Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

LỊCH SỬ TRUNG ĐÔNG 2000 NĂM TRỞ LẠI ĐÂY

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 16h:30' 27-02-2024
Dung lượng: 11.4 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
Lịch sử Trung Đông 2000 năm trở lại đây
Tác giả: Bernard Lewis | Người dịch: Nguyễn Thọ Nhân
Nhà xuất bản Tri thức | 10/2008
Tạo ebook: tudonald78 - tve4u
Ngày hoàn thành: 10/06/2020
Chúc các bạn đọc sách vui vẻ!

LỜI GIỚI THIỆU
Những sự kiện nóng bỏng xảy ra trong những năm gần đây ở
Trung Đông đã lôi cuốn sự quan tâm của rất nhiều người trên thế
giới, kể cả ở Việt Nam chúng ta. Sự quan tâm ấy thể hiện qua việc
tích cực tìm hiểu những nhân tố cấu thành của lịch sử và văn minh
các dân tộc sinh sống trong vùng Trung Đông và đặc biệt là những
thông tin về mối liên kết chặt chẽ giữa các dân tộc ấy: đạo Hồi. Cuốn
sách “Đạo Hồi và Thế giới A-rập - Văn minh - Lịch sử”1, xuất bản
năm 2004 đã nhận được sự chú ý của độc giả gần xa mặc dù nó chỉ
trình bày một cách ngắn gọn lịch sử vùng Trung Đông nói riêng và
thế giới Hồi giáo nói chung. Để đi sâu hơn nữa vào lịch sử và nền
văn minh của vùng đất ấy nhằm giải thích và phân tích những sự
kiện hiện đang xảy ra, không gì bằng tham khảo một tài liệu hàng
đầu của thế giới viết về vấn đề này: đó là cuốn sách mà chúng tôi
hân hạnh giới thiệu ở đây. Tác giả của sách là Giáo sư Bernard
Lewis, nhà Đông phương học nổi tiếng của thế giới phương Tây,
hay như tờ Thời báo New York đã gọi, “vị niên trưởng của ngành
nghiên cứu về Trung Đông” ở Mỹ. Sách được xuất bản ở New York
năm 1995 và nhanh chóng trở thành một trong những ấn bản bán
chạy nhất trong các nước nói tiếng Anh, nhất là sau sự kiện ngày 11
tháng Chín năm 2001 Ở New York. Đây là một công trình nghiên
cứu công phu về lịch sử Trung Đông, được trình bày một cách đơn
giản, không chỉ dành riêng cho các nhà chuyên môn. Dù cố gắng hết
sức, nhà sử học cũng không thể nào che giấu được quan điểm của

mình toát ra từ các phân tích chủ quan về các sự kiện lịch sử và ảnh
hưởng của chúng lên các vấn đề hiện tại. Đó cũng là nhận định của
nhiều nhà nghiên cứu về Trung Đông ở các nước phương Tây sau
khi cuốn sách này ra đời. Quan điểm của Bernard Lewis về Trung
Đông có một tầm quan trọng rất lớn vì nó đang là kim chỉ nam cho
một số nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ, đặc biệt là trong giới
chính trị gia theo xu hướng Tân Bảo thủ đang nắm quyền ở Mỹ.
Năm 2002, Paul Wolfowitz, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ
trong giai đoạn mà màn cuộc chiến tranh Iraq, sau đó là Chủ tịch
Ngân hàng Thế giới, có nói: “Bernard Lewis đã dạy cho (chúng tôi)
phải hiểu như thế nào về lịch sử phức tạp và quan trọng của vùng
Trung Đông và dùng nó để dẫn dắt chúng tôi trên con đường xây
dựng một thế giới tốt đẹp hơn cho cấc thế hệ mai sau”. Michael
Hirsh, biên tập viên kỳ cựu của tạp chí Newsweek đã viết tháng
Mười một năm 2004: “các điều bất hạnh của chúng ta (Mỹ) hiện nay
ở Iraq có lẽ đã thật sự bắt đầu vào năm 1950khi một nghiên cứu
sinh trẻ tuổi của trường Đại học London tên là Bernard Lewis đến
Trung Đông” để tìm tài liệu cho luận văn Tiến sĩ của mình về đề tài
Lịch sử Hồi giáo. Trong hơn một nửa thế kỷ giảng dạy môn Lịch sử
Trung Đông tại các trường Đại học London và Princeton (Mỹ),
Bernard Lewis đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu về đạo Hồi
và Thế giới A-rập, những tài liệu kinh điển của ngành Trung Đông
học ở Anh và Mỹ. Ta có thể kể: The Arabs in History, London 1950;
The Political Language of Islam, Chicago 1988; Islam and the West,
New York 1993; Islam in History, Chicago 1993; Cultures in Conflict,
New York 1994 và nhiều tác phẩm khác. Trong những năm đầu thế
kỷ 21, Bernard Lewis đã viết nhiều tác phẩm mang tính thời sự và

chính trị hơn, trong đó ông không ngần ngại sử dụng uy tín khoa học
của mình để thuyết phục độc giả về sự đúng đắn của những luận
điểm đề ra. Các tài liệu ấy như From Babel to Dragomans:
Interpreting the Middle East (2004), The Crisis of Islam (2003), What
went wrong? The Clash between Islam and Modernity in the Middle
East (2003) hay bài báo của ông Nguồn gốc cơn thịnh nộ của người
Hồi giáo (The Roots of Muslim Rage) trên tờ The Atlantic năm 1990
mà tạp chí The New Yorker đăng lại vào năm 2002 dưới tiêu đề
Cuộc nổi dậy của Hồi giáo (The Revolt of Islam), sau khi sự kiện
11/9/2001 xảy ra. Trong bài báo này, Bernard Lewis lần đầu tiên sử
dụng cụm từ “sự đụng đầu của các nền văn minh” (The clash of
civilizations) để mô tả cuộc xung đột, theo ông vẫn còn tiếp diễn,
giữa Hồi giáo và phương Tây. Năm 1995, Samuel P. Huntington đã
đưa cụm từ này vào tiêu đề cho bài báo nổi tiếng và gây nhiều tranh
luận của mình trên tờ Foreign Affairs, Chính do lời tiên đoán về sự
bùng nổ của các căm thù ấp ủ trong lòng người Hồi giáo đối với
phương Tây nói chung và Hoa Kỳ nói riêng mà sau sự kiện ngày 11
tháng Chín ở New York, Bernard Lewis được đông đảo quần chúng
biết đến. Tiếng tăm nổi lên như cồn của Bernard Lewis làm im hơi
trong một thời gian những học giả đã từng chỉ trích các luận điểm
của ông, đặc biệt là các nhà nghiên cứu gốc A-rập như cố giáo sư
Edward Said của Đại học Columbia hay Shahid Alam của Đại học
Northwestern, những người này thường dựa trên nguồn gốc Do
Thái của Bernard Lewis để nói rằng ông là người chống Hồi giáo
một cách quyết liệt.

Ngay trong cuốn sách về lịch sử Trung Đông này, Bernard Lewis
cũng đã cho ta thấy cách nhìn của ông đối với đạo Hồi và thế giới Arập. Theo ông, từ khi quân Hồi giáo của đế quốc Ottoman bị thất bại
trong việc bao vây thành Vienna và phải rút về nước năm 1683 rồi
ký hiệp định Carlowitz năm 1699 thì trên tất cả các mặt, Hồi giáo bị
thụt lùi nghiêm trọng. Trong cuộc xung đột kéo dài hàng nghìn năm
giữa Hồi giáo và phương Tây (mà Bernard Lewis gọi là Thế giới Cơ
đốc giáo — Christendom) thì nay là lúc mà phương Tây nắm được
thế thượng phong tuyệt đối, có thể loại trừ hiểm họa xuất phát từ sự
căm phẫn của người Hồi giáo, nguồn gốc của những hành động liều
lĩnh có hại cho phương Tây. Theo Bernard Lewis, giải pháp thuận lợi
nhất là phương Tây nên dùng vũ lực tấn công vào thế giới Hồi giáo
rồi xây dựng một nền dân chủ ở đây đồng thời mang đến những cải
cách thật sự trong nền văn minh Hồi giáo của họ. Cách nhìn này của
Bernard Lewis không nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà nghiên
cứu Âu châu, nhất là ở các nước Pháp và Đức. Nhiều nhà Trung
Đông học như giáo sư Alain Ducellier của trường Đại học Toulouse
ở Pháp không đồng quan điểm với Bernard Lewis về việc bản thân
đạo Hồi là nguyên nhân của sự trì trệ trong các nước vùng Trung
Đông và trong thế giới A-rập và về sự căm phẫn của người Hồi giáo
chỉ có nguồn gốc từ các đối kháng trong thời Trung cổ mà không để
ý đến những chính sách của các cường quốc thực dân Anh, Pháp
và của Hoa Kỳ trong thế kỷ 20. Tuy nhiên, trong cuộc chiến tranh
Iraq, Mỹ đã và đang thử nghiệm học thuyết Bernard Lewis mà sự
đúng đắn của nó phải chờ thời gian phán xét.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Bernard Lewis đã nhìn Hồi giáo
dưới một góc khá hẹp, các công trình của ông tập trung vào đạo Hồi
của thời Trung cổ và thế giới Hồi giáo qua đế quốc Ottoman của
người Thổ. Năm 1950, anh sinh viên Bernard Lewis gốc Do Thái đã
không được phép vào các nước A-rập Hồi giáo mà chỉ đến được
Istanbul để khai thác các tài liệu lưu trữ của đế quốc Ottoman. Tại
đây, Bernard Lewis đã hết sức khâm phục Kemal Ataturk, người
sáng lập nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ sau khi đã áp đặt những cải
cách và những cấm đoán tích cực đối với đạo Hồi, tách Hồi giáo ra
khỏi đời sống chính trị của đất nước. Theo Bernard Lewis thì những
gì Kemal Ataturk đã làm được ở Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ cũng có thể
thực hiện ở Iraq để tiến tới mục tiêu là loại bỏ sự chống đối của
người-Hồi giáo đối với phương Tây. Mặc dù những nhân vật được
Bernard Lewis đề cử để nắm quyền lãnh đạo ở Iraq như Ahmad
Chalabi, một người đã sống lưu vong nhiều năm trên đất Mỹ, hay
hoàng thân Hassan mà ông tích cực giới thiệu trong một bài báo viết
chung với cựu giám đốc Cục Tình báo Trung ương là R. James
Woolsey, đều không đáp ứng được yêu cầu để trở thành những
Kemal Ataturk của thời đại mới, nhưng tân hiến pháp của Iraq thảo
ra giữa năm 2005 đang là những bước đầu tiến đến việc thế tục hoá
nền chính trị của đất nước này. Cũng nên biết rằng, sự ngưỡng mộ
của Bernard Lewis đối với nước Thổ Nhĩ Kỳ của Kemal Ataturk đã
làm cho ông, trong một bài phỏng vấn của báo Le Monde (Pháp),
phủ nhận cuộc thảm sát có tính diệt chủng đối với dân Armenia sinh
sống trên đất Thổ năm 1915, vì lý do này, ông bị kiện trước toà án
và phải trả một franc đền bù danh dự.

Trong cuốn Lịch sử Trung Đông này, tác giả Bernard Lewis
không đi theo thứ tự thời gian mà giới thiệu nền văn minh và lịch sử
theo từng đề tài, thí dụ như có một chương nói về nhà nước, một
chương nói về kinh tế v.v… hay những chương nói về những thay
đổi, những thách thức, những cuộc chiến mà vùng Trung Đông đã
chứng kiến. Do đó, thật không vô ích nếu người đọc đã có được một
bản tổng hợp có hệ thống về lịch sử và văn minh Hồi giáo. Các dẫn
chứng hay các giai thoại mà tác giả rút ra từ các tài liệu cổ thật vô
cùng sinh động. Tác giả cũng mô tả một cách tỉ mỉ sự thâm nhập
của nền văn minh Tây phương vào xã hội Hồi giáo trong tất cả mọi
lĩnh vực, từ cách ăn mặc cho đến cách suy nghĩ hay các phương
tiện thông tin đại chúng. Khác với các dân tộc vùng Đông Á đã tiếp
thu cấc thành quả khoa học kỹ thuật của phương Tây để tiến lên
hiện đại hóa, các dân tộc theo Hồi giáo, do lòng nghi kỵ đối với tất
cả những gì đến từ thế giới Cơ đốc, đã loại bỏ phần lớn các tiến bộ
kỹ thuật và các tư tưởng được du nhập, do đó khó lòng cải cách xã
hội của họ. Càng bị thụt lùi, họ càng căm giận thế giới phương Tây,
cho đó là nguyên nhân của mọi thất bại của mình. Lịch sử cũng
đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành các tư tưởng.
Người Hồi giáo, trong giai đoạn hiện tại, rất quan tâm đến lịch sử vì
muốn tìm nguồn cảm hứng để trở lại thời đại huy hoàng của họ ở
thời Trung cổ, trong khi ấy thì người phương Tây lại không quan tâm
nhiều đến quá khứ; trong tiếng Anh, thành ngữ “that's history” (đấy
là chuyện cũ) lại tương đương với một việc gì cần phải quên đi. Do
đó, theo Bernard Lewis, tìm hiểu lịch sử vùng Trung Đông chính là
tìm cách giải mã những sư kiện xảy ra ở đó hiện nay. Tuỳ theo quan

điểm của người đọc mà ta có thể đi đến những giải thích khác nhau.
Cũng không nên quên rằng tài liêu này ra đời năm 1995, khi sự can
thiệp quân sự trực tiếp của Mỹ vào Trung Đông, nhất là ở Iraq, chưa
sâu rộng như ngày nay.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9-2005
TS NGUYỄN THỌ NHÂN

LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay có rất nhiều sách (một tập) viết về lịch sử vùng Trung
Đồng. Phần lớn các sách ấy hoặc dừng lại ở thời điểm xuất hiện
đạo Cơ Đốc hoặc bắt đầu ở thời điểm đạo Hồi ra đời. Khi lấy xuất
phát điểm của cuốn lịch sử này vào giai đoạn mở màn của kỷ
nguyên Cơ Đốc, tôi nhằm vào hai mục tiêu. Một là để đưa hai đế
quốc hùng mạnh của Ba Tư và By-dăng thoát khỏi vị trí khiêm tốn
mà người ta thường đặt chúng vào, cùng với vùng A- rập Tiền Hồi
giáo, vì chỉ cốt làm tấm màn phông cho việc kể lại sự nghiệp của
Đấng Tiên tri Mu-ha-mát hay việc ra đời của Quốc gia Hồi giáo. Hai
đế quốc đối nghịch nhau ấy đã cùng nhau thống trị hay chia cắt vùng
Trung Đông trong nhiều thế kỷ, xứng đáng được nói đến nhiều hơn
là vài lời giới thiệu hời hợt.
Mục tiêu thứ hai của tôi là xây dựng được một mối liên hệ nào đó
giữa vùng Trung Đông như ta biết đến hiện nay và những nền văn
minh cổ xưa đã có mặt ở đấy mà nay ta biết được qua các văn bản
hay các đền đài miếu mạo còn để lại. Trong những thế kỷ đầu của
kỷ nguyên Cơ Đốc, nghĩa là trong khoảng thời gian giữa Jesus và
Mu-ha-mát, vùng đất nằm phía Tây đế quốc Ba Tư đã liên tục trải
qua nhiều quá trình Hy Lạp hoá, Latin hoá và Cơ Đốc hoá cho nên
các ký ức (chứ không phải là toàn bộ các dấu vết) của các nền văn
minh cổ xưa ấy đã bị xoá nhoà. Chỉ trong giai đoạn gần đây, các ký
ức ấy mới được khôi phục lại nhờ công sức của các nhà khảo cổ và
các nhà Đông phương học. Dù sao thì người ta cũng nên quan tâm

đến mối liên hệ trực tiếp và liên tục giữa vùng Trung Đông xưa kia
và ngày nay qua các thời kỳ Cận Cổ đại và Trung cổ.
Các lịch sử đầu tiên viết trong thời nay về vùng Trung Đông bắt
buộc phải tập trung vào các sự kiện chính trị và quân sự nếu không
thì thật khó lòng, hay có thể nói là sẽ bất lực khi muốn tìm hiểu
những biến động sâu xa của lịch sử. Nhờ có các công trình của
những người đi trước, tôi đươc tư do hơn họ để giảm đến mức tối
đa trong việc đề cập đến các vấn đề chính trị mà chú ý nhiều hơn về
những đổi thay trong các lĩnh vực xã hội, kinh tế và nhất là văn hoá.
Trên tinh thần ấy, tôi đã thường xuyên dẫn chứng trực tiếp từ các
nguồn tư liệu đương thời như các sách sử biên niên, các chuyện kể
về những chuyến đi, các tư liệu và bản ghi trên bia đá, đôi khi tôi còn
dẫn chứng cả thơ ca và giai thoại. Khi có được những bản dịch sang
tiếng Anh, tôi không ngần ngại sử dụng và trích dẫn chúng. Khi
không có, tôi phải tự dịch lấy. Các hình ảnh cũng phục vụ cho cùng
mục đích. Qua hình ảnh, người ta có thể hy vọng là đi sâu vào vấn
đề mà chuyện kể hay ngay cả phân tích cũng khó lòng đạt đến.
Cố gắng trình bày hai nghìn năm lịch sử của một vùng đất giàu
có, muôn màu muôn vẻ và sống động như thế trong khuôn khổ một
cuốn sách thì bắt buộc phải bỏ qua nhiều khía cạnh quan trọng.
Những ai quan tâm đến vùng đất này phải có một sự lựa chọn, về
phần mình, tôi đã lựa và lẽ tất nhiên là sự lựa chọn ấy có tính cá
nhân của tôi. Tôi đã cố gắng dành ưu tiên cho những nhân vật, sự
kiện, xu hướng và thành tựu mang tính đặc thù và có nhiều thông tin
nhất. Độc giả sẽ đánh giá là tôi đã thành công đến chừng mực nào.

Cuối cùng, tôi phải gửi lời cám ơn đến bốn nhà nghiên cứu trẻ
của trường Đại học Princeton là David Mariner, Michael Doran, Kate
Elliott và Jane Baun. Họ đã bằng cách này hay cách khác giúp tôi
biên soạn và in ấn cuốn sách này. Đặc biệt là tôi mang ơn Jane
Baun rất nhiều vì qua kiến thức sâu rộng và các lời nhận xét xác
đáng của mình, cô đã luôn luôn có những đóng góp quý giá. Tôi
cũng phải ngỏ lời cám ơn Annamarie Cerminaro, phụ tá của tôi, đã
rất cẩn thận và kiên nhẫn xử lý các bản thảo của cuốn sách, từ bản
đầu tiên cho đến bản cuối, về việc in ấn, trang trí và xuất bản sách,
tôi đã dựa nhiều trên tài nghệ và lòng kiên nhẫn của Benjamin
Buchan, Tom Graves và người phụ trách phần danh mục là Douglas
Matthews. Nhờ họ mà quá trình xuất bản được đẩy nhanh và chất
lượng sách được nâng cao.
Với mọi người, tôi xin cám ơn về những gợi ý mà tôi đã tiếp thu
và cũng xin thứ lỗi về những đề xuất mà tôi không chịu chấp nhận.
Đương nhiên là nhưng sai sót gì còn lại hoàn toàn do lỗi ở tôi.
BERNARD LEWIS
Princeton, tháng Tư, 1995
Phiên âm.
Các tên A-rập và Ba Tư được phiên âm theo hệ thống phiên âm
sử dụng cho tiếng Anh. Các tên Thổ Nhĩ Kỳ thì dùng ngay chính tả
thông dụng của Thổ có biên cải chút ít. Còn những tên hay được
nhắc đến thì viết như trên báo chí thường dùng.

Phần 1
DẪN NHẬP
Trong các thành phố Trung Đông người ta thường thấy các quán
cà-phê, hay đôi khi là các quán trà, mà bất kỳ giờ nào trong ngày
cũng có nhiều người đàn ông — ít khi có phụ nữ - ngồi uống một ly
cà-phê hay một tách trà, có thể hút một điếu thuốc lá, đọc báo hay
chơi cờ, tai thì lơ đễnh nghe các tin tức phát ra từ một máy thu
thanh hay một máy thu hình đặt ở góc phòng.
Nhìn bề ngoài thì người khách của quán cà-phê Trung Đông này
cũng chẳng khác gì nhân vật tương tự trong một quán cà-phê Âu
châu, đặc biệt là ở vùng gần Địa Trung Hải. Nhưng người này thật
sự khác hẳn người khách cũng ngồi ở đó năm mươi năm về trước
và lại càng khác người ngồi cách đây một trăm năm. Lẽ tất nhiên là
đối với người uống cà-phê ở châu Âu cũng vậy nhưng hai trường
hợp này thật chẳng giống gì nhau. Những đổi thay nơi vẻ bề ngoài,
dáng điệu, y phục hay cách đối xử của người châu Âu trong khoảng
thời gian ấy hầu như hoàn toàn xuất phát từ châu Âu. Trừ một ít
ngoại lệ, đấy là những đổi thay phát sinh từ bên trong xã hội của họ
hay như gần đây thì ít ra cũng từ xã hội Mỹ, một xã hội vốn rất gần
với họ.
Trái lại, ở vùng Trung Đông thì phần lớn các đổi thay lại từ bên
ngoài đưa đến, từ những xã hội và những nền văn hoá rất xa lạ đối
với các truyền thống cố hữu của dân bản xứ. Người đàn ông nọ

trong quán cà-phê ngồi trên chiếc ghế, tì tay vào bàn và đang lẩm
nhẩm đọc báo thật đã mang nặng trong mình những đổi thay đã tác
động đến đời sống của anh ta và của cả cha mẹ anh - từ dáng vẻ bề
ngoài, cách xử sự, cách ăn mặc, ngay cả bản thân mình, anh ta là
biểu tượng của những biến cải rộng lớn từ phương Tây đến đang
làm rung chuyển vùng Trung Đông thời nay.
Điểm nổi bật trước tiên là những thay đổi trong y phục. Có thể là
anh vẫn còn mang chiếc áo cổ truyền nhưng trong các đô thị thì nó
càng ngày càng hiếm thấy. Có nhiều khả năng là anh ta mặc Âu
phục, gồm áo sơ mi va quần tây hay theo kiểu hiện nay là áo phông
và quần bò. Lẽ tất nhiên là y phục có một tầm quan trọng vô cùng
lớn, không chỉ đơn thuần che mưa che nắng và để duy trì lễ nghi
phép tắc, mà đặc biệt trong vùng này nó còn là một hình thức để nói
lên cá tính của con người, để khẳng định nguồn gốc của mình và
cũng là một dấu hiệu nhận dạng cho những ai cùng chủng tộc với
mình. Trước đây, vào thế kỷ thứ VII trước Công nguyên, nhà tiên tri
Zephaniah (Sophonie) cũng đã nói: “Trong ngày hy sinh của Thượng
đế, Người sẽ trừng phạt những ai mang trên mình trang phục ngoại
lai” (1:8). Các kinh sách Do Thái và Hồi giáo sau đó cũng khuyên
các tín đồ không nên ăn mặc như những kẻ ngoại đạo mà phải duy
trì trang phục đặc trưng của họ. Một câu khuyên nhủ thường được
nhắc đến là “Đừng ăn mặc như bọn ngoại đạo nếu không muốn trở
thành như chúng”. Theo một lời truyền tụng được xem là xuất phát
từ Đấng Tiên tri thì “Khăn quấn đầu biểu thị khoảng cách giữa tính
ngoại đạo và Đức tin”. Còn theo một lời truyền tụng khác thì “Ai tìm
cách bắt chước kẻ khác thì sẽ trở thành như kẻ ấy.” Cho đến gần

đây và ngay cả hiện nay ở một số vùng, mỗi sắc tộc, mỗi cộng đồng
tôn giáo, mỗi bộ lạc, mỗi địa phương và đôi khi mỗi nghề nghiệp đều
có cách ăn mặc riêng của mình.
Có lẽ người đàn ông ngồi ở quán cà-phê kia vẫn đội trên đầu
một loại mũ vải hay, trừ trường hợp ở Thổ Nhĩ Kỳ, một loại khăn có
tính truyền thống hơn. Ai đã có dịp đi thăm một nghĩa trang thời
Ottoman cũng đều thấy trên bia mộ có khắc hình chiếc mũ mà người
quá cố từng đội lúc sinh thời. Nếu người này là một vị quan toà qadi
thì hình khắc là chiếc mũ quan tòa, nếu là một anh lính janissary thì
lại là hình chiếc mũ đặc biệt giống như ống tay áo gập lại mà lính
janissary thường đội. Lúc sinh thời làm nghề gì thì khi chết, chiếc
mũ đặc trưng biểu tượng của nghề nghiệp người nằm trong mộ sẽ
được khắc trên bia đá. Một biểu tượng mà đặc trưng đến nỗi nó
theo người đã khuất xuống mồ thì rõ ràng là lúc sinh thời nó phải
quan trọng biết bao. Trong tiếng Thổ, cho đến một ngày gần đây,
thành ngữ Sapka giymek co nghĩa là đội mũ trên đầu cũng có cùng
một ý như câu nói của người phương Tây lật ngược áo đang mặc”,
nghĩa là trở mặt như trở bàn tay, là một tên phản bội, đầu thú theo
địch. Ngày nay, lẽ tất nhiên là phần đông người Thổ nếu đội gì trên
đầu thì cũng là một chiếc mũ, một mũ lưỡi trai hay với những người
ngoan đạo một cái mũ nồi (bê-rê) và thành ngữ trên đã mất hết ý
nghĩa, không ai dùng nữa. Tuy nhiên, loại mũ phương Tây vẫn còn ít
thông dụng ở các nước A-rập và ở Iran lại còn hiếm hơn nữa. Có
một cách để đánh giá quá trình hiện đại hoá ở Trung Đông là theo
dõi việc Tây hoá trong y phục và đặc biệt là trong loại hình mũ nón
đội trên đầu.

Những thay đổi trong y phục, cũng như đối với các mặt đổi mới
khác, đều bắt đầu trong giới quân nhân. Các bộ quân phục phương
Tây đều có một ma lực quyến rũ nào đó. Trước việc các đạo quân
Hồi giáo không ngừng bị quân ngoại đạo đánh cho tan tác, các thủ
lĩnh Hồi giáo không những chuyển sang dùng các khí tài của đối
phương mà họ còn bắt chước cách tổ chức và hậu cần của địch kể
cả các bộ quân phục kiểu Tây phương. Khi quân đội Ottoman bắt
đầu được cải tổ vào cuối thế kỷ 18, họ phải sử dụng cách huấn
luyện và các vũ khí châu Âu nhưng họ không bắt buộc phải chuyển
sang quân phục phương Tây. Đây là một lựa chọn có tính chất xã
hội chứ không phải là quân sự mà hầu hết quân đội hiện nay ở các
nước Hồi giáo đều noi theo, kể cả ở Libya và ở nước Cộng hoà Hồi
giáo Iran. Họ phải sử dụng các khí tài và chiến thuật của phương
Tây vì hữu hiệu hơn; không có gì bắt họ phải mặc áo lính bó chẽn
hay đội mũ có lưỡi trai nhưng họ đã làm. Sự thay đổi trang phục này
luôn luôn là bằng chứng của uy lực hấp dẫn của nền văn hoá Tây
phương, ngay cả đối với những ai đang lớn tiếng chống đối nó.
Ngay cả trong quân phục thì mũ đội trên đầu là thứ phải thay đổi
cuối cùng, và hiện nay có lẽ trong hầu hết các nước A-rập, người
khách đang ngồi trong quán cà-phê còn đội trên đầu một loại mũ
truyền thống, có lẽ là một cái khăn kefiya mà hình dáng và màu sắc
nói lên bộ lạc hay địa phương của anh ta. Như vậy, người ta thấy rõ
đầu và những gì đội trên đầu mang một ý nghĩa tượng trưng quan
trọng. Đối với người Hồi giáo, còn có một điểm nữa là phần lớn các
loại mũ châu Âu có lưỡi trai và vành rộng sẽ làm cản trở việc cúng
bái của họ. Nam giới Hồi giáo cũng như nam giới Do Thái giáo, khi

cầu kinh đều đội mũ trên đầu để tỏ lòng thành kính (khác với người
theo đạo Cơ Đốc). Khi phải lạy, trán chạm đất thì đội mũ có lưỡi trai
hay có vành quả là bất tiện. Ngay cả trong một khoảng thời gian dài
khi quân lính các nước vùng Trung Đông mặc quân phục gần giống
kiểu phương Tây, họ vẫn đội trên đầu một loại mũ truyền thống.
Hoàng đế Mahmud II (trị vì 1808-1839), một trong những nhà cải
cách lớn của thế kỷ XIX, đã cho sử dụng một loại mũ mới, mũ fez có
tên A-rập là tarbush. Ban đầu, kiểu mũ này không được ưa thích và
bị ruồng bỏ nhưng về sau nó được chấp nhận và còn được xem là
một biểu tượng của Hồi giáo. Khi vị Tổng thống đầu tiên của nước
Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ, Kemal Ataturk ra lệnh cấm đội mũ này vào
năm 1925, thì sự chống đối cũng mãnh liệt chẳng khác gì khi nó
được đưa vào sử dụng, và cũng cùng một lý do. Ataturk, nhà vô địch
của việc thay đổi các biểu tượng xã hội, khi cấm đội mũ fez hay các
loại mũ truyền thống khác và bắt buộc thay vào đấy là y phục Âu
châu, đã không làm một việc vô bổ của một kẻ chuyên chế độc tài.
Đây thật sự là một quyết định có tính xã hội lớn, ông và các cộng sự
của mình biết rõ họ đang làm gì. Và đương nhiên là những kẻ chống
đối ông cũng vậy.
Trước đây thì cũng đã có những đổi thay tương tự. Vào thế kỷ
XIII, khi người Mông Cổ chiếm đóng vùng Trung Đông của người
Hồi giáo và lần đầu tiên kể từ thời Đấng Tiên tri Mu-ha-mát, vùng đất
này bị đặt dưới quyền quân ngoại đạo thì chính những giáo dân Hồi
giáo cũng học theo cách sống của người Mông cổ, ít ra là trong lĩnh
vực quân sự. Các tiểu vương Hồi giáo, ngay cả ở Ai Cập lúc ấy
không bị Mông Cổ chiếm đóng, cũng bắt đầu ăn mặc theo kiểu

Mông cổ, thắng ngựa dùng yên cương Mông Cổ và để tóc dài như
người Mông cổ thay vì cắt ngắn theo kiểu Hồi giáo. Quân đội các
quốc gia Hồi giáo cũng mặc quân phục, sử dụng quân trang và yên
cương Mông cổ chẳng khác gì ngày nay họ mặc áo lính bó chẽn, đội
mũ lưỡi trai vì đó là quân phục của người chiến thắng, mang dáng
điệu và uy phong của lực lượng quân sự mạnh nhất thời bấy giờ.
Theo các truyện kể thì họ tiếp tục để tóc và mặc quần áo Mông Cổ
cho đến năm 1315, khi các vua chúa Mông Cổ vùng Trung Đông đã
quy theo Hồi giáo và đồng hoá với dân bản xứ, vua Ai Cập ra lệnh
cho các sĩ quan phải cắt gọn mớ tóc dài, từ bỏ kiểu dáng Mông cổ
cho người và ngựa, trở lại dùng y phục và vải phủ yên cương Hồi
giáo như trước kia. Trong các quân đội Hồi giáo hiện nay, một sự trở
về lề lối cũ như vậy chưa hề xảy ra.
Tiếp theo sau giới quân sự là đến lượt triều đình. Hoàng đế có
hôm thăng triều trong một bộ đồ Tây phương, có cải biên đi chút ít
để không giống hệt Âu phục. Trong điện Topkapi ở Istanbul hiện nay
có hai bức họa của Hoàng đế Mahmud II trước và sau khi có đổi
mới về trang phục. Hai bức họa ấy, rõ ràng là do cùng một bàn tay
họa sĩ, vẽ Hoàng đế trên lưng cùng một con ngựa nhìn dưới cùng
một góc độ. Trên một bức họa, Hoàng đế mặc trang phục Ottoman
truyền thống còn trên bức kia, ông mặc quần và áo choàng có tua
theo kiểu nhà binh châu Âu. Ngựa ông cưỡi cũng có nhưng thay đổi
tương tự về yên cương. Ataturk, người không hề biết nói quanh co
là gì, đã đi thẳng vào vấn đề. Ông nói: “Chúng ta muốn ăn mặc cho
văn minh. Như thế có nghĩa là thế nào? Tại sao y phục của một nền

văn minh cổ xưa hơn lại được xem là kém văn minh? Theo ông,
“văn minh” chỉ có nghĩa là hiện đại, là theo kiểu Tây phương.
Sau Hoàng đế là đến lượt triều thần bắt đầu ăn mặc theo kiểu
phương Tây. Triều đình chính là nơi mà nhà vua dễ dàng ra lệnh
cho đám dân sự thay đổi cách ăn mặc và cũng dễ dàng theo dõi việc
thực thi sắc lệnh ấy. Các triều thần bắt đầu mặc áo choàng và quần
dài. Từ triều đình, kiểu quần áo mới lan rộng ra các quan chức bên
ngoài và vào cuối thế kỷ XIX, mọi quan chức trong đế quốc Ottoman
đều mặc áo choàng và quần dài kiểu dáng khác nhau, tượng trưng
cho những đổi thay rộng lớn về các giá trị xã hội. Từ các công chức,
một bộ phận quan trọng của xã hội, kiểu quần áo mới được truyền
bá đến đông đảo quần chúng và sau cùng đến tầng lớp dân thường,
ít ra là trong các thành thị. Sau đấy thì đến lượt Iran, cả trong thế
giới Ottoman và ở Iran, việc Âu hoá y phục trong giới lao động và ở
nông thôn thì phải một thời gian lâu hơn, cho đến nay vẫn chưa
hoàn tất. Cả sau cuộc cách mạng Hồi giáo ở Iran năm 1979, các
nhà ngoại giao nước này vẫn tiếp tục mặc Âu phục, chỉ không thắt
cà-vạt như để tỏ ra là không chịu theo các thể thức và các ép buộc
của phương Tây.
Việc Tây hoá hay hiện đại hoá áo quần phụ nữ (dù sao họ cũng
chiếm đến một nửa dân số), thì gặp nhiều chống đối hơn. Phong
trào này khởi động khá chậm và cũng không đều khắp như đối với
nam giới, ngay cả thời nay. Các quy định Hồi giáo về cách ăn mặc
kín đáo và vẻ thuỳ mị của phụ nữ làm cho vấn đề này khá nhạy cảm
và không ngừng gây ra tranh cãi. Ngay cả Ataturk, nếu ông có cấm
đàn ông đội mũ fez hay các loại mũ không phải của phương Tây, thì

ông không bao giờ cấm phụ nữ đeo mạng che mặt; ở một vài nơi
trong nước Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ, các chính quyền địa phương có
đưa ra những luật lệ về việc này nhưng cũng là số ít. Việc xoá bỏ
mạng che mặt đã được thực hiện nhờ áp lực xã hội hay qua một
hình thức thẩm thấu chứ không phải nhờ chế tài của pháp luật như
trong trường hợp xoá bỏ các loại mũ truyền thống cho nam giới.
Cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, việc thay đổi y phục đã phản
ánh tính trọng nam khinh nữ. Trong các quán cà-phê hay quán trà,
rất hiếm khi gặp phụ nữ, mà nếu họ có đến thì thường trùm khăn kín
mít từ đầu đến chân. Tuy nhiên, ở một vài nước, người ta có thể gặp
trong các khách sạn hay quán cà-phê đắt tiền dành cho giới thượng
lưu những phụ nữ ăn mặc sang trọng, nghĩa là theo kiểu phương
Tây.
Sự thay đổi trong y phục còn tượng trưng cho một sự thay đổi
sâu rộng hơn, ngay cả ở các nước đang quyết liệt chống đối
phương Tây. Cũng như người dân vẫn còn mặc một bộ Âu phục cải
biên thì Nhà nước ỏ đây lại thắng một bộ mã bề ngoải có dáng dấp
Tây phương, đó là cho lưu hành một hiến pháp, cho thiết lập một
quốc hội lập pháp và cho tổ chức một loại hình bầu cử nào đó. Trên
đất nước Cộng hoà Hồi giáo Iran, các cơ cấu này vẫn được duy trì
mặc dù là nước Iran ngày xưa hay giáo quốc Hồi giáo trước đây
không có chúng.
Trở lại quán cà-phê với người khách ngồi trên chiếc ghế kê sát
chiếc bàn nhỏ. Hai thứ đồ đạc này cũng do các sáng kiến có chịu
ảnh hưởng Tây phương mang lại. Trong thời cổ đại và ngay cả khi
bị người La Mã chiếm đóng, vùng Trung Đông có sử dụng bàn ghế

nhưng chúng đã biến mất sau cuộc chinh phục của người A-rập.
Người A-rập đến từ một vùng đất ít cây cối cho nên gỗ thật là quý
hiếm. Họ có nhiều len và da thú nên họ sử dụng các vật liệu này để
may quần áo và cũng để chế tạo vật dụng trong nhà và ở nơi công
cộng. Người ta thường ngửa lưng hay ngồi tựa vào nệm và gối đủ
mọi chủng loại, hoặc trên các đi-văng và ôt-tô-man (hai tên gọi xuất
xứ từ vùng Trung Đông) có trải thảm đan hay thảm dệt, đồ ăn thức
uống thì đựng trong những cái khay kim loại chạm trổ tinh vi. Nhiều
bức đồ họa tí hon của người Ottoman vào đầu thế kỷ XVIII mô tả
cảnh những người khách Âu châu đến dự các buổi yến tiệc của triều
đình. Họ được phân biệt rõ ràng qua cách ăn mặc, trên là áo chẽn,
dưới là quần bó đến đầu gối, đầu thì đội mũ và họ là những người
duy nhất ngồi trên ghế. Với lòng mến khách, những người chủ nhà
Ottoman đã bắc ghế mời những người châu Âu ngồi, còn họ thì
không ngồi ghế.
Ông bạn chúng ta trong quán cà-phê chắc cũng đang phì phèo
một điếu thuốc lá — đây lại là một sản phẩm của phương Tây hay
nói đúng hơn là của Mỹ châu. Người ta được biết có lẽ thuốc lá do
các thương nhân Anh quốc đưa vào Trung Đông vào đầu thế kỷ XVII
và rất nhanh chóng được nhân dân ưa chuộng. Cà-phê thì được du
nhập sớm hơn, vào thế kỷ XVI. Có nguồn gốc từ Ethiopia, nó được
đưa vào miền Nam Arabia và sau đấy đến Ai Cập, Syria và Thổ Nhĩ
Kỳ. Theo sử sách Thổ Nhĩ Kỳ, cà-phê được hai người dân Syria đưa
đến Istanbul dưới thời Hoàng đế Suleyman, mệnh danh Nhà vua Kỳ
diệu (1520-1566); một người từ Aleppo, người kia từ Damascus đến
để mở các quán cà-phê đầu tiên ở thủ đô Thổ. Loại nước uống này

rất được ưa thích nên chỉ ba năm sau người chủ quán từ Aleppo
đến đã về lại quê nhà trong túi xủng xẻng năm nghìn đồng tiền vàng
lợi nhuận. Việc phát triển một xã hội cà-phê làm cho cả chính quyền
lẫn chức sắc tôn giáo lo ngại, chính quyền thì không biết họ có âm
mưu phản loạn nào không, còn giáo hội thì quan tâm đến việc loại
nước kích thích này có vi phạm gì đến giới luật Hồi giáo hay không?
Năm 1633, Hoàng đế Murad IV ra lệnh cấm cả cà-phê lẫn thuốc lá,
và còn kết án tử hình một số người uống cà-phê và hút thuốc lá.
Cuối cùng, sau nhiều tranh luận giữa các phe chống đối và ủng hộ,
thuốc lá được xem là hợp pháp theo một quyết định fatwa của vị Đại
Giáp trưởng Giới luật Mufti Mehmed Bahai Efendi, một người nghiện
thuốc lá nặng mà năm 1634 đã bị cách chức và đi đày cũng vì
nghiện ngập. Theo một tác giả, Ottoman đương thời có tên Katib
Chelebi, quyết định của giáo trưởng công nhận tính hợp pháp của
thuốc lá không xuất phát từ việc chính ông cũng là con nghiện mà từ
nguyên tắc pháp lý là những gì không cấm thì được cho phép và
cũng từ lòng mong muốn “cho dân chúng được hưởng những gì họ
ưa thích...
 
Gửi ý kiến