Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

LÀNG KHOA BẢNG VÀ DANH NHÂN LÀNG KHOA BẢNG VIỆT NAM

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:11' 28-02-2024
Dung lượng: 11.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
mỞA
VÀ DANH NHÂN
LÀNG KHOA BẢNG
VIẼT NAM

SÔNG LAM (BIÊNSOẠN)
NHÀ XUÁT BẢN THANH NIÊN

h a ìig lõ n g
Khai-0.1
-TPHCM
2 Bis Nguyễn Thịli Minh Khai
- Q.l -TRHCM
01:08^3 910 2062 / FAX: 08.3 910 2063
E-mail; nsthangiong@hcm.fpt.vn
Website: //www.thanglong.com.vn

uiHUiịinouỵauoHHoyHi
UHHUHUHO

Biên mục trỄn xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam

Sông Lam
Làng khoa bảng và danh nhân làng khoa bảng Việt
Nam / Sông Lam b.s. - H. : Thanh niên, 2016. - 227tr. ;
21cm
Thư mục: tr. 226S-227
1. Lịch sử 2. Làng 3.
5. Việt Nam
959.7 - dc23

Khoa bảng 4.

Danh nhân

TNL0002P-CIP
Những thư viện mua sách của Nhà sách Thăng Long được biên mục
chuẩn Marc 21 miễn phí.
'TDữ liệu được Nhà .sách Thăng Long chép vào đĩa mềm, hoặc gửi
emaiỉ đến thư viện, hoặc clownloacl từ trang \veh:thanglong.com. vn

LÀnGKHOíìBnnGuiỆĩnniỉi
SỒNG LAM
(Biên soạn]

NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN

^iM đ thiỆẢ

>uốt c h iều d à i lịch sử c h ế độ p h o n g k iế n V iệt
N am , giáo d ụ c và khoa cử N ho h ọ c g iữ m ộ t vị trí vô
cùng quan trọng trong v iệ c đào tạo n h â n cách, rèn
giũa tà i n ă n g cho b iế t bao con người, bao vị quan
lại, trong đó, n h iề u người về sau trở th à n h nh â n tài,
đ em h ế t tài năng, trí tuệ p h ụ n g sự triều chính và đố t
nước; n h iề u người trở th à n h n iề m tự h à o của gia
đ ình, trở th à n h “biểu tư ợ ng” của làng xã...
M ột trong những đặc đ iể m n ổ i bật trong truyền
thống h iế u h ọ c và khoa bảng của n h iề u vùng quê Việt
N am ỉà, nhữ ng người đỗ đạt thường tập trung trong
m i't s ố gia đình, dòng họ, n ê n gọi ỉà các ĩia đình,
dòng họ khoa bảng, từ đó là m hình thành các làng
khoa bảng.
Làng khoa bảng là là n g của các cộng dồng dân

cư người V iệt ở nông tịĩôn (chủ y ế u ở vùng c h â u th ổ
B ác bộ) có n h iê u người đỗ đ ạ t cao qua các k ỳ th i
của N hà nước p h o n g k iế n .
T heo tiê u chí, có 10 người trở lê n đỗ đ ạ i khoa
th ì s ẽ được công n h ậ n là “L àng k h o a b ả n g ” n ê n
trước đ â y con s ố “Làng k h o a b ả n g ” trên cả nước là
23. T u y n h iê n , th ờ i gian gần đ â y, đã có n h ữ n g tư
liệ u đ iề n dã tin cậy, đ ặ c b iệ t ỉà tư liệ u của PG S.TS
B ù i X u â n Đ ính cho th ấ y m ộ t s ố tài liệ u trước đ â y đã
có n h ữ n g sự n h ầ m ỉẫn^^) giữa là n g và x ã n ê n con s ố
“Làng khoa bảng" là chưa chính xác. Cụ th ể các làng
như: N ộ i D uệ, Vọng N g u yệt (Bác N inh), Thượng Y ên
Q u yết (Hà N ội) k h ô n g đủ s ố lượng 10 vị đ ạ i khoa.
Bởi vậy, hiện n a y thực tế trên ch ỉ có 20 làng khoa
bảng tiêu biểu được ghi nhận, là những làng có từ 10
người trở lên đỗ đại khoa (từ Phó bảng trở lên):
- T hành p h ố Hà N ộ i có 6 làng: là n g Đ ông N gạc,
T ừ L iêm (20 người); làng Tả T ha n h Oai, Thanh Trì
(12 người); Hạ Y ê n Q uyết, T ừ L iê m (11 người);
N g u yệt Á ng, Thanh Trì (11 người); Phú Thị, Gia Lâm
(10 người); Chi N ê, Chương M ỹ (10 người);
- Tỉnh B ốc N inh có 4 làng: K im Đôi, Kim Chân,
B ấc N in h (21 người); Tam Sơn, T ừ Sơn (17 người);
H ương M ạc, T ừ Sơn (11 người); Vĩnh K iều, T ừ Sơn
(10 người);

1) Xem thêm bài “Về quê quán của một .sô' Tiến s ĩ thời phong kiến
(TBHNH2001)”- Bùi Xuân Đính (http://hannom.vass.gov.vn).

Tỉnh H ưng Y ên có 3 làng: X uân cầu, Nghĩa Trụ,
Văn Giang (11 người); Lạc Đạo, Vân Lâm (11 người);
T h ổ H oàng, Â n Thi (10 người);
-

- T ỉnh H ả i Dương có 2 làng: M ộ Trạch, Bình
Giang (36 người); N h â n Lý, N am Sách (11 người);
- Tĩnh Thanh H óa có 2 làng: c ổ Đôi, N ông c ố n g
(11 người); N g u yệt V iên, H oằng Quang, H oàng Hóa
(11 người);
- T ỉnh V ĩnh P húc 1 làng: Q uan Tử, Sơn Đông,
Lập Thạch (12 người);
- Tỉnh B ắc Giang có 1 làng: Y ên N inh, V iệt Y ên
(10 người);
- Tỉnh Hà Tĩnh có 1 làng: Đ ông Thái, Tùng Ả n h ,
Đức Thọ (10 người).
Trên cơ sở đô, ch ú n g tôi đã tiế n h à n h sưu tầm ,
b iên soạn cuốn sách m a n g tê n “L àn g kh oa b ả n g
và danh n h ân là n g kh oa b ả n g V iệt N a m ” này. M ỗi
làng khoa bảng bao gồm p h ầ n giới th iệ u sơ lược về
làng và p h ầ n giới th iệ u m ộ t s ố danh n h â n tiêu biểu
của làng. R iên g p h ầ n “M ột s ố danh n h â n tiêu b iể u ”,
ngoài m ộ t s ố vị đại khoa, ch ú n g tôi đã m ở rộng đ ể
giới th iệ u n h ữ n g danh n h â n k h ô n g thuộc s ố người
đỗ đ ạ i kh o a như ng lạ i có n h ữ n g đ ó n g góp to lớn,
m a n g lạ i danh tiế n g cho là n g như: Giáo sư H oàng
M inh Giám (làng Đ ông Ngạc); nhà văn H oàng Ngọc
Phách (làng Đ ông Thái); n g u yên p h i V Lan, danh sĩ
Cao Bá Q uát (làng P hú Thị); danh tướng Trần
N guyên H ãn (làng Quan Tử)...

M ặc dù đã rất c ố gổng trong quá trình sứu tầm ,
đ ố i c h iế u các nguồn tư liệ u về tê n là n g xã , tê n tuổi,
chứ c vị của các vị đ ạ i khoa từ n h ữ n g nguồn ch ín h
th ố n g song cuốn sách k h ó có th ể tránh k h ỏ i n h ữ n g
th iế u sót... Bởi vậy, c h ú n g tôi rấ t m o n g m u ố n n h ậ n
được những ý k iế n x â y dựng của các nhà n g h iên cứu
và đ ông đảo độc giả đ ể n h ữ n g lần tái bản sau cuốn
sách sẽ hoàn th iệ n hơn!
Trân trọng câm ơn và giới th iệu !
NHÓM BIÊN SOẠN

Q

lÀIRCHINÊ .

( o im ie m . hiI dỉi)
_a c_

f ^ ù n g đ ấ t C hương M ỹ có từ cổ xưa với tên gọi
là h u yện C hương Đức, dưới triều vua Lê Thánh Tông
từ th ế kỷ 15, trải qua các triều Mạc, Lê Trịnh, Tây Sơn
và đ ến đ ầ u triều N guyễn. Đ ến năm Đ ồng K hánh thứ
3 m ù a hạ th á n g tư, triều đình nhà N guyễn đã chia
đạo Mỹ Đức làm hai vùng. V ùng người M ường nhập
vào tm h Phương Lâm (H òa Bình) còn v ù n g người
Kữih thì chia thành hai huyện. H uyện Yên Đức là Mỹ
Đức ngày nay và h u y ện C hương Mỹ. Đ ầy là mốc đ ầu
tiên th àn h lập huyện. Kể từ th án g 4 năm 1888 đến
năm 2013, vừa tròn 125 năm . Hơn m ột th ế kỷ, trải qua
bao biến cố thăng trầm của lịch sử, tuy có m ột số thay
đổi ở câ'p xã nhưng cơ bản về địa danh, địa giới của
huyện v ẫn giữ ổn định.
Chương M ỹ là huyện nổi d an h bởi truyền thống
khoa bảng trong các triều đại. Sách Người Hà Tây trong

làng khoa bảng đã thống kê, trong 12 làng của hu y ện
C hương M ỹ, từ năm 1247 đ ế n 1849 có 26 ngư ờ i đỗ
Tiến sĩ, T hám hoa, Phó bảng. Riêng làng C hi N ê có
tới 10 vị Tiến sĩ, Thám hoa.
D ường như, long m ạch tạo n ên m ộ t v ù n g áắ ì địa
linh n h ân kiệt m à nổi tiếng n h ấ t là địa d an h C hi N ê
(xã Trung H òa). Thời phong kiến Chi N ê có bô"n họ
có người dỗ đ ạ i khoa là họ Trần, họ N gô, họ N guyễn,
họ Lê.
Trong đó, họ Trần có 3 người có tên trong làng
khoa bảng là Trần Khải (1472), Trần Phỉ (1479) và Trần
Phủ (1634). H ọ N gô cũng có 3 vị đỗ T iến sĩ, m à đ iều
đặc biệt là ba ôn g cháu: N gô C ung (1557), N gô Khuê
(1633), N gô C ầu (1638). H ọ N gu y ễn có 3 vị đỗ Tiến
sĩ là: N g u y ễ n N h u ậ n , N g u y ễn H y Tải và N g u y ễn
Quô"c Bảo - cả 3 đ ề u được ghi d an h ở V ăn M iếu Quô'c Tử giám . C òn họ Lê thì có người đỗ đ ạ i khoa
đó là Lê H iếu T rung - ông được xếp vào h à n g công
th ần tiết nghĩa, tên tuổi ông được ghi tro n g bia V ăn
M iếu, hiện n ay v ẫ n còn.
N gày nay, thôn C hi N ê thuộc xã T rung H oà,
Chương M ỹ, H à Nội. Đ ây là khu vực có khá n h iều lễ
hội được tổ chức dịp đ ầ u năm .
N hư thườ ng lệ, cứ đ ến m ù n g 10 th án g G iêng (âm
lịch), người d â n làng Chi N ê lại tưng bừ n g m ở lễ hội
rước kiệu khai xuân. Tuy cách trung tâm H à N ội chỉ
20km nhưng lễ hội làng Chi N ê v ẫn giữ được n hữ ng
nét v ăn hoá tru y ền thống từ xa xưa đ ể lại.

lũ

íĩiỌ ĩsốD nnH nH nnĩiẼU B É:

Ngô Cung (1557- ?)
N gô C ung tự là C ẩn Trai, hiệu Phục H iên Tiên
sinh, ngườ i họ N gô làng N ứ a, xã C hi N ê, h u yện
C hương Đức, nay là th ô n C hi N ê, xã Trung H oà,
h u y ện Chương Mỹ, th àn h p h ố Hà Nội.
N gô C ung đỗ H oàng giáp năm Q uý M ùi niên hiệu
D iên T hành th ứ 6, đời Mạc M ậu H ợp (1583). N ăm đó,
ô n g trò n 27 tuổi. Sau đó, ôn g ứng ch ế và thi khoa
Đ ông các đ ề u đứ ng hàng đ ầ u rồi làm quan tới chức
Đ ông các Đ ại học sĩ triều M ạc, tước N am , sau theo về
nhà Lê - Trịnh.

Ngô Khuê (1633 - ?)
Tiến sĩ N gô Khuê sinh năm 1633-?, người xã Chi
N ê, h u yện Chương Đức, nay là thôn Chi N ê, xã Trung

11

H òa, h u y ện Chương M ỹ, th àn h phô' H à Nội. ô n g là
cháu của cụ N gô C ung và là anh trai của N gô c ầ u .
N ăm 29 tu ổ i ông đỗ Đệ tam g iáp Tiến sĩ cập đệ Đệ
tam d a n h (tức Thám hoa) khoa T ân Sửu, n iên h iệu
Vĩnh Thọ th ứ 5 (1661) đời Lê T hần Tông.
Theo sách Tam khôi bị lục, ôn g được m ộ t lần cử
sang sứ nhà Thanh, sau lại được cử lên b iên giới tiếp
sứ nhà Thanh, được sứ giả nhà T hanh ca ngợi ông là
bậc giai sĩ của nước N am . ô n g làm q u an đ ến chức
Bồi tụ n g , Tả Thị lang bộ H ộ, tước Lam Phái nam , về
trí sỹ.
N hữ ng thông tũì về Tiến sĩ N gô K huê còn được
skể đ ế n trong Bia V ăn m iếu, hay các sách như; Đỉnh
khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (quyển 3, tờ 21b),
Đại Việt lịch đại đăng khoa, (quyển 3, tờ 56a), Liệt huyện
đăng khoa bị khảo, (quyển 3, tờ 54a), và Tam khôi bị lục
(tờ 31a).

Ngô Cầu (1638 - ?)
ô n g N gô C ầu là cháu của H oàng giáp N gô C ung,
em của Thám hoa N gô K huê, người xã C hi N ê h u yện
C hương Đ ưc, nay là th ô n Chi N ê, xã T rung H òa,
h u y ện C hương Mỹ, th àn h phô' H à N ội.
N ăm 1670 ông đỗ Đệ tam g iáp Đ ồng Tiến sĩ xuất
thân, khoa C anh Tuâ't, niên hiệu C ảnh Trị th ứ 8, đời
Lê H uyền Tông. Sau đó, ông giữ chức Tham Chm h.
N gô C ầu mâ't trước khi lên đườ ng đ i sứ nhà Thanh.

12

Lê Hiếu Trung (? - ?)
V ăn thần Lê H iếu T rung đời Lê H iến Tông, ô n g
quê làng Chi Nê, h u y ệ n C hương Đức, nay là thôn Chi
N ê, xã Trung H òa, h u y ệ n Chương M ỹ, thàiùi p h ố Hà
N ội. K hông rõ năm sinh, năm m ất của ô rg .
N ăm N hâm TuâT (1502), ông đỗ Đ ồng Tiến sĩ, làm
G iám sát n gự sử. Trong năm Đ m h M ão (1507), ông
được cử làm Phó sứ sang nhà M inh (Trung Quô"c) khi
về th ăn g làm Tư nghiệp Quô"c Tử giám .
C hm h sự hỗn loạn, nhóm Trịnh Tuy b ắt Lê Chiêu
Tông ở h àn h cung T hượng Y ên Q uyết (trước thuộc
tỉnh H à Đ ông, nay là phư ờ ng Yên H òa, c ầ u Giấy, Hà
N ội) đưa về Thanh H óa. N hóm T rần Cao cũng dâ'y
q u ân làm loạn, đ á n h cướp kứvh thành năm Bứửi Tý
(1516). Trong cơn nước biến, các phe nhóm dều có ý
m uốn d ù n g ông, lớp cám dỗ, lớp hăm dọa. ô n g cương
quyết không k h u ất p h ụ c các nhóm p h ả n loạn, tự tử
chết, được người đương thời khen ngợi tiết nghĩa.

13

n j« -

T r-

n

LẢNG c í oùl u

r [nãnG
[n 6 n G Ccínt
Ín e.ĩH n n H H ô í)]l
uT#i— 3

xưa, v ù n g N ông C ông có không ít người học
giỏi đỗ cao. Chỉ tm h từ năm 1247 đ ến năm 1870 riêng
h u yện N ông Cô"ng cũ có 27 người đỗ đ ại khoa (Trang
233 tập 2, Đại Nam nhất thống chí"- N hà xuâ^t b ản Khoa
học xã hội, Hà N ội, 1970). So với trong tm h T hanh
Hoá thì sô" người đỗ đ ạ i khoa ở đ â y đứ n g h àn g th ứ
nhì (sau huyện H oằng H oá). Trong các kì thi hương
từ trước đ ến nay v ù n g N ông C ông có tới 62 người đỗ
cử nhân (Theo Đăng khoa ỉục Thanh Hoá: n g u y ên b ản
"Thu tỉ đề danh kí". Số 78/Đ C - 3086. D ịchĩ N gô Đức
Thọ). N hững xã có tru y ền thông v ăn hoá từ lâu đời,
nhiều người đỗ đ ạ t cao là: Lan Khê, c ổ Đôi, c ổ Định
và Hương Khê.
Riêng làng c ổ Đ ôi được xem là làng khoa b ản g
của xứ Thanh. N gôi làng này đã sinh ra bao nhiêu anh

14

hùng hào kiệt công hiến cho đ ấ t nước.
Trong d â n gian vẫn còn truyền câu tục ngữ: " ô n g
công, ông nghè c ổ Định, c ổ Đ ôi" (vùng c ổ Định và
Cổ Đôi, tức v ù n g xã Tân N inh, Triệu Sơn và xã H oàng
Giang b â y giờ). Riêng c ổ Đ ôi (H oàng Giang ngày
nay), từ năm G iáp Thìn 1544 đ ế n năm Ấ t Sửu 1685,
có tới 11 người đỗ Tiến sĩ, được ghi danh tại Văn bia
Văn M iếu...
Đ iều đặc b iệt là trong 11 tiến sĩ, đỗ rải rác từ năm
1554 đ ến năm 1685, họ Lê có 7 vị, họ Đỗ có 4 vị; có
gia đình cả ba bố, con, cháu đ ều đỗ tiến sĩ, đó là ông
Lê H ữu Trạch (bô) đỗ năm 1565, ông Lê N hâm Triệt
(con) đỗ năm 1640 và ông Lê Sỹ C ẩn (cháu) đỗ năm
1680. Có gia đìn h cả 2 bố, con đ ề u đỗ Tiến sĩ, chỉ cách
nhau có 26 năm , đó là ông Lê Chí Đạo (bố) đỗ năm
1659 và ông Lê C hí T uân (con) đỗ năm 1685...
Tại nhà thờ họ Lê Sĩ ở xã c ổ Đôi vẫn còn đô i câu
đôì b ằn g chữ N ôm n h ư sau:
Tiến sĩ ba đời lừng đất Việt
Công hầu một họ sánh trời Nam.

15

niOTsãDnnHnHãnTiẼUBÉ,

Đỗ Phi Tán (1508 - ?)
ĐỖ Phi T án sinh năm 1508, ngườ i xã c ổ Đôi,
hu y ện N ông c ố n g (nay thuộc xã H oàng G iang, h u yện
N ông C ông, tỉn h T hanh H óa), ô n g là an h của Đỗ
D anh Đại (đỗ Tiến sĩ năm 1554).
N ăm 37 tuổi, ông đỗ Đệ tam giáp Đ ồng Tiến sĩ
xuất thân, khoa G iáp Thìn, niên hiệu Q uảng H òa năm
thứ 4 (1544), đời M ạc Phúc Hải. Sau đó, ông làm quan
nhà M ạc, sau theo về nhà Lê, được th ăn g đ ế n Thượng
thư, hàm Thiếu bảo, tước Văn Trường bá. Sau khi m ất,
ông được tặng h à m T hái bảo, tước N ông Q u ậ n công.

ĐỖ Danh Đại (1514 - ?)
Đổ Danh Đ ại (có tài liệu ghi là Đỗ Tâ't Đ ại) sinh
năm 1514, người xã c ổ Đôi, huyện N ôn g cống (nay

10

thuộc xã H oàng Giang, huyện N ông Cống, tửih Thanh
H óa). Ô ng là em củ a Đỗ Phi Tán (đỗ Tiến sĩ năm
1544), cha của Đỗ Tế Mỹ (đỗ Tiến sĩ năm 1565).
V ăn bia đề d a n h C h ế khoa G iáp D ần, n iên h iệu
T h u ậ n Bình n ăm th ứ 6 (1554) có đ o ạn chép n h ư sau:
"...B ấy giờ n h ữ n g d ũ n g tư ớ ng n an h vuôT xông pha
ở nơi tê n đ ạ n th ì n h iề u m à m ư u th ầ n tầ m p h ú c
g iú p v ậ n trù ở nơi m à n trư ớ n g thì ít. Bèn v ào năm
G iá p D ần, n iên h iệ u T h u ậ n Bình th ứ 6 b ắ t đ ầ u đ ặ t
C h ế khoa, đích th â n ra đề thi v ă n sách h ỏ i về đạo
trị nước xưa nay... Sai các quan Đề đ iệ u , Tri C ông
cử, G iám thí v â n g m ện h khảo thí, trú n g tu y ể n được
13 n g ư ờ i, v â n g m ệ n h d â n g lên đ ể H o à n g th ư ợ n g
n g ự lãm , đ ịn h th ứ bậc cao th ấ p , s ắ c b an cho b ọn
Đ inh B ạt T ụy 5 n g ư ờ i đỗ Đệ nhâT g iáp C h ế khoa
x u ấ t th â n ...".
Trong số 5 người này, Đỗ D anh Đại đỗ th ứ 5, tiếp
sau là 8 người đỗ Đệ nhị giáp, Sau đó, ông làm quan
Đ ông các Đại học sĩ, tước V ăn H oành bá.

ĐỖ Tế Mỹ (1535- 1597)
Đỗ T ế M ỹ sinh năm 1535, người xã c ổ Đôi, huyện
N ông C ông (nay thuộc xã H oàng Giang, huyện N ông
C ống, tỉnh Thanh Hóa).
V ăn bia đề danh Tiến sĩ C hế khoa Ấ t Sửu, niên
hiệu C hm h Trị năm thứ 8 (1565) chép: "H oàng thượng
đích thân ngự ở h iên điện ra đề thi, định thứ bậc cao

17

thấp. Ban cho bọn Lê K hiêm 4 người đỗ Đệ n h ấ t giáp
C hế khoa xuất thân...". Trong 4 người này thì Đỗ Tế
M ỹ dỗ thứ 3. Khoa thi này, ngoài Đỗ T ế M ỹ đỗ Đệ
nhâ't giáp còn có 1 người làng c ổ Đ ôi đỗ Đệ nhị giáp
là Lê Nghĩa Trạch.
Sau khi đỗ đ ạ t, ông ra làm q u an và sau được
th ăn g dến chức Tả Thị lang Bộ H ộ, tước Sùng Lĩnh
h ầu . Khi m ất, ông được tặng Thượng thư, gia phong
Thái bảo, tước Q u ận công.

Lê Nghĩa Trạch (1536 -1614)
Lê Nghĩa Trạch sinh năm 1536, người xã c ổ Đôi
h u yện N ông c ố n g (nay thuộc xã H oằng Giang, huyện
N ông C ông, tửih Thanh H óa), ô n g nội của Lê N hân
Triệt, cao tổ của Lê Sĩ Cẩn.
Văn bia đề danh Tiến sĩ C h ế khoa Ấ t Sửu, niên
h iệu Chữih Trị n ă m th ứ 8 (1565) có đ o ạ n chép:
"...H oàng thượng đích th ân n gự ở h iên đ iện ra đề thi,
định thứ bậc cao thấp. Ban cho b ọ n Lê K hiêm 4 người
đỗ Đệ n hất giáp C hế khoa xuất thân, b ọ n Lê Nghĩa
Trạch 6 người đỗ Đệ nhị giáp Đ ồng C hế khoa xuất
thân. C họn ngày xướng d an h yết bảng, tỏ cho sĩ tử
thây kết quả tốt đẹp...".
Theo n hư V ăn bia thì Lê N ghĩa Trạch đỗ đ ìu trong
sô" 6 người đỗ Đệ nhị giáp Đ ồng C hế khoa xuất thân.
Sau khi đỗ, Lê N ghĩa Trạch ra làm quan rồi được
thăng tới chức Tả Thị lang Bộ Hộ. Khi mâ"t (1614), ông
1B

được tặng Thượng thư Bộ Binh, Thái bảo, tước N ham
Q u ận công, gia phong Kiệt tiết Tuyên lực công thần.

Lê Thất Dục (1570 - ?)
Lê Thất Dục (có tài liệu ghi là Lê Trất Dục) sinh năm
1570, người xã c ổ Đôi, huyện N ông Cống (nay thuộc xã
H oằng Giang, huyện N ông cống, tỉnh Thanh Hóa).
Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Đinh M ùi, niên hiệu
H oằng Định năm thứ 8 (1607) có đoạn chép: "Mặc dầu
đang gấp việc d ụ n g birửì nhưng vẫn lây việc thi chọn
sĩ tử làm đầu. N ăm Đ inh M ùi m ở khoa thi H ội, đặc
sai Đề điệu là H ữ u đô đô"c Xuyên Q uận công Đỗ Thế
Vmh, Tri cống cử là H ình bộ Thượng thư N ghĩa Khê
h ầ u N guyễn Lễ, G iám thí là Định Lương bá H oa H ữu
Mô cùng trăm quan chia giữ các việc. Vâng tiến h àn h
p h ép thi, chọn được h ạn g xuất sắc 5 người. Lại vâng
vào Điện thí, ban cho Lưu Đình C hất 1 người đỗ Đệ
n h ị giáp Tiến sĩ x u ất th ân , bọn N gô N h ân T riệt 4
người đỗ Đệ tam giáp Đ ồng Tiến sĩ xuất thân...".
Theo V ăn bia này thì Lê Thất D ục đỗ th ứ 2 trong
số 4 người dỗ Đệ tam giáp Đ ồng Tiến sĩ xuất thân.
Ô ng làm quan H àn lâm H iệu thảo.

Lê Nhân Triệt (1 6 1 2 -? )
Lê N hân Triệt (có tài liệu ghi là Lê Sĩ Triệt) sinh

ig

năm 1612, người xã c ổ Đôi, huyện N ô n g C ông (làng
CỔ Đôi nay thuộc xã H oằng Giang, huyện N ông Cống,
tỉnh Thanh Hóa)...
V ăn bia đề d a n h T iến sĩ khoa C anh Thìn, n iê n
hiệu Dương H òa n ă m th ứ 6 (1640) chép: "...Đ ến khi
dâng quyển lên đọc, H oàng thượng xét d u y ệ t và định
th ứ bậc. Cho bọn Phí V ăn T huật 2 người đỗ Tiến sĩ
xuất thân, bọn H o àn g V m h 20 người đỗ Đ ồng Tiến
sĩ xuất thân...".
Trong sô" 20 người đỗ Đ ồng Tiến sĩ xuâ"t th ân thì
Lê N hân Triệt đứ n g th ứ 9. Sau đó, ông ra làm quan,
rồi được thăng đ ế n chức Tả Thị lang Bộ Hìrửi, tước
Q u ế H ải hầu. Sau khi mâT, ông được tặng chức Tả Thị
lang Bộ Bmh.

2ũ

r

T r-

LẢNG
p ĐỒNG NGẠC

Ị [Q.BlỉcTtfuẼn).HDnOi]
^

^^

—IM

e S ô n g N gạc còn được gọi là làng Vẽ hay Kẻ Vẽ
nay là 2 p hư ờ ng Đ ông N gạc và Đức Thắng nằm cách
tru n g tâm H à N ội khoảng lOkm. Đ ông N gạc là m ột
trong n h ữ ng ngôi làng cổ n h ấ t của Hà N ội với tên gọi
là "Làng Tiến sĩ" do có rấ t nhiều vị Tiến sĩ N ho học
và Tây học là người làng.
Làng Đ ông N gạc là nơi xuất thân của 18 vị Tiến
sĩ N ho học (với 1 Thái học súìh, 1 Bảng nhãn, 2 H oàng
giáp và 14 Đ ồng Tiến sĩ; gồm : Phan Phu Tiên - 1429,
Phạm Lân Đ ịnh (Luân Định) - 1514, Phạm Thọ Chỉ 1577, Phạm H iển D anh - 1646, Phạm Q uang Trạch 1683, P han Vinh Phúc - 1685, Phạm Q uang H o àn 1694, P h ạm Q uang Dung-1706, Phạm Q uang N inh
(N guyên Nừứi) - 1731, Phan Lê Phiên - 1757, N guyễn
Đ ình Thạc - 1779, H oàng T ế Mỹ - 1826, Phạm Gia
C h u y ên - 1831, N gu y ễn V ăn T ùng - 1838, N g u y ễn
H ữ u Tạo - 1844, P hạm Q uang M ãn - 1849, H oàng
21

Tướng H iệp - 1865, N guyễn D ự - 1879), 2 Phó b ản g
N ho học (N guyễn V ăn H ội - 1849, H oàng T ăng Bí 1910), 6 vị đỗ Sĩ v ọ n g (tức thi hội chỉ vào đ ế n tam
trường nhưng nổi tiếng là h iền tài n ên cũng coi n h ư
tiến sĩ), 7 Tiến sĩ thời P háp, và thời nay đã có tới hơn
50 Tiến sĩ.
Xưa phư ờ ng Đ ông N gạc có câu n g ạn n g ữ "Đâ't Kẻ
G iàn, quan Kẻ Vẽ" đ ể bày tỏ niềm tự hào có n h iều
người thành đ ạ t trong khoa bảng. Trong các d ò n g tộc
ở đây, họ nào cũng có người đỗ đ ại khoa, ít n h ấ t là
m ột người. N hiều họ n h ư họ Phạm có 16 người. Gia
đình H oàng giáp H oàng Tế Mỹ từ khi định cư ở Đ ông
N gạc có 3 đời nôT tiếp n h au đỗ Tiến sĩ và 1 Phó bảng
(H oàng N g u y ễn T hự , H oàng T ế M ỹ, H oàng Tướng
H iệp, H oàng T ăng Bí); cũng n h ư gia đình Bảng n h ãn
Phạm Q uang Trạch có tới 7 người đỗ đại khoa (từ Tiến
sĩ Phạm L uân Đ ịnh, H oàng giáp Phạm Thọ C hỉ đến
Tiến sĩ P hạm Q u an g N inh) trong khoản g 217 n ăm
(1514 - 1731)...

về kiến trúc, Đ ông N gạc có nhiều công trình nổi
tiếng. Đ ầu tiên p h ải kể đến đình làng Đ ông N gạc, m ột
ngôi đình có quy m ô to lớn, nhiều h ạn g m ục với các
thành p h ần kiến trú c cổ kúìh và chuẩn m ực đ ã tồn
tại từ th ế kỷ 17. Đ ình được xây d ự n g trên m ột th ế đ ấ t
cao ráo, đắc địa ở p hía Bắc làng, sá t với đê sông
H ồng. Tương tru y ề n , thời xưa đ ình vô'n là m ộ t toà
m iếu cổ có từ thời Đ ường vào th ế kv 7. N ăm 1635,
d ân làng đã xây lại và m ở rộng th àn h đình đ ể thờ
th àn h hoàng làng. Đ ình thờ 3 vị thần tượng trư ng cho

22

cả T hiên - Địa - N hân.
N goài ra đình còn thờ tiến sĩ Phạm Q uang Dung
là người làng có công đứng ra trùng tu đình năm 1718
và P h ạm Thọ Lý, người đã cung tiến đ ấ t làm đình lần
d ầ u n ăm 1635. Trong đình hiện còn lưu giữ nhiều hiện
v ậ t qu ý , có giá trị, n h ư bia đá và bộ tranh sơn m ài
th ờ i Lê.
Đ ô n g N gạc cổ c h ù a Tư K h án h vớ i p h o n g cách
n g h ệ th u ậ t th ế kỷ 18 - 19. C h ù a có quả ch u ô n g đ ú c
n ă m D iên H ự u th ứ 2 (1315). T rong ch ù a h iệ n còn
tâ'm bia có n iê n đ ạ i T hịnh Đ ức ghi rõ công đ ứ c của
v ợ c h ồ n g N g u y ễ n P h ú c N in h , c ú n g gia tư d iề n sản
đ ể tu bô', d ự n g lại c h ù a, và đư ợ c d â n là n g tô n làm
H ậ u P h ậ t.
N hắc đ ế n làng cổ Đ ông N gạc không thể không
n h ắc đ ế n nhữ ng ngôi nhà thờ của các dòng họ nổi
tiến g tại đ ây như dòng họ Phạm , họ Đỗ với kiến trúc
cổ km h còn đến ngày nay.
N gôi nhà thờ tổ của dòng họ Đỗ, thờ cụ Đỗ Thế
Giai là m ột võ quan cao câ'p thời Lê - Trịnh. N gười
được phong Vương (Đỗ Đại Vương) từ khi còn sống
và tôn làm Thần (Thượng đẳng phúc thần) khi qua đời.
N gôi nhà này có niên đ ạ i trên 300 năm và được
coi là ngôi đình thứ hai của làng. Đ ây là m ột trong ít
các ngôi nhà cổ trong làng còn có nhiều đồ đạc và
n h ữ n g vã>^ phẩm liên quan đ ến công đức to lớn cùa
vị d a n h nhân này.
Q ua 3 th ế kỷ, dòng họ Đỗ v ẫn lưu giữ được tất cả

23

các hoành phi, câu đối, các hương án, giường thờ, bộ
kiệu, v ậ t d ụ n g tế lễ ngày xưa... Trước nhà tiền tế có
các bức "Thiết thạch tinh trung" (trung th àn h n h ư sắt
đá), "Thượng đ ẳn g phúc thần" (phong thần), b ên trái
là bức "Vạn phúc d u đồng", b ê n p hải là "N gũ p h ú c
lâm môn". N goài ra, còn có thêm hai bức "Long m ã"
thể hiện ý chí ngang dọc trời đất.
Giá trị của ngôi nhà dễ n h ậ n thấy n h ấ t qua đô i
hạc đứ ng trên m ình hai con rù a và hai tấm bia ở gian
d ĩ tòa nhà tiền tế. Đôi hạc đ ứ n g trên m ai rù a b ằn g gỗ
quý, có chiều cao hơn 2m.
N hìn chung, n hữ ng ngôi n h à cổ ở Đ ông N gạc có
sự hòa trộ n giữa hai trư ờ ng p h á i kiến trú c Đ ông Tây. Đ an xen giữa n hữ ng ng ô i từ đường, nhà thờ họ
theo lôi kiến trúc truyền thông phương Đông là những
biệt th ự được xây dự ng từ đ ầ u th ế kỷ 20 theo lối kiến
trúc của Pháp. N hững ngôi nhà cổ này được xây dựng
từ n hữ ng năm 1739 và tấ t cả đ ề u có m ột điểm chung
là làm toàn bằng gỗ lim và lợp ngói m ũi h ài...
Bên cạnh tru y ề n th ố n g khoa bảng, v ă n hóa, kiến
trúc..., làng Đ ông N gạc còn là m ộ t địa b àn quan trọng
trong kháng chiến chống P h áp ở Thủ đô H à N ội, là
cơ sở y tế cứu chữa thương b inh trong trậ n chiến bảo
vệ H à N ội n ăm 1946, và đã n u ô i giấu n h iều cán bộ
k h áng chiến trong n h ữ n g n ă m P h áp chiếm đóng.

24

niQ ĩsíD nnH nH nnT iẼ uB É :

Phan Phù Tiên (? - ?)
Phan Phù Tiên (hay Phan Phu Tiên), tự Tm Thần,
hiệu Mặc H iền là đời thứ 6 của Trần Triều Vương - Phó
sư Phan Hách. Cụ thân sinh Phan Phu Tiên là Phan
Q uang Mũìh, cháu đời thứ 5 của ngài Phan Hách. Phan
Q uang Mũứi tự H ữu Mặc, hiệu Trang Tiết sinh khoảng
1345 - 1350. Sau m ột thời gian làm gia thần cho một
tước vương thời Trần thì chuyển sang con đường bữih
nghiệp, vào thời nhà H ồ làm đến chức Thông lĩnh Đại
tướng quân. Phan Q uang M ữih sinh được 6 con trai,
con trưởng là Phan Phu Tiên, sinh khoảng 1370 - 1372,
năm lên 10 tuổi sông ở Đ ông Ngạc, sau trưởng thành
m ở ra dòng họ Phan ở đây. Có 3 người em là Phan Viết
Bảo, Phan Viết Ngư, Phan Viết N ổi thì cũng đ ều làm
lên sư nghiệp lớn, vừa tham gia công cuộc chông ngoại
xâm, \ ừa chuyển cư vào Thừa Thiên khai hoang lập
ấp, về sau được các triều vua nưđc ta phong sắc là
Tiền vị khai canh.

25

Theo sử sách, ôn g thi đỗ T hái học sinh (tương
đương Tiến sĩ) năm 1396, cũng là khoa thi cuối cùng
của nhà T rần (đời vua T rần T h u ận Tông). Sau đó nhà
T rần bị H ồ Q uý Ly soán ngôi (1400), rồi đ ấ t nước bị
giặc M m h xâm chiến và đô hộ (1407 - 1427).
Trong giai đoạn này, có lẽ n h ư m ọi nhà yêu nước
khác, Phan Phù Tiên chọn th á i độ bâ't hỢp tác với nhà
M inh, ở nhà m ở trư ờng d ạ y học, tìm kiếm và đ ào tạo
người tài cho đ ấ t nước, gó p p h ầ n vào cuộc k h áng
chiến chống M inh của Lê Lợi. Sau ngày kháng M inh
toàn thắng, năm 1429, vua Lê T hái Tổ cho m ở khoa
thi đ ầ u tiên, gọi là M inh kinh bác học, để chọn n h ân
tài và xây dự ng lại đ ấ t nước. Với m ong m u ô n được
góp tài h èn sức m ọn ra d ự n g xây đ ấ t nước, g ạt bỏ
ngoài tai lời gièm pha (đỗ Tiến sĩ thời Trần), Phan Phù
Tiên đã ra d ự thi và đỗ th ứ ba của kỳ thi này.
Ô ng được bổ làm việc ở Q uốc Sử viện và Q uốc
Tử giám , hai cơ quan nghiên cứu học thuật và đ ào tạo
n h ân tài quan trọng bậc n h ấ t đương thời. Từ đ ây bắt
đ ầ u m ở ra con đường vừ a d ạ y học vừa nghiên cứu,
biên soạn sách vở của nhà giáo dục. Tuy n h iên đến
năm 1433, triều đình thiếu người nên điều Phan Phù
Tiên vào làm An Phủ sứ ở Thiên Trường (Nam Định
ngày nay), rồi ở H oan C hâu (N ghệ An - Hà Tĩnh ngày
nay). Việc d ạy học và n ghiên cứu học th u ật củ a ông
đ à n h p h ải gián đoạn khoảng 15 năm . Đ ến năm 1448,
dưới thời vua Lê N h ân Tông, Phan Phù Tiên lại được
triệu về kinh trở lại với công việc giảng d ạy ở Quốc
Tử giám và nghiên cứu ở Quô"c Sử viện.

20

T hân th ế và sự nghiệp Phan Phu Tiên nổi b ật lên
hai đặc điểm lớn: Đ óng góp cực kỳ to lớn và có giá
trị vào n ền giáo dục, nền v ăn hóa, v ăn hiến của dân
tộc; p h ẩm chất đ ạo đức trong sáng, n h ân phẩm , nhân
cách cao thượng của kẻ sĩ Bắc H à, của con người Việt
N am yêu nước, thương nòi.
Phan Phù Tiên là người có tài biên soạn lịch sử,
vừa có phương p h áp nghiên cứu và phương pháp luận
sử đã đ ể lại cho đời m ột công trình sử học xuất sắc
đó là tác p h ẩm Đại Việt sử ký tục biền, tập Việt âm thi
tập, bộ Quô'c triều luật lịch mà sử chép là H ình luật
nước Đ ại N gu và tác phẩm Bản thảo Thực vật Toản yếu
là m ột cuô"n sách y học ra đời ở nước ta vào loại sớm
n h ất sau Nam duợc thần liệu và Hồng nghĩa giác tư y của
Tuệ Tĩnh... N goài 4 công trình khoa học kể trên, Phan
Phù Tiên còn đ ể lại m ột sô" di cảo thơ văn đặc biệt
quý giá là n hữ ng bài thơ chữ N ôm n hư bài thơ vịnh
V ăn m iếu th àn h Thăng Long.

Lê Đức Mao (1462- 1529)
Lê Đức M ao là danh sĩ đời vua Lê Uy M ục, quê
Đ ông N gạc, h u y ệ n Từ Liêm, nay là phư ờ ng Đ ông
N gạc, quận Bắc Từ Liêm, th àn h phô" H à N ội, về sau
dời sang xã Dương Hô"i, h u yện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh
Y ên (nám 1977, h u yện Yên Lãng đ ổ i tên thành Mê
Linh thuộc H à N ội. Giai đ o ạn 1991-1996 thuộc Vĩnh
Phú. Giai đoạn 1996-2008 thuộc Vĩnh Phúc. Từ 2008,

27

Mê Linh thuộc H à Nội).
N ăm G iáp Tý (1504) ông đỗ Hưcíng công, năm sau
đỗ Tiến sĩ.
Ô ng nổi tiến g về tà i v ă n chương. Thơ v ă n ông
n ặn g p h ầ n trào lộng, châm biếm . Với ngôn n g ữ sắc
bén khiến giới cầm quyền đương thời không ưa.
Tác p h ẩm của Lê Đức M ao h iện chỉ còn Bát giáp
thuồng dào văn (N ghĩ hộ tám giáp giải thưởng h á t ả
đào) bằng quô'c âm (chữ N ôm ), viết trước 1504, khi
ông còn ở Từ Liêm. Đ ây là m ột bài ca trù cổ n h ấ t còn
lại hiện nay, viết đ ể ả đào h á t trong hội xuân, tế th ần
cầu phúc; gồm 128 câu, 9 đ oạn, phô'i hỢp các th ể thơ
song th ất lục bát. Lời v ăn lưu loát, tuy có lửiiều điển
cố, sáo ngữ. Trong quyển Thi văn Việt Nam của GS.
H oàng Xuân H ãn có trích 3 đoạn, kèm theo chú thích
và biện m inh đ ạ i ý.
Theo GS. P h ạm T h ế N g ũ , thì qua á n g v ă n n ày
cho người đọc "thấy đ iệ u song thâ't lục b á t lúc m anh
nha, đ ồ n g thời cũ n g cho th ấy tục h á t ả đ à o đ ã có từ
thời Lê".
N ăm Kỷ Sửu (1529), ông m ất, thọ 67 tuổi.

Phạm Thọ Chỉ (1539 - ?)
H oàng giáp Phạm Thọ Chỉ sinh năm 1539, tạ i xã
Đ ông N gạc, Từ Liêm , nay là p h ư ờ n g Đ ông N gạc,
q u ận Bắc Từ Liêm, H à N ội. ô n g là cháu họ Phạm Lân

25

Đ ịnh, ông nội P hạm H iển Danh.
N ăm 39 tuổi, ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân
(H oàng giáp) khoa Đ m h Sửu, niên h iệu Sùng Khang
10 (1577), đời M ạc M ậu Hợp. ô n g làm quan đ ến chức
G iám sát n gự sử.
H oàng giáp Phạm Thọ Chỉ là người đã soạn bài
v ăn bia Đông Ngạc xã thị bi (Bia chợ xã Đ ông Ngạc).
Bài v ă n bia n ày được chép trong sách Đông Ngạc xã
chí - m ộ t tập tư liệu về lịch sử, địa chí, kinh tế, văn
hóa của làng Đ ông N gạc, m ột làng cổ điển hình của
v ù n g ven Thăng Long.

Phạm Gia Chuyên (1791 - 1862)
Phạm Gia C huyên sinh ngày 5 tháng 9 Tân Hợi
(1791, tại Đ ông N gạc, huyện Từ Liêm, tm h H à Đông
nay là phường Đ ông N gạc, quận Bắc Từ Liêm, thành
phô" H à N ội, là ch áu 5 đời của Bảng n h ã n Phạm
Q uang Trạch, cháu 4 đời của Tiến sĩ Phạm N guyên
N inh, đỗ Tam giáp Đ ồng tiến sĩ xuâ"t th ân năm 1832.
Ô ng Phạm Gia C huyên làm quan thời nhà N guyễn,
đã từ n g giữ các chức Tri phủ Kiến Xương (Thái Bình),
Lễ bộ viên ngoại lang, Đô"c học tm h N inh Bình, Tư
nghiệp Quô"c Tử giám , ô n g tham gia soạn cuốn Quô'c
sử lược biền.
N ãtn Tân M ão (1831), M inh M ệnh th ứ 12, năm 41
tu ổ i, ông m ới thi H ương, đỗ ngay cử n h â n th ứ 14.
N ăm sau N hâm Thìn (1832) thi H ội, thi Đình đêù

20

đứng hàng th ứ 8, đỗ Tam giáp Đ ồng Tiến sĩ xuất thân.
N ăm Q uí Tỵ (1833) được b ổ chức Tri p h ủ Kiến
Xương (Thái Bình). N ăm Ấ t M ùi (1835) th ăn g chức
Lễ bộ viên n g o ại lang. N ăm Đ inh D ậu (1837) b ổ Đốc
học từih N inh Bình. N ăm Kỷ H ợi (1839) th ăn g chức
Tư nghiệp Q uốc Tử giám . N ăm T ân Sửu (1841) lâm
b ện h xin về quê an dưỡng.
N ăm Đinh M ùi (1847) lại p h ụ n g chỉ về kinh nhậm
chức H àn lâm v iện Q uốc sử lược biên, h iện còn lưu
trữ m ộ t b ả n ở V iện H án - N ôm , gồm 452 trang, ký
h iệ u A1517, tro n g đó lược ch ép về q u â n đ ộ i, tà i
chừih, khoa cử, quan lại từ thời đờ i Đirửi đ ế n đời Lê
C hiêu Thông.
Cụ là m ộ t nhà N ho uyên bác về n h iều m ặt. Trong
cuô"n Danh thần di cảo ( k h u y ết danh) lưu trữ ở Viện
H án - N ôm , ký h iệu MP353 có chép v ă n thơ các danh
n h ân triều N g u y ễn n hư Phạm Gia C huyên, H à Tôn
Q uyền. Sách Nhàn trai thi tập của H u y ề n Khê (Thư
viên H án - N ôm , ký hiệu VH 2344) có ghi chép m ột
số đối liễn của Phạm Gia C huyên. Sách Đại Thành toán
học chỉ minh (thư viện H án - N ôm , ký h iệu A1555, 114
trang, có h ìn h vẽ m inh hoạ) do P hạm G ia Kỷ khởi
thảo, Tư nghiệp Quô"c Tử giám Phạm Gia C huyên hiệu
đửih, trong đó có các bài m ẫu về cách tm h thể tích
các v ật n h ư đ ô n g thóc, đ ố n g đâ't, kho vự a, đ ắ p đê,
đào sông, cách đo lường trọng lượng thuyền, cách tứứi
cân lạng đ ể p h a ch ế vàng bạc...
Cụ P hạm Gia C huyên mâ't ngày 5 th à n g 7 năm
N hâm T uất (1862), thọ 72 tuổi.
30

Hoàng Tăng Bí (1883 - 1939)
Phó b ảng H oàng T ăng Bí quê ở Đ ông N gạc, phủ
H oài Đức, nay là phư ờ ng Đ ông N gạc, quận Bắc Từ
Liêm, Hà Nội. T hân p h ụ ông là H oàng Hy Thuần, đời
th ứ 4 của gia tộc họ H oàng Đ ông N gạc, tửih từ cụ tổ
H oàng N ...
 
Gửi ý kiến