Tìm kiếm Giáo án
lich su 9

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Văn Trang
Ngày gửi: 23h:36' 15-06-2020
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 14
Nguồn:
Người gửi: Phạm Văn Trang
Ngày gửi: 23h:36' 15-06-2020
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 14
Số lượt thích:
0 người
I. Đặt vấn đề:
Người giáo viên được ví như một diễn viên trên sân khấu mà học trò là những khán giả thưởng thức những gì giáo viên biểu diễn. Có những thầy cô giáo khi đến tiết lên lớp của mình lại được học trò mong chờ, chú ý, say sưa lắng nghe. Ngược lại có những thầy cô giáo khi lên lớp lại làm cho học trò chán nản, cảm thấy tiết dạy kéo dài lê thê, mong muốn tiết dạy của thầy cô giáo ấy nhanh chóng kết thúc, thậm chí có em còn viện lý do để bỏ tiết, từ chối ngồi học trong lớp.
Mặc dù hiện nay có rất nhiều giáo viên luôn tìm mọi phương pháp để chuyển tải kiến thức cần đạt cho các em. Việc kết hợp tranh, ảnh, tư liệu video vẫn được giáo viên chú trọng. Tuy nhiên ở những nơi có điều kiện kinh tế khó khăn thì lại rất vất vả cho giáo viên khi sưu tầm và chuẩn bị cho tiết dạy của mình.
Bên cạnh đó, với môn học lịch sử dường như đa phần các em và kể cả các bậc phụ huynh đều cho là môn phụ, ít hứng thú, ít chủ động tiếp nhận. Cùng với việc lịch sử lâu nay được biết đến như một môn học khô khan với quá nhiều sự kiện, quá nhiều mốc thời gian, khó ghi nhớ, khó cảm nhận.
Đó chính là những lí do khiến học sinh dần dần xa rời kiến thức lịch sử, tiếp cận một cách qua loa, đại khái, rồi sau đó dễ dàng quên đi. Vì vậy, trong những năm học gần đây, tỉ lệ học sinh đạt điểm rất thấp môn lịch sử trong các kì thi tuyển sinh cao đẳng, đại học. Là mối quan ngại rất lớn đối với toàn xã hội khi mà lịch sử dân tộc lại được các em đón nhận một cách thờ ơ, hời hợt.
Hiện nay, với phương châm dạy học lấy học sinh làm trung tâm thì giáo viên cần phải trở thành một đạo diễn giỏi, cốt làm sao để học sinh tích cực, chủ động lĩnh hội kiến thức một cách đúng đắn và đầy đủ nhất. Trong dạy học lịch sử, việc làm sao để tiết dạy không xơ cứng, khô khan, làm sao để học sinh hứng thú tiếp thu, tới giờ lại muốn học, đã học thì yêu thích, càng học càng ghi nhớ, càng say mê thì người dạy mới thành công được. Mặc dù đã có rất nhiều giáo viên trong cả nước cũng vận dụng thơ, văn trong dạy học lịch sử. Tuy nhiên tất cả họ đều nêu một cách chung chung, trừu tượng, không cụ thể. Phương pháp vận dụng không rõ ràng. Nội dung áp dụng quá nhiều, có khi lồng ghép cả thơ lẫn văn, gây quá tải, làm cho tiết học lịch sử dễ biến thành một tiết đọc thơ hay một tiết ngữ văn. Việc lồng ghép đã không làm tinh gọn lại bài giảng để học sinh ghi nhớ mà trái lại còn dẫn đến quá tải thêm bài. Học sinh dễ rơi vào tình trạng bối rối, nên ghi nhớ kiến thức trong sách giáo khoa hay chỉ ghi nhớ kiến thức lịch sử qua các câu thơ mà giáo viên đã lồng ghép mà không biết cách liên hệ từ các câu thơ giáo viên đã chuyển tải để rút ra bài học một cách hàm xúc nhất. Các sáng kiến của các tác giả trước như Hoàng Thị Việt Hường không nói lên biện pháp cụ thể là lồng ghép ở phần nào, mục nào. Tất cả các tác giả khi áp dụng lồng ghép thơ văn trong dạy học đều không có khả năng tự sáng tác một tác phẩm “sử thi” để khái quát bài giảng lịch sử của mình mà đưa một cách rập khuôn nội dung thơ quen thuộc của các nhà thơ Việt Nam quen thuộc như Tố Hữu, Chế Lan Viên...Không nêu rõ những câu thơ, đoạn văn nhằm khắc sâu kiến thức trọng tâm nào trong bài. Ở đây, phương pháp của tôi cải tiến hơn, đó là không phải lồng ghép thơ của các tác giả nổi tiếng vào bài giảng lịch sử mà là tự sáng tác những câu thơ để cô đọng lại kiến thức lịch sử ở mỗi chương, mục, hoặc nêu bật một nhân vật, sự kiện lịch sử nào đó có trong sách giáo khoa mà không cần phải để cho học sinh học nguyên văn trong sách. Và tôi đặc biệt chú trọng tới đối tượng là các em học sinh khối lớp 9. Khối học cuối cấp THCS, chương trình rất quan trọng, là tiền đề để các em có thể lĩnh hội kiến thức lịch sử ở THPT. Cho nên tôi đã chọn sáng kiến “Khắc sâu kiến thức Lịch sử 9 cho học sinh bằng việc lồng ghép thơ trong dạy học” để tạo chất xúc tác, làm mềm hóa trong hứng thú của người học, tạo sự hấp dẫn, luôn cuốn người học sẽ đem lại hiệu ứng cao trong việc khắc sâu kiến thức trong đầu học sinh để phục vụ trong quá trình giảng dạy của mình.
II. Giải quyết vấn đề:
1. Cơ sở lí
Người giáo viên được ví như một diễn viên trên sân khấu mà học trò là những khán giả thưởng thức những gì giáo viên biểu diễn. Có những thầy cô giáo khi đến tiết lên lớp của mình lại được học trò mong chờ, chú ý, say sưa lắng nghe. Ngược lại có những thầy cô giáo khi lên lớp lại làm cho học trò chán nản, cảm thấy tiết dạy kéo dài lê thê, mong muốn tiết dạy của thầy cô giáo ấy nhanh chóng kết thúc, thậm chí có em còn viện lý do để bỏ tiết, từ chối ngồi học trong lớp.
Mặc dù hiện nay có rất nhiều giáo viên luôn tìm mọi phương pháp để chuyển tải kiến thức cần đạt cho các em. Việc kết hợp tranh, ảnh, tư liệu video vẫn được giáo viên chú trọng. Tuy nhiên ở những nơi có điều kiện kinh tế khó khăn thì lại rất vất vả cho giáo viên khi sưu tầm và chuẩn bị cho tiết dạy của mình.
Bên cạnh đó, với môn học lịch sử dường như đa phần các em và kể cả các bậc phụ huynh đều cho là môn phụ, ít hứng thú, ít chủ động tiếp nhận. Cùng với việc lịch sử lâu nay được biết đến như một môn học khô khan với quá nhiều sự kiện, quá nhiều mốc thời gian, khó ghi nhớ, khó cảm nhận.
Đó chính là những lí do khiến học sinh dần dần xa rời kiến thức lịch sử, tiếp cận một cách qua loa, đại khái, rồi sau đó dễ dàng quên đi. Vì vậy, trong những năm học gần đây, tỉ lệ học sinh đạt điểm rất thấp môn lịch sử trong các kì thi tuyển sinh cao đẳng, đại học. Là mối quan ngại rất lớn đối với toàn xã hội khi mà lịch sử dân tộc lại được các em đón nhận một cách thờ ơ, hời hợt.
Hiện nay, với phương châm dạy học lấy học sinh làm trung tâm thì giáo viên cần phải trở thành một đạo diễn giỏi, cốt làm sao để học sinh tích cực, chủ động lĩnh hội kiến thức một cách đúng đắn và đầy đủ nhất. Trong dạy học lịch sử, việc làm sao để tiết dạy không xơ cứng, khô khan, làm sao để học sinh hứng thú tiếp thu, tới giờ lại muốn học, đã học thì yêu thích, càng học càng ghi nhớ, càng say mê thì người dạy mới thành công được. Mặc dù đã có rất nhiều giáo viên trong cả nước cũng vận dụng thơ, văn trong dạy học lịch sử. Tuy nhiên tất cả họ đều nêu một cách chung chung, trừu tượng, không cụ thể. Phương pháp vận dụng không rõ ràng. Nội dung áp dụng quá nhiều, có khi lồng ghép cả thơ lẫn văn, gây quá tải, làm cho tiết học lịch sử dễ biến thành một tiết đọc thơ hay một tiết ngữ văn. Việc lồng ghép đã không làm tinh gọn lại bài giảng để học sinh ghi nhớ mà trái lại còn dẫn đến quá tải thêm bài. Học sinh dễ rơi vào tình trạng bối rối, nên ghi nhớ kiến thức trong sách giáo khoa hay chỉ ghi nhớ kiến thức lịch sử qua các câu thơ mà giáo viên đã lồng ghép mà không biết cách liên hệ từ các câu thơ giáo viên đã chuyển tải để rút ra bài học một cách hàm xúc nhất. Các sáng kiến của các tác giả trước như Hoàng Thị Việt Hường không nói lên biện pháp cụ thể là lồng ghép ở phần nào, mục nào. Tất cả các tác giả khi áp dụng lồng ghép thơ văn trong dạy học đều không có khả năng tự sáng tác một tác phẩm “sử thi” để khái quát bài giảng lịch sử của mình mà đưa một cách rập khuôn nội dung thơ quen thuộc của các nhà thơ Việt Nam quen thuộc như Tố Hữu, Chế Lan Viên...Không nêu rõ những câu thơ, đoạn văn nhằm khắc sâu kiến thức trọng tâm nào trong bài. Ở đây, phương pháp của tôi cải tiến hơn, đó là không phải lồng ghép thơ của các tác giả nổi tiếng vào bài giảng lịch sử mà là tự sáng tác những câu thơ để cô đọng lại kiến thức lịch sử ở mỗi chương, mục, hoặc nêu bật một nhân vật, sự kiện lịch sử nào đó có trong sách giáo khoa mà không cần phải để cho học sinh học nguyên văn trong sách. Và tôi đặc biệt chú trọng tới đối tượng là các em học sinh khối lớp 9. Khối học cuối cấp THCS, chương trình rất quan trọng, là tiền đề để các em có thể lĩnh hội kiến thức lịch sử ở THPT. Cho nên tôi đã chọn sáng kiến “Khắc sâu kiến thức Lịch sử 9 cho học sinh bằng việc lồng ghép thơ trong dạy học” để tạo chất xúc tác, làm mềm hóa trong hứng thú của người học, tạo sự hấp dẫn, luôn cuốn người học sẽ đem lại hiệu ứng cao trong việc khắc sâu kiến thức trong đầu học sinh để phục vụ trong quá trình giảng dạy của mình.
II. Giải quyết vấn đề:
1. Cơ sở lí
 








Các ý kiến mới nhất