KNTT - Bài 3. Thời gian trong lịch sử

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Đức Đồng
Ngày gửi: 10h:31' 25-07-2026
Dung lượng: 264.5 KB
Số lượt tải: 69
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Đức Đồng
Ngày gửi: 10h:31' 25-07-2026
Dung lượng: 264.5 KB
Số lượt tải: 69
Số lượt thích:
0 người
Trường: TH&THCS Đắk Tăng
Tổ: Xã hội
Họ và tên giáo viên: Nguyễn Đức Đồng
Bài 3. THỜI GIAN TRONG LỊCH SỬ
Môn học: Lịch sử 6
Thời gian thực hiện: (1 tiết)
I. MỤC TIÊU
1. Về kiến thức:
- Nêu được một số khái niệm: thập kỉ, thế kỉ, thiên niên kỉ, âm lịch, dương
lịch, Công lịch, trước Công nguyên, Công nguyên...
- Nêu được các cách tính thời gian trong lịch sử.
- Biết cách đọc, ghi các mốc thời gian trong lịch sử.
2. Về năng lực:
- Năng lực chung: Tự chủ và tự học (tìm hiểu trước tài liệu, đọc SGK);
Giao tiếp và hợp tác (thảo luận nhóm về cách tính thời gian).
- Năng lực đặc thù (Năng lực lịch sử):
+ Tìm hiểu lịch sử: Quan sát, nhận diện được các loại lịch và công cụ đo
thời gian thông qua tranh ảnh, hiện vật thực tế.
+ Nhận thức và tư duy lịch sử: Biết giải thích vì sao cần xác định thời gian
trong lịch sử và cơ sở để sáng tạo ra lịch.
+ Vận dụng: Biết vận dụng cách tính thời gian trong học tập lịch sử; vẽ
được biểu đồ (trục) thời gian, tính được các mốc thời gian khoảng cách từ quá
khứ đến hiện tại.
3. Về phẩm chất:
- Trung thực, chăm chỉ: Thể hiện ở tinh thần học tập nghiêm túc, tính toán
các mốc thời gian một cách cẩn thận, chính xác.
- Trách nhiệm: Trân trọng những phát minh khoa học của người xưa (việc
phát minh ra các loại lịch, công cụ đo thời gian).
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
- Giáo án biên soạn theo định hướng phát triển năng lực, Phiếu học tập
dành cho học sinh.
- Một số tranh ảnh được phóng to về các công cụ tính thời gian cổ đại
(đồng hồ nước, đồng hồ cát, đồng hồ mặt trời).
- Trục thời gian mô phỏng cách tính Công lịch.
- Một tờ lịch treo tường thực tế.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. Hoạt động 1: Mở đầu
a) Mục tiêu: Tạo tâm thế, khơi gợi trí tò mò của học sinh đi vào tìm hiểu
bài mới liên quan đến các loại lịch và thời gian.
b) Nội dung: GV sử dụng đồ dùng trực quan (tờ lịch), phương pháp nêu
vấn đề, vấn đáp. HS quan sát tờ lịch để trả lời các câu hỏi theo yêu cầu của GV.
c) Sản phẩm: Phát hiện và câu trả lời của HS về các thông tin thời gian
trên tờ lịch.
d) Tổ chức thực hiện:
- Giao nhiệm vụ học tập:
GV treo hoặc đưa ra một tờ lịch treo tường (bản cứng hoặc chiếu trên
slide).
Yêu cầu HS quan sát và đặt câu hỏi: "Em hãy quan sát tờ lịch và cho biết
trên đó ghi những loại ngày tháng nào? Vì sao trên cùng một tờ lịch lại có sự
xuất hiện của hai loại ngày tháng khác nhau?"
- Thực hiện nhiệm vụ: HS quan sát kĩ tờ lịch, suy nghĩ và rút ra nhận xét
(có ngày dương lịch số to, ngày âm lịch số nhỏ, ghi năm Canh Tý/Tân Sửu...).
- Báo cáo, thảo luận: GV mời một vài HS nêu nhận xét của mình. HS khác
lắng nghe, bổ sung. (GV có thể chấp nhận các câu trả lời đúng hoặc chưa chính
xác của HS).
- Kết luận, nhận định:
GV nhận xét và dẫn dắt: "Trên tờ lịch có ghi cả ngày Âm lịch và Dương
lịch (Công lịch). Đây chính là những cách tính và ghi thời gian mà con người
đã sáng tạo ra. Vậy thời gian trong lịch sử được xác định và tính như thế nào?
Cô/thầy và các em cùng vào bài mới: Bài 3. Thời gian trong lịch sử."
2. Hoạt động 2: Hình thành kiến thức mới
2.1. Vì sao phải xác định thời gian trong lịch sử?
a) Mục tiêu: Học sinh nêu được việc xác định thời gian là một trong những
yêu cầu bắt buộc của khoa học lịch sử; muốn hiểu và phục dựng lại lịch sử, cần
sắp xếp tất cả sự kiện theo đúng trình tự.
b) Nội dung: HS làm việc cá nhân, thiết lập đường thời gian của bản thân
để giải quyết vấn đề.
c) Sản phẩm: Đường thời gian cá nhân của học sinh và lời giải thích về
tầm quan trọng của việc xác định thời gian.
d) Tổ chức thực hiện:
- Giao nhiệm vụ học tập:
GV ra một bài tập nhỏ: "Hãy lập đường (trục) thời gian những sự kiện
quan trọng của cá nhân em trong khoảng vài năm gần đây."
Sau khi lập xong, GV hỏi tiếp: "Vì sao chúng ta phải xác định thời gian
diễn ra các sự kiện đó trong lịch sử?"
- Thực hiện nhiệm vụ: Học sinh vẽ nhanh ra nháp trục thời gian của bản
thân (ví dụ: Năm 2015: sinh ra -> Năm 2018: đi mẫu giáo -> Năm 2021: vào lớp
1 -> Năm nay: vào lớp 6). HS suy nghĩ lý do cần xác định thời gian.
- Báo cáo, thảo luận: GV mời 2-3 HS chia sẻ trục thời gian của mình
trước lớp. HS trả lời câu hỏi vì sao phải xác định thời gian.
Gợi mở thêm: GV yêu cầu HS kết hợp kiến thức từ Bài 1 (Lịch sử là quá
trình thay đổi theo thời gian) để trình bày. GV có thể cho học sinh kể thêm một
số dụng cụ đo thời gian của người xưa mà các em biết (đồng hồ cát, đồng hồ
nước, mặt trời...).
- Kết luận, nhận định:
GV đánh giá kết quả, tuyên dương và chốt kiến thức:
- Việc sắp xếp các sự kiện theo trình tự thời gian là một trong những yêu
cầu bắt buộc của khoa học lịch sử, nhằm dựng lại lịch sử một cách chân thực
nhất.
- Để đo đếm được thời gian, từ xa xưa loài người đã sáng tạo ra nhiều loại
công cụ như: đồng hồ cát, đồng hồ nước, đồng hồ đo bằng ánh sáng mặt trời...
2.2. Cách tính thời gian trong lịch sử
a) Mục tiêu: HS nêu được khái niệm về thập kỉ, thế kỉ, thiên niên kỉ...;
trình bày được các cách tính thời gian (Âm lịch, Dương lịch, Công lịch) và biết
thực hành tính toán thời gian cụ thể.
b) Nội dung: Học sinh đọc SGK, thảo luận nhóm đôi, quan sát hình ảnh và
thực hiện tính toán khoảng cách thời gian.
năm.
c) Sản phẩm: Câu trả lời đúng của học sinh, kết quả phép tính xác định
d) Tổ chức thực hiện:
- Giao nhiệm vụ học tập:
GV nêu vấn đề: "Cơ sở đầu tiên để con người phân biệt thời gian là ngày
và đêm, gắn với chu kì quay của Mặt Trăng và Mặt Trời. Dựa vào nội dung
SGK, em hãy cho biết Âm lịch và Dương lịch được tạo ra như thế nào?"
GV yêu cầu học sinh thảo luận cặp đôi: "Người Việt Nam đón Tết Nguyên
đán dựa theo loại lịch nào? Theo em, việc có một cách tính thời gian thống nhất
trên toàn thế giới có cần thiết không? Vì sao?"
GV trình chiếu trục thời gian Công lịch, giới thiệu về khái niệm "Trước
Công nguyên" (TCN), Công nguyên (CN), và giao bài tập: "Năm 1500 TCN
cách hiện nay bao nhiêu năm?"
- Thực hiện nhiệm vụ: HS đọc SGK trang 15, quan sát hình ảnh. Dựa trên
trục thời gian, HS cùng nhau tìm ra quy tắc tính khoảng cách thời gian từ năm
TCN đến năm hiện tại.
- Báo cáo, thảo luận:
HS trả lời nguồn gốc Âm lịch (chu kì Mặt Trăng quanh Trái Đất) và Dương
lịch (chu kì Trái Đất quanh Mặt Trời).
HS khẳng định người Việt dùng Âm-Dương lịch để đón Tết. Nêu lí do cần
Công lịch để thống nhất giao thương quốc tế.
Đại diện HS lên bảng thực hiện phép tính khoảng cách năm và rút ra quy
tắc. (Ví dụ: Lấy năm hiện tại cộng với năm TCN).
- Kết luận, nhận định:
GV nhận xét, chính xác hoá các kiến thức:
- Do nhu cầu ghi chép, sắp xếp sự việc, con người đã nghĩ ra cách làm lịch:
Âm lịch và Dương lịch.
- Xã hội phát triển, giao lưu mở rộng đòi hỏi có cách tính thời gian thống
nhất toàn thế giới, đó là Công lịch.
- Công lịch: Lấy năm tương truyền Chúa Giê-su ra đời làm năm thứ nhất
của Công nguyên. Trở về trước đó gọi là Trước Công nguyên (TCN).
- Các đơn vị thời gian: 1 thập kỉ = 10 năm; 1 thế kỉ = 100 năm; 1 thiên niên
kỉ = 1000 năm.
3. Hoạt động 3: Luyện tập
a) Mục tiêu: Củng cố, hệ thống hóa, hoàn thiện kiến thức về một số khái
niệm (thập kỉ, thế kỉ...) và thành thạo kĩ năng tính thời gian trong lịch sử.
b) Nội dung: GV giao nhiệm vụ cho HS làm việc cá nhân để hoàn thành
bài tập tính mốc thời gian.
c) Sản phẩm: Đáp án đúng của các bài tập tính toán.
d) Tổ chức thực hiện:
- Giao nhiệm vụ học tập:
GV yêu cầu HS làm bài tập 1 trong SGK (có điều chỉnh năm hiện tại cho
sát thực tế):
"1. 5000 năm trước đây là khoảng năm bao nhiêu TCN?"
"2. Khoảng thiên niên kỉ III TCN cách năm hiện nay bao nhiêu năm?"
"3. Năm 208 TCN (Khởi nghĩa Hai Bà Trưng) cách năm hiện tại bao nhiêu
năm?"
- Thực hiện nhiệm vụ: HS lấy giấy nháp, vận dụng quy tắc vừa học
(Cộng/Trừ thời gian) để tự giải bài tập.
- Báo cáo, thảo luận: GV mời 3 HS lên bảng viết phép tính và kết quả.
Các học sinh ở dưới đối chiếu kết quả, phát biểu phản biện nếu bạn làm sai.
- Kết luận, nhận định: GV phân tích kĩ các thuật ngữ: "TCN", "trước
đây", "cách ngày nay". GV chốt đáp án chuẩn xác.
- 5000 năm trước đây = 5000 - [Năm hiện tại] = Khoảng năm 2974 TCN
(nếu lấy mốc năm 2026).
- Khoảng thiên niên kỉ III TCN (năm 3000 TCN) cách hiện tại = 3000 +
[Năm hiện tại] = Khoảng 5026 năm.
- Năm 208 TCN cách hiện tại = 208 + [Năm hiện tại] = 2234 năm.
4. Hoạt động 4: Vận dụng
a) Mục tiêu: Vận dụng kiến thức mới đã học để giải quyết các vấn đề liên
quan đến việc xem lịch, tính toán sự kiện gia đình hoặc sự kiện lịch sử trong
thực tiễn.
b) Nội dung: Giao bài tập về nhà yêu cầu quan sát lịch thực tế và hoàn
thành câu hỏi tự luận.
c) Sản phẩm: Bài làm trong vở bài tập của học sinh.
d) Tổ chức thực hiện:
- Giao nhiệm vụ học tập:
GV giao Câu 2 và Câu 3 (SGK) làm bài tập về nhà.
+ Câu 2: Em hãy quan sát tờ lịch nhà em, xác định ngày Âm lịch và Dương
lịch hôm nay.
+ Câu 3: Hãy lập trục thời gian thể hiện các năm sinh của các thành viên
trong gia đình em.
- Thực hiện nhiệm vụ: HS ghi chép nhiệm vụ vào vở dặn dò.
- Báo cáo, thảo luận: Học sinh thực hiện tại nhà và nộp vở bài tập vào đầu
tiết học tiếp theo.
- Kết luận, nhận định: GV sẽ kiểm tra, nhận xét và chấm điểm (nếu cần)
vào tiết học sau để đánh giá mức độ vận dụng kiến thức của HS.
TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO GIÁO VIÊN
Âm lịch: Là loại lịch được tìm ra dựa trên sự quan sát chu kì Mặt Trăng
quay một vòng quanh Trái Đất. Mỗi chu kì trăng khuyết - tròn là một tháng.
Người Xu-me ở Lưỡng Hà đã tính được độ dài của một tháng là 29,5 ngày. 12
chu kì trăng khuyết - tròn là một năm âm lịch (có 354 ngày). Đây là loại lịch cổ
nhất của những dân tộc sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi.
Dương lịch: Hình ảnh mô phỏng một chu kì chuyển động của Trái Đất
quanh Mặt Trời và quanh mình nó. Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời theo một
quỹ đạo hình e-líp gần tròn. Thời gian Trái Đất chuyển động trọn một vòng
quanh Mặt Trời là 365 ngày 5 giờ 48 phút 46 giây. Để số lẻ không gây phức tạp,
người ta chỉ lấy số nguyên là 365 ngày cho 1 năm. Phần lẻ sẽ được cộng dồn lại
để tạo ra năm nhuận (cứ 4 năm lại có một năm nhuận 366 ngày, thêm 1 ngày
vào tháng 2). Năm 45 TCN, Xê-da (Caesar) đã sửa dương lịch ở La Mã và đặt ra
quy tắc này (Lịch Julian). Sau đó lịch Gregorian (năm 1582) tiếp tục hoàn thiện,
trở thành Công lịch thông dụng ngày nay.
Âm - dương lịch: Để khắc phục nhược điểm của âm lịch, cách đây 2.600
năm, người Trung Quốc đã kết hợp cả hai vận động: của Mặt Trăng quanh Trái
Đất và của Trái Đất quanh Mặt Trời để tạo ra Âm - dương lịch. Năm âm dương
lịch cũng có tháng đủ (30 ngày), tháng thiếu (29 ngày). Để độ dài năm âm dương lịch gần thống nhất với năm dương lịch, người ta đặt ra luật nhuận: cứ 19
năm có 7 năm nhuận (thêm tháng thứ 13). Nhờ quy luật này, âm - dương lịch
vẫn gắn liền với chu kì mùa màng và thời tiết.
******************************
Tổ: Xã hội
Họ và tên giáo viên: Nguyễn Đức Đồng
Bài 3. THỜI GIAN TRONG LỊCH SỬ
Môn học: Lịch sử 6
Thời gian thực hiện: (1 tiết)
I. MỤC TIÊU
1. Về kiến thức:
- Nêu được một số khái niệm: thập kỉ, thế kỉ, thiên niên kỉ, âm lịch, dương
lịch, Công lịch, trước Công nguyên, Công nguyên...
- Nêu được các cách tính thời gian trong lịch sử.
- Biết cách đọc, ghi các mốc thời gian trong lịch sử.
2. Về năng lực:
- Năng lực chung: Tự chủ và tự học (tìm hiểu trước tài liệu, đọc SGK);
Giao tiếp và hợp tác (thảo luận nhóm về cách tính thời gian).
- Năng lực đặc thù (Năng lực lịch sử):
+ Tìm hiểu lịch sử: Quan sát, nhận diện được các loại lịch và công cụ đo
thời gian thông qua tranh ảnh, hiện vật thực tế.
+ Nhận thức và tư duy lịch sử: Biết giải thích vì sao cần xác định thời gian
trong lịch sử và cơ sở để sáng tạo ra lịch.
+ Vận dụng: Biết vận dụng cách tính thời gian trong học tập lịch sử; vẽ
được biểu đồ (trục) thời gian, tính được các mốc thời gian khoảng cách từ quá
khứ đến hiện tại.
3. Về phẩm chất:
- Trung thực, chăm chỉ: Thể hiện ở tinh thần học tập nghiêm túc, tính toán
các mốc thời gian một cách cẩn thận, chính xác.
- Trách nhiệm: Trân trọng những phát minh khoa học của người xưa (việc
phát minh ra các loại lịch, công cụ đo thời gian).
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
- Giáo án biên soạn theo định hướng phát triển năng lực, Phiếu học tập
dành cho học sinh.
- Một số tranh ảnh được phóng to về các công cụ tính thời gian cổ đại
(đồng hồ nước, đồng hồ cát, đồng hồ mặt trời).
- Trục thời gian mô phỏng cách tính Công lịch.
- Một tờ lịch treo tường thực tế.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. Hoạt động 1: Mở đầu
a) Mục tiêu: Tạo tâm thế, khơi gợi trí tò mò của học sinh đi vào tìm hiểu
bài mới liên quan đến các loại lịch và thời gian.
b) Nội dung: GV sử dụng đồ dùng trực quan (tờ lịch), phương pháp nêu
vấn đề, vấn đáp. HS quan sát tờ lịch để trả lời các câu hỏi theo yêu cầu của GV.
c) Sản phẩm: Phát hiện và câu trả lời của HS về các thông tin thời gian
trên tờ lịch.
d) Tổ chức thực hiện:
- Giao nhiệm vụ học tập:
GV treo hoặc đưa ra một tờ lịch treo tường (bản cứng hoặc chiếu trên
slide).
Yêu cầu HS quan sát và đặt câu hỏi: "Em hãy quan sát tờ lịch và cho biết
trên đó ghi những loại ngày tháng nào? Vì sao trên cùng một tờ lịch lại có sự
xuất hiện của hai loại ngày tháng khác nhau?"
- Thực hiện nhiệm vụ: HS quan sát kĩ tờ lịch, suy nghĩ và rút ra nhận xét
(có ngày dương lịch số to, ngày âm lịch số nhỏ, ghi năm Canh Tý/Tân Sửu...).
- Báo cáo, thảo luận: GV mời một vài HS nêu nhận xét của mình. HS khác
lắng nghe, bổ sung. (GV có thể chấp nhận các câu trả lời đúng hoặc chưa chính
xác của HS).
- Kết luận, nhận định:
GV nhận xét và dẫn dắt: "Trên tờ lịch có ghi cả ngày Âm lịch và Dương
lịch (Công lịch). Đây chính là những cách tính và ghi thời gian mà con người
đã sáng tạo ra. Vậy thời gian trong lịch sử được xác định và tính như thế nào?
Cô/thầy và các em cùng vào bài mới: Bài 3. Thời gian trong lịch sử."
2. Hoạt động 2: Hình thành kiến thức mới
2.1. Vì sao phải xác định thời gian trong lịch sử?
a) Mục tiêu: Học sinh nêu được việc xác định thời gian là một trong những
yêu cầu bắt buộc của khoa học lịch sử; muốn hiểu và phục dựng lại lịch sử, cần
sắp xếp tất cả sự kiện theo đúng trình tự.
b) Nội dung: HS làm việc cá nhân, thiết lập đường thời gian của bản thân
để giải quyết vấn đề.
c) Sản phẩm: Đường thời gian cá nhân của học sinh và lời giải thích về
tầm quan trọng của việc xác định thời gian.
d) Tổ chức thực hiện:
- Giao nhiệm vụ học tập:
GV ra một bài tập nhỏ: "Hãy lập đường (trục) thời gian những sự kiện
quan trọng của cá nhân em trong khoảng vài năm gần đây."
Sau khi lập xong, GV hỏi tiếp: "Vì sao chúng ta phải xác định thời gian
diễn ra các sự kiện đó trong lịch sử?"
- Thực hiện nhiệm vụ: Học sinh vẽ nhanh ra nháp trục thời gian của bản
thân (ví dụ: Năm 2015: sinh ra -> Năm 2018: đi mẫu giáo -> Năm 2021: vào lớp
1 -> Năm nay: vào lớp 6). HS suy nghĩ lý do cần xác định thời gian.
- Báo cáo, thảo luận: GV mời 2-3 HS chia sẻ trục thời gian của mình
trước lớp. HS trả lời câu hỏi vì sao phải xác định thời gian.
Gợi mở thêm: GV yêu cầu HS kết hợp kiến thức từ Bài 1 (Lịch sử là quá
trình thay đổi theo thời gian) để trình bày. GV có thể cho học sinh kể thêm một
số dụng cụ đo thời gian của người xưa mà các em biết (đồng hồ cát, đồng hồ
nước, mặt trời...).
- Kết luận, nhận định:
GV đánh giá kết quả, tuyên dương và chốt kiến thức:
- Việc sắp xếp các sự kiện theo trình tự thời gian là một trong những yêu
cầu bắt buộc của khoa học lịch sử, nhằm dựng lại lịch sử một cách chân thực
nhất.
- Để đo đếm được thời gian, từ xa xưa loài người đã sáng tạo ra nhiều loại
công cụ như: đồng hồ cát, đồng hồ nước, đồng hồ đo bằng ánh sáng mặt trời...
2.2. Cách tính thời gian trong lịch sử
a) Mục tiêu: HS nêu được khái niệm về thập kỉ, thế kỉ, thiên niên kỉ...;
trình bày được các cách tính thời gian (Âm lịch, Dương lịch, Công lịch) và biết
thực hành tính toán thời gian cụ thể.
b) Nội dung: Học sinh đọc SGK, thảo luận nhóm đôi, quan sát hình ảnh và
thực hiện tính toán khoảng cách thời gian.
năm.
c) Sản phẩm: Câu trả lời đúng của học sinh, kết quả phép tính xác định
d) Tổ chức thực hiện:
- Giao nhiệm vụ học tập:
GV nêu vấn đề: "Cơ sở đầu tiên để con người phân biệt thời gian là ngày
và đêm, gắn với chu kì quay của Mặt Trăng và Mặt Trời. Dựa vào nội dung
SGK, em hãy cho biết Âm lịch và Dương lịch được tạo ra như thế nào?"
GV yêu cầu học sinh thảo luận cặp đôi: "Người Việt Nam đón Tết Nguyên
đán dựa theo loại lịch nào? Theo em, việc có một cách tính thời gian thống nhất
trên toàn thế giới có cần thiết không? Vì sao?"
GV trình chiếu trục thời gian Công lịch, giới thiệu về khái niệm "Trước
Công nguyên" (TCN), Công nguyên (CN), và giao bài tập: "Năm 1500 TCN
cách hiện nay bao nhiêu năm?"
- Thực hiện nhiệm vụ: HS đọc SGK trang 15, quan sát hình ảnh. Dựa trên
trục thời gian, HS cùng nhau tìm ra quy tắc tính khoảng cách thời gian từ năm
TCN đến năm hiện tại.
- Báo cáo, thảo luận:
HS trả lời nguồn gốc Âm lịch (chu kì Mặt Trăng quanh Trái Đất) và Dương
lịch (chu kì Trái Đất quanh Mặt Trời).
HS khẳng định người Việt dùng Âm-Dương lịch để đón Tết. Nêu lí do cần
Công lịch để thống nhất giao thương quốc tế.
Đại diện HS lên bảng thực hiện phép tính khoảng cách năm và rút ra quy
tắc. (Ví dụ: Lấy năm hiện tại cộng với năm TCN).
- Kết luận, nhận định:
GV nhận xét, chính xác hoá các kiến thức:
- Do nhu cầu ghi chép, sắp xếp sự việc, con người đã nghĩ ra cách làm lịch:
Âm lịch và Dương lịch.
- Xã hội phát triển, giao lưu mở rộng đòi hỏi có cách tính thời gian thống
nhất toàn thế giới, đó là Công lịch.
- Công lịch: Lấy năm tương truyền Chúa Giê-su ra đời làm năm thứ nhất
của Công nguyên. Trở về trước đó gọi là Trước Công nguyên (TCN).
- Các đơn vị thời gian: 1 thập kỉ = 10 năm; 1 thế kỉ = 100 năm; 1 thiên niên
kỉ = 1000 năm.
3. Hoạt động 3: Luyện tập
a) Mục tiêu: Củng cố, hệ thống hóa, hoàn thiện kiến thức về một số khái
niệm (thập kỉ, thế kỉ...) và thành thạo kĩ năng tính thời gian trong lịch sử.
b) Nội dung: GV giao nhiệm vụ cho HS làm việc cá nhân để hoàn thành
bài tập tính mốc thời gian.
c) Sản phẩm: Đáp án đúng của các bài tập tính toán.
d) Tổ chức thực hiện:
- Giao nhiệm vụ học tập:
GV yêu cầu HS làm bài tập 1 trong SGK (có điều chỉnh năm hiện tại cho
sát thực tế):
"1. 5000 năm trước đây là khoảng năm bao nhiêu TCN?"
"2. Khoảng thiên niên kỉ III TCN cách năm hiện nay bao nhiêu năm?"
"3. Năm 208 TCN (Khởi nghĩa Hai Bà Trưng) cách năm hiện tại bao nhiêu
năm?"
- Thực hiện nhiệm vụ: HS lấy giấy nháp, vận dụng quy tắc vừa học
(Cộng/Trừ thời gian) để tự giải bài tập.
- Báo cáo, thảo luận: GV mời 3 HS lên bảng viết phép tính và kết quả.
Các học sinh ở dưới đối chiếu kết quả, phát biểu phản biện nếu bạn làm sai.
- Kết luận, nhận định: GV phân tích kĩ các thuật ngữ: "TCN", "trước
đây", "cách ngày nay". GV chốt đáp án chuẩn xác.
- 5000 năm trước đây = 5000 - [Năm hiện tại] = Khoảng năm 2974 TCN
(nếu lấy mốc năm 2026).
- Khoảng thiên niên kỉ III TCN (năm 3000 TCN) cách hiện tại = 3000 +
[Năm hiện tại] = Khoảng 5026 năm.
- Năm 208 TCN cách hiện tại = 208 + [Năm hiện tại] = 2234 năm.
4. Hoạt động 4: Vận dụng
a) Mục tiêu: Vận dụng kiến thức mới đã học để giải quyết các vấn đề liên
quan đến việc xem lịch, tính toán sự kiện gia đình hoặc sự kiện lịch sử trong
thực tiễn.
b) Nội dung: Giao bài tập về nhà yêu cầu quan sát lịch thực tế và hoàn
thành câu hỏi tự luận.
c) Sản phẩm: Bài làm trong vở bài tập của học sinh.
d) Tổ chức thực hiện:
- Giao nhiệm vụ học tập:
GV giao Câu 2 và Câu 3 (SGK) làm bài tập về nhà.
+ Câu 2: Em hãy quan sát tờ lịch nhà em, xác định ngày Âm lịch và Dương
lịch hôm nay.
+ Câu 3: Hãy lập trục thời gian thể hiện các năm sinh của các thành viên
trong gia đình em.
- Thực hiện nhiệm vụ: HS ghi chép nhiệm vụ vào vở dặn dò.
- Báo cáo, thảo luận: Học sinh thực hiện tại nhà và nộp vở bài tập vào đầu
tiết học tiếp theo.
- Kết luận, nhận định: GV sẽ kiểm tra, nhận xét và chấm điểm (nếu cần)
vào tiết học sau để đánh giá mức độ vận dụng kiến thức của HS.
TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO GIÁO VIÊN
Âm lịch: Là loại lịch được tìm ra dựa trên sự quan sát chu kì Mặt Trăng
quay một vòng quanh Trái Đất. Mỗi chu kì trăng khuyết - tròn là một tháng.
Người Xu-me ở Lưỡng Hà đã tính được độ dài của một tháng là 29,5 ngày. 12
chu kì trăng khuyết - tròn là một năm âm lịch (có 354 ngày). Đây là loại lịch cổ
nhất của những dân tộc sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi.
Dương lịch: Hình ảnh mô phỏng một chu kì chuyển động của Trái Đất
quanh Mặt Trời và quanh mình nó. Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời theo một
quỹ đạo hình e-líp gần tròn. Thời gian Trái Đất chuyển động trọn một vòng
quanh Mặt Trời là 365 ngày 5 giờ 48 phút 46 giây. Để số lẻ không gây phức tạp,
người ta chỉ lấy số nguyên là 365 ngày cho 1 năm. Phần lẻ sẽ được cộng dồn lại
để tạo ra năm nhuận (cứ 4 năm lại có một năm nhuận 366 ngày, thêm 1 ngày
vào tháng 2). Năm 45 TCN, Xê-da (Caesar) đã sửa dương lịch ở La Mã và đặt ra
quy tắc này (Lịch Julian). Sau đó lịch Gregorian (năm 1582) tiếp tục hoàn thiện,
trở thành Công lịch thông dụng ngày nay.
Âm - dương lịch: Để khắc phục nhược điểm của âm lịch, cách đây 2.600
năm, người Trung Quốc đã kết hợp cả hai vận động: của Mặt Trăng quanh Trái
Đất và của Trái Đất quanh Mặt Trời để tạo ra Âm - dương lịch. Năm âm dương
lịch cũng có tháng đủ (30 ngày), tháng thiếu (29 ngày). Để độ dài năm âm dương lịch gần thống nhất với năm dương lịch, người ta đặt ra luật nhuận: cứ 19
năm có 7 năm nhuận (thêm tháng thứ 13). Nhờ quy luật này, âm - dương lịch
vẫn gắn liền với chu kì mùa màng và thời tiết.
******************************
 









Các ý kiến mới nhất