giáo án năng lực số

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 13h:07' 16-03-2026
Dung lượng: 962.7 KB
Số lượt tải: 53
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 13h:07' 16-03-2026
Dung lượng: 962.7 KB
Số lượt tải: 53
Số lượt thích:
0 người
TIẾT: VĂN BẢN 2: VÀ TÔI VẪN MUỐN MẸ
I. MỤC TIÊU
1. Kiến thức
- Nắm được những được những đặc điểm cơ bản của truyện kí – một thể loại chú
trọng ghi chép sự thực đời sống và thể hiện bằng văn bản giàu yếu tố tự sự (có
tình huống, sự kiện cốt truyện, nhân vật…).
- Qua việc đọc văn bản được tác giả tạo nên bằng cách ghi lại lời kể của một nhân
vật có thật, đề cập đến những chuyện xảy ra trong kí ức, phân tích và hiểu được
tính chất phi hư cấu và hư cấu trong truyện kí.
2. Năng lực
Năng lực chung
- Năng lực giao tiếp và hợp tác: khả năng thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập
hay theo nhóm; Trao đổi tích cực với giáo viên và các bạn khác trong lớp.
- Năng lực tự chủ và tự học: biết lắng nghe và chia sẻ ý kiến cá nhân với bạn,
nhóm và GV. Tích cực tham gia các hoạt động trong lớp.
- Giải quyết vấn đề và sáng tạo: biết phối hợp với bạn bè khi làm việc nhóm, tư
duy logic, sáng tạo khi giải quyết vấn đề.
Năng lực đặc thù
- Nắm được những được những đặc điểm cơ bản của truyện kí – một thể loại chú
trọng ghi chép sự thực đời sống và thể hiện bằng văn bản giàu yếu tố tự sự (có
tình huống, sự kiện cốt truyện, nhân vật…) qua văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ…
- Qua việc đọc văn bản được tác giả tạo nên bằng cách ghi lại lời kể của một nhân
vật có thật, đề cập đến những chuyện xảy ra trong kí ức, phân tích và hiểu được
tính chất phi hư cấu và hư cấu trong truyện kí qua văn bản Và tôi vẫn muốn
mẹ…
Năng lực số:
-
1.1.NC1a: Biết tìm kiếm, lựa chọn và đánh giá tính xác thực của thông tin số
về tác giả S. Alexievich và bối cảnh Thế chiến II.
-
6.1.NC1a: Biết sử dụng công cụ AI để hỗ trợ phân tích tâm lý nhân vật và
bối cảnh lịch sử.
-
2.1.NC1b: Sử dụng các công cụ tương tác số (Padlet/LMS) để chia sẻ và
thảo luận về các giá trị nhân văn của văn bản.
3. Phẩm chất
- Thấu hiểu và cảm thông với con người ở những cảnh ngộ khác nhau.
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
1. Đối với giáo viên
- KHBD;
- Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi;
- Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp;
- Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà;
- Máy tính, máy chiếu.
- Video AI được tạo bằng các công cụ AI để khởi động bài học.
- Công cụ AI hỗ trợ: ChatGPT, Copilot…
2. Đối với học sinh
- SGK, SBT Ngữ văn 11.
- Soạn bài theo hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài, vở ghi.
- Thiết bị số: Máy tính bảng hoặc điện thoại thông minh (nếu điều kiện cho phép)
có kết nối Internet.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG
a. Mục tiêu: Tạo hứng thú cho HS, huy động tri thức nền, thu hút HS sẵn sàng
thực hiện nhiệm vụ học tập tạo tâm thế tích cực cho HS khi vào bài học Và tôi vẫn
muốn mẹ…
b. Nội dung: GV hướng dẫn HS thảo luận theo nhóm đôi: “Hãy chia sẻ câu
chuyện cảm động nói về tình cảm mẹ con mà bạn từng biết qua các tác phẩm nghệ
thuật (văn học, sân khấu, điện ảnh,..). Qua thực tế cuộc sống xung quanh, bạn biết
được gì về những hậu quả mà chiến tranh gây ra đối với đời sống con người?”
c. Sản phẩm: Những chia sẻ của học sinh.
d. Tổ chức thực hiện:
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập
- GV hướng dẫn HS thảo luận theo nhóm đôi: “Hãy chia sẻ câu chuyện cảm động
nói về tình cảm mẹ con mà bạn từng biết qua các tác phẩm nghệ thuật (văn học,
sân khấu, điện ảnh,..). Qua thực tế cuộc sống xung quanh, bạn biết được gì về
những hậu quả mà chiến tranh gây ra đối với đời sống con người?”.
- GV tiếp tục yêu cầu HS xem video AI được thiết kế riêng cho bài học và yêu cầu
HS trả lời câu hỏi xuất hiện trong đó.
Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm vụ học tập
- HS huy động tri thức nền, trải nghiệm cá nhân thực hiện yêu cầu được giao.
- HS xem video và trả lời câu hỏi.
- GV quan sát, hỗ trợ HS thực hiện (nếu cần thiết).
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động, thảo luận
- GV mời đại diện 2 – 3 HS trình bày trước lớp.
- GV yêu cầu các HS khác lắng nghe, nhận xét, đặt câu hỏi (nếu có).
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
- GV nhận xét, đánh giá.
- Gợi ý:
+ Văn học: Trong lòng mẹ - Nguyên Hồng (trích Những ngày thơ ấu), Hãy chăm
sóc mẹ - Shin Kyung-sook, Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi,…
Ví dụ: Hãy chăm sóc mẹ - Shin Kyung-sook
Mẹ là một điều tuyệt vời nhất mà thượng đế mang đến cho mỗi người con, cho mỗi
người con cuộc sống và luôn che chở, bảo vệ, cùng khóc và cùng cười với những
đứa con trong hành trình cuộc đời này. Hãy chăm sóc mẹ là những câu chuyện
được kể luân phiên nhau dưới dòng hồi tưởng suy ngẫm của các thành viên trong
gia đình: cô con gái thứ, người anh cả và người chồng. Câu chuyện bắt đầu bằng
tin người mẹ bị lạc ở ga tàu, trong chuyến tàu cùng chồng từ quê lên thăm các con
ở thành phố. Bà đã bị lạc hơn một tuần rồi, nhưng chẳng hề có chút tin tức nào về
bà. Người mẹ trong câu chuyện vốn là người có tính cộc cằn, khó tính, dù thực sự
bà là một người nhân hậu và luôn yêu thương các con. Tuy nhiên, chính vẻ vỏ bọc
cọc cằn, khó tính đó, lại là rào cản tình cảm lớn đối với những đứa con, với người
chồng và với người chị dâu. Tình cảm họ dành cho bà rất ít ỏi, thậm chí có người
còn ghét bà.
Cho đến khi bà đi lạc, họ dường như mới nhận ra những tình cảm chân thành bà
dành cho họ tuyệt vời như thế nào. Từng nhân vật hồi tưởng về người mẹ theo
dòng kì ức của mình về mẹ, để rồi theo dòng kí ức ấy, họ nhận ra sự thực rằng bản
thân mình đã vô tâm, vô cảm với mẹ, với vợ mình. Tình cảm của người phụ nữ bất
hạnh ấy dành cho chồng, cho con lớn lao, cao cả đến nhường nào và bà bày tỏ
những tình cảm ấy qua một cách riêng của mình. Bà chăm lo chu toàn cho những
đứa con của mình trong những năm tháng tuổi thơ, tần tảo, hi sinh nuôi lớn các
con nên người. Hình ảnh mẹ theo kí ức của từng người hiện ra những điều hoài
niệm kèm với sự hối lỗi của chính họ. Họ luôn trăn trở vì đã lạc mất mẹ, đã không
quan tâm đến những cảm xúc, suy nghĩ của bà trước đây. Liệu những đứa con có
thể tìm thấy mẹ mình không, bà có trở về với gia đình hay không, hay bà sẽ đi lạc
mãi mãi, cùng đôi chân tập tễnh do bị thương vì đi lạc một quãng đường dài.
Hãy chăm sóc mẹ là một lời nhắc nhở cho chúng ta. Với ai còn mẹ, xin đừng quá
mải mê với những cuộc chơi xô bồ, vội vã, với đồng tiền hay công việc mà quên
mất mẹ đang ngày ngày ngóng chờ con trở về thăm. Đừng để mình gặp phải những
câu chuyện như những đứa con trong truyện, chỉ đến khi không thể gặp mẹ được
nữa, họ mới hối hận về những điều mình đã làm với mẹ. Chỉ khi đó, ta mới nhận ra
để bù đắp cho những hy sinh của mẹ dành cho mình đã quá muộn.
- GV dẫn dắt vào bài học mới: Bersot nói: “Trong vũ trụ có lắm kì quan, nhưng kì
quan đẹp nhất là trái tim người mẹ”. Tình mẫu tử luôn là thứ tình cảm thiêng
liêng, cao đẹp nhất, là sự vỗ về, ôm ấp tuổi thơ ta đến khi chúng ta trưởng thành,
mẹ vẫn luôn là một phần quan. Trong bài học ngày hôm nay, chúng ta sẽ cùng
nhau tìm hiểu về văn bản “Và tôi vẫn muốn mẹ…” để thấu tỏ được nỗi niềm khao
khát có mẹ của một đứa trẻ trong hình hài một người lớn nhé!
[2.1.NC1a: HS thực hiện các tương tác cơ bản với học liệu số (xem video, trả lời
câu hỏi trên môi trường số)].
2. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Hoạt động 1: Đọc – hiểu văn bản
a. Mục tiêu: Nhận biết và hiểu được một số đặc trưng của văn bản truyện kí.
b. Nội dung: HS sử dụng SGK, quan sát, chắt lọc kiến thức trả lời những câu hỏi
liên quan đến bài học.
c. Sản phẩm học tập: Câu trả lời của HS và chuẩn kiến thức của GV.
d. Tổ chức thực hiện:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS
Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu về truyện kí
SẢN PHẨM DỰ KIẾN
I. Truyện kí
NLS
1.1.NC1a:
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học 1. Hư cấu và phi hư cấu trong tìm
tập
truyện kí
Biết
kiếm,
lựa
chọn và đánh giá
- GV hướng dẫn HS làm việc cá nhân, xem - Truyện kí là một dạng truyện kể tính xác thực của
lại kiến thức ở phần Tri thức ngữ văn và về người thật, việc thật. Tôn thông tin số về
thực hiện yêu cầu sau:
trọng sự thật đời sống, đảm bảo tác
giả
S.
Phi hư cấu và hư cấu trong truyện kí là tính xác thực của toàn bộ sự việc Alexievich
và
gì?
được kể là đòi hỏi quan trọng bối
cảnh
Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm
hàng đầu đối với các sáng tác chiến II.
vụ
thuộc thể loại này. Vì vậy, truyện 6.1.NC1a:
Thế
Biết
- HS vận dụng kiến thức đã học và trả lời kí được xếp vào loại văn học phi sử dụng công cụ
câu hỏi.
hư cấu.
AI để hỗ trợ
- GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ HS (nếu - Tuy nhiên, yếu tố hư cấu vẫn phân
cần thiết).
tích
luôn hiện diện trong truyện kí (dù định
và
hướng
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và được sử dụng một cách tiết chế), giọng đọc trong
thảo luận hoạt động và thảo luận
thể hiện ở sự sáng tạo riêng của văn bản.
- GV mời 1 – 2 HS trình bày kết quả chuẩn người viết khi xử lí, tổ chức tư
bị
liệu và lựa chọn giọng điệu, ngôn
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện ngữ trần thuật thích hợp. Yếu tố
nhiệm vụ
hư cấu còn được thể hiện qua
- GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến thức.
cách người viết hình dung, miêu
Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu chung về tác giả, tả tâm trạng, cảm xúc của nhân
tác phẩm
vật.
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học II. Tìm hiểu chung về tác giả,
tập
tác phẩm
GV yêu cầu HS trả lời câu hỏi sau đây:
1. Tác giả và xuất xứ tác phẩm
Nêu một số nét cơ bản về tác giả và - Xvétlana A-lếch-xi-ê-vích sinh
xuất xứ của văn bản “Và tôi vẫn muốn năm 1948, là nhà báo, nhà văn
mẹ…”.
Bê-la-rút (Belarus), được trao
giải Nô-ben (Nobel Văn học năm
2015. Một số tác phẩm tiêu biểu
của bà: Chiến tranh không có
một khuôn mặt phụ nữ (1983),
Những nhân chứng cuối cùng
(1985), Lời nguyện cầu từ Chécnô-bin – Chernobyl (1997). Các
tác phẩm phi hư cấu của Xvét-lana A-lếch-xi-ê-vích đã dựng lên
“một tượng đài tưởng niệm sự
thống khổ và lòng can đảm trong
thời đại chúng ta” (nhận định của
Hãy tóm lược nội dung được kể lại
trong văn bản và cho biết những điểm
nhấn quan trọng trong câu chuyện.
- GV yêu cầu HS tìm kiếm thông tin về
giải Nobel Văn học của S. Alexievich trên
các trang web uy tín và đánh giá tính xác
Uỷ ban chấm giải Nô-ben).
- Văn bản “Và tôi vẫn muốn
mẹ…” rút từ cuốn Những nhân
chứng cuối cùng – Solo cho
giọng trẻ em của Xvét-la-na Alếch-xi-ê-vích. Cuốn truyện kí
này sử dụng hình thức phỏng vấn
thực của nguồn tin.
-
GV
hướng
những người có tên tuổi, nghề
dẫn
HS
dùng
AI nghiệp cụ thể, từng trải qua thực
(Gemini/ChatGPT) với câu lệnh: "Tóm tắt tế tàn khốc của cuộc Chiến tranh
phong cách viết 'văn chương diễn xướng' thế giới lần thứ hai tù khi còn thơ
(voices of Utopia) của Svetlana Alexievich bé. Với hình thức này, tác giả đã
trong 3 dòng" để định hướng cách đọc văn chọn lọc, sắp xếp lại sự kiện để
bản.
đem đến cho người đọc những
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học tập
câu chuyện sinh động, hãi hùng
- HS thảo luận theo nhóm, vận dụng kiến trong kí ức của các nhân vật.
thức đã học để thực hiện nhiệm vụ.
2. Tóm lược nội dung được kể
- GV quan sát, hỗ trợ HS (nếu cần thiết).
lại trong văn bản và những
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và điểm nhấn quan trọng trong
thảo luận
câu chuyện.
- GV mời đại diện 1 HS của mỗi nhóm lần - Tóm lược: Năm 1941, “tôi” –
lượt trình bày kết quả thảo luận.
lúc ấy còn là một đứa bé tám tuổi
- GV yêu cầu HS khác lắng nghe, nhận xét, – sau khi từ biệt bố mẹ đi dự trại
đặt câu hỏi (nếu có).
hè đội viên, gặp một trận bom
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện của phát xít Đức, chứng kiến sự
nhiệm vụ học tập
đổ máu, chết chóc →“Tôi” cũng
- GV nhận xét, đánh giá, chốt kiến thức.
như bao đứa trẻ khác phải rời trại
- GV chuyển sang nội dung mới.
hè, mang theo lương thực, thực
phẩm về một vùng hậu phương
xa xôi, nơi không có đạn bom →
Ở vùng đất mới, những đứa trẻ
biết thế nào là thiếu thần, đói
khát, chẳng có gì để ăn, đến nỗi
phải giết cả con ngựa già chuyên
chở đồ đạc, thậm chí ăn cả chồi
mầm, vỏ cây → Trên tất cả là nỗi
nhớ mẹ, nhớ đến mức gào khóc
không nguôi → Đến lớp Ba,“tôi”
trốn trại, được một gia đình ông
già cưu mang → Trong lòng
“tôi” chỉ có một nỗi ước ao được
đi tìm mẹ → Cứ thế, mãi sau
này, khi đã năm mươi mốt tuổi,
“tôi” vẫn muốn có mẹ.
- Điểm nhấn quan trọng của câu
chuyện là các sự kiện liên quan
đến mẹ – điều đã được khái quát
ở nhan đề của văn bản. Mẹ luôn
hiện diện trong mọi thời khắc
cuộc sống đau thương thời thơ ấu
của “tôi”, và ước muốn gặp lại
mẹ trở thành nỗi ám ảnh thường
xuyên thường trực trong lòng
nhân vật. Vậy mà, cuối cùng phải
đối diện với sự thật phũ phàng:
chiến tranh đã cướp đi tất cả
những gì gần gũi, thân thương
nhất của con người.
Hoạt động 2: Khám phá văn bản.
a. Mục tiêu: Nhận biết và phân tích được yếu tố hư cấu / phi hư cấu trong văn bản
Và tôi vẫn muốn mẹ….
b. Nội dung: Sử dụng SGK, chắt lọc kiến thức để tiến hành trả lời các câu hỏi liên
quan đến văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ….
c. Sản phẩm: Câu trả lời của HS và kiến thức HS tiếp thu được liên quan đến văn
bản Và tôi vẫn muốn mẹ… và chuẩn kiến thức GV.
d. Tổ chức thực hiện
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS
DỰ KIẾN SẢN PHẨM
NLS
Nhiệm vụ 1: Phân tích chi tiết, hình I. Những chi tiết, hình ảnh 6.1.NC1b: Biết sử
ảnh trong văn bản
trong văn bản
dụng công cụ AI
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học Những ngày đau thương, đói để hỗ trợ phân tích
tập
khát, hãi hùng và thiếu thốn tình tâm lý nhân vật và
- GV yêu cầu HS thảo luận cặp đôi, trả mẹ của bao đứa trẻ trong chiến bối cảnh lịch sử.
lời câu hỏi: Phân tích một số chi tiết, tranh khốc liệt – đó chính là nét 3.1.NC1a: HS sử
hình ảnh tạo nên bức tranh cuộc sống đặc biệt của bức tranh cuộc sống dụng
được
các
đặc biệt được tái hiện trong văn bản. được tái hiện trong văn bản. Bức công cụ hỗ trợ để
Chi tiết, hình ảnh nào đã thực sự gây ấn tranh cuộc sống đặc biệt này trình bày bài làm.
tượng mạnh với bạn? Vì sao?
được tạo nên bằng nhiểu chi tiết, 2.1.NC1b: Sử dụng
Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện
hình ảnh sống động:
nhiệm vụ
+ Máy bay đánh bom, “tất cả tác
các công cụ tương
- HS vận dụng kiến thức đã học và trả lời màu sắc đều biến mất”. Lần đầu (Padlet/LMS)
câu hỏi.
số
để
tiên, đứa bé biết đến từ “chết chia sẻ và thảo
- GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ HS chóc” => Chiến tranh đến trong luận về các giá trị
(nếu cần thiết).
sự ngỡ ngàng, khó hiểu với trẻ nhân văn của văn
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và con, chúng chưa đủ nhận thức về bản.
thảo luận hoạt động và thảo luận
mức độ khủng khiếp của chiến
- GV mời 2 – 3 HS trình bày kết quả tranh, những tâm hồn ngây thơ
chuẩn bị.
thậm chí không hiểu hết nghĩa
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện của từ “chết chóc”, chúng không
nhiệm vụ
biết “chiến tranh” thực sự là gì.
- GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến Máy bay đánh bom, màu sắc biến
thức.
mất, chỉ còn màu u tối và ảm
đạm của khói, của đổ nát và của
cái chết.
+ Triền miên trong đói khát,
người ta giết thịt cả con ngựa già
thân thiết duy nhất, rồi phải ăn
cây cỏ để sống qua ngày. => Đây
chính là hậu quả nặng nề mà
chiến tranh mang đến, chết chóc
không chỉ đến từ mưa bom bão
đạn nã xuống trên bầu trời mà nó
còn đến từ nạn đói. Trong chiến
tranh, lương thực khan hiếm,
người ta phải tận dụng tất cả
những gì có thể ăn được để duy
trì sự sống. Con ngựa già mà
những đứa trẻ coi là bạn thân
thiết mà giờ đây chúng phải ăn
thịt chính con ngựa đó, đau đớn,
tổn thương, đó là những đổ vỡ
đầu đời trong tâm hồn trẻ thơ.
+ Trong trại trẻ mồ côi, hàng
chục đứa bé khóc rên gọi ba mẹ.
Hễ mỗi lần từ”mẹ” được ai vô
tình nhắc tới, tất cả lại “gào khóc
không nguôi. => Lên ba, lên
năm, vốn dĩ phải được sống trong
vòng tay yêu thương của mẹ cha,
được chăm sóc, nuôi dưỡng,
được chở che bằng mái ấm gia
đình thì giờ đây chúng trở thành
trẻ mồ côi, ở trong trại trẻ mồ côi
và chỉ cần nhắc đến tiếng “mẹ” là
ngay lập tức òa khóc. Những đứa
trẻ nhớ mẹ, chúng cần sự ấm áp
của tình mẹ - thứ tình cảm không
gì thay thế được.
+ Sau hàng chục năm trôi qua,
cái cảm giác đói và thiếu mẹ vẫn
luôn bám riết dai dẳng nhân vật
“tôi”. => Chiến tranh đã lùi xa
hàng thập kỉ, kinh tế đất nước
được khôi phục, cuộc sống con
người dần khấm khá hơn, những
vết thương ngoài da thịt rồi cũng
lành lặn, chỉ có vết thương trong
tâm hồn là mãi mãi rỉ máu. “Con
dù lớn vẫn là con của mẹ”, ở độ
tuổi nào người ta cũng đều cần sự
yêu thương, che chở của mẹ,
khoảng trống mà chiến tranh tạo
ra trong tâm hồn nhân vật “tôi”
mãi mãi không thể bù đắp được,
“tôi” đã mất mẹ, mặc dù anh
cũng đã có cho riêng mình một
gia đình nhỏ nhưng khát khao có
mẹ chưa bao giờ nguôi ngoai.
II. Thái độ của tác giả
– Tư liệu sống được dùng để viết
nên truyện kí này hoàn toàn do
Nhiệm vụ 2: Phân tích thái độ của tác một người thợ làm tóc năm mươi
giả
mốt tuổi tên là Din-na Cô-si-ắc
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học cung cấp cho nhà văn – nhà báo
tập
Xvét-la-na A-lếch-xi-ê-vích. Mặc
- GV yêu cầu HS làm việc cá nhân, thực dù chỉ là người ghi lại, nhưng tác
hiện yêu cầu sau: Toàn bộ câu chuyện giả đóng vai trò rất quan trọng
được kể bởi một người vì chiến tranh mà trong việc tạo lập văn bản. Vai
đã phải nếm trải những ngày tháng đau trò này không chỉ thể hiện ở việc
thương ở tuổi ấu thơ, tác giả chỉ là lựa chọn ngôn từ, giọng kể, mà
người ghi lại. Vậy trong việc tạo lập văn còn ở cách sắp xếp sự việc, cách
bản này, tác giả đóng vai trò gì? Phân sáng tạo các chi tiết, hình ảnh
tích thái độ của tác giả khi ghi lại các sự giàu ý nghĩa. Đặc biệt, mặc dù
kiện mà nhân chứng kể lại.
người kể chuyện thuộc ngôi thứ
Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện
nhất xưng “tôi”, nhưng lời kể
nhiệm vụ
không còn là lời “nguyên bản”
- HS vận dụng kiến thức đã học và trả lời của người thợ làm tóc, mà là lời
câu hỏi.
kề có tính nghệ thuật, được nhà
- GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ HS văn sáng tạo nên. Qua lời kể, nhà
(nếu cần thiết).
văn thể hiện thái độ đồng cảm
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và với những đau thương, mất mát
thảo luận hoạt động và thảo luận
mà nhân chứng từng nếm trải.
- GV mời 1 – 2 HS trình bày kết quả
chuẩn bị.
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện
nhiệm vụ
III. Tính xác thực và sức lay
- GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến động của văn bản
thức.
1. Những yếu tố tạo nên tính
Nhiệm vụ 3: Tính xác thực và sức lay xác thực của các sự kiện được
động của văn bản
nhân vật kể lại
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học – Đối với một tác phẩm truyện
tập
kí, tính xác thực là một yếu tố
- GV yêu cầu HS thảo luận nhóm nhỏ (4 quan trọng. Ở văn bản này, một
– 6 HS), thực hiện yêu cầu sau:
số yếu tố sau đây có thể giúp ta
Chỉ ra những yếu tố tạo nên tính xác nhận ra tính xác thực của các sự
thực của các sự kiện được nhân vật kể kiện được kể lại:
lại cũng như trạng thái tâm lí của nhân
+ Người kể chuyện có tên tuổi,
vật trước các sự kiện đó.
nghề nghiệp cụ thể. Đó là Din-na
Theo bạn, những yếu tố nào có khả Cô-si-ắc (Zina Kosyak) – một
năng tạo nên sức lay động của văn bản
thợ làm tóc.
đối với người đọc? Thông điệp mà bạn
+ Câu chuyện gắn với tuổi thơ
nhận được từ văn bản “Và tôi vẫn muốn
của người kể (lúc bấy giờ mới
mẹ...” là gì?
tám tuổi). Vào thời điểm kế lại
- GV tiếp tục giao nhiệm vụ cho các
câu chuyện cho tác giả nghe,
nhóm sử dụng AI để so sánh các chi tiết
người kể đã năm mươi mốt tuổi.
thực tế trong văn bản với tư liệu lịch sử
– Câu chuyện được kể bởi người
về cuộc vây hãm Leningrad hoặc các
kể chuyện ngôi thứ nhất, điều đó
trại tập trung để hiểu tính phi hư cấu.
cho thấy những sự kiện được kể
+ GV hướng dẫn HS lập bảng so sánh
lại gắn với trải nghiệm trực tiếp
trên Google Sheets: Một bên là "Kí ức
của người kể chứ không qua một
hồn nhiên" (con búp bê, chiếc váy), một
nhân vật trung gian nào. Người
bên là "Hiện thực tàn khốc" (đói khát,
kề cũng không giấu nổi thái độ,
chết chóc).
tâm trạng của mình trước các sự
+ GV yêu cầu các nhóm gửi link sản
kiện (ví dụ: sợ hãi, lo âu, xót
phẩm lên Padlet lớp và sử dụng tính
thương, hoảng loạn, buồn bã, thất
năng bình luận để phản biện chéo bài
vọng,...).
làm của nhóm bạn.
2. Sức lay động của văn bản đối
Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện
với người đọc và thông điệp
nhiệm vụ
- Các chi tiết: Những đứa trẻ lần
- HS vận dụng kiến thức đã học và trả lời đầu nhìn thấy máy bay, không hề
câu hỏi.
biết những nguy hiểm đang cận
- GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ HS kề. Tận khi tất cả khung cảnh
(nếu cần thiết).
xung quanh những đứa trẻ mất,
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thì chúng mới biết cái khốc liệt
thảo luận hoạt động và thảo luận
và thê thảm của những thứ này.
- GV mời 1 – 2 HS trình bày kết quả Chúng phải trải qua một mình mà
chuẩn bị.
không được ở bên cạnh bố mẹ.
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện Những đứa trẻ gặp những ngày
nhiệm vụ
lính bị thương và sẵn sàng cho đi
- GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến tất cả những gì chúng có. Trong
thức.
con mắt của những đứa trẻ ngây
thơ này, thì đó như là những
người cha của mình vì cha của
những đứa trẻ này cũng đang
phục vụ cho quân đội. Vì quân
Đức đang chiếm đóng và tàn phá
nặng nề, những đứa trẻ sẽ được
đến những nơi mà không có
chiến tranh. Nhưng đến nơi
không có chiến tranh thì cuộc
sống của những đứa trẻ vẫn
không thể có một cuộc sống đủ
đầy. Không có chỗ ăn, chỗ ngủ
mà phải chợp mắt trên những
đống rơm rạ. Chúng thiếu thốn
đồ ăn đến mức mà những người
bảo mẫu ở đấy phải giết cả con
vật đang chở nước để ăn. Thiếu
đồ ăn ngày một nhiểu đến mức
những đứa trẻ phải ăn cả vỏ cây
và những chồi non, nếu như
chúng không muốn chết đói.
Thiếu đồ ăn không phải là điều
tồi tệ nhất với những đứa trẻ mà
là việc chúng phải xa gia đình
của mình. Những đứa trẻ nhớ bố
mẹ đến mức đêm nào cũng khóc,
khiến cho những người giáo viên
không dám nhắc đến mẹ trước
mặt bọn chúng. Khi ngày càng
nhớ mẹ, nhân vật tôi đã trốn đi để
tìm mẹ.
- Thông điệp: Chiến tranh đã
khiến những gia đình phải xa
cách, sinh ly tử biệt. Chiến tranh
là thứ tàn phá nhân loại.
IV. Tổng kết
1. Nội dung
- Văn bản lên án chiến tranh đã
Nhiệm vụ 4: Tổng kết
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học
tập
- GV hướng dẫn HS làm việc cá nhân,
trả lời sau:
Hãy rút ra giá trị nội dung và nghệ
thuật dung của văn bản “Và tôi vẫn
muốn mẹ…”.
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học
tập
- HS làm việc cá nhân, rút ra Kết luận.
- GV quan sát, hỗ trợ HS (nếu cần thiết).
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và
thảo luận
- GV mời đại 1 – 2 HS trình bày câu trả
lời.
- GV yêu cầu HS khác lắng nghe, nhận
khiến cho con người rơi vào
những hoàn cảnh khốn khổ, cuộc
sống bị đảo lộn, đặc biệt nạn
nhân của chiến tranh chịu nhiểu
thiệt thòi nhất là những đứa trẻ.
Chiến tranh đã khiến cho tâm
hồn trẻ thơ đầy những vết xước rỉ
máu, thiếu thốn tình yêu thương
của gia đình, không được sống
trong vòng tay ấm áp của mẹ, để
rồi khi trưởng thành, trong hình
hài của người lớn vẫn tồn tại một
khát khao trẻ thơ: muốn có mẹ.
2. Nghệ thuật
- Thể loại: truyện kí.
- Cốt truyện: dựa trên một câu
chuyện có thật, tư liệu sống đư
I. MỤC TIÊU
1. Kiến thức
- Nắm được những được những đặc điểm cơ bản của truyện kí – một thể loại chú
trọng ghi chép sự thực đời sống và thể hiện bằng văn bản giàu yếu tố tự sự (có
tình huống, sự kiện cốt truyện, nhân vật…).
- Qua việc đọc văn bản được tác giả tạo nên bằng cách ghi lại lời kể của một nhân
vật có thật, đề cập đến những chuyện xảy ra trong kí ức, phân tích và hiểu được
tính chất phi hư cấu và hư cấu trong truyện kí.
2. Năng lực
Năng lực chung
- Năng lực giao tiếp và hợp tác: khả năng thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập
hay theo nhóm; Trao đổi tích cực với giáo viên và các bạn khác trong lớp.
- Năng lực tự chủ và tự học: biết lắng nghe và chia sẻ ý kiến cá nhân với bạn,
nhóm và GV. Tích cực tham gia các hoạt động trong lớp.
- Giải quyết vấn đề và sáng tạo: biết phối hợp với bạn bè khi làm việc nhóm, tư
duy logic, sáng tạo khi giải quyết vấn đề.
Năng lực đặc thù
- Nắm được những được những đặc điểm cơ bản của truyện kí – một thể loại chú
trọng ghi chép sự thực đời sống và thể hiện bằng văn bản giàu yếu tố tự sự (có
tình huống, sự kiện cốt truyện, nhân vật…) qua văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ…
- Qua việc đọc văn bản được tác giả tạo nên bằng cách ghi lại lời kể của một nhân
vật có thật, đề cập đến những chuyện xảy ra trong kí ức, phân tích và hiểu được
tính chất phi hư cấu và hư cấu trong truyện kí qua văn bản Và tôi vẫn muốn
mẹ…
Năng lực số:
-
1.1.NC1a: Biết tìm kiếm, lựa chọn và đánh giá tính xác thực của thông tin số
về tác giả S. Alexievich và bối cảnh Thế chiến II.
-
6.1.NC1a: Biết sử dụng công cụ AI để hỗ trợ phân tích tâm lý nhân vật và
bối cảnh lịch sử.
-
2.1.NC1b: Sử dụng các công cụ tương tác số (Padlet/LMS) để chia sẻ và
thảo luận về các giá trị nhân văn của văn bản.
3. Phẩm chất
- Thấu hiểu và cảm thông với con người ở những cảnh ngộ khác nhau.
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
1. Đối với giáo viên
- KHBD;
- Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi;
- Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp;
- Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà;
- Máy tính, máy chiếu.
- Video AI được tạo bằng các công cụ AI để khởi động bài học.
- Công cụ AI hỗ trợ: ChatGPT, Copilot…
2. Đối với học sinh
- SGK, SBT Ngữ văn 11.
- Soạn bài theo hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài, vở ghi.
- Thiết bị số: Máy tính bảng hoặc điện thoại thông minh (nếu điều kiện cho phép)
có kết nối Internet.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG
a. Mục tiêu: Tạo hứng thú cho HS, huy động tri thức nền, thu hút HS sẵn sàng
thực hiện nhiệm vụ học tập tạo tâm thế tích cực cho HS khi vào bài học Và tôi vẫn
muốn mẹ…
b. Nội dung: GV hướng dẫn HS thảo luận theo nhóm đôi: “Hãy chia sẻ câu
chuyện cảm động nói về tình cảm mẹ con mà bạn từng biết qua các tác phẩm nghệ
thuật (văn học, sân khấu, điện ảnh,..). Qua thực tế cuộc sống xung quanh, bạn biết
được gì về những hậu quả mà chiến tranh gây ra đối với đời sống con người?”
c. Sản phẩm: Những chia sẻ của học sinh.
d. Tổ chức thực hiện:
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập
- GV hướng dẫn HS thảo luận theo nhóm đôi: “Hãy chia sẻ câu chuyện cảm động
nói về tình cảm mẹ con mà bạn từng biết qua các tác phẩm nghệ thuật (văn học,
sân khấu, điện ảnh,..). Qua thực tế cuộc sống xung quanh, bạn biết được gì về
những hậu quả mà chiến tranh gây ra đối với đời sống con người?”.
- GV tiếp tục yêu cầu HS xem video AI được thiết kế riêng cho bài học và yêu cầu
HS trả lời câu hỏi xuất hiện trong đó.
Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm vụ học tập
- HS huy động tri thức nền, trải nghiệm cá nhân thực hiện yêu cầu được giao.
- HS xem video và trả lời câu hỏi.
- GV quan sát, hỗ trợ HS thực hiện (nếu cần thiết).
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động, thảo luận
- GV mời đại diện 2 – 3 HS trình bày trước lớp.
- GV yêu cầu các HS khác lắng nghe, nhận xét, đặt câu hỏi (nếu có).
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
- GV nhận xét, đánh giá.
- Gợi ý:
+ Văn học: Trong lòng mẹ - Nguyên Hồng (trích Những ngày thơ ấu), Hãy chăm
sóc mẹ - Shin Kyung-sook, Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi,…
Ví dụ: Hãy chăm sóc mẹ - Shin Kyung-sook
Mẹ là một điều tuyệt vời nhất mà thượng đế mang đến cho mỗi người con, cho mỗi
người con cuộc sống và luôn che chở, bảo vệ, cùng khóc và cùng cười với những
đứa con trong hành trình cuộc đời này. Hãy chăm sóc mẹ là những câu chuyện
được kể luân phiên nhau dưới dòng hồi tưởng suy ngẫm của các thành viên trong
gia đình: cô con gái thứ, người anh cả và người chồng. Câu chuyện bắt đầu bằng
tin người mẹ bị lạc ở ga tàu, trong chuyến tàu cùng chồng từ quê lên thăm các con
ở thành phố. Bà đã bị lạc hơn một tuần rồi, nhưng chẳng hề có chút tin tức nào về
bà. Người mẹ trong câu chuyện vốn là người có tính cộc cằn, khó tính, dù thực sự
bà là một người nhân hậu và luôn yêu thương các con. Tuy nhiên, chính vẻ vỏ bọc
cọc cằn, khó tính đó, lại là rào cản tình cảm lớn đối với những đứa con, với người
chồng và với người chị dâu. Tình cảm họ dành cho bà rất ít ỏi, thậm chí có người
còn ghét bà.
Cho đến khi bà đi lạc, họ dường như mới nhận ra những tình cảm chân thành bà
dành cho họ tuyệt vời như thế nào. Từng nhân vật hồi tưởng về người mẹ theo
dòng kì ức của mình về mẹ, để rồi theo dòng kí ức ấy, họ nhận ra sự thực rằng bản
thân mình đã vô tâm, vô cảm với mẹ, với vợ mình. Tình cảm của người phụ nữ bất
hạnh ấy dành cho chồng, cho con lớn lao, cao cả đến nhường nào và bà bày tỏ
những tình cảm ấy qua một cách riêng của mình. Bà chăm lo chu toàn cho những
đứa con của mình trong những năm tháng tuổi thơ, tần tảo, hi sinh nuôi lớn các
con nên người. Hình ảnh mẹ theo kí ức của từng người hiện ra những điều hoài
niệm kèm với sự hối lỗi của chính họ. Họ luôn trăn trở vì đã lạc mất mẹ, đã không
quan tâm đến những cảm xúc, suy nghĩ của bà trước đây. Liệu những đứa con có
thể tìm thấy mẹ mình không, bà có trở về với gia đình hay không, hay bà sẽ đi lạc
mãi mãi, cùng đôi chân tập tễnh do bị thương vì đi lạc một quãng đường dài.
Hãy chăm sóc mẹ là một lời nhắc nhở cho chúng ta. Với ai còn mẹ, xin đừng quá
mải mê với những cuộc chơi xô bồ, vội vã, với đồng tiền hay công việc mà quên
mất mẹ đang ngày ngày ngóng chờ con trở về thăm. Đừng để mình gặp phải những
câu chuyện như những đứa con trong truyện, chỉ đến khi không thể gặp mẹ được
nữa, họ mới hối hận về những điều mình đã làm với mẹ. Chỉ khi đó, ta mới nhận ra
để bù đắp cho những hy sinh của mẹ dành cho mình đã quá muộn.
- GV dẫn dắt vào bài học mới: Bersot nói: “Trong vũ trụ có lắm kì quan, nhưng kì
quan đẹp nhất là trái tim người mẹ”. Tình mẫu tử luôn là thứ tình cảm thiêng
liêng, cao đẹp nhất, là sự vỗ về, ôm ấp tuổi thơ ta đến khi chúng ta trưởng thành,
mẹ vẫn luôn là một phần quan. Trong bài học ngày hôm nay, chúng ta sẽ cùng
nhau tìm hiểu về văn bản “Và tôi vẫn muốn mẹ…” để thấu tỏ được nỗi niềm khao
khát có mẹ của một đứa trẻ trong hình hài một người lớn nhé!
[2.1.NC1a: HS thực hiện các tương tác cơ bản với học liệu số (xem video, trả lời
câu hỏi trên môi trường số)].
2. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Hoạt động 1: Đọc – hiểu văn bản
a. Mục tiêu: Nhận biết và hiểu được một số đặc trưng của văn bản truyện kí.
b. Nội dung: HS sử dụng SGK, quan sát, chắt lọc kiến thức trả lời những câu hỏi
liên quan đến bài học.
c. Sản phẩm học tập: Câu trả lời của HS và chuẩn kiến thức của GV.
d. Tổ chức thực hiện:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS
Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu về truyện kí
SẢN PHẨM DỰ KIẾN
I. Truyện kí
NLS
1.1.NC1a:
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học 1. Hư cấu và phi hư cấu trong tìm
tập
truyện kí
Biết
kiếm,
lựa
chọn và đánh giá
- GV hướng dẫn HS làm việc cá nhân, xem - Truyện kí là một dạng truyện kể tính xác thực của
lại kiến thức ở phần Tri thức ngữ văn và về người thật, việc thật. Tôn thông tin số về
thực hiện yêu cầu sau:
trọng sự thật đời sống, đảm bảo tác
giả
S.
Phi hư cấu và hư cấu trong truyện kí là tính xác thực của toàn bộ sự việc Alexievich
và
gì?
được kể là đòi hỏi quan trọng bối
cảnh
Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm
hàng đầu đối với các sáng tác chiến II.
vụ
thuộc thể loại này. Vì vậy, truyện 6.1.NC1a:
Thế
Biết
- HS vận dụng kiến thức đã học và trả lời kí được xếp vào loại văn học phi sử dụng công cụ
câu hỏi.
hư cấu.
AI để hỗ trợ
- GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ HS (nếu - Tuy nhiên, yếu tố hư cấu vẫn phân
cần thiết).
tích
luôn hiện diện trong truyện kí (dù định
và
hướng
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và được sử dụng một cách tiết chế), giọng đọc trong
thảo luận hoạt động và thảo luận
thể hiện ở sự sáng tạo riêng của văn bản.
- GV mời 1 – 2 HS trình bày kết quả chuẩn người viết khi xử lí, tổ chức tư
bị
liệu và lựa chọn giọng điệu, ngôn
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện ngữ trần thuật thích hợp. Yếu tố
nhiệm vụ
hư cấu còn được thể hiện qua
- GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến thức.
cách người viết hình dung, miêu
Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu chung về tác giả, tả tâm trạng, cảm xúc của nhân
tác phẩm
vật.
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học II. Tìm hiểu chung về tác giả,
tập
tác phẩm
GV yêu cầu HS trả lời câu hỏi sau đây:
1. Tác giả và xuất xứ tác phẩm
Nêu một số nét cơ bản về tác giả và - Xvétlana A-lếch-xi-ê-vích sinh
xuất xứ của văn bản “Và tôi vẫn muốn năm 1948, là nhà báo, nhà văn
mẹ…”.
Bê-la-rút (Belarus), được trao
giải Nô-ben (Nobel Văn học năm
2015. Một số tác phẩm tiêu biểu
của bà: Chiến tranh không có
một khuôn mặt phụ nữ (1983),
Những nhân chứng cuối cùng
(1985), Lời nguyện cầu từ Chécnô-bin – Chernobyl (1997). Các
tác phẩm phi hư cấu của Xvét-lana A-lếch-xi-ê-vích đã dựng lên
“một tượng đài tưởng niệm sự
thống khổ và lòng can đảm trong
thời đại chúng ta” (nhận định của
Hãy tóm lược nội dung được kể lại
trong văn bản và cho biết những điểm
nhấn quan trọng trong câu chuyện.
- GV yêu cầu HS tìm kiếm thông tin về
giải Nobel Văn học của S. Alexievich trên
các trang web uy tín và đánh giá tính xác
Uỷ ban chấm giải Nô-ben).
- Văn bản “Và tôi vẫn muốn
mẹ…” rút từ cuốn Những nhân
chứng cuối cùng – Solo cho
giọng trẻ em của Xvét-la-na Alếch-xi-ê-vích. Cuốn truyện kí
này sử dụng hình thức phỏng vấn
thực của nguồn tin.
-
GV
hướng
những người có tên tuổi, nghề
dẫn
HS
dùng
AI nghiệp cụ thể, từng trải qua thực
(Gemini/ChatGPT) với câu lệnh: "Tóm tắt tế tàn khốc của cuộc Chiến tranh
phong cách viết 'văn chương diễn xướng' thế giới lần thứ hai tù khi còn thơ
(voices of Utopia) của Svetlana Alexievich bé. Với hình thức này, tác giả đã
trong 3 dòng" để định hướng cách đọc văn chọn lọc, sắp xếp lại sự kiện để
bản.
đem đến cho người đọc những
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học tập
câu chuyện sinh động, hãi hùng
- HS thảo luận theo nhóm, vận dụng kiến trong kí ức của các nhân vật.
thức đã học để thực hiện nhiệm vụ.
2. Tóm lược nội dung được kể
- GV quan sát, hỗ trợ HS (nếu cần thiết).
lại trong văn bản và những
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và điểm nhấn quan trọng trong
thảo luận
câu chuyện.
- GV mời đại diện 1 HS của mỗi nhóm lần - Tóm lược: Năm 1941, “tôi” –
lượt trình bày kết quả thảo luận.
lúc ấy còn là một đứa bé tám tuổi
- GV yêu cầu HS khác lắng nghe, nhận xét, – sau khi từ biệt bố mẹ đi dự trại
đặt câu hỏi (nếu có).
hè đội viên, gặp một trận bom
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện của phát xít Đức, chứng kiến sự
nhiệm vụ học tập
đổ máu, chết chóc →“Tôi” cũng
- GV nhận xét, đánh giá, chốt kiến thức.
như bao đứa trẻ khác phải rời trại
- GV chuyển sang nội dung mới.
hè, mang theo lương thực, thực
phẩm về một vùng hậu phương
xa xôi, nơi không có đạn bom →
Ở vùng đất mới, những đứa trẻ
biết thế nào là thiếu thần, đói
khát, chẳng có gì để ăn, đến nỗi
phải giết cả con ngựa già chuyên
chở đồ đạc, thậm chí ăn cả chồi
mầm, vỏ cây → Trên tất cả là nỗi
nhớ mẹ, nhớ đến mức gào khóc
không nguôi → Đến lớp Ba,“tôi”
trốn trại, được một gia đình ông
già cưu mang → Trong lòng
“tôi” chỉ có một nỗi ước ao được
đi tìm mẹ → Cứ thế, mãi sau
này, khi đã năm mươi mốt tuổi,
“tôi” vẫn muốn có mẹ.
- Điểm nhấn quan trọng của câu
chuyện là các sự kiện liên quan
đến mẹ – điều đã được khái quát
ở nhan đề của văn bản. Mẹ luôn
hiện diện trong mọi thời khắc
cuộc sống đau thương thời thơ ấu
của “tôi”, và ước muốn gặp lại
mẹ trở thành nỗi ám ảnh thường
xuyên thường trực trong lòng
nhân vật. Vậy mà, cuối cùng phải
đối diện với sự thật phũ phàng:
chiến tranh đã cướp đi tất cả
những gì gần gũi, thân thương
nhất của con người.
Hoạt động 2: Khám phá văn bản.
a. Mục tiêu: Nhận biết và phân tích được yếu tố hư cấu / phi hư cấu trong văn bản
Và tôi vẫn muốn mẹ….
b. Nội dung: Sử dụng SGK, chắt lọc kiến thức để tiến hành trả lời các câu hỏi liên
quan đến văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ….
c. Sản phẩm: Câu trả lời của HS và kiến thức HS tiếp thu được liên quan đến văn
bản Và tôi vẫn muốn mẹ… và chuẩn kiến thức GV.
d. Tổ chức thực hiện
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS
DỰ KIẾN SẢN PHẨM
NLS
Nhiệm vụ 1: Phân tích chi tiết, hình I. Những chi tiết, hình ảnh 6.1.NC1b: Biết sử
ảnh trong văn bản
trong văn bản
dụng công cụ AI
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học Những ngày đau thương, đói để hỗ trợ phân tích
tập
khát, hãi hùng và thiếu thốn tình tâm lý nhân vật và
- GV yêu cầu HS thảo luận cặp đôi, trả mẹ của bao đứa trẻ trong chiến bối cảnh lịch sử.
lời câu hỏi: Phân tích một số chi tiết, tranh khốc liệt – đó chính là nét 3.1.NC1a: HS sử
hình ảnh tạo nên bức tranh cuộc sống đặc biệt của bức tranh cuộc sống dụng
được
các
đặc biệt được tái hiện trong văn bản. được tái hiện trong văn bản. Bức công cụ hỗ trợ để
Chi tiết, hình ảnh nào đã thực sự gây ấn tranh cuộc sống đặc biệt này trình bày bài làm.
tượng mạnh với bạn? Vì sao?
được tạo nên bằng nhiểu chi tiết, 2.1.NC1b: Sử dụng
Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện
hình ảnh sống động:
nhiệm vụ
+ Máy bay đánh bom, “tất cả tác
các công cụ tương
- HS vận dụng kiến thức đã học và trả lời màu sắc đều biến mất”. Lần đầu (Padlet/LMS)
câu hỏi.
số
để
tiên, đứa bé biết đến từ “chết chia sẻ và thảo
- GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ HS chóc” => Chiến tranh đến trong luận về các giá trị
(nếu cần thiết).
sự ngỡ ngàng, khó hiểu với trẻ nhân văn của văn
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và con, chúng chưa đủ nhận thức về bản.
thảo luận hoạt động và thảo luận
mức độ khủng khiếp của chiến
- GV mời 2 – 3 HS trình bày kết quả tranh, những tâm hồn ngây thơ
chuẩn bị.
thậm chí không hiểu hết nghĩa
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện của từ “chết chóc”, chúng không
nhiệm vụ
biết “chiến tranh” thực sự là gì.
- GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến Máy bay đánh bom, màu sắc biến
thức.
mất, chỉ còn màu u tối và ảm
đạm của khói, của đổ nát và của
cái chết.
+ Triền miên trong đói khát,
người ta giết thịt cả con ngựa già
thân thiết duy nhất, rồi phải ăn
cây cỏ để sống qua ngày. => Đây
chính là hậu quả nặng nề mà
chiến tranh mang đến, chết chóc
không chỉ đến từ mưa bom bão
đạn nã xuống trên bầu trời mà nó
còn đến từ nạn đói. Trong chiến
tranh, lương thực khan hiếm,
người ta phải tận dụng tất cả
những gì có thể ăn được để duy
trì sự sống. Con ngựa già mà
những đứa trẻ coi là bạn thân
thiết mà giờ đây chúng phải ăn
thịt chính con ngựa đó, đau đớn,
tổn thương, đó là những đổ vỡ
đầu đời trong tâm hồn trẻ thơ.
+ Trong trại trẻ mồ côi, hàng
chục đứa bé khóc rên gọi ba mẹ.
Hễ mỗi lần từ”mẹ” được ai vô
tình nhắc tới, tất cả lại “gào khóc
không nguôi. => Lên ba, lên
năm, vốn dĩ phải được sống trong
vòng tay yêu thương của mẹ cha,
được chăm sóc, nuôi dưỡng,
được chở che bằng mái ấm gia
đình thì giờ đây chúng trở thành
trẻ mồ côi, ở trong trại trẻ mồ côi
và chỉ cần nhắc đến tiếng “mẹ” là
ngay lập tức òa khóc. Những đứa
trẻ nhớ mẹ, chúng cần sự ấm áp
của tình mẹ - thứ tình cảm không
gì thay thế được.
+ Sau hàng chục năm trôi qua,
cái cảm giác đói và thiếu mẹ vẫn
luôn bám riết dai dẳng nhân vật
“tôi”. => Chiến tranh đã lùi xa
hàng thập kỉ, kinh tế đất nước
được khôi phục, cuộc sống con
người dần khấm khá hơn, những
vết thương ngoài da thịt rồi cũng
lành lặn, chỉ có vết thương trong
tâm hồn là mãi mãi rỉ máu. “Con
dù lớn vẫn là con của mẹ”, ở độ
tuổi nào người ta cũng đều cần sự
yêu thương, che chở của mẹ,
khoảng trống mà chiến tranh tạo
ra trong tâm hồn nhân vật “tôi”
mãi mãi không thể bù đắp được,
“tôi” đã mất mẹ, mặc dù anh
cũng đã có cho riêng mình một
gia đình nhỏ nhưng khát khao có
mẹ chưa bao giờ nguôi ngoai.
II. Thái độ của tác giả
– Tư liệu sống được dùng để viết
nên truyện kí này hoàn toàn do
Nhiệm vụ 2: Phân tích thái độ của tác một người thợ làm tóc năm mươi
giả
mốt tuổi tên là Din-na Cô-si-ắc
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học cung cấp cho nhà văn – nhà báo
tập
Xvét-la-na A-lếch-xi-ê-vích. Mặc
- GV yêu cầu HS làm việc cá nhân, thực dù chỉ là người ghi lại, nhưng tác
hiện yêu cầu sau: Toàn bộ câu chuyện giả đóng vai trò rất quan trọng
được kể bởi một người vì chiến tranh mà trong việc tạo lập văn bản. Vai
đã phải nếm trải những ngày tháng đau trò này không chỉ thể hiện ở việc
thương ở tuổi ấu thơ, tác giả chỉ là lựa chọn ngôn từ, giọng kể, mà
người ghi lại. Vậy trong việc tạo lập văn còn ở cách sắp xếp sự việc, cách
bản này, tác giả đóng vai trò gì? Phân sáng tạo các chi tiết, hình ảnh
tích thái độ của tác giả khi ghi lại các sự giàu ý nghĩa. Đặc biệt, mặc dù
kiện mà nhân chứng kể lại.
người kể chuyện thuộc ngôi thứ
Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện
nhất xưng “tôi”, nhưng lời kể
nhiệm vụ
không còn là lời “nguyên bản”
- HS vận dụng kiến thức đã học và trả lời của người thợ làm tóc, mà là lời
câu hỏi.
kề có tính nghệ thuật, được nhà
- GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ HS văn sáng tạo nên. Qua lời kể, nhà
(nếu cần thiết).
văn thể hiện thái độ đồng cảm
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và với những đau thương, mất mát
thảo luận hoạt động và thảo luận
mà nhân chứng từng nếm trải.
- GV mời 1 – 2 HS trình bày kết quả
chuẩn bị.
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện
nhiệm vụ
III. Tính xác thực và sức lay
- GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến động của văn bản
thức.
1. Những yếu tố tạo nên tính
Nhiệm vụ 3: Tính xác thực và sức lay xác thực của các sự kiện được
động của văn bản
nhân vật kể lại
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học – Đối với một tác phẩm truyện
tập
kí, tính xác thực là một yếu tố
- GV yêu cầu HS thảo luận nhóm nhỏ (4 quan trọng. Ở văn bản này, một
– 6 HS), thực hiện yêu cầu sau:
số yếu tố sau đây có thể giúp ta
Chỉ ra những yếu tố tạo nên tính xác nhận ra tính xác thực của các sự
thực của các sự kiện được nhân vật kể kiện được kể lại:
lại cũng như trạng thái tâm lí của nhân
+ Người kể chuyện có tên tuổi,
vật trước các sự kiện đó.
nghề nghiệp cụ thể. Đó là Din-na
Theo bạn, những yếu tố nào có khả Cô-si-ắc (Zina Kosyak) – một
năng tạo nên sức lay động của văn bản
thợ làm tóc.
đối với người đọc? Thông điệp mà bạn
+ Câu chuyện gắn với tuổi thơ
nhận được từ văn bản “Và tôi vẫn muốn
của người kể (lúc bấy giờ mới
mẹ...” là gì?
tám tuổi). Vào thời điểm kế lại
- GV tiếp tục giao nhiệm vụ cho các
câu chuyện cho tác giả nghe,
nhóm sử dụng AI để so sánh các chi tiết
người kể đã năm mươi mốt tuổi.
thực tế trong văn bản với tư liệu lịch sử
– Câu chuyện được kể bởi người
về cuộc vây hãm Leningrad hoặc các
kể chuyện ngôi thứ nhất, điều đó
trại tập trung để hiểu tính phi hư cấu.
cho thấy những sự kiện được kể
+ GV hướng dẫn HS lập bảng so sánh
lại gắn với trải nghiệm trực tiếp
trên Google Sheets: Một bên là "Kí ức
của người kể chứ không qua một
hồn nhiên" (con búp bê, chiếc váy), một
nhân vật trung gian nào. Người
bên là "Hiện thực tàn khốc" (đói khát,
kề cũng không giấu nổi thái độ,
chết chóc).
tâm trạng của mình trước các sự
+ GV yêu cầu các nhóm gửi link sản
kiện (ví dụ: sợ hãi, lo âu, xót
phẩm lên Padlet lớp và sử dụng tính
thương, hoảng loạn, buồn bã, thất
năng bình luận để phản biện chéo bài
vọng,...).
làm của nhóm bạn.
2. Sức lay động của văn bản đối
Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện
với người đọc và thông điệp
nhiệm vụ
- Các chi tiết: Những đứa trẻ lần
- HS vận dụng kiến thức đã học và trả lời đầu nhìn thấy máy bay, không hề
câu hỏi.
biết những nguy hiểm đang cận
- GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ HS kề. Tận khi tất cả khung cảnh
(nếu cần thiết).
xung quanh những đứa trẻ mất,
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thì chúng mới biết cái khốc liệt
thảo luận hoạt động và thảo luận
và thê thảm của những thứ này.
- GV mời 1 – 2 HS trình bày kết quả Chúng phải trải qua một mình mà
chuẩn bị.
không được ở bên cạnh bố mẹ.
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện Những đứa trẻ gặp những ngày
nhiệm vụ
lính bị thương và sẵn sàng cho đi
- GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến tất cả những gì chúng có. Trong
thức.
con mắt của những đứa trẻ ngây
thơ này, thì đó như là những
người cha của mình vì cha của
những đứa trẻ này cũng đang
phục vụ cho quân đội. Vì quân
Đức đang chiếm đóng và tàn phá
nặng nề, những đứa trẻ sẽ được
đến những nơi mà không có
chiến tranh. Nhưng đến nơi
không có chiến tranh thì cuộc
sống của những đứa trẻ vẫn
không thể có một cuộc sống đủ
đầy. Không có chỗ ăn, chỗ ngủ
mà phải chợp mắt trên những
đống rơm rạ. Chúng thiếu thốn
đồ ăn đến mức mà những người
bảo mẫu ở đấy phải giết cả con
vật đang chở nước để ăn. Thiếu
đồ ăn ngày một nhiểu đến mức
những đứa trẻ phải ăn cả vỏ cây
và những chồi non, nếu như
chúng không muốn chết đói.
Thiếu đồ ăn không phải là điều
tồi tệ nhất với những đứa trẻ mà
là việc chúng phải xa gia đình
của mình. Những đứa trẻ nhớ bố
mẹ đến mức đêm nào cũng khóc,
khiến cho những người giáo viên
không dám nhắc đến mẹ trước
mặt bọn chúng. Khi ngày càng
nhớ mẹ, nhân vật tôi đã trốn đi để
tìm mẹ.
- Thông điệp: Chiến tranh đã
khiến những gia đình phải xa
cách, sinh ly tử biệt. Chiến tranh
là thứ tàn phá nhân loại.
IV. Tổng kết
1. Nội dung
- Văn bản lên án chiến tranh đã
Nhiệm vụ 4: Tổng kết
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học
tập
- GV hướng dẫn HS làm việc cá nhân,
trả lời sau:
Hãy rút ra giá trị nội dung và nghệ
thuật dung của văn bản “Và tôi vẫn
muốn mẹ…”.
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học
tập
- HS làm việc cá nhân, rút ra Kết luận.
- GV quan sát, hỗ trợ HS (nếu cần thiết).
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và
thảo luận
- GV mời đại 1 – 2 HS trình bày câu trả
lời.
- GV yêu cầu HS khác lắng nghe, nhận
khiến cho con người rơi vào
những hoàn cảnh khốn khổ, cuộc
sống bị đảo lộn, đặc biệt nạn
nhân của chiến tranh chịu nhiểu
thiệt thòi nhất là những đứa trẻ.
Chiến tranh đã khiến cho tâm
hồn trẻ thơ đầy những vết xước rỉ
máu, thiếu thốn tình yêu thương
của gia đình, không được sống
trong vòng tay ấm áp của mẹ, để
rồi khi trưởng thành, trong hình
hài của người lớn vẫn tồn tại một
khát khao trẻ thơ: muốn có mẹ.
2. Nghệ thuật
- Thể loại: truyện kí.
- Cốt truyện: dựa trên một câu
chuyện có thật, tư liệu sống đư
 








Các ý kiến mới nhất