Mai còn là một người viết, đại diện cho một văn phái, một
khuynh hướng sáng tác đương thời - khuynh hướng lãng mạn của Thơ mới, của Tự lực văn
đoàn và các cơ quan ngôn luận của nó là Phong hóa rồi Ngày nay.
Vượt lên sự đối thoại cá nhân với cá nhân, Vũ Trọng Phụng vạch ra sự khác biệt như nước với
lửa giữa 2 văn phái lãng mạn / hiện thực trong cái nhìn đời sống xã hội, trong cách miêu tả
hiện thực và con người.
Văn phái lãng mạn bó hẹp trong sự cổ động cho phong trào “vui vẻ trẻ trung”, giải phóng cá
nhân khỏi những lề thói xưa cũ để được tự do yêu đương, được mình là mình trong các quan
hệ gia đình. Họ đã chạy xa sự thật nhãn tiền của xã hội, không thấy những bức xúc rộng lớn
hơn đang tác động vào sự sinh tồn của con người. Nấp sau những danh từ mỹ miều, điêu trá,
dựng lên những nhân vật phụ nữ giả dối, có bề ngoài đáng yêu, xinh xắn nhưng bên trong thì
mục ruỗng cả về tinh thần lẫn thể xác - văn phái lãng mạn chỉ có thể sản sinh ra thứ văn
chương “tùy thời”, cơ hội, nhằm chiều nịnh một bộ phận người đọc mà thị hiếu là ưa thích sự
giả dối, không dám đối diện với sự thật đau lòng của xã hội mà tự ru ngủ và thỏa mãn với
cuộc sống hiện tại.
Đối lập lại, là một người thuộc văn phái tả chân, Vũ Trọng Phụng theo một quan điểm trái
ngược, xung đột với quan điểm của văn chương lãng mạn. Ông dõng dạc tuyên bố: “Tôi và
các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết là sự thật ở đời. Các ông muốn theo
thuyết tùy thời, chỉ nói cái gì thiên hạ thích nghe, nhất là sự giả dối. Chúng tôi chỉ muốn nói
cái gì đúng sự thật, thành ra nguy hiểm, vì sự thật mất lòng”.
Vũ Trọng Phụng tiếp tục khẳng định mục đích cao đẹp của văn tả thực: cất tiếng nói phản
kháng xã hội bất công, mục nát, xấu xa, phản tiến bộ, trong đó người lao động lương thiện bị
bóc lột, đè nén, bị bần cùng và tha hóa, bên cạnh đó tầng lớp trên thì ăn chơi trác táng, xa hoa,
phè phỡn, lố lăng. Ông cho rằng xã hội đương...
(...) Vũ Trọng Phụng là một nhà văn sở trường về phóng sự dài (...) Những tập xuất sắc nhất
của ông là Kỹ nghệ lấy Tây và Cơm thầy cơm cô.
(...) Quyển Kỹ nghệ lấy Tây chỉ có giá trị ở những đoạn tả chân nho nhỏ, ở những sen đấu
khẩu, những sen đánh nhau, những sen gợi tình rất linh hoạt và rất tức cười của mấy cặp vợ
chồng. Ở những đoạn ấy, đôi khi người ta thấy một lối tả chân triệt để, làm cho người đọc có
cái cảm tưởng như thấy trước mắt một cảnh tượng bẩn thỉu, ghê gớm (chương III - Mày
không muốn nhận tao là chồng? trang 34 -Chương IX - Tư tưởng độc quyền, trang 112, vân
vân)
Cơm thầy cơm cô là một tập phóng sự về những kẻ làm tôi tớ. Tập này là một phóng sự hay
nhất của Vũ Trọng Phụng. Ngòi bút tả chân của ông thật là tuyệt xảo khi ông tả những cảnh
nghèo khổ. (...) Trong tập phóng sự này, họ Vũ tự đóng một vai đứa ở, cũng như Tam Lang
đã tự nhận mình là một chân xe hàng. Nhờ đóng một vai đứa ở, nên cái việc kháo chuyện chủ
nhà với bọn “cơm thầy cơm cô” hóa ra một chuyện dễ, và cũng nhờ đấy, câu chuyện hóa ra
đằm thắm, thân mật, như những chuyện nói xấu chủ nhà của anh chàng Gil Blas. Nhà này chủ
ác nghiệt, nhà kia chủ có con gái hư, nhà kia ông chủ biển lận. Thật không bao giờ hết
chuyện. Tác giả có thể viết dài nữa về chỗ đứa ở kháo chuyện chủ nhà, nhưng tác giả đã muốn
dè dặt, có lẽ vì chính mình cũng là... một ông chủ.
Chương VII (Bi hài kịch) trong quyển Cơm thầy cơm cô là một chương tuyệt hay. Vui buồn,
đủ cả, linh hoạt vô cùng và cũng thảm thiết vô cùng. Đây là mấy điệu chèo cổ, rồi kia là đám
thính giả nheo nhóc và khốn nạn, rồi nào cái cảnh thảm thương của con sen động kinh, câu
chuyện của anh đầu trọc, của thằng bé ho lao, của bà cụ già, rồi lại chuyện lính mật thám đến
bắt, thật là đủ cách, đủ trò, việc dồn dập một cách tuần tự và mạnh mẽ. Chỉ mười một trang
giấy mà biết bao tình nhân loại, biết bao nỗi thương tâm (...)
Lục sì là một cuộc điều tra về nạn mãi dâm ở Hà Nội, hay là một thiên nghị luận về nghề mãi
dâm theo những giấy tờ của chính phủ thì đúng hơn là một thiên phóng sự.
Cuộc điều tra này lại chỉ ở trong phạm vi đề phòng cứu chữa và trừng trị, nên tác giả chọn hai
chữ “Lục sì” làm nhan quyển sách. Nhà Lục sì ở Hà Nội, theo ý tác giả, tuy là nơi chữa thí,
nơi dạy dỗ không lấy tiền cho vài trăm “gái có giấy” nhưng nhà ấy đành chịu bó tay trước
hàng bốn năm nghìn “gái” đi ngang về tắt. (...)
Cây bút của Vũ Trọng Phụng trong những năm đầu là một cây bút phóng sự, một cây bút
phóng sự sắc sảo và khôn ngoan, sau ông luyện ra nó một cây bút tiểu thuyết, nhưng cái giọng
phóng sự vẫn còn.
(...) Khi Giông tố của Vũ Trọng Phụng mới ra đời với cái nhan đề cũ là Thị Mịch, (...) người
ta bảo: tiểu thuyết ấy chỉ hay ở chỗ gợi lòng dâm dục (...) Những lời phê bình nghiêm khắc
của người ta hồi đó đã gợi tính tò mò của tôi, làm cho tôi phải tìm tập tiểu thuyết của Vũ
Trọng Phụng mà đọc. Cái đoạn tôi đọc hồi đó là đoạn Thị Mịch đã về nhà riêng Nghị Hách,
đã bị lão bỏ lửng, mặc nàng ôm bụng chửa mà buồn rầu tựa cửa sổ, đứng nhìn trên gác xuống
đường. Rồi từ một cô gái thơ ngây, Mịch đã hóa ra một người đàn bà oán giận, muốn tưởng
tượng cho mình một cảnh gian díu với những khách qua đường để báo thù lại kẻ đã đầy đọa
tấm thân mình.
Cái đoạn ấy là một đoạn thật hay. Trước khi đưa ta đến cái việc sắp xảy ra (việc Mịch hiến
thân cho Long), tác giả đã mở bộ óc của Mịch cho ta trông thấy, chẳng khác nào một người
thợ mở cho ta xem các bánh xe và ống dẫn hơi nước, trước khi chỉ cho ta thấy cái động cơ ở
ngoài.
Đến khi quyển Giông tố ra đời, tôi đã đọc từ đầu đến cuối và thấy cái đoạn tôi vừa kể, tác giả
là một đồ đệ của Freud. Tác giả tả Thị Mịch một cách vừa giản dị, vừa tỷ mỷ. Một cô gái quê
khỏe mạnh, vốn nhà nghèo, đã “biết mùi đời” trong một chiếc xe hòm kín đáo, bây giờ lại sa
vào cảnh nhàn hạ và phong lưu, cái cảnh làm cho khối óc non nớt dễ mơ tưởng đến những
điều dâm dục. Freud chả ví tình dục của người ta với một sự đói khát ăn uống là gì? Thị Mịch
chính là kẻ đói khát về đường tình đó.
Nhưng chỉ có riêng về đoạn ấy, không đủ rõ cái giá trị của Giông tố. Quyển tiểu thuyết của
Vũ Trọng Phụng làm cho người ta thấy rõ ảnh hưởng mạnh mẽ của hoàn cảnh là nhường nào!
Vì hoàn cảnh gia đình, vì hoàn cảnh xã hội, hai kẻ vốn tính hiền lành và ngay thẳng như Mịch
và Long, rút cục đã trở nên người đàn bà bất chính và một thiếu niên hư hỏng. Ấy là chưa kể
Long là một kẻ đau khổ nhất vì hoàn cảnh... Đọc chuyện Vũ Trọng Phụng người ta thấy mọi
việc liên tiếp một cách rất tự nhiên. Đó là tất cả cái tài dàn cảnh của tác giả.
Tác giả lập chuyện rất khéo, từ cái xã hội “xôi thịt” mục nát ở thôn quê, đến cái xã hội “sâm
banh xì gà” ở thành thị, từ cái óc bủn xỉn của anh đồ kiết cho đến cái thói hoang tàn của anh
trọc phú, ta thấy đầy những ngu dốt, mê tín, bất công, mà vai trò nào cũng đều có mặt. Cái vai
Long tôi đã cho là không được tự nhiên trong khi chưa đọc hết chuyện, nhưng trong mấy đoạn
cuối, tác giả làm cho chàng hóa ra một kẻ chơi bời, không thiết đến gia đình, rồi sau đến phải
tự tử. Một kẻ vốn lương thiện, vốn đạo đức như Long mà phải ở vào cái cảnh đáng ghét như
thế, đành mặc việc đời xô đẩy mình một cách bất ngờ như thế, nếu chẳng chơi bời thì sống
làm sao được. Cái lúc chàng tỉnh mộng là lúc chàng quyên sinh.
Giông tố là một tiểu thuyết đúc trong một luân lý sâu xa trên một nền gia đình và xã hội thật
đầy đủ. Ta chả thấy đủ các vai trong gia đình là gì? Rồi ngoài xã hội ta thấy một vị quan ngay
thẳng, một tay mọt dân nhảy lên đến tột bậc trong quan trường, một thiếu niên trí thức, vài cô
thiếu nữ tân thời với cái thói đua chen dí dỏm, một thằng con bán trời không văn tự, những
cảnh trụy lạc trong làng bẹp, trong xóm yên hoa, một tay “cách mệnh”, một lũ dân đen, một
nhóm thợ thuyền, ấy là chưa kể Thị Mịch, Long và nghị Hách, những kẻ có thể làm tiêu biểu
cho nhiều người trong xã hội.
Ngoài bìa quyển sách, tác giả đề là “Xã hội tiểu thuyết”. Nhưng nếu theo ý kiến của các nhà
phê bình Âu tây thì “xã hội tiểu thuyết” là loại thiểu thuyết viết rặt về cảnh lầm than, vất vả
của thợ thuyền và dân quê. Giông tố không phải tiểu thuyết loại ấy. Nó chỉ là một tập tiểu
thuyết về phong tục thôi.
Những nhân vật trong tiểu thuyết Giông tố đáng lý ra nhiều chỗ phải được tả bằng những nét
bút não nùng cho hợp với cảnh thê lương của họ, thì lại hiện dưới những nét bút sắc sảo quá,
dưới những nét phóng sự mà chủ ý gây cho người đọc mối căm hờn đối với những sự bất
công. Về đường nghệ thuật, có lẽ chỗ ấy là chỗ sút kém trong Giông tố.
Nhưng nếu xét một cách tương đối, quyển Giông tố cũng đáng kể vào số tiểu thuyết có giá trị
của chúng ta ngày nay.
Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là một quyển tiếu thuyết hoạt kê nhưng một lối hoạt kê không lấy
gì làm cao cho lắm.
“Xuân tóc đỏ”, một gã nhặt banh ở sân quần chỉ nhờ ở sự may mắn, ở “số đỏ” mà thấm thoắt
từ phận một gã lang thang trở nên một tay đắc lực cho một hiệu may tân thời, rồi dần dần
đóng vai “đốc tờ”, đóng vai diễn giả, đứng lên cải cách Phật giáo, rồi trở nên một tay cứu
quốc, một bậc vĩ nhân!
Có ai tưởng tượng được rằng trong một cuộc tranh đấu quần vợt của tuyển thủ hai nước, nếu
tuyển thủ của nước mình giữ phần thắng thì nước kia sẽ khai chiến với nước mình không? Ấy
Vũ Trọng Phụng đã tưởng tượng được như thế. Cái lối khôi hài của ông trong Số đỏ là cái lối
khôi hài nông nổi, tuy nhạo đời, nhưng không căn cứ. Nó giông như lối khôi hài ở một rạp
chèo, hay “văn minh” hơn, nó giống lối khôi hài của mấy vai hề trên màn bạc.
Đọc Số đỏ không ai nhịn được cười, người ta cũng phải cười như nghe mấy vai bông lơn
trong một đám chèo hay xem mấy tay tài tử pha trò trong một phim chớp bóng, nhưng không
phải cái cười thú vị và thấm thía như ta đọc hài kịch của Molière.
Những đoạn tức cười như đoạn các nhân viên sở Cẩm phạt lẫn nhau, đoạn Xuân chữa thuốc
cho cụ Cố, đoạn Xuân ứng khẩu một bài thơ, đoạn Xuân nhét những tờ giấy nguy hiểm vài túi
quần hai nhà vô địch tennit để rồi giữ giải quán quân, đều là những đoạn nông nổi, tuy làm
cho người ta phải cười, nhưng chỉ có một lần thôi, vì nó là những việc không “đứng” được.
Trong Số đỏ cũng như trong những tiểu thuyết khác của Vũ Trọng Phụng, tác giả tin ở thuyết
tình dục quá, sự tin ấy đôi khi đàn áp cả mọi xét đoán của ông, làm cho mỗi khi gặp một “ca”
khó hiểu, ông lại đem thuyết ấy ra giải quyết.
(...) Cái thuyết của Freud không phải hoàn toàn đúng cả, vậy nếu lại tin ở thuyết tình dục một
cách thiên vị, không khỏi có sự sai lầm.
Riêng về mặt tả chân, ngòi bút của Vũ Trọng Phụng thật tuyệt. Có những sen con con, ông tả
khéo vô cùng. Đây là một gã nhặt banh ở sân quần đùa cợt nhả với một chị hàng mía: (...)
Những sen khác như sen bà Phó Đoan xem tướng, sen Xuân đưa Tuyết vào nhà bà Phó Đoan
một buổi sớm và tiếp đến sen cưỡng bức đều là những sen tả rất đúng. Có thể coi là những sen
tả chân triệt để.
Nhưng đọc quyển Số đỏ người ta thấy tư tưởng gì của tác giả? - Tư tưởng thủ cựu. Trong cả
quyển sách, những chỗ nhạo cái mới, chế giễu những phong trào cấp tiến đều đầy dẫy. Ông
nhạo báng, chế giễu một cách hằn học những cái mới, những cái mà người đời cho là tiến bộ,
nhưng ông không hề đề xướng lên một luân lý nào nên theo cả. Trong quyển Số đỏ, ông là
một người “phản động”, cái tên mà những người “khuynh tả” thường dùng để chỉ những
người không đồng ý kiến với họ.
(...) Làm đĩ cũng là một tiểu thuyết mà Vũ Trọng Phụng dùng chủ nghĩa tình dục của Freud
làm nền tảng. Nhưng vì muốn hơn Giông tố một bực, nên ngoài sự phân tích ái tình mà tác giả
cho nó một nghĩa hẹp là dâm, tác giả muốn “tìm một nền luân lý cho sự dâm và giáo hóa cho
thiếu niên biết rõ tình dục là gì”(Thay lời tựa, Làm đĩ, trang 11). Trong khi đưa chúng ta vào
mấy bụi cây và phòng ngủ để nhìn cho rõ cái dâm của loài người với hết cả mọi sự suồng sã,
tác giả lại khoác áo nhà mô phạm và giảng giải cho chúng ta biết sự rùng rợn của những việc
về xác thịt. Như vậy, thật là khó, vì hai sự hành động ấy không đi đôi được với nhau. Vũ
Trọng Phụng có can đảm hô hào, nhưng ông không đạt tới mục đích. Muốn đem vấn đề “nam
nữ giao hợp giảng cho tuổi trẻ”, mà hạng tuổi trẻ này là hạng chín mười tuổi cho đến mười
lăm, mười sáu. Nhưng tôi dám chắc tác giả chỉ viết trên giấy thôi, chứ không bao giờ dám
thực hành.
Cái khuynh hướng quá thiên của ông về tính giáo dục làm cho quyển tiểu thuyết tả chân của
ông kém hẳn đi. Vì giảng giải một chuyện tình theo khoa học trong một quyển tiểu thuyết là
một việc nhà văn khó lòng làm được.
(...) Quyển Làm đĩ còn một cái nhược điểm này làm cho người đọc mất cả hứng thú, tác giả
đã dồn chứa đủ tất cả các việc làm cho Huyền nhất định phải sa vào vòng trụy lạc, không còn
sức gì để chống đỡ cả. Tác giả tả Huyền là một cô gái dâm dục, rồi từ chín tuổi trở đi, mỗi
ngày nàng một bị sa ngã, như bị lăn trên dốc xuống vực sâu, không còn bám bíu vào đâu
được: Nào hết gặp thằng Ngôn ranh mãnh trong lúc thơ ngây, đến gặo người anh họ đến trọ
học trong lúc gia đình suy đốn, đến lúc lấy chồng, chồng lại mắc sẵn bệnh giang mai đồng
thời chồng nàng lại có một người bạn rất lịch sự, đẹp trai vừa giàu tiền vừa giàu trí, rồi đến
lúc dan díu với bạn chồng và việc thông dâm vỡ lở, thì người bạn ấy lại bỏ đi phương khác,
làm cho nàng phải theo mà không gặp, đến nỗi tiền hết và phải hiến thân cho khách làng chơi
để sống qua ngày. Khi các ông thấy một vật gì lăn trên một dốc thẳng băng, không có một chỗ
nào mấp mô hay quanh co ngăn cản, tất nhiên các ông đoán ngay rằng thế nào nó cũng lăn
tuột xuống hố. Vậy đọc quyển Làm đĩ cũng thế, đến đoạn Huyền lấy phải anh chồng có sẵn
bệnh giang mai và gần nàng lại có thêm anh chàng đẹp trai và sang trọng, người ta cũng đoán
chắc đời Huyền sẽ kết liễu như thế nào. Thành ra năm mươi trang gần như thừa.
Có một đoạn làm cho khi mới đọc, người ta phải cảm động, đó là đoạn Huyền bị chồng hành
hạ và biết hối quá. Nhưng xét cho kỹ, một kẻ tội nhân bị xích chân và bị cùm kẹp, rồi mới
chịu đi đập đá thì cũng không lấy gì làm lạ.
Thật ra Huyền chỉ là một “ca” đặc biệt. Nếu căn cứ hết cả vào Huyền để giảng giải cái dục
tình chung của tất cả các phụ nữ thì rất sai. Vì không thể căn cứ vào một việc đặc biệt để rút
lấy một phương pháp giáo dục chung được. Vả lại, vệc giáo dục con gái ở như sự gìn giữ họ,
chứ không phải ở như sự giảng giải cho họ biết việc nam nữ giao hợp. Đến thời kỳ biết họ sẽ
biết, cái biết do ở bản năng, như tôi đã nói trên. Theo sự xét nhận của các nhà giáo dục, nếu
giữ gìn cho người đàn bà được đến năm 25-26 tuổi - sự gìn giữ này phải là sự gìn giữ âu yếm
của người mẹ hay người chồng - thì không còn lo ngại mấy, vì tuổi này là tuổi thành nhân của
đàn bà.
Cũng như những quyển khác của Vũ Trọng Phụng, quyển Làm đĩ cũng có những đoạn tả
người tả cảnh thú vị, tỏ ra tác giả là một người lịch duyệt việc đời, đã từng băn khoăn về
những điều trông thấy (...)
*
Người ta bảo những người ngực yếu phần nhiều là những người dâm dục. Vũ Trọng Phụng
cũng thuộc về cái “ca” ấy. Trong tất cả các văn phẩm của ông, dù là phóng sự hay tiểu thuyết,
bao giờ ông cũng bị ý tưởng dâm dục ám ảnh. Từ Kỹ nghệ lấy Tây cho đến Lấy nhau vì tình,
không một phóng sự nào không một tiểu thuyết nào của ông là không có những chuyện hiếp
dâm với những ảnh hưởng tai hại của nó. Ông tin ở chủ nghĩa tính dục một cách thái quá và
tưởng rằng bất kỳ việc gì ở đời cũng có thể đem chủ nghĩa ấy ra giảng giải: bởi thế cho nên
nhiều khi xét đoán rất sai lầm.
Người ta sở dĩ ham đọc văn ông là vì ngọn bút tả chân của ông. Ngọn bút ấy thật là sắc sảo,
nó tả như vẽ, chỉ vài ba nét người ta đã hình dung được những cảnh vật mà tác giả định tả với
những màu sắc linh động vô cùng. Nếu chỉ đứng về mặt tả chân đừng xen lẫn những ý kiến về
luân lý, về giáo dục vào, có lẽ tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng sẽ là những tập văn rất giá trị.
Nhưng ông đã đi lạc đường và ông đã sớm khuất, không kịp trông cậy vào thời gian để sửa
chữa.
Về phóng sự, những sự bừa bãi, những điều giảng giải nhiều khi có thể tha thứ, nên về phóng
sự ông thành công hơn là về tiểu thuyết.
Tuy đời văn của ông ngắn ngủi (ông mất chưa đầy ba mươi tuổi) nhưng ông đã để lại một lối
văn riêng, gây nên được nhiều đồ đệ, trong số đó có người gần được như thầy.
Ông là một người không ưa những sự đổi mới, những tư tưởng cấp tiến, nhưng ông cũng
không phải người xu nịnh kẻ quyền quý hay tán dương những sự giàu sang. Ông là một nhà
văn không thiên về chính trị và không thuộc một đảng phái nào. Bảo ông có óc bảo thủ, cũng
khí quá, vì thật ra ông chỉ ưa những sự phải chăng. Đối với giàu sang, ông thường hằn học,
thường tả bằng nét bút căm hờn, đối với những cái ngu dại, kém hèn của hạng bình dân, ông
thường tả bằng những nét bút tai ác, tàn nhẫn, vậy ai có thể bảo ông có óc bình dân hay quý
phái được? Ông chỉ theo lương chi mà viết, đôi khi theo cả bản năng mà viết nữa, nên có lúc
thì rất hợp lẽ phải và có lúc thật là thiên vị, làm cho người đọc phải ngạc nhiên.
Người ta ham độc ông còn vì những tư tưởng trào lộng của ông nữa. Ông mỉa đời một cách
cay độc, coi đời như một trò múa rối và điều thú vị là ông biết chính mình cũng phải đóng
một vai trò như tất cả mọi người.
Về phần ông, tấn tuồng đã xong rồi (1), ông có thể hoàn toàn sung sướng, vì cái vai trò về
đường trí thức và tinh thần của ông, tuy ông đóng không bền, mà đã lỗi lạc hơn nhiều người
múa may từ lâu trên sân khấu.
-------(1) La farce est jouée - Rábelais
Trích sách NHÀ VĂN HIỆN ĐẠI. Quyển ba.
Nxb. Tân Dân, 1942.
Vũ Trọng Phụng - con người và tác phẩm, Nguyễn Hoàng Khung - Lại Nguyên Ân sưu tầm
và biên soạn, Nxb. Hội Nhà văn, H., 1994., tr. 140-150.
Vũ Trọng Phụng bàn về phóng sự và tiểu thuyết tả chân - Nguyễn Ngọc Thiện
Trong vài ba thập niên đầu thế kỷ XX, trong xu thế tìm đường hiện đại hóa văn xuôi chữ quốc
ngữ, các thể tài tiểu thuyết, phóng sự được một số nhà văn dụng bút thể nghiệm. Bước vào
làng văn bằng truyện ngắn đăng báo từ năm 1931, qua đời ở tuổi 27 với cuốn tiểu thuyết còn
dang dở, những tác phẩm tiêu biểu của văn nghiệp Vũ Trọng Phụng thuộc về 2 thể tài tiểu
thuyết và phóng sự tả chân: ông để lại 9 cuốn tiểu thuyết và 7 tập phóng sự.
Tác phẩm gây sự chú ý của dư luận đương thời đối với Vũ Trọng Phụng là phóng sự đầu tay
Cạm bẫy người - ký bút danh Thiên Hư, đăng trên báo Nhật Tân, xuất bản tại Hà Nội, từ số 1
(02/08/1933) đến số 14 (01/11/1933). Năm sau, cũng trên báo này, ông lại cho in thêm phóng
sự thứ hai Kỹ nghệ lấy Tây (từ số 69 - 5/12/1934). Và chỉ với 2 phóng sự này, cùng cây bút
đàn anh đi trước Tam Lang Vũ Đình Chí và nhà văn đồng trang lứa Vũ Bằng, ông được liệt
vào hàng vài ba “nhà văn mở đầu cho nghề phóng sự của nước ta” (Lê Tràng Kiều - Văn học
tạp chí, số 4/1935). Đặc biệt, ông được Mai Xuân Nhân tôn vinh là “ông vua phóng sự của đất
Bắc” (dẫn theo Việt Trung, tập san Nghiên cứu văn học, số 5/1960). Danh hiệu này sau được
nhiều người tán thành, gọi theo, vì quả thực xưng tụng như vậy là xứng đáng với văn tài nhà
văn trẻ.
Mãi đến năm 1934, Vũ Trọng Phụng mới cho ra mắt cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tay Dứt tình
(còn có tên khác là Bởi không duyên kiếp) đăng trên tờ Hải Phòng tuần báo. Với tiểu thuyết
này, ông chứng tỏ là “ngòi bút tả chân thực đã khéo léo” và tác phẩm có thể coi là “một bức
tranh... phỏng theo sự thực của cuộc đời, không tô điểm cho đẹp thêm, cũng không bôi nhọ
cho xấu đi” (Tràng An).
Song, sang năm 1936, ngòi bút tiểu thuyết của ông nở rộ, đạt kỷ lục xuất sắc: chỉ trong vòng 1
năm, 4 cuốn tiểu thuyết được lần lượt xuất hiện trên báo, thu hút sự tìm đọc của công chúng.
Đó là Giông tố (trên Hà Nội báo từ số 1 - 01/01/1936); rồi Số đỏ (cũng trên Hà Nội báo, từ số
40, 7/10/1936). Tiếp đó là Vỡ đê (trên báo Tương lai, từ số ngày 27/09/1936) rồi đến Làm đĩ
(đăng trên Sông Hương, phát hành tại Huế năm 1936).
Với những phóng sự, tiểu thuyết nói trên, tên tuổi của Vũ Trọng Phụng đã trở nên quen biết
với người đọc. Ông xác lập chỗ đứng chắc chắn trong làng văn, chiếm được cảm tình của
đông đảo bạn đọc. Một cây bút đương thời không ngần ngại xem ông là “một tay thiện nghệ
trong văn tả thực” (Lê Tràng Kiều). Nhà văn Phùng Tất Đắc khen ngợi Vũ Trọng Phụng đã có
“những công trình có thể vạch phương hướng cho văn nghệ... góp được tài liệu cho đời sau
khảo sát về buổi này”.
Bên cạnh đó cũng có không ít ý kiến chê bai, phản bác Vũ Trọng Phụng về các tác phẩm nói
trên. Từ năm 1936 đến khi Vũ Trọng Phụng qua đời năm 1939, đã nổ ra cuộc tranh luận
chung quanh vấn đề “Dâm hay không Dâm” trong phóng sự, tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng.
Đối thoại, đáp lại những ý kiến nhằm vào công kích ông và tác phẩm của ông, Vũ Trọng
Phụng đã có dịp thẳng thắn, công khai trình bày quan điểm nghệ thuật của mình, về động cơ
và mục đích của lối viết tả chân mà ông đã thực thi trong sáng tác. Tất cả gom lại khoảng ngót
chục bài báo gồm: thư ngỏ gửi Thái Phỉ; thư ngỏ cho một độc giả; đáp lại bài của Nhất Chi
Mai; bác lại ý kiến của báo Phong hóa, báo Ngày nay; trả lời phỏng vấn của Lê Thanh về 2
tiểu thuyết Giông tố, Làm đĩ; bài thay lời tựa cho tiểu thuyết Làm đĩ khi in thành sách; những
lời giới thiệu phê bình cuốn tiểu thuyết mới Tắt đèn của Ngô Tất Tố... Ngoài ra cũng cần kể
thêm vào đó những bài lược dịch của Vũ Trọng Phụng về các ý kiến của các nhà văn, nhà thơ
nước ngoài như G. Maupassant, J. Richepin, A. de Vigny; bài viết của ông về đặc tính của
kịch lãng mạn cũng như câu chuyện ông kể về một nhà văn sĩ vô danh đã sáng tác như thế
nào... đăng trên báo những năm 1931-1932. Qua đó, chúng ta có thể hiểu sâu hơn, từ ngọn
nguồn nào đã khiến ông có lập trường rõ ràng, dứt khoát và quyết liệt khi tranh luận, đụng
chạm trực tiếp sau này.
1. Vũ Trọng Phụng lược thuật ý kiến của các nhà văn hiện thực G. Maupassant, J. Richepin,
qua đó bộc lộ thiên hướng sáng tác văn tả chân và tư cách nhà văn xã hội
Những năm đầu bước vào làng văn, thể nghiệm các sáng tác đầu tay ở thể tài truyện ngắn và
kịch, Vũ Trọng Phụng đã bộc lộ khuynh hướng tìm đến với chủ nghĩa hiện thực, có cảm tình
với các nhà văn tả chân xã hội. Ông tìm đọc họ, lược dịch để truyền bá quan điểm, tư tưởng
nghệ thuật của các nhà văn phương Tây thuộc trào lưu hiện thực phê phán (thế kỷ trước hoặc
đương thời) như G. Maupassant, J. Richepin... Qua đó ông gián tiếp bộc lộ khuynh hướng
sáng tác của mình cùng đồng nhất với các nhà văn này. Từ ý kiến của các nhà văn nói trên,
Vũ Trọng Phụng tập trung nhấn mạnh các khía cạnh mà theo ông là chủ yếu đối với nhà văn
tả chân:
- “Chỉ tả sự thực, toàn một giống thực”. Nhưng sự thực ở đời và sự thực trong sách là có
khoảng cách, không giống nhau hoàn toàn. “Đó là những sự thực có ý vị, chớ chẳng cốt nêu
cái thực hoàn toàn”.
- Nhà văn tả chân phải là người từng trải cuộc đời, chú mục phơi bày những cảnh đời bình dị,
những con người bình thường. Tác phẩm của họ cần phô diễn tính tình và hành động của các
hạng người sao cho sinh động, thanh thoát, tự nhiên. Qua sự cảm nhận và kinh lịch của mình,
nhà văn tả chân giúp người đọc tỏ tường các mặt thực của đời, chiều sâu của đời sống xã hội,
sự phồn tạp trong hoạt động tinh thần, tâm - sinh lý của các hạng người đời.
- Không thể kết án nhà văn tả chân khi họ miêu tả những thói xấu của xã hội, những cái đê
tiện của người đời và gọi chúng bằng tên thật của nó. Nhà văn tả chân dũng cảm đối diện với
sự thật, dù nó tàn nhẫn, khắc nghiệt, trái với sự mong đợi của mình. Anh ta khi viết không đổi
trắng ra đen, không che đậy hoặc huyễn hoặc lừa mình, dối người, cũng không cốt làm hại
đến luân lý, phong hóa cần được tôn trọng. Viết trung thực, có sao nói vậy, không thêm bớt,
tô điểm, vẽ vời, tức là tôn trọng người đọc, nêu cao tinh thần khoa học, để có thể khám phá
chân lý cuộc sống. Khuynh hướng tả chân như vậy là phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã
hội, đáp ứng đòi hỏi của người đọc trong một thế giới văn minh, hiện đại (1).
2. Quan điểm của Vũ Trọng Phụng trong tranh luận “Dâm hay không Dâm”.
Cuộc tranh luận từ lúc mở đầu đến lúc kết thúc, kéo dài trong 3 năm, từ cuối năm 1936 đến
cuối 1939.
Chính Thái Phỉ, chủ bút báo Tin văn, trên số báo 25 ra ngày 01/09/1936 là người châm ngòi
cho cuộc tranh luận qua bài Văn chương dâm uế. Trong bài này, ông không nhằm vào cá nhân
Vũ Trọng Phụng, người mà ông vẫn quý mến văn tài. Ông chỉ muốn gióng lên hồi chuông
cảnh báo một khuynh hướng văn chương nguy hại tả cái dâm uế một cách quá táo bạo, khó
coi, trần truồng hết sức gây phản cảm trong độc giả. Ông gọi đó là thứ “văn chương dâm uế”
không có tính nghệ thuật cần có.
Thái Phỉ không hẹp hòi đối với việc lấy dâm uế, sự xấu xa bẩn thỉu làm đối tượng miêu tả của
văn chương. Ông chỉ phản đối cách miêu tả những cái đó một cách quá đà, quá mức đến lõa
lồ, sống sượng cốt đánh vào cân não người đọc mà không chú trọng đến mục đích cao đẹp
hoàn toàn của nghệ thuật lành mạnh. Ở đây Thái Phỉ đã chú ý phân biệt cái mà ngày nay
chúng ta gọi là đối tượng miêu tả, động cơ và hiệu quả của tác phẩm trong đời sống xã hội,
trong sự tiếp nhận của công chúng.
Phải nhận rằng bài viết này của Thái Phỉ tuy sơ sài, nhưng quan điểm là đúng mực, có tính
chất xây dựng, không có ý định gì công kích tác phẩm của họ Vũ, hoặc biểu lộ “cái lòng
không thành thực” của ông đối với Vũ Trọng Phụng, như sau đó Vũ Trọng Phụng ngộ nhận
(2).
Chính Thái Phỉ, cách đấy 2 năm trên Ngọ báo đã có bài khen ngợi thành công của Vũ Trọng
Phụng với phóng sự Cạm bẫy người. Ông thực lòng khen họ Vũ đã có một tác phẩm “có giá
trị về phương diện khảo chứng (documentation) cũng như về phương diện văn chương”. Cạm
bẫy người được viết một cách có nghệ thuật, có “sức cám dỗ người đọc” với mục đích chính
đáng là phê phán, “lật tẩy” hiện tượng xã hội xấu xa là cờ bạc bịp. Giọng trào phúng mát mẻ
của Vũ Trọng Phụng được coi là thích hợp. Thái Phỉ cũng đã rất tinh khi nhận ra khuynh
hướng tả chân mà họ Vũ theo gót các bậc thầy như G. Maupassant, G. Flaubert, đồng thời ông
cũng dè chừng lối viết mà theo ông dễ bị quy là tính chất khiêu dâm trên những truyện ngắn
đầu tay của Vũ Trọng Phụng.
Bởi vậy, người đọc lấy làm ngạc nhiên khi thấy Vũ Trọng Phụng phản ứng gay gắt với Thái
Phỉ qua bài Thư ngỏ cho ông Thái Phỉ, chủ bút báo Tin văn về bài “Văn chương dâm uế”
đăng trên Hà Nội báo số 38 ngày 23/09/1936. Phải chăng bài của Thái Phỉ chỉ là cái cớ để Vũ
Trọng Phụng nói cho đã, cho hả, công khai đối lập quan điểm với những người khác vì đố kỵ,
vì muốn tranh độc giả mà châm chọc ông?
Vũ Trọng Phụng nhận rằng do mình là một trong số những nhà văn tả chân, nên khi đọc bài
của Thái Phỉ, ông thấy có trách nhiệm phải bộc lộ thái độ cho rành mạch. Ông thẳng thắn nói
rằng lý lẽ của Thái Phỉ là không có sức thuyết phục, bởi tối tăm, luẩn quẩn, là sự phỉ báng,
phạm thượng đối với văn chương tả thực.
Bắt bẻ chữ nghĩa của Thái Phỉ đã dùng, Vũ Trọng Phụng đứng ở vị trí người viết phản ứng dè
chừng trước ý đồ quy chụp thiển cận rằng ông đã miêu tả cái dâm để khiêu dâm người đọc,
khiến họ mất đi sự tỉnh táo, phê phán cần thiết. Họ Vũ tự tin với mục đích viết văn chính đáng
của mình: viết về cái xấu xa, nhơ bẩn, dâm uế để tố cáo, lên án nó, khơi dậy trong độc giả sự
công phẫn, đối phó chống lại thực trạng và những kẻ thủ phạm gây ra những tệ nạn xã hội xấu
xa ấy.
Có thể thấy, trên những nét cơ bản, quan điểm của Thái Phỉ cũng như của Vũ Trọng Phụng về
đối tượng và mục đích viết về những cái xấu xa, dâm uế, nhơ bẩn của xã hội... là gần gũi,
đồng thuận nhau. Chỗ khác nhau trong quan niệm của mỗi ông chỉ là ở chỉ mức độ và cách
viết như thế nào thì là phải và có thể chấp nhận được, để không rơi vào tình trạng khiêu dâm
người đọc.
Như trên đã nói, Thái Phỉ e ngại về sự miêu tả quá đà, nhồi nhét quá mức cảnh dâm uế vào bất
cứ đâu, làm cho người đọc mụ mị trong cân não mà hoặc ghê sợ hoặc “rung động” một cách
lệch lạc, bị kích thích về mặt thú tính của con người.
Còn Vũ Trọng Phụng thì sao? Ông khẳng định: nhà văn tả chân có quyền và bổn phận tả
những cảnh thuộc về đời sống tình dục tự nhiên của con người, về cái dâm thuộc về thiên tính
- nhưng lúc nào cần tả, lúc nào không nên tả thì cần phải cân nhắc để văn chương không rơi
vào khiêu dâm. Còn thứ dâm uế, dâm loạn - tức những hành vi xấu xa, cần lên án thì cần phải
mô tả kỹ về nó, lôi nó ra dưới ánh sáng ban ngày, có vậy mới khiến người đọc bất bình, công
phẫn, lên án nó. Vũ Trọng Phụng không tán thành lối viết nửa kín, nửa hở, che đậy bằng
những câu văn thanh nhã, bóng bẩy vì như vậy chỉ tổ làm cho người đọc tò mò mà thôi. Ông
chủ trương lối viết thẳng thắn, nói toạc ra các khía cạnh của sự thật dù có tàn nhẫn, khó coi
nhưng đó sẽ là sự thật cay nghiệt giống như liều thuốc đắng khó nuốt nhưng sẽ làm cho người
bệnh mau khỏi.
Ở đây, không thể không thấy sự cực đoan trong quan điểm nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng.
Bởi trong miêu tả nghệ thuật, ranh giới giữa hiệu quả gây tỉnh táo để phê phán, tố cáo với xui
khiến sự tò mò, chuộng lạ, thích thú tự nhiên, bản năng... thật khó mà phân biệt một cách
khách quan trên văn bản.
Một năm sau những ý kiến qua lại giữa Thái Phỉ và Vũ Trọng Phụng, cuộc tranh luận được
đẩy lên đến đỉnh cao khi Nhất Chi Mai viết bài: Ý kiến một người đọc: Dâm hay không Dâm?
đăng trên báo Ngày nay, số 51 ra ngày 14/03/1937.
Nhất Chi Mai không ngần ngại chỉ trích đích danh Vũ Trọng Phụng là một nhà văn xã hội kỳ
quặc “nhìn thế giới qua cặp kính đen, có một bộ óc cũng đen và một nguồn văn càng đen
nữa”. Theo Nhất Chi Mai, bức tranh xã hội và đời sống con người trong tác phẩm của Vũ
Trọng Phụng thuần một màu đen tối, như một địa ngục với những kẻ giết người, làm đĩ, ăn
tục, nói càn. Qua đó, không hé ra cho người ta thấy một tư tưởng lạc quan nào, một tia hy
vọng nào. Mà tệ hơn nữa, ông lại viết những câu văn sống sượng, trần truồng, mô tả những
cảnh nhơ nhớp một cách khoái trá, thích thú chẳng khác nào khiêu dâm người đọc.
Nhất Chi Mai chỉ trích loại văn nói trên không thể xem là “kiệt tác”, “đúng sự thực”, “can
đảm” được, thực chất chỉ là một loại văn “dơ dáy, bẩn thỉu, nhơ nhớp” mà thôi - độc giả có
lương tri không nên để mình bị lừa mị mà tin theo những lời rỗng tuếch, huênh hoang, tâng
bốc nhau của họ.
Lúc này Vũ Trọng Phụng không thể không lên tiếng một lần nữa. Ông viết một bài dài “Để
đáp lại báo Ngày nay: Dâm hay là không Dâm?” bác lại hoàn toàn ý kiến của Nhất Chi Mai.
Vũ Trọng Phụng vạch chân tướng của Nhất Chi Mai, chỉ ra rằng Nhất Chi Mai đã né tránh khi
chỉ nhận mình trong tư cách một độc giả bình thường, trong khi Vũ Trọng Phụng biết một
cách tỏ tường rằng Nhất Chi Mai còn là một người viết, đại diện cho một văn phái, một
khuynh hướng sáng tác đương thời - khuynh hướng lãng mạn của Thơ mới, của Tự lực văn
đoàn và các cơ quan ngôn luận của nó là Phong hóa rồi Ngày nay.
Vượt lên sự đối thoại cá nhân với cá nhân, Vũ Trọng Phụng vạch ra sự khác biệt như nước với
lửa giữa 2 văn phái lãng mạn / hiện thực trong cái nhìn đời sống xã hội, trong cách miêu tả
hiện thực và con người.
Văn phái lãng mạn bó hẹp trong sự cổ động cho phong trào “vui vẻ trẻ trung”, giải phóng cá
nhân khỏi những lề thói xưa cũ để được tự do yêu đương, được mình là mình trong các quan
hệ gia đình. Họ đã chạy xa sự thật nhãn tiền của xã hội, không thấy những bức xúc rộng lớn
hơn đang tác động vào sự sinh tồn của con người. Nấp sau những danh từ mỹ miều, điêu trá,
dựng lên những nhân vật phụ nữ giả dối, có bề ngoài đáng yêu, xinh xắn nhưng bên trong thì
mục ruỗng cả về tinh thần lẫn thể xác - văn phái lãng mạn chỉ có thể sản sinh ra thứ văn
chương “tùy thời”, cơ hội, nhằm chiều nịnh một bộ phận người đọc mà thị hiếu là ưa thích sự
giả dối, không dám đối diện với sự thật đau lòng của xã hội mà tự ru ngủ và thỏa mãn với
cuộc sống hiện tại.
Đối lập lại, là một người thuộc văn phái tả chân, Vũ Trọng Phụng theo một quan điểm trái
ngược, xung đột với quan điểm của văn chương lãng mạn. Ông dõng dạc tuyên bố: “Tôi và
các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết là sự thật ở đời. Các ông muốn theo
thuyết tùy thời, chỉ nói cái gì thiên hạ thích nghe, nhất là sự giả dối. Chúng tôi chỉ muốn nói
cái gì đúng sự thật, thành ra nguy hiểm, vì sự thật mất lòng”.
Vũ Trọng Phụng tiếp tục khẳng định mục đích cao đẹp của văn tả thực: cất tiếng nói phản
kháng xã hội bất công, mục nát, xấu xa, phản tiến bộ, trong đó người lao động lương thiện bị
bóc lột, đè nén, bị bần cùng và tha hóa, bên cạnh đó tầng lớp trên thì ăn chơi trác táng, xa hoa,
phè phỡn, lố lăng. Ông cho rằng xã hội đương...
 









Các ý kiến mới nhất