Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

NGỮ VĂN 11- KNTT- BÀI 7. VÀ TÔI VẪN MUỐN MẸ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 15h:29' 20-10-2026
Dung lượng: 944.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Ngày soạn: …/…/…
Ngày dạy: …/…/….
TIẾT: VĂN BẢN 2: VÀ TÔI VẪN MUỐN MẸ
I. MỤC TIÊU
1. Kiến thức
- Nắm được những được những đặc điểm cơ bản của truyện kí – một thể loại chú
trọng ghi chép sự thực đời sống và thể hiện bằng văn bản giàu yếu tố tự sự (có tình
huống, sự kiện cốt truyện, nhân vật…).
- Qua việc đọc văn bản được tác giả tạo nên bằng cách ghi lại lời kể của một nhân
vật có thật, đề cập đến những chuyện xảy ra trong kí ức, phân tích và hiểu được
tính chất phi hư cấu và hư cấu trong truyện kí.
2. Năng lực
Năng lực chung
- Năng lực giao tiếp và hợp tác: khả năng thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập hay
theo nhóm; Trao đổi tích cực với giáo viên và các bạn khác trong lớp.
- Năng lực tự chủ và tự học: biết lắng nghe và chia sẻ ý kiến cá nhân với bạn, nhóm
và GV. Tích cực tham gia các hoạt động trong lớp.
- Giải quyết vấn đề và sáng tạo: biết phối hợp với bạn bè khi làm việc nhóm, tư duy
logic, sáng tạo khi giải quyết vấn đề.
Năng lực đặc thù
- Nắm được những được những đặc điểm cơ bản của truyện kí – một thể loại chú
trọng ghi chép sự thực đời sống và thể hiện bằng văn bản giàu yếu tố tự sự (có tình
huống, sự kiện cốt truyện, nhân vật…) qua văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ…
- Qua việc đọc văn bản được tác giả tạo nên bằng cách ghi lại lời kể của một nhân
vật có thật, đề cập đến những chuyện xảy ra trong kí ức, phân tích và hiểu được
tính chất phi hư cấu và hư cấu trong truyện kí qua văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ…
Năng lực số:
- 1.1.NC1a: Biết tìm kiếm, lựa chọn và đánh giá tính xác thực của thông tin số về
tác giả S. Alexievich và bối cảnh Thế chiến II.
- 6.1.NC1a: Biết sử dụng công cụ AI để hỗ trợ phân tích tâm lý nhân vật và bối
cảnh lịch sử.
- 2.1.NC1b: Sử dụng các công cụ tương tác số (Padlet/LMS) để chia sẻ và thảo
luận về các giá trị nhân văn của văn bản.
d. Năng lực AI
- 11.C3.MR3: HS tùy chỉnh NotebookLM/ChatGPT bằng bộ nguồn và hướng dẫn truy
vấn phục vụ Bài 7 Và tôi vẫn muốn mẹ, yêu cầu hệ thống ưu tiên phản hồi dựa trên tư
liệu được cung cấp thay vì suy diễn ngoài nguồn.
- 11.A1.2: HS phân tích vai trò hỗ trợ của AI trong Bài 7 Và tôi vẫn muốn mẹ; đối
chiếu đầu ra với văn bản/kiến thức môn học và giữ quyền quyết định đối với cách
hiểu, lập luận và sản phẩm cuối.

- 11.C2.MR1: HS sử dụng công cụ AI để tạo và biên tập học liệu phục vụ Bài 7 Và tôi
vẫn muốn mẹ (ảnh, infographic, sơ đồ, âm thanh hoặc sản phẩm đa phương tiện phù
hợp); kiểm tra và chỉnh sửa trước khi sử dụng.
3. Phẩm chất
- Thấu hiểu và cảm thông với con người ở những cảnh ngộ khác nhau.
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
1. Đối với giáo viên
- KHBD;
- Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi;
- Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp;
- Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà;
- Máy tính, máy chiếu.
- Video AI được tạo bằng các công cụ AI để khởi động bài học.
- Công cụ AI hỗ trợ: ChatGPT, Copilot…
2. Đối với học sinh
- SGK, SBT Ngữ văn 11.
- Soạn bài theo hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài, vở ghi.
- Thiết bị số: Máy tính bảng hoặc điện thoại thông minh (nếu điều kiện cho phép) có
kết nối Internet.
- Công cụ AI sử dụng khi phù hợp với hoạt động: NotebookLM, ChatGPT, Copilot,
Canva AI, Gemini.
- Thiết bị có kết nối Internet cho hoạt động AI theo nhóm (nếu điều kiện lớp học cho
phép).
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG
a. Mục tiêu: Tạo hứng thú cho HS, huy động tri thức nền, thu hút HS sẵn sàng thực
hiện nhiệm vụ học tập tạo tâm thế tích cực cho HS khi vào bài học Và tôi vẫn muốn
mẹ…
b. Nội dung: GV hướng dẫn HS thảo luận theo nhóm đôi: “Hãy chia sẻ câu chuyện
cảm động nói về tình cảm mẹ con mà bạn từng biết qua các tác phẩm nghệ thuật (văn
học, sân khấu, điện ảnh,..). Qua thực tế cuộc sống xung quanh, bạn biết được gì về
những hậu quả mà chiến tranh gây ra đối với đời sống con người?”
c. Sản phẩm: Những chia sẻ của học sinh.
d. Tổ chức thực hiện:
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập
- GV hướng dẫn HS thảo luận theo nhóm đôi: “Hãy chia sẻ câu chuyện cảm động nói
về tình cảm mẹ con mà bạn từng biết qua các tác phẩm nghệ thuật (văn học, sân
khấu, điện ảnh,..). Qua thực tế cuộc sống xung quanh, bạn biết được gì về những hậu
quả mà chiến tranh gây ra đối với đời sống con người?”.

- GV tiếp tục yêu cầu HS xem video AI được thiết kế riêng cho bài học và yêu cầu HS
trả lời câu hỏi xuất hiện trong đó.
Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm vụ học tập
- HS huy động tri thức nền, trải nghiệm cá nhân thực hiện yêu cầu được giao.
- HS xem video và trả lời câu hỏi.
- GV quan sát, hỗ trợ HS thực hiện (nếu cần thiết).
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động, thảo luận
- GV mời đại diện 2 – 3 HS trình bày trước lớp.
- GV yêu cầu các HS khác lắng nghe, nhận xét, đặt câu hỏi (nếu có).
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
- GV nhận xét, đánh giá.
- Gợi ý:
+ Văn học: Trong lòng mẹ - Nguyên Hồng (trích Những ngày thơ ấu), Hãy chăm sóc
mẹ - Shin Kyung-sook, Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi,…
Ví dụ: Hãy chăm sóc mẹ - Shin Kyung-sook

Mẹ là một điều tuyệt
vời nhất mà thượng đế
mang đến cho mỗi
người con, cho mỗi
người con cuộc sống và luôn che chở, bảo vệ, cùng khóc và cùng cười với những đứa
con trong hành trình cuộc đời này.  Hãy chăm sóc mẹ là những câu chuyện được kể
luân phiên nhau dưới dòng hồi tưởng suy ngẫm của các thành viên trong gia đình: cô
con gái thứ, người anh cả và người chồng. Câu chuyện bắt đầu bằng tin người mẹ bị
lạc ở ga tàu, trong chuyến tàu cùng chồng từ quê lên thăm các con ở thành phố. Bà
đã bị lạc hơn một tuần rồi, nhưng chẳng hề có chút tin tức nào về bà. Người mẹ trong
câu chuyện vốn là người có tính cộc cằn, khó tính, dù thực sự bà là một người nhân
hậu và luôn yêu thương các con. Tuy nhiên, chính vẻ vỏ bọc cọc cằn, khó tính đó, lại
là rào cản tình cảm lớn đối với những đứa con, với người chồng và với người chị dâu.
Tình cảm họ dành cho bà rất ít ỏi, thậm chí có người còn ghét bà. 
Cho đến khi bà đi lạc, họ dường như mới nhận ra những tình cảm chân thành bà dành
cho họ tuyệt vời như thế nào. Từng nhân vật hồi tưởng về người mẹ theo dòng kì ức
của mình về mẹ, để rồi theo dòng kí ức ấy, họ nhận ra sự thực rằng bản thân mình đã
vô tâm, vô cảm với mẹ, với vợ mình. Tình cảm của người phụ nữ bất hạnh ấy dành
cho chồng, cho con lớn lao, cao cả đến nhường nào và bà bày tỏ những tình cảm ấy
qua một cách riêng của mình. Bà chăm lo chu toàn cho những đứa con của mình

trong những năm tháng tuổi thơ, tần tảo, hi sinh nuôi lớn các con nên người. Hình
ảnh mẹ theo kí ức của từng người hiện ra những điều hoài niệm kèm với sự hối lỗi
của chính họ. Họ luôn trăn trở vì đã lạc mất mẹ, đã không quan tâm đến những cảm
xúc, suy nghĩ của bà trước đây. Liệu những đứa con có thể tìm thấy mẹ mình không,
bà có trở về với gia đình hay không, hay bà sẽ đi lạc mãi mãi, cùng đôi chân tập tễnh
do bị thương vì đi lạc một quãng đường dài. 
Hãy chăm sóc mẹ là một lời nhắc nhở cho chúng ta. Với ai còn mẹ, xin đừng quá mải
mê với những cuộc chơi xô bồ, vội vã, với đồng tiền hay công việc mà quên mất mẹ
đang ngày ngày ngóng chờ con trở về thăm. Đừng để mình gặp phải những câu
chuyện như những đứa con trong truyện, chỉ đến khi không thể gặp mẹ được nữa, họ
mới hối hận về những điều mình đã làm với mẹ. Chỉ khi đó, ta mới nhận ra để bù đắp
cho những hy sinh của mẹ dành cho mình đã quá muộn. 
- GV dẫn dắt vào bài học mới: Bersot nói: “Trong vũ trụ có lắm kì quan, nhưng kì
quan đẹp nhất là trái tim người mẹ”. Tình mẫu tử luôn là thứ tình cảm thiêng liêng,
cao đẹp nhất, là sự vỗ về, ôm ấp tuổi thơ ta đến khi chúng ta trưởng thành, mẹ vẫn
luôn là một phần quan. Trong bài học ngày hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu
về văn bản “Và tôi vẫn muốn mẹ…” để thấu tỏ được nỗi niềm khao khát có mẹ của
một đứa trẻ trong hình hài một người lớn nhé!
[2.1.NC1a: HS thực hiện các tương tác cơ bản với học liệu số (xem video, trả lời câu
hỏi trên môi trường số)].
2. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Hoạt động 1: Đọc – hiểu văn bản
a. Mục tiêu: Nhận biết và hiểu được một số đặc trưng của văn bản truyện kí.
b. Nội dung: HS sử dụng SGK, quan sát, chắt lọc kiến thức trả lời những câu hỏi liên
quan đến bài học.
c. Sản phẩm học tập: Câu trả lời của HS và chuẩn kiến thức của GV.
d. Tổ chức thực hiện:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS
SẢN PHẨM DỰ KIẾN
NLS
Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu về truyện kí
I. Truyện kí
1.1.NC1a: Biết
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập 1. Hư cấu và phi hư cấu trong tìm kiếm, lựa
- GV hướng dẫn HS làm việc cá nhân, xem truyện kí
chọn và đánh giá
lại kiến thức ở phần Tri thức ngữ văn và - Truyện kí là một dạng truyện kể tính xác thực của
thực hiện yêu cầu sau:
về người thật, việc thật. Tôn trọng thông tin số về
 Phi hư cấu và hư cấu trong truyện kí là sự thật đời sống, đảm bảo tính xác tác
giả
S.
thực của toàn bộ sự việc được kể Alexievich và bối
gì?
Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm vụ là đòi hỏi quan trọng hàng đầu đối cảnh Thế chiến
- HS vận dụng kiến thức đã học và trả lời câu với các sáng tác thuộc thể loại này. II.
Vì vậy, truyện kí được xếp vào 6.1.NC1a: Biết
hỏi.
sử dụng công cụ
- GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ HS (nếu loại văn học phi hư cấu.
- Tuy nhiên, yếu tố hư cấu vẫn AI để hỗ trợ phân
cần thiết).

- GV yêu cầu HS dùng NotebookLM hoặc
ChatGPT ở chế độ làm việc với tài liệu do
người học cung cấp; chỉ tải lên/nhập các
nguồn đã được GV cho phép.
Câu lệnh gợi ý: “Chỉ dựa trên các nguồn tôi
đã cung cấp về Bài 7 Và tôi vẫn muốn mẹ.
Hãy tổng hợp theo bảng: thông tin chính –
nguồn/căn cứ – điều còn thiếu; nếu nguồn
không có dữ kiện thì ghi 'không tìm thấy
trong nguồn'.”
- HS mở lại nguồn gốc để kiểm tra ít nhất 3
thông tin, sửa những ý AI diễn giải quá mức
và tự viết phần tổng hợp cuối.
Minh chứng NL AI: danh sách nguồn + bảng
tổng hợp AI + phiếu kiểm chứng 3 thông tin.
(NL AI – 11.C3.MR3)
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và
thảo luận hoạt động và thảo luận
- GV mời 1 – 2 HS trình bày kết quả chuẩn
bị
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm
vụ
- GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến thức.
Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu chung về tác giả,
tác phẩm
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập
GV yêu cầu HS trả lời câu hỏi sau đây:
 Nêu một số nét cơ bản về tác giả và xuất
xứ của văn bản “Và tôi vẫn muốn mẹ…”.

luôn hiện diện trong truyện kí (dù
được sử dụng một cách tiết chế),
thể hiện ở sự sáng tạo riêng của
người viết khi xử lí, tổ chức tư liệu
và lựa chọn giọng điệu, ngôn ngữ
trần thuật thích hợp. Yếu tố hư cấu
còn được thể hiện qua cách người
viết hình dung, miêu tả tâm trạng,
cảm xúc của nhân vật.
II. Tìm hiểu chung về tác giả, tác
phẩm
1. Tác giả và xuất xứ tác phẩm
- Xvétlana A-lếch-xi-ê-vích sinh
năm 1948, là nhà báo, nhà văn Bêla-rút (Belarus), được trao giải Nôben (Nobel Văn học năm 2015.
Một số tác phẩm tiêu biểu của bà:
Chiến tranh không có một khuôn
mặt phụ nữ (1983), Những nhân
chứng cuối cùng (1985), Lời
nguyện cầu từ Chéc-nô-bin –
Chernobyl (1997). Các tác phẩm
phi hư cấu của Xvét-la-na A-lếchxi-ê-vích đã dựng lên “một tượng
đài tưởng niệm sự thống khổ và
lòng can đảm trong thời đại chúng
ta” (nhận định của Uỷ ban chấm
giải Nô-ben).
- Văn bản “Và tôi vẫn muốn
mẹ…” rút từ cuốn Những nhân
chứng cuối cùng – Solo cho giọng
trẻ em của Xvét-la-na A-lếch-xi-êvích. Cuốn truyện kí này sử dụng
hình thức phỏng vấn những người
có tên tuổi, nghề nghiệp cụ thể,
từng trải qua thực tế tàn khốc của
cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ
hai tù khi còn thơ bé. Với hình
thức này, tác giả đã chọn lọc, sắp
xếp lại sự kiện để đem đến cho

tích và định
hướng giọng đọc
trong văn bản.
NL
AI
–
11.C3.MR3: HS
tùy chỉnh AI
bằng
bộ
nguồn/hướng dẫn
truy vấn, ưu tiên
phản hồi dựa trên
tư liệu được cung
cấp.

 Hãy tóm lược nội dung được kể lại trong
văn bản và cho biết những điểm nhấn quan
trọng trong câu chuyện.
- GV yêu cầu HS tìm kiếm thông tin về giải
Nobel Văn học của S. Alexievich trên các
trang web uy tín và đánh giá tính xác thực
của nguồn tin.
- GV hướng dẫn HS dùng AI
(Gemini/ChatGPT) với câu lệnh: "Tóm tắt
phong cách viết 'văn chương diễn xướng'
(voices of Utopia) của Svetlana Alexievich
trong 3 dòng" để định hướng cách đọc văn
bản.
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học tập
- HS thảo luận theo nhóm, vận dụng kiến
thức đã học để thực hiện nhiệm vụ.
- GV quan sát, hỗ trợ HS (nếu cần thiết).
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và
thảo luận
- GV mời đại diện 1 HS của mỗi nhóm lần
lượt trình bày kết quả thảo luận.
- GV yêu cầu HS khác lắng nghe, nhận xét,
đặt câu hỏi (nếu có).
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm
vụ học tập
- GV nhận xét, đánh giá, chốt kiến thức.
- GV chuyển sang nội dung mới.

người đọc những câu chuyện sinh
động, hãi hùng trong kí ức của các
nhân vật.
2. Tóm lược nội dung được kể
lại trong văn bản và những điểm
nhấn quan trọng trong câu
chuyện.
- Tóm lược: Năm 1941, “tôi” – lúc
ấy còn là một đứa bé tám tuổi –
sau khi từ biệt bố mẹ đi dự trại hè
đội viên, gặp một trận bom của
phát xít Đức, chứng kiến sự đổ
máu, chết chóc →“Tôi” cũng như
bao đứa trẻ khác phải rời trại hè,
mang theo lương thực, thực phẩm
về một vùng hậu phương xa xôi,
nơi không có đạn bom → Ở vùng
đất mới, những đứa trẻ biết thế nào
là thiếu thần, đói khát, chẳng có gì
để ăn, đến nỗi phải giết cả con
ngựa già chuyên chở đồ đạc, thậm
chí ăn cả chồi mầm, vỏ cây →
Trên tất cả là nỗi nhớ mẹ, nhớ đến
mức gào khóc không nguôi →
Đến lớp Ba,“tôi” trốn trại, được
một gia đình ông già cưu mang →
Trong lòng “tôi” chỉ có một nỗi
ước ao được đi tìm mẹ → Cứ thế,
mãi sau này, khi đã năm mươi mốt
tuổi, “tôi” vẫn muốn có mẹ.
- Điểm nhấn quan trọng của câu
chuyện là các sự kiện liên quan
đến mẹ – điều đã được khái quát ở
nhan đề của văn bản. Mẹ luôn hiện
diện trong mọi thời khắc cuộc
sống đau thương thời thơ ấu của
“tôi”, và ước muốn gặp lại mẹ trở
thành nỗi ám ảnh thường xuyên
thường trực trong lòng nhân vật.
Vậy mà, cuối cùng phải đối diện

với sự thật phũ phàng: chiến tranh
đã cướp đi tất cả những gì gần gũi,
thân thương nhất của con người.
Hoạt động 2: Khám phá văn bản.
a. Mục tiêu: Nhận biết và phân tích được yếu tố hư cấu / phi hư cấu trong văn bản Và
tôi vẫn muốn mẹ….
b. Nội dung: Sử dụng SGK, chắt lọc kiến thức để tiến hành trả lời các câu hỏi liên
quan đến văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ….
c. Sản phẩm: Câu trả lời của HS và kiến thức HS tiếp thu được liên quan đến văn bản
Và tôi vẫn muốn mẹ… và chuẩn kiến thức GV.
d. Tổ chức thực hiện
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS
DỰ KIẾN SẢN PHẨM
NLS
Nhiệm vụ 1: Phân tích chi tiết, hình ảnh I. Những chi tiết, hình ảnh trong 6.1.NC1b: Biết sử
trong văn bản
văn bản
dụng công cụ AI để
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học Những ngày đau thương, đói khát, hỗ trợ phân tích tâm
tập
hãi hùng và thiếu thốn tình mẹ của lý nhân vật và bối
- GV yêu cầu HS thảo luận cặp đôi, trả lời bao đứa trẻ trong chiến tranh khốc cảnh lịch sử.
câu hỏi: Phân tích một số chi tiết, hình liệt – đó chính là nét đặc biệt của 3.1.NC1a: HS sử
ảnh tạo nên bức tranh cuộc sống đặc biệt bức tranh cuộc sống được tái hiện dụng được các công
được tái hiện trong văn bản. Chi tiết, hình trong văn bản. Bức tranh cuộc cụ hỗ trợ để trình
ảnh nào đã thực sự gây ấn tượng mạnh sống đặc biệt này được tạo nên bày bài làm.
với bạn? Vì sao?
bằng nhiểu chi tiết, hình ảnh sống 2.1.NC1b: Sử dụng
Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm động:
các công cụ tương
vụ
+ Máy bay đánh bom, “tất cả màu tác số (Padlet/LMS)
- HS vận dụng kiến thức đã học và trả lời sắc đều biến mất”. Lần đầu tiên, để chia sẻ và thảo
câu hỏi.
đứa bé biết đến từ “chết chóc” => luận về các giá trị
- GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ HS (nếu Chiến tranh đến trong sự ngỡ nhân văn của văn
cần thiết).
ngàng, khó hiểu với trẻ con, chúng bản.
- GV yêu cầu HS giữ lại câu trả lời/cách chưa đủ nhận thức về mức độ NL AI – 11.A1.2:
hiểu ban đầu của nhóm trước khi xem gợi khủng khiếp của chiến tranh, HS kiểm chứng gợi
ý AI, sau đó so sánh hai cách lí giải.
những tâm hồn ngây thơ thậm chí ý AI bằng văn
Câu lệnh gợi ý: “Đưa ra một cách lí giải không hiểu hết nghĩa của từ “chết bản/kiến thức môn
khác với nhận xét của tôi, nhưng mỗi ý chóc”, chúng không biết “chiến học và giữ quyền
phải nêu căn cứ từ văn bản tôi cung cấp; tranh” thực sự là gì. Máy bay đánh quyết định cách
chỉ gợi ý, không kết luận thay người học.” bom, màu sắc biến mất, chỉ còn hiểu, lập luận hoặc
- HS lập bảng “Ý kiến của tôi – Gợi ý AI màu u tối và ảm đạm của khói, của sản phẩm cuối.
– Căn cứ trong văn bản/kiến thức – Quyết đổ nát và của cái chết.
định”, nêu rõ ý nào được giữ, sửa hoặc + Triền miên trong đói khát, người
bác bỏ và lí do.
ta giết thịt cả con ngựa già thân
Minh chứng NL AI: bảng đối chiếu thiết duy nhất, rồi phải ăn cây cỏ

người–AI thể hiện kết luận cuối cùng do
HS quyết định.
(NL AI – 11.A1.2)
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và
thảo luận hoạt động và thảo luận
- GV mời 2 – 3 HS trình bày kết quả
chuẩn bị.
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện
nhiệm vụ
- GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến thức.

để sống qua ngày. => Đây chính là
hậu quả nặng nề mà chiến tranh
mang đến, chết chóc không chỉ
đến từ mưa bom bão đạn nã xuống
trên bầu trời mà nó còn đến từ nạn
đói. Trong chiến tranh, lương thực
khan hiếm, người ta phải tận dụng
tất cả những gì có thể ăn được để
duy trì sự sống. Con ngựa già mà
những đứa trẻ coi là bạn thân thiết
mà giờ đây chúng phải ăn thịt
chính con ngựa đó, đau đớn, tổn
thương, đó là những đổ vỡ đầu đời
trong tâm hồn trẻ thơ.
+ Trong trại trẻ mồ côi, hàng chục
đứa bé khóc rên gọi ba mẹ. Hễ
mỗi lần từ”mẹ” được ai vô tình
nhắc tới, tất cả lại “gào khóc
không nguôi. => Lên ba, lên năm,
vốn dĩ phải được sống trong vòng
tay yêu thương của mẹ cha, được
chăm sóc, nuôi dưỡng, được chở
che bằng mái ấm gia đình thì giờ
đây chúng trở thành trẻ mồ côi, ở
trong trại trẻ mồ côi và chỉ cần
nhắc đến tiếng “mẹ” là ngay lập
tức òa khóc. Những đứa trẻ nhớ
mẹ, chúng cần sự ấm áp của tình
mẹ - thứ tình cảm không gì thay
thế được.
+ Sau hàng chục năm trôi qua, cái
cảm giác đói và thiếu mẹ vẫn luôn
bám riết dai dẳng nhân vật “tôi”.
=> Chiến tranh đã lùi xa hàng thập
kỉ, kinh tế đất nước được khôi
phục, cuộc sống con người dần
khấm khá hơn, những vết thương
ngoài da thịt rồi cũng lành lặn, chỉ
có vết thương trong tâm hồn là
mãi mãi rỉ máu. “Con dù lớn vẫn

là con của mẹ”, ở độ tuổi nào
người ta cũng đều cần sự yêu
thương, che chở của mẹ, khoảng
trống mà chiến tranh tạo ra trong
tâm hồn nhân vật “tôi” mãi mãi
không thể bù đắp được, “tôi” đã
mất mẹ, mặc dù anh cũng đã có
cho riêng mình một gia đình nhỏ
nhưng khát khao có mẹ chưa bao
giờ nguôi ngoai.
II. Thái độ của tác giả
– Tư liệu sống được dùng để viết
nên truyện kí này hoàn toàn do
một người thợ làm tóc năm mươi
mốt tuổi tên là Din-na Cô-si-ắc
cung cấp cho nhà văn – nhà báo
Xvét-la-na A-lếch-xi-ê-vích. Mặc
dù chỉ là người ghi lại, nhưng tác
giả đóng vai trò rất quan trọng
trong việc tạo lập văn bản. Vai trò
này không chỉ thể hiện ở việc lựa
chọn ngôn từ, giọng kể, mà còn ở
cách sắp xếp sự việc, cách sáng
tạo các chi tiết, hình ảnh giàu ý
nghĩa. Đặc biệt, mặc dù người kể
chuyện thuộc ngôi thứ nhất xưng
“tôi”, nhưng lời kể không còn là
lời “nguyên bản” của người thợ
làm tóc, mà là lời kề có tính nghệ
Nhiệm vụ 2: Phân tích thái độ của tác thuật, được nhà văn sáng tạo nên.
Qua lời kể, nhà văn thể hiện thái
giả
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học độ đồng cảm với những đau
thương, mất mát mà nhân chứng
tập
- GV yêu cầu HS làm việc cá nhân, thực từng nếm trải.
hiện yêu cầu sau: Toàn bộ câu chuyện
được kể bởi một người vì chiến tranh mà
đã phải nếm trải những ngày tháng đau
thương ở tuổi ấu thơ, tác giả chỉ là người III. Tính xác thực và sức lay
ghi lại. Vậy trong việc tạo lập văn bản động của văn bản
này, tác giả đóng vai trò gì? Phân tích 1. Những yếu tố tạo nên tính xác

thái độ của tác giả khi ghi lại các sự kiện
mà nhân chứng kể lại.
Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm
vụ
- HS vận dụng kiến thức đã học và trả lời
câu hỏi.
- GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ HS (nếu
cần thiết).
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và
thảo luận hoạt động và thảo luận
- GV mời 1 – 2 HS trình bày kết quả
chuẩn bị.
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện
nhiệm vụ
- GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến thức.
Nhiệm vụ 3: Tính xác thực và sức lay
động của văn bản
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học
tập
- GV yêu cầu HS thảo luận nhóm nhỏ (4 –
6 HS), thực hiện yêu cầu sau:
 Chỉ ra những yếu tố tạo nên tính xác
thực của các sự kiện được nhân vật kể lại
cũng như trạng thái tâm lí của nhân vật
trước các sự kiện đó.
 Theo bạn, những yếu tố nào có khả
năng tạo nên sức lay động của văn bản
đối với người đọc? Thông điệp mà bạn
nhận được từ văn bản “Và tôi vẫn muốn
mẹ...” là gì?
- GV tiếp tục giao nhiệm vụ cho các
nhóm sử dụng AI để so sánh các chi tiết
thực tế trong văn bản với tư liệu lịch sử
về cuộc vây hãm Leningrad hoặc các trại
tập trung để hiểu tính phi hư cấu.
+ GV hướng dẫn HS lập bảng so sánh
trên Google Sheets: Một bên là "Kí ức
hồn nhiên" (con búp bê, chiếc váy), một
bên là "Hiện thực tàn khốc" (đói khát,
chết chóc).

thực của các sự kiện được nhân
vật kể lại
– Đối với một tác phẩm truyện kí,
tính xác thực là một yếu tố quan
trọng. Ở văn bản này, một số yếu
tố sau đây có thể giúp ta nhận ra
tính xác thực của các sự kiện được
kể lại:
+ Người kể chuyện có tên tuổi,
nghề nghiệp cụ thể. Đó là Din-na
Cô-si-ắc (Zina Kosyak) – một thợ
làm tóc.
+ Câu chuyện gắn với tuổi thơ của
người kể (lúc bấy giờ mới tám
tuổi). Vào thời điểm kế lại câu
chuyện cho tác giả nghe, người kể
đã năm mươi mốt tuổi.
– Câu chuyện được kể bởi người
kể chuyện ngôi thứ nhất, điều đó
cho thấy những sự kiện được kể
lại gắn với trải nghiệm trực tiếp
của người kể chứ không qua một
nhân vật trung gian nào. Người kề
cũng không giấu nổi thái độ, tâm
trạng của mình trước các sự kiện
(ví dụ: sợ hãi, lo âu, xót thương,
hoảng loạn, buồn bã, thất vọng,...).
2. Sức lay động của văn bản đối
với người đọc và thông điệp
- Các chi tiết: Những đứa trẻ lần
đầu nhìn thấy máy bay, không hề
biết những nguy hiểm đang cận
kề. Tận khi tất cả khung cảnh xung
quanh những đứa trẻ mất, thì
chúng mới biết cái khốc liệt và thê
thảm của những thứ này. Chúng
phải trải qua một mình mà không
được ở bên cạnh bố mẹ. Những
đứa trẻ gặp những ngày lính bị
thương và sẵn sàng cho đi tất cả

+ GV yêu cầu các nhóm gửi link sản
phẩm lên Padlet lớp và sử dụng tính năng
bình luận để phản biện chéo bài làm của
nhóm bạn.
Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm
vụ
- HS vận dụng kiến thức đã học và trả lời
câu hỏi.
- GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ HS (nếu
cần thiết).
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và
thảo luận hoạt động và thảo luận
- GV mời 1 – 2 HS trình bày kết quả
chuẩn bị.
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện
nhiệm vụ
- GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến thức.

những gì chúng có. Trong con mắt
của những
 
Gửi ý kiến