Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

KỂ CHUYỆN CÁC SỨ THẦN VIỆT NAM

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:48' 24-01-2024
Dung lượng: 1'004.0 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
PGS.TS. PHẠM VĂN LINH
Phó Chủ tịch Hội đồng
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
TS. NGUYỄN ĐỨC TÀI
TS. NGUYỄN AN TIÊM
NGUYỄN VŨ THANH HẢO

LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Hoạt động ngoại giao là một bộ phận quan trọng
của công cuộc đấu tranh dựng nước, giữ nước lâu dài
và anh dũng của dân tộc Việt Nam. Trong lịch sử, đấu
tranh ngoại giao với sự hậu thuẫn của đấu tranh quân
sự, đã giành được rất nhiều chiến công hiển hách,
thậm chí, đấu tranh ngoại giao còn mang lại không ít
những thành quả mà không phải bất cứ cuộc chiến nào
trên chiến trường cũng có thể giành được.
Hoạt động đấu tranh ngoại giao thời kỳ phong kiến
của nước ta vô cùng phong phú, thể hiện tài trí ứng
phó lanh lẹ, thông minh tuyệt đỉnh cũng như nghệ
thuật ngoại giao kiên trì, mềm mỏng nhưng không yếu
đuối, cương nghị, mạnh mẽ nhưng không cứng nhắc để
“lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh”. Đóng góp
không nhỏ vào những thành công xuất sắc trên mặt
trận ngoại giao ấy là những sứ thần - những người trực
tiếp được cử đi sứ hoặc tiếp đãi sứ thần nước khác khi
họ sang nước Việt Nam ta. Bằng trí tuệ, sự am hiểu
sâu sắc về lịch sử, địa lý, văn học, toán học..., cộng với
lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, các sứ thần Việt Nam
không những đã chứng tỏ được thông tuệ mà hơn hết,
còn khẳng định được vị thế của dân tộc, làm rạng danh

5

đất nước; khiến quần thần nước bang giao phải từ bỏ
thái độ kiêu ngạo khi đón tiếp, thậm chí, phải tỏ lòng
khâm phục trước năng lực ứng biến ngoại giao tài tình,
sự trung kiên đối với Tổ quốc, dân tộc, triều đình của
các sứ thần Việt Nam.
Để giúp bạn đọc có thêm hiểu biết về tài năng kiệt
xuất của các sứ thần Việt Nam thời phong kiến, những
người có vai trò quan trọng làm nên những trang vàng
trong lịch sử đấu tranh ngoại giao của nước ta, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn
sách Kể chuyện các sứ thần Việt Nam do tác giả
Phạm Trường Khang biên soạn. Với các câu chuyện kể
về các nhân vật xuất chúng, nổi bật về tài năng ứng xử
ngoại giao thời kỳ phong kiến, cuốn sách sẽ là tài liệu
tham khảo hữu ích cho những bạn đọc quan tâm,
muốn nghiên cứu tìm hiểu sâu về chủ đề này.
Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 8 năm 2016
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

6

LỜI NÓI ĐẦU
Lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của
dân tộc Việt Nam đã ghi lại biết bao chiến công, sự
hy sinh anh dũng của những con người quả cảm,
đấu tranh kiên cường vì độc lập, tự do của đất
nước. Trong số những người con ưu tú ấy, không
thể không kể đến tấm gương của các sứ thần,
những người đã giành được rất nhiều thành công
trong đấu trí, đấu lực trên mặt trận ngoại giao,
đem đến những cơ hội thật bất ngờ, khả quan,
thậm chí không phải cuộc chiến nào trên chiến
trường cũng giành được.
Nhìn chung, thắng lợi của đấu tranh ngoại giao
thường do các chiến thắng quân sự hậu thuẫn,
nhưng cuộc đấu tranh này muốn thắng lợi cũng đòi
hỏi ở người tham gia sự dũng cảm, tài trí, lanh lẹn
ứng phó không kém gì các chiến binh trên chiến
trường. Đấu tranh ngoại giao có thể được xem như
cuộc thi đấu về sự kiên trì, bền bỉ, dẻo dai, khôn
ngoan. Cuộc chiến này nhiều lúc đầy cam go và đôi
khi còn phải trả giá bằng cả tính mạng.
7

Cuốn sách này kể về tài trí, sự ứng xử thông
minh, khôn khéo, nhanh nhạy, dũng cảm và nghệ
thuật đàm phán kiên trì, linh hoạt của các sứ thần
Việt Nam thời phong kiến, những người đã làm tròn
nhiệm vụ được ủy thác, giữ vững và nêu cao quốc
thể. Ngoài ra, còn có một số chuyện kể về tài ứng xử
ngoại giao thông minh, kiên định của một số nhân
vật lịch sử như: Lê Hoàn, Trần Thái Tông, Trần
Thánh Tông,...
Các chuyện kể trong sách chủ yếu dựa trên
nguồn tư liệu từ chính sử, dã sử và các giai thoại
lưu truyền trong dân gian. Người đọc sẽ được thấy
ở đây một cuộc hành trình qua bao thế hệ của
những người đi trước đã kiên cường đấu tranh bảo
vệ đất nước, gìn giữ chủ quyền và khẳng định văn
hóa của dân tộc Việt Nam có nền văn hiến lâu đời.
Hy vọng cuốn sách Kể chuyện các sứ thần
Việt Nam sẽ đáp ứng được phần nào nhu cầu tìm
hiểu lịch sử và truyền thống đấu tranh kiên cường
của dân tộc Việt Nam.
Tác giả
PHẠM TRƯỜNG KHANG

8

LÊ HOÀN
Lê Hoàn là tên húy của vua Lê Đại Hành, sinh
năm 941, mất năm 1005. Về quê quán của vua,
đến nay vẫn có ba luồng ý kiến khác nhau:
Ý kiến thứ nhất cho rằng, Lê Hoàn quê ở Trường
Châu (Ninh Bình ngày nay) theo ghi chép trong
cuốn Việt sử lược: “Đại Hành vương húy là Hoàn, họ
Lê, người Trường Châu, cha là Mịch, mẹ họ Đặng”1.
Ý kiến thứ hai cho rằng, Lê Hoàn quê ở Ái
Châu (Thanh Hóa ngày nay) theo ghi chép trong
Đại Việt sử ký toàn thư: “Vua họ Lê, húy là Hoàn,
người Ái Châu... Cha sinh ra vua là Mịch, mẹ là
Đặng Thị”2. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến
chương loại chí cũng cho rằng Lê Hoàn là người
Ái Châu. Một số nhà nghiên cứu sau này như các
tác giả sách Các triều đại Việt Nam cũng đồng
tình với nhận định trên.
______________________

1. Trần Quốc Vượng (Phiên dịch, chú giải): Việt sử
lược, Nxb. Văn - Sử - Địa, Hà Nội, 1960, tr. 53-54.
2. Ngô Sỹ Liên: Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1972, t. 1, tr. 166.

9

Ý kiến thứ ba cho rằng, Lê Hoàn quê ở Ninh
Thái, Thanh Liêm, Hà Nam dựa trên việc so
sánh, đối chiếu các thư tịch cũ, chẳng hạn Đại
Việt sử ký tiền biên ghi: “Xét thấy Lê Đại Hành là
người làng Bảo Thái, huyện Thanh Liêm, chứ
không phải người Ái Châu. Sử cũ chép nhầm”1.
*
* *
Lê Hoàn giữ chức Thập đạo tướng quân dưới
thời vua Đinh Tiên Hoàng. Năm 980, ông lên ngôi
vua, có công chống giặc Tống, ổn định biên giới
phía nam, phát triển giao thông thủy lợi và sản
xuất nông nghiệp.
Kháng chiến thành công, Lê Hoàn áp dụng
một chính sách ngoại giao vừa kiên quyết, vừa
mềm dẻo.
Về phía nam, hai lần nhà vua phái sứ sang
giao hảo với Chiêm Thành thì cả hai lần sứ giả
Việt Nam đều bị vua Chiêm bắt giữ. Vua Chiêm
thần phục Tống, dựa thế nhà Tống nên coi thường
nước ta. Năm 982, Lê Hoàn xuất quân đánh
Chiêm Thành, giết vua Chiêm, phá kinh thành
Indrapura (Đồng Dương, Quảng Nam) rồi rút
quân về nước. Sóng gió phương Nam lặng im.
Về phía bắc, nhiều lần ông phái sứ sang nước
______________________

1. Ngô Thì Sỹ: Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1997, tr. 166.

10

Tống. "Thần phục giả, độc lập thật" là đối sách
của nhà vua.
Năm 990, nhà Tống sai Tống Cảo đi sứ nước
ta. Vua Lê sai Đinh Thừa Chính đem chiến
thuyền sang tận bờ biển Liêm Châu (Quảng
Đông) đón sứ. Đợi khi sứ giả nước Tống xuống
thuyền chiến của ta, theo lệnh nhà vua, thuyền bị
bịt cửa kín mít, thắp đèn nến suốt ngày đêm, đi
loanh quanh hàng nửa tháng trời mới đến cửa
Bạch Đằng, gây cho sứ giả nước Tống cảm giác
đất Việt biển rộng, sông dài.
Hàng tháng nữa trôi qua, thuyền sứ giả mới tới
địa phận Trường Châu (Ninh Bình), gần kinh đô
Hoa Lư. Tại đây, nhà vua sai thao diễn thủy quân
để phô trương thanh thế, uy hiếp tinh thần sứ giả.
Thuyền quân, thuyền dân đua bơi như chớp
nhoáng, tiếng trống thúc như sấm gào. Cách thành
trăm dặm, nhà vua sai dồn trâu bò của dân ra hai
bờ sông, không đầy nghìn con mà nói với sứ thần
Tống đây là trâu bò của Nhà nước, khoảng 10 vạn
con. Lại cho dân xếp lẫn vào hàng quân khiến sứ
Tống tưởng quân ta vô cùng đông đảo. Khắp các
ngọn núi quanh thành Hoa Lư nhà vua cắm cờ
hiệu nhiều màu san sát, ra vẻ bày binh bố trận.
Vua cùng sứ thần Tống Cảo dong ngựa đi
song song. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư:
“Vua đã cho bày thủy quân và chiến cụ để tỏ ra
quân đội nghiêm minh, có kỷ luật, có vũ khí tốt và
11

thiện chiến, đã đánh thắng Chiêm Thành và cũng
sẵn sàng bảo vệ đất nước nếu quân nhà Tống lại
xâm lăng”.
Khi vào cung vua, đến cửa Minh Đức, vua giơ
tay đón bài chế của vua Tống từ tay sứ thần Tống
Cảo, đặt lên trên điện nhưng không lạy. Vua Lê
nói với sứ thần là năm vừa rồi đi đánh giặc Mán
bị ngã ngựa đau chân. Tống Cảo và Vương Thế
Tắc tin là thực. Có lẽ đây là lần đầu tiên vua nước
Nam khi nhận sắc phong của vua Trung Hoa đã
không chịu lạy để giữ thể diện quốc gia.
Ngày hôm sau khi bày tiệc thết đãi, nhà vua
nói với Tống Cảo:
- Đường sá xa xôi, núi sông hiểm trở, sau này
nếu có quốc thư xin cứ giao nhận ở biên giới, khỏi
phiền sứ giả đến đây.
Chủ ý của vua Lê là không muốn để cho các sứ
thần và binh lính đi sâu vào đất nước để dò xét
đường đi lối lại và lực lượng quân dân ta.
Trong buổi tiệc chiêu đãi, nhà vua cùng các
quan vừa ăn uống, vừa múa hát và diễn trò đâm
cá dưới sông. Lê Hoàn tuy là vua nhưng đã cởi mũ
áo, bỏ giày, lội xuống nước, cầm giáo đâm cá. Các
quan cũng cởi bỏ mũ áo, lội xuống nước làm theo.
Mỗi khi có người đâm trúng một con cá dưới nước
thì ai nấy đều hò reo vui vẻ. Duy chỉ có hai sứ
thần nhà Tống là lúng túng không biết làm gì.
Trong buổi tiệc, Lê Hoàn vừa hát vừa mời rượu
12

các sứ thần. Sứ thần nhà Tống đón chén rượu
nhưng không biết hát đáp lại.
Theo sách Đông Tây dương khảo và Lịch triều
hiến chương loại chí, trong lần tiếp Tống Cảo và
Vương Thế Tắc, để sứ giả nhà Tống thấy tinh
thần dũng cảm, gan dạ, không sợ hy sinh của
quân ta, nhà vua mời sứ giả cùng ngồi xem những
người lính tay không đánh nhau với hổ dữ trong
sân vua. Hổ gầm thét, lồng lộn cố vồ lấy người
lính nhưng đã bị những quả đấm như búa bổ vào
hai bên thái dương. Chân người lính đạp vào chỗ
hiểm nên hổ chỉ còn gầm gừ và điên cuồng giãy
giụa rồi dần kiệt sức. Sau trận đấu hổ, vua Lê lại
cho hai lính vác hai con trăn dữ tợn ra biểu diễn.
Hai con trăn có thể nuốt người ăn thịt, hoặc vặn
người cho đến nát nhừ nhưng đã bị những người
lính bé nhỏ điều khiển, cho quấn lên cổ, lên người
mà không hề khiếp sợ. Vua lại hỏi sứ Tống có ăn
thịt trăn không, sẽ cho làm cỗ để mời. Sứ thần
nhà Tống vô cùng khiếp sợ nên đã từ chối.
Thấy những trò chơi biểu hiện tinh thần dũng
cảm, không sợ chết của quân lính nhà Lê, hai sứ
thần nhà Tống đều khiếp sợ và cảm phục.
Nhà vua bố trí cho sứ Tống ở sứ quán. Cách
vài ngày, nhà vua cho người mang con trăn vài
trượng đến bảo nếu sứ giả muốn ăn sẽ làm thịt
thết đãi. Nhà vua còn trói hai con hổ đến tặng.
Khiếp sợ vì thú dữ đất Việt, sứ Tống cố tìm cớ từ
13

chối loại "quà biếu" đó. Nhiều nhà sư giỏi thơ văn
được nhà vua phái đến tiếp chuyện sứ Tống để
chứng tỏ cho sứ thần Thiên triều biết nước ta
cũng là nước văn hiến1.
Tháng 10 năm 986, vua Tống Thái Tông đã
cho hai sứ thần là Lý Nhược Chuyết và Lý Giác
mang chế văn phong cho Lê Hoàn chức Kiểm hiệu
Thái bảo sử tri Tiết Đô đốc Giao Châu chư quân
sự, An Nam đô hộ, Tĩnh hải quân Tiết độ sứ, Giao
Châu quản nội quan sát sử tri đẳng sứ, Kinh
triệu quận hầu.
Để giữ hòa hiếu với nhà Tống, Lê Hoàn đã trao
trả nhà Tống hai tên tướng giặc bị bắt sống năm
xưa là Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân
sau khi đã giam giữ 5 năm. Hai tướng bị cầm tù
mừng rỡ lạy tạ và cùng hai sứ thần về nước.
Sau khi lập nên triều đại mới - nhà Tiền Lê và
đánh tan quân Tống xâm lược, Lê Hoàn sai sứ giả
sang Trung Hoa xin cầu phong. Vua Tống tuy bị
thua trận nhưng vẫn không chịu phong cho Lê
Hoàn là vua nước Nam mà chỉ phong chức quan
lần lượt từ Đô đốc, Thái úy, đến Đặc tiến. Mãi đến
năm Quý Tỵ (993) mới chịu phong cho ông chức
Giao Chỉ quận vương và đến năm Đinh Dậu mới
phong làm Nam Bình Vương. Sau 16 năm kể từ
______________________

1. Theo Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Giáo
dục, Hà Nội, 2007, t. 3, tr. 253.

14

khi chiến thắng quân Tống (980), vua Tống phải
chấp nhận phong vương cho Lê Hoàn bởi lực
lượng của nhà vua đã đủ mạnh để có thể uy hiếp
cả biên giới phía nam của nhà Tống. Muốn giữ
cho yên bờ cõi biên cương phía nam, không thể
không phong vương cho vua Lê để ràng buộc nhà
vua theo nghĩa quân thần.
Sau khi đánh thắng Chiêm Thành và sai quân
mở đường bộ thông đến châu Đại Lý, để khẳng
định sức mạnh của triều Lê, vua Lê sai sứ sang
cống vua Tống và dâng tờ biểu của Đinh Toàn
nhường ngôi. Vua Tống thấy lực lượng của Lê
Hoàn đã mạnh nên buộc phải sai hai sứ thần là
Vương Thế Tắc và Lý Cư Giản sang phong vương
cho nhà vua là Tĩnh hải quân Tiết độ sứ Giao Chỉ
quận vương. Tuy là tước vương nhưng phạm vi chỉ
bó hẹp trong quận Giao Chỉ mà thôi.
Sự kiện này được ghi chép trong sách Cương
mục tục biên của Trung Quốc rằng: "Năm Thuần
Hoá thứ 4 (993), Lê Hoàn đưa lễ sang cống, (vua
đã) phong cho Lê Hoàn làm Giao Chỉ quận vương".
Năm 996, vua Tống lại sai sứ thần là Lý Nhược
Chuyết đem tờ chiếu và đai ngọc sang ban cho vua
Lê. Sách Việt sử thông giám cương mục chép:
"... Khi sứ thần đến nơi, vua Lê ra đón ngoài
đô thành, có ý ngạo mạn coi thường, không thi lễ.
Nhà vua bảo Lý Nhược Chuyết:
15

- Trước đây việc cướp trấn Như Hồng là do
giặc ở ngoài biên giới, chẳng hay hoàng đế (vua
Tống) có biết không? Giả sử Giao Châu chúng
tôi nổi lên chống lại (vua Tống) thì trước hết kéo
sang Quảng Đông rồi vào mọi quận ở Mãn
Châu, chứ có khi nào chỉ nhằm một trấn Như
Hồng mà thôi”.
Chưa bao giờ trong bang giao với các triều đại
phong kiến Trung Hoa, vua Đại Cồ Việt có những
lời lẽ cứng rắn, phô trương sức mạnh và ngầm đe
dọa Thiên triều như thế. Lời lẽ của nhà vua thể
hiện niềm tin vào nước Đại Cồ Việt, có đủ sức
mạnh kéo sang đánh lấy những đất cũ đã bị nhà
Tống chiếm cứ và ngầm bảo cho sứ Tống biết, nếu
vua Tống không chịu công nhận vai trò của vua
Lê và chủ quyền của nước Nam thì hãy dè chừng,
nhà vua sẽ dùng đến sức mạnh để buộc vua Tống
phải công nhận.
Tuy nhiên phải đợi đến năm sau, khi Tống
Thái Tông mất, Tống Chấn Tông lên ngôi, nhà
Tống mới chịu phong cho Lê Hoàn làm Nam
Bình Vương.
Bài chế phong cho nhà vua có đoạn:
"Đấng vương giả dựng nên pháp độ đoan
chính để bảo vệ các phiên bang. Xây dinh quán
tại kinh sư để cho lễ nghi hội đồng được long
trọng, còn phong tước lộc cho chư hầu để tỏ oai
hùng của sự thống chế. Phương chi nước Diên
16

Chỉ (Giao Chỉ) thường năm lo đường chức cống
(dâng lễ vật như lông chim thùy...) tuy đã là
một xứ hùng cường nhưng không quên phục
tùng mệnh lệnh (của Trung Quốc) một cách
cung thuận, lại xét có công lao.
Nay Quyền Tri Giao Châu Tam sử Lê Hoàn tư
chất nghĩa dũng, bẩm tính trung thuần, được lòng
quốc dân, kính cẩn giữ lễ phiên thần. Trước đây
Đinh Triển (con Đinh Bộ Lĩnh) đương còn thơ ấu và
khờ dại, không biết trị dân, nên Lê Hoàn lấy tư
cách thân tín cật ruột giữ các đạo quân, hiệu lệnh
tự trong tay, có ân có oai; họ Đinh tự giải quyền
Tam sứ để tuân theo ý nguyện của mọi người. Nay
Lê Hoàn mặc dầu xa cách vẫn tỏ lòng thành kính,
xin lãnh tiết mao. Như vậy không khác gì Sĩ
Nhiếp anh minh, hóa dân Việt đều theo lễ nghĩa;
Triệu Đà cùng thuận, tuân mệnh Hán không dám
đơn sai. Vậy nên cho Lê Hoàn giữ chức Nguyên
nhung, ngang hàng với các bậc hầu tước, cai quản
các nước rợ và tôn trọng sứ mệnh của trời".
Như vậy, bằng nội lực của chính mình, Lê
Hoàn đã buộc triều đại phong kiến Trung Hoa phải
công nhận và xác lập chủ quyền của nước Nam.

17

ĐỖ THUẬN
Đỗ Thuận (Đỗ Pháp Thuận) là pháp danh của
một nhà sư nổi tiếng dưới triều Lê Đại Hành. Ông
sinh năm 915, mất năm 990. Sách Thiền uyển tập
anh chép rằng: “Thiền sư Pháp Thuận chùa Cổ
Sơn, Thừ hương, quận Ải. Không biết người ở đâu.
Sư họ Đỗ, học rộng, thơ hay, có tài giúp vua, rõ
việc đương thời. Nhỏ xuất gia, thờ thiền sư Phù
Trì chùa Long Thọ làm thầy. Khi đã đắc pháp nói
ra lời nào cũng hợp với sấm ngữ. Đương lúc nhà
Lê mới dựng nghiệp, trù định kế sách, Sư tham
dự đắc lực. Đến khi thiên hạ thái bình, Sư không
nhận phong thưởng. Hoàng đế Lê Đại Hành càng
kính trọng, thường không gọi tên, chỉ gọi Đỗ Pháp
sư, đem việc văn thư giao phó cho Sư”1.
Sử chép ông có nhiều công với triều đình, đặc biệt
khi tiếp đón và xướng họa thơ ca với sứ nhà Tống.
*
*

*

______________________

1. Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Thiền uyển tập anh,
Nxb. Văn học, Hà Nội, 1990.

18

Khoảng năm 987, vua Tống sai Lý Giác sứ
sang nước ta. Khi đó, vua Lê Hoàn nhờ một vị sư
giả làm người chèo đò đi đón để quan sát hành
động của viên sứ thần.
Vị sư đó tên là Đỗ Thuận. Sư Thuận học rộng,
thơ hay, am hiểu việc đời, có công lao lớn nhưng
không chịu nhận phong thưởng của vua. Vì thế
nhà vua lại càng kính trọng, thường gọi là sư Đỗ
chứ không gọi tên thật. Sư ngày thường vẫn giúp
vua trong công việc giấy tờ, văn học.
Lý Giác vốn là một tay sính thơ. Khi thuyền
sứ đi trên sông Kinh Thầy (nay thuộc tỉnh Hải
Dương), thấy hai con ngỗng ngoi trên mặt nước,
Lý Giác liền ngâm hai câu thơ tạm dịch là:
Ngỗng kìa, ngỗng một đôi
Nghển cổ nhìn chân trời
Bài thơ nguyên của Lạc Tân Vương, người đời
Đường (thế kỷ thứ VII) làm lúc 10 tuổi.
Sư Đỗ đang chèo thuyền, ứng khẩu đọc:
Nước xanh lông trắng phủ
Sóng biếc chân hồng bơi!
Thấy ngay đến người lái đò ở nước Việt mà cũng
hay chữ, thuộc thơ cổ như vậy, Lý Giác kinh ngạc và
cảm phục lắm.
Sứ thần Lý Giác thấy Đỗ Thuận giỏi thơ, tặng
nhà sư một bài thơ, trong đó có hai câu:
Ngoài trời lại có trời soi sáng
Sóng lặng khe đầm rọi mảnh thu!
19

Sư Đỗ chép lại bài thơ, đưa cho vua Lê. Nhà
vua đưa bài thơ đó cho sư Khuông Việt - người
đứng đầu giới Phật giáo khi ấy xem và hỏi ý kiến.
Sư Khuông Việt tâu:
- Tâu bệ hạ, bần đạo nghĩ đây là sứ Bắc tỏ ý
tôn trọng bệ hạ cũng ngang như vua của họ vậy.
Lê Đại Hành rất hài lòng, sai sư Khuông Việt
làm một ca khúc tiễn sứ giả về nước. Bài thơ của
nhà sư Khuông Việt như sau:
Dịch thơ:
Gió xuân đầm ấm cánh buồm giương
Trông vị thần tiên về đế hương,
Muôn lần non nước vượt trùng dương.
Đường về bao dặm trường,
Tình lưu luyến chén đưa đường,
Nhớ vị sử lang
Xin lưu ý việc biên cương,
Tâu rõ lên thánh hoàng.
Lý Giác lạy tạ vua lên xe về Bắc, lòng luôn
nghĩ nước Nam Việt quả có lắm nhân tài, lần này
về triều phải tâu rõ cho hoàng thượng biết chỉ nên
tỏ ra khoan dung chứ không nên đối đầu.

20

LÊ THUẬN TÔNG
Lê Thuận Tông là người dân tộc thiểu số, châu
mục châu Phong, không rõ năm sinh, năm mất. Sử
chép: năm 1036, vua Lý Thái Tông gả công chúa
Kim Thành cho Lê Thuận Tông và ông trở thành
phò mã nhà Lý.
Năm 1062, sau khi tù trưởng Nùng Tông Đản
đem động Lôi Hỏa nộp cho nhà Tống, Lê Thuận
Tông được cử đi sứ sang Tống đòi đất, đòi dân.
Thái độ đàng hoàng, kiên quyết khi đi sứ của ông
đã giúp triều Lý đòi lại được đất, được dân.
*
* *
Động Lôi Hỏa ở phía tây bắc tỉnh Cao Bằng
ngày nay, xưa thuộc sự cai trị của tù trưởng Nùng
Tông Đản, được coi như phiên thần của triều Lý.
Năm 1057, Nùng Tông Đản đem quân đánh
nhà Tống ở Ung Châu. Sau đó Tông Đản bị nhà
Tống mua chuộc nên đã đem các động thuộc
quyền cai trị là Lôi Hỏa và Kế Thành nộp cho nhà
Tống, nhờ đó mà được triều đình nhà Tống bổ coi
châu Thuận An (tên gọi mới của vùng Lôi Hỏa và
21

Kế Thành). Như thế vùng đất của vua Lý dưới sự
cai trị của tù trưởng Nùng Tông Đản vô hình
trung đã bị mất sang cho nhà Tống (1062).
Vua Lý Thánh Tông tức giận, sai sứ thần Lê
Thuận Tông (là phò mã đời Lý Thái Tông) sang
nước Tống để đòi đất và dân thuộc các động trên.
Lê Thuận Tông đến Quế Châu, gặp viên quan
nhà Tống là Lục Sằn. Sau vài câu thăm hỏi, Lê
Thuận Tông nói:
- Không rõ bản triều có hay việc Nùng Tông
Đản vốn là con dân của nhà Lý, được triều đình
giao cho canh giữ động Lôi Hỏa, nay lại tự tiện
dâng đất là phạm tội khi quân với vua Lý, không
thể dung thứ không? Hơn thế, đây vốn là đất của
vua nước Nam, không lẽ Thiên triều lại cần một
cái động nhỏ nhoi ấy của nước phiên bang, làm
cho đạo lý thánh hiền bị coi thường hay sao?
Lục Sằn biết rõ ở vùng biên giới, quân biên ải
của nhà Tống thường nhu nhược, quan quân nhà
Lý đã vài lần đánh sang để đòi đất và dân nên
trước thái độ kiên quyết của sứ thần Lê Thuận
Tông, Lục Sằn phải dâng tấu xin vua Tống trả lại
đất cho nước Nam. Vua Tống đành phải nhân
nhượng, hạ chiếu chỉ trả đất và dân về cho nước ta.
Tống sử chép:
"Từ khi giặc Nùng (Nùng Trí Cao và Nùng
Tông Đản) yên, người Giao Chỉ lại càng kiêu căng,
các sứ thần thường chịu nhịn cho qua... Sứ Giao
22

Chỉ là Lê Thuận Tông tới, kiêu ngạo như cũ, Sằn
nhún nhường mới tới, giảng dụ phải kính lẽ phải,
làm sứ phải sợ mà trở về".
Những lời ghi của Tống sử trên đây cho thấy
phần nào sự thật là sứ Giao Chỉ đi đòi đất với một
tư thế đàng hoàng, hậu thuẫn mạnh. Còn câu nói
"sứ sợ mà phải trở về" thì không đúng vì cũng
theo Tống sử, khi sứ ta tới đòi đất, Lục Sằn tâu về
triều Tống, vua Tống Anh Tông mới lên ngôi, hỏi
ý kiến các đình thần. Tể tướng Hàn Kỷ tâu: "Xứ
Giao Châu rừng núi hiểm trở, khí hậu ẩm độc.
Nếu có lấy cũng không giữ được. Chỉ nên vỗ về mà
thôi. Vua Tống Anh Tông bèn trả lại hai châu (Lôi
Hỏa và Ôn Nhuận?) lại cho vua Lý"1.
Nhờ thực lực quân sự đủ mạnh, kết hợp với
chính sách ngoại giao khéo léo, linh hoạt nên Lê
Thuận Tông đã đòi lại được đất Lôi Hỏa.

______________________

1. Theo Nguyễn Thế Long: Bang giao Đại Việt, Nxb. Văn
hóa Thông tin, Hà Nội, 2007, t. 1, tr. 122-123.

23

KIỀU VĂN ỨNG
Đến nay, sử sách vẫn không rõ quê quán, năm
sinh, năm mất của Kiều Văn Ứng. Một số sách lịch
sử như: Lý Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao và
tông giáo triều Lý1, Bang giao Đại Việt2 có nhắc
đến tên ông với tư cách là sứ giả, biện sĩ, giữ chức
Văn tư sứ, tới dinh tướng nhà Tống là Quách Quỳ
để “bàn hòa, không nhọc tướng tá, khỏi tốn máu
mủ mà bảo an được tông miếu”.
*
* *
Sau khi nghe tin châu Khâm và châu Liêm bị
Lý Thường Kiệt đánh phá, vua Tống Thần Tông
sai Quách Quỳ và Triệu Tiết cầm quân đi xâm
lăng Đại Việt.
Đại quân của Quách Quỳ kéo đến bờ sông Như
Nguyệt, cách kinh thành Thăng Long chừng 30 km.
______________________

1. Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt - Lịch sử
ngoại giao và tông giáo triều Lý, Sông Nhị xuất bản,
1950, tr. 293-294.
2. Nguyễn Thế Long: Bang giao Đại Việt, Nxb. Văn
hóa Thông tin, Hà Nội, 2005, tr. 62.

24

Phòng tuyến của quân Lý ở phía nam rất vững
chắc, ngăn chặn khiến quân Tống không thể qua
được sông. Hơn nữa thủy quân của giặc lại bị
tướng nhà Lý là Lý Kế An đánh và cầm chân ở
Vĩnh An. Khi xuất quân sang đánh Đại Việt,
quân Tống có khoảng 10 vạn lính và 20 vạn phu
nhưng phần vì giao chiến, phần vì nóng nực, lam
chướng đã chết mất quá nửa, lương thực lại thiếu
thốn nên số quân lính còn lại đều ốm yếu. Về phía
nhà Lý, sau trận tấn công Kháo Túc bị thất bại,
hai hoàng tử là Hoằng Chân và Chiêu Văn tử
trận nên vua Lý cũng nghĩ đến việc hưu binh.
Trước tình hình ấy, Lý Thường Kiệt quyết
định thực thi sách lược: "dùng biện sĩ để bàn hòa,
không nhọc tướng tá, khỏi tốn máu mủ mà bảo an
được tông miếu". Vì thế, Kiều Văn Ứng, một viên
quan có tài biện luận thuyết phục, đã được cử
sang dinh Quách Quỳ ở phía bắc sông Như
Nguyệt để đàm phán.
Kiều Văn Ứng tới trại của Quách Quỳ, báo
cho đám lính canh cửa xin gặp. Tướng Tống
nghe nói có sứ thần nước Nam đến đàm phán,
liền mặc quân phục nom rất oai vệ, ngồi chễm
chệ trên ghế rồi mới sai lính vời Kiều Văn Ứng
vào. Tuy đã "đi guốc trong bụng" tướng giặc
nhưng Kiều Văn Ứng vẫn tỏ ra điềm đạm, trình
bày mục đích tới trại của tướng giặc. Ông thong
thả phân tích:
25

- Ta và ngài đều là quan ăn lộc của triều đình.
Chắc ngài đã rõ, thời gian qua hai bên dàn trận
đánh nhau gây bao tổn thất cho dân lành. Không
gì tốt hơn là ngưng chiến để dưỡng sức dân, để hai
bên đều không bại vong, thế mới là sáng suốt.
Quách Quỳ cao giọng:
- Ta là tướng cầm quân, còn ngài là biện sĩ chỉ
biết uốn mấy tấc lưỡi, đâu phải nói thế là ta phải
rút quân. Vừa rồi hai hoàng tử nhà Lý đã tử trận.
Ta sẽ cầm quân đánh tiếp để xem Nam Việt còn
dám gửi sứ giả đến khua môi múa mép không?
Kiều Văn Ứng mỉm cười:
- Ta dù không giỏi cầm quân như ngài nhưng
vẫn rõ một điều khi quân xa hậu phương, đường
sá hiểm trở, lương thực không đủ sẽ khiến quân
lính bị đói, cộng thêm lam sơn chướng khí ở
phương Nam không thuận lợi, thử hỏi quân Tống
sẽ trụ lại được bao lâu hay sẽ bị tiêu hao dần và
tiêu diệt?
Quách Quỳ không ngờ Kiều Văn Ứng cứng cỏi
và biết rõ hiện trạng quân Tống nên im lặng.
Kiều Văn Ứng nói tiếp:
- Sở dĩ quân Nam vào đất Tống, đánh Ung
Châu (Nam Ninh ngày nay) cũng là do người
Tống là Từ Bá Tường xúi giục. Nay quân của
hai bên đều bị thiệt hại. Chi bằng ngài hãy vì
con dân của hai nước mà lui binh, vua Lý sẽ sai
sứ sang xin tạ tội về việc đã cho quân lính kéo
26

vào châu Khâm và châu Liêm và xin lại cống
nạp như trước.
Quách Quỳ suy nghĩ một lát rồi lắc đầu không
chịu, vì mấy chục vạn quân đi chinh chiến trong
gần hai năm, số người chết quá nửa mà nay lại
chấp nhận hòa hoãn thì thất bại là quá rõ. Hơn
nữa, hắn cũng sợ bị triều đình trị tội nên lời Kiều
Văn Ứng chưa thể thuyết phục hắn. Hắn rõ hơn ai
hết, Thăng Long - kinh đô Đại Việt - chỉ cách trước
mặt hơn 50 dặm, vậy mà quân Tống phải chịu chết
chôn chân bên sông Phú Lương 40 ngày, lâm vào
cảnh không tiến được, đóng lại thì hết lương, sẽ
chết dần, mà lui quân thì không được phép.
Trước phản ứng đó của Quách Quỳ, sứ thần
Kiều Văn Ứng liền đưa ra lời đề nghị cả hai bên
cùng rút quân nhưng Quách Quỳ vẫn thấy chưa
ổn. Kiều Văn Ứng đành phải trở về doanh trại báo
cáo với Lý Thường Kiệt việc Quách Quỳ không
chịu giảng hòa. Lý Thường Kiệt biết nỗi băn
khoăn của Quách Quỳ nên đã chỉ thị cho Kiều
Văn Ứng sang chấp nhận điều kiện chỗ nào quân
Tống đã chiếm được thì nơi đó tức là đất Tống,
mục đích là để Quách Quỳ đỡ mang tiếng thất
bại. Trên thực tế, Quách Quỳ không thể đóng
quân ở đất nhà Lý mãi để giữ đất được mà phải
mau chóng rút quân để bảo toàn mạng sống và lẽ
đương nhiên quân của Quách Quỳ rút tức là đất
của nhà Lý lại trở về với nhà Lý.
27

Sau khi nghe Kiều Văn Ứng nói thêm ý này,
Quách Quỳ đã chấp nhận giảng hòa với nhà Lý và
thốt lên:
- Ta không đạp đổ được sào huyệt giặc, bắt
được Lý Càn Đức để bảo mệnh triều đình, đó là
bởi Trời. Thôi ta đành liều một thân ta chịu tội với
triều đình, để mong cứu hơn 10 vạn nhân mạng.
Quỳ cho người mang biểu của vua Lý về triều
Tống, nhận lời của sứ ta và lui quân. Sau khi
giảng hòa, Quách Quỳ rút quân về nước, quân
Quách Quỳ rút đến đâu, quân Lý tiến theo để thu
hồi lại đất đai đã bị chiếm dụng đến đó. Nhưng
nhà Tống vẫn còn để quân lính chiếm giữ 5 châu
miền núi là Quảng Lang, Tô Mậu, Môn, Tư Lang
và Quảng Nguyên. Trong số đó, hai châu Quảng
Lang và Quảng Nguyên là quan trọng hơn cả vì
Quảng Lang là cổ họng của châu Ung và Quảng
Nguyên là nơi sản xuất nhiều vàng bạc. Nhà Tống
tổ chức bộ máy cai trị ở những nơi đó, đổi Quảng
Nguyên thành châu Thuận An, và nâng Quảng
Lang lên hàng huyện.
Nhà Lý sử dụng lực lượng quân sự đánh úp,
cuối cùng lấy lại được đất Quảng Lang kề trại
Vĩnh Bình. Hai châu Tô Mậu và Môn cạnh đó
cũng được giải phóng.

28

ĐÀO TÔNG NGUYÊN
Đào Tông Nguyên là sứ thần nhà Lý, không
rõ năm sinh, năm mất và quê quán của ông. Các
sách sử đều nhắc đến tên ông với vài dòng sơ
lược: ông theo lệnh vua Lý cùng đoàn sứ thần
Việt mang năm con voi sang cống vua Tống, đồng
thời khéo léo đòi lại đất Quảng Nguyên và
Quảng Lang. Kết cục, nhà Tống phải trả đất
Quảng Nguyên.
*
* *
Năm 1078, vua Lý Nhân Tông sai sứ thần
Đào Tông Nguyên dẫn đầu một đoàn sứ bộ mang
theo biểu đòi lại đất Quảng Nguyên và Quảng
Lang của vua. Đoàn sứ bộ mang năm con voi
sang cống vua Tống.
Biểu của vua Lý viết:
"Thần đã nhận được chiếu chỉ cho phép theo
lệ tới cống y như lời tôi thỉnh cầu. Chiếu lại đã
sai quan thuộc Ty An phủ định rõ cương giới và
dặn thần không được xâm phạm. Thần đã vâng
lời chỉ dụ. Nay sai người tới cống phương vật.
29

Xin triều đình trả lại các đất Quảng Nguyên và
Quảng Lang".
Triệu Tiết tâu về triều văn biểu, vua Tống chỉ
dụ: "Đợi sứ thần tới kinh rồi hãy phán xử về
cương giới". Tuy vẫn cho vào kinh nhưng vua tôi
nhà Tống nghi sợ nhà Lý có ý khác, nhân việc đi
sứ để tiến đánh, nên tăng cường quân ở khắp nơi
như Quế Châu, Ung Châu và Khâm Châu, để
giám sát chặt chẽ các hành vi của sứ bộ.
Vua Tống ban lệnh:
"Sứ Giao Châu tới kinh (Biện Kinh). Vì
chúng mới cướp nên phải lo đề phòng. Khi còn ở
dọc đường cũng như khi tới kinh, hễ chúng ra
vào phải cắt người giám thị. Vậy phải viết thư
cho Ty Kinh lược Quảng Tây và cho các viên hộ
tống phải mau mau báo cáo. Nếu dọc đường có
xảy ra việc gì, Ty Kinh lược chưa kịp bẩm thì
cho cứ việc thi hành".
Sứ bộ Đào Tông Nguyên rất khó nhọc dẫn đàn
voi đến kinh vào ngày mồng 2 tháng 9 năm Mậu
Ngọ (1078), khi đi qua kinh Hồ Bắc, viên chuyển
vận sứ ở đó không đủ phu hộ tống nên sứ thần
Việt Nam xin phép bỏ tiền ra thuê thêm phu phục
dịch cho voi.
Nhưng vua Tống Thần Tông không trả lại hai
châu cho nhà Lý, mà đòi vua Lý phải trả trước các
tù binh và nhân khẩu đã bị bắt năm trước mới trả
lại đất. Tống sử chép về việc này như sau:
30

"Khanh đã được triều đình cho coi cõi Nam
Giao, đời đời được ban vương tước. Thế mà
khanh đã bội đức, phụ mệnh, tới cướp phá các
biên thành, đã bỏ lòng trung thuận của cha ông,
làm phiền quân triều đình phải đi chinh phạt.
Đến lúc quan quân vào trong cõi, thế bức bách
rồi khanh mới quy hàng. Xét tội thì khanh càng
đáng bị truất chức.
Nay khanh đã sai sứ tới cống dâng, lời rất kính
cẩn. Xét rõ tư tình, trẫm thấy khanh đã biết hối.
Trẫm vỗ về vạn quốc không kể xa gần. Nhưng
khanh phải trả dân các châu Khâm, Ung mà
khanh đã đưa chúng đi xa làng mạc. Đợi khi nào
đưa chúng trở về hết, Trẫm sẽ lập tức lấy các
châu Quảng Nguyên ban cho khanh".
Sứ thần Việt Nam thay mặt vua Lý, đệ lời
vâng theo điều mà Tống Thần Tông đưa ra, hẹn
sẽ trả lại 1.000 quân và dân đã bắt ở ba châu
Khâm, Liêm và Ung. Vua Tống lại đặt thêm điều
kiện là phải trừng phạt những kẻ cầm đầu gây
chiến tranh, ý vua Tống muốn ám chỉ Lý Thường
Kiệt nhưng triều Lý không chấp nhận.
Sứ bộ Đào Tông Nguyên sang triều Tống để
đòi lại đất lần này đã không đạt được kết quả gì
ngoài lời hứa "sẽ trả" của vua Tống. Phía nhà Lý
cũng hứa là sẽ trả những người bị bắt.
Quan lại nhà Tống vẫn muốn chiếm giữ lâu
dài vùng này trong khi phải lo đối phó với cuộc
31

xâm lăng ở phía bắc và vùng Ung Châu đang gặp
khó khăn, tật dịch hỏa tai, quân lính ốm đau chết
mất quá nửa.
Nắm được tình hình ấy, Lý Thường Kiệt đã
đem trả một số ít tù nhân gồm đủ gái, trai, già,
trẻ. Việc áp giải tù nhân trao trả được giao cho sứ
bộ. Sách Việt sử thông giám cương mục đã ghi lại
việc trao trả dân Tống như sau:
"Các tù nhân được đưa từ Nghệ An về bằng
đường thủy. Cửa thuyền đều được trát bùn kín.
Trong thuyền luôn thắp đèn đuốc để tù nhân
không biết ngày đêm thế nào và cũng để không
thấy đường sá. Mỗi ngày chỉ cho thuyền đi từ
10 đến 20 dặm rồi dừng lại. Quân lính canh
thuyền giả đánh trống cầm canh, ngồi vào
trong thuyền nghe canh tưởng chừng đi vài
tháng mới tới nơi".
Ngày 13 tháng 10 năm 1078, các tù nhân
được đưa đến Quảng Tây. Ty Kinh lược Quảng
Tây tâu với vua Tống là Giao Chỉ đã trả 221
người và đã khắc vào mặt, tay các tù nhân: đàn
ông từ 15 tuổi trở lên thì thích vào trán chữ
"thiên tử binh" (quân lính của t...
 
Gửi ý kiến