Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

HUỆ TÍM

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:42' 19-02-2024
Dung lượng: 829.7 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
HUỆ TÍM VÀ NHỮNG CHUYỆN KHÁC
Nguyên tác: Iris und andere Märchen
Tác giả: Hermann Hesse
Dịch giả: Thái Kim Lan
Nhà xuất bản: NXB Đà Nẵng
Năm xuất bản: 1998
Số trang: 238
Thể loại: Cổ tích; Kinh điển
Đánh máy: Casau
Soát lỗi và làm ebook: Heoconmtv
Ngày hoàn thành: 07-01-2016
Nếu có điều kiện hãy mua sách để ủng hộ tác giả và nhà xuất bản nhé!

Lời giới thiệu
Một buổi sáng tinh mơ, tình cờ nhìn thấy bông hoa tươi xinh màu tím,
chú bé nghe tim mình rung động hướng về đóa hoa. Chú nhìn, ngắm, rồi quan
sát, cảm thấy mình và hoa là một - đóa hoa huệ có màu tím nhạt dịu dàng như
giấc mơ êm ái trong lòng mẹ... Chuyện Huệ tím bắt đầu bằng tên một bông
hoa và lòng thương mến hoa, thấy hoa và trái tim mình hòa với nhau một
nhịp như tay mẹ nắm tay con. Từ đó bắt đầu cuộc tìm kiếm khám phá sự bí
ẩn trong lòng hoa, mà cũng là chính mình, cuộc tìm kiếm chính là tìm lại sự
gặp gỡ trong trắng, ngây thơ ban đầu của hoa và người...
Có một chú bé được mẹ yêu vô cùng, mẹ nói lên một mơ ước mà tất cả
các bà mẹ trên đời đều có: ước mọi người đều yêu thương con mình. Mẹ yêu
con quá đến nỗi quên dạy con một điều: nếu được người yêu thì con nên biết
yêu người. Yêu người có thể đem lại niềm vui còn hơn chỉ được yêu. Chú bé
Augustus lên đường học yêu người đầy gian nan, và cuối cùng trở thành một
người cho mọi người, tìm được giá trị thật sự của con người.
Một chú bé khác lạc vào thiên đường, hỏi con chim muôn màu đang bay
lượn: “Chim ơi, hạnh phúc, vui sướng ở đâu?”. Chim bảo: “Hạnh phúc ở mọi
nơi, trên núi dưới đồi, trong hoa đua nở, trong ngọc sáng ngời”. Nào tìm đi,
như cuộc chơi trốn tìm, tìm niềm vui, mãi mãi, không bao giờ buồn. Chú bé
Bích Thảo đi khắp thiên đường. Chú biến thành một cái cây theo ước muốn
của mình. Lúc đầu chú vui sướng, tưởng đó là hạnh phúc, nhưng bỗng buồn,
vì thấy cây không thể nhúc nhích, trong túc mọi vật đều thay đổi. Cuộc dạo
chơi - gặp được nhiều điều, có khi lượm được viên ngọc quý đẹp - cuối cùng
cho cậu bé nhận ra được hai điều còn quý hơn ngọc: đó là sự đổi thay, biến
hóa của con người từ buồn qua vui, từ chim qua cá, từ cây sang mây, như hoa
tàn mùa đông sang xuân lại nở, sự biến hóa đổi thay là niềm hy vọng xanh
như mây bay, rực rỡ như bông hoa, cho nên con người bay trong mây trong
nắng, trong hoa; hạnh phúc là khi được hóa thân mà không bị xơ cứng, già
nua. Điều quý giá thứ hai mà chú bé thấy được là có một người bạn, nàng
Thanh Thảo, cùng vui, cùng buồn, không còn cô đơn, riêng lẻ. Cho nên

không có hạnh phúc cho riêng mình mà hạnh phúc với nhau, như Bích Thảo
xanh với Thanh Thảo xanh, là cùng nhau, là song đôi...
Có một chàng thi sĩ từ phương Đông, tên chàng ấy có vẻ từ nước Tàu
xưa. Ước mơ của chàng là trở thành thi sĩ giỏi nhất thế gian, nên miệt mài tìm
thầy học đạo. Chàng thi sĩ tìm được người thầy và học, và học, và học, cuối
cùng đạt đạo mà con người gọi là thi nhân, nhà thơ. Đạo “nhà thơ” là gì nhỉ?
Hình như nghe câu hỏi này, tác giả - một người phương Tây ấy nhé - cười, có
thể cười to và bảo với chúng ta: trong sách xưa - và cả nay - của ông bà các
bạn đã nói chuyện đó rồi, tôi chỉ học hỏi từ họ, những người phương Đông
rất xa xôi, và cảm nhận điều ấy, tôi đã tìm ra một nửa của tôi nơi đôi mắt
phương Đông khi tôi bắt đầu muốn làm thi sĩ. Đạo làm thi sĩ đơn giản như
tiếng cười hay tiếng khóc trẻ thơ: đó là bỏ Tâm phân biệt, nhìn thiên nhiên và
con người bằng trái tim chan hòa, không so đo cao thấp, mộng thực là một,
Đông Tây cùng nhau, tất cả đều chảy từ con tim rung động trước vũ trụ vô
cùng.
Tác giả đưa chúng ta đến một hành tinh rất tạ, ông gọi là “một hành tinh
trong chuyện cổ tích”. Một chàng trai trẻ tình nguyện đi tìm thật nhiều hoa để
về tẩm liệm cho những người chết trong trận động đất tại xứ của chàng.
Người thiếu niên đẹp từ thể xác đến tâm hồn ấy không biết chiến tranh là gì,
chàng chỉ nghe kể lại như một chuyện cổ tích, đối với chàng “thế giới độc ác
và chiến tranh chỉ có trong chuyện xưa”. Trên đường đi tìm hoa mang về cho
người làng, chàng được một con chim khổng lồ đưa lạc vào hành tinh của
chiến tranh, những cánh đồng đầy thây người, súc vật thối rữa, nhà cửa bị
thiêu rụi hoang tàn, một hành tinh đau khổ so với hành tinh hòa bình và nhân
ái chàng đang sống. Chuyện “cổ tích” mà chàng thường nghe bỗng hiển hiện
trước mắt, chàng thấy trái tim mình quặn đau trước tang thương... Kết thúc
truyện, chàng gặp được nhà vua, xin đủ hoa đem về làm lễ hiến dâng cho
người chết. Cuộc du hành vào hành tinh xa lạ rồi cũng trôi qua như một giấc
mơ hay như nghe một câu chuyện cổ tích.
Thông thường, truyện cổ tích là những chuyện đời xưa về một thế giới an
hòa mà con người ở trong hiện tại mơ về, vì thực tế hiện tại trần trụi buồn bã,
khổ đau. Nhưng ở đây, tác giả viết về thế giới đang có chiến tranh lại là quá
khứ, là thời xưa, là cổ tích, còn hiện tại là một thế giới hòa bình, đại đồng,
người chết phải có hoa đưa tiễn, con người giúp đỡ lẫn nhau, thế giới của hoa
và mật, êm ái, ngọt ngào. Nhưng thực hay mơ đều cụ thể, đều là những cảm

xúc trong tim của chàng trai trẻ. Rốt cùng chàng trai nhận ra, chính trong
TÂM của mỗi người đều có chiến tranh và hòa bình, đau khổ và hạnh phúc,
cảm nhận cả hai trong tình thương và hành động hàn gắn vết thương, như cử
chỉ vừa xây nhà vừa hát bài ca từ bi có thể đem đến sự bình an cho tâm hồn.
Năm truyện cổ tích được giới thiệu trong tập sách với các bạn đọc Việt
Nam được trích từ tập Truyện cổ tích (Maerchen) của tác giả người Đức
Hermann Hesse (1877 - 1962), một đại văn hào của thế giới. Từ những thập
niên đầu thế kỷ 20 cho đến ngày nay, tác phẩm văn chương của ông đã làm
say mê người đọc trên khắp năm châu. Tác phẩm tiếng Đức của ông như Câu
chuyện dòng sông (Sidhartha), Sói đồng hoang (Steppenwolf), Trò chơi bi
chai (Glasperlenspiel), Đôi bạn chân tình (Narziss und Goldmund),
Demian... được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới và có thể nói được đọc
nhiẻu nhất trong lịch sử văn học thế giới. Năm 1946, ông đoạt giải Nobel văn
chương, cùng năm đó được trao tặng Giải thưởng Goethe và sau đó là Giải
thưởng Hòa bình ở Đức. Sự nghiệp văn chương của ông bao gồm nhiều thể
loại, đa dạng, sâu sắc và tài hoa: truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký, nhật ký, tự
sự, thơ, họa... Truyện Bích Thảo hóa thân do chính ông vẽ minh họa. Mặc dù
sự nghiệp văn chương lớn lao, nhưng ông dành sự chú tâm của ngòi bút vào
sáng tác truyện cổ tích, một thể loại văn chương bình dân. Dưới ngòi bút của
ông, cổ tích bình dân trở thành cổ tích nghệ thuật.
Không phải là một ông già ngồi kể chuyện cổ tích mà là một cậu bé lên
mười kể chuyện, một bông hoa, một hương thơm, một tiếng chim kêu, một
nốt nhạc, một giọt nước mắt... Cũng không phải ông lão già nua, mà là một
người trung niên, lúc tuổi bốn mươi, đã mạnh dạn cho ra đời tập truyện cổ
tích đầu tiên (1919), Huệ tím (Iris) được viết năm 1916. Đối với ông, tuổi thơ
của đời người là đoạn đời không những đẹp mà còn quan trọng nhất. Tuổi thơ
ấn định cả cuộc sống chung và riêng của con người với mọi người, với vạn
vật xung quanh. Những cảm nhận đầu tiên trong mắt của một đứa bé là
những gì chân thực đến từ trái tim và trực tiếp từ con tim, làm nên hạnh phúc.
Bỏ quên tuổi thơ, con người lao đao đau khổ vì mất phương hướng nhận ra
nguồn gốc con người.
Đối với Hermann Hesse, TRẺ - GIÀ gần nhau như bóng với hình, trong
trẻ đã có già và trong già không được mất trẻ. Tìm lại được tuổi thơ là tìm lại
được giá trị đích thực của đời người. Tinh yêu tuổi thơ, giữ được tuổi thơ làm
cho con người hạnh phúc hơn, bao dung hơn.

Đọc truyện cổ tích của Hermann Hesse hôm nay là một lời mời cùng với
tác giả đi thăm vườn hoa tuổi thơ trong hiện tại, để nhớ về tuổi thơ đã qua
quý giá đến chừng nào và để thương yêu những nụ hoa non mới chớm nở, để
rồi TRẺ CÙNG GIÀ, mở lòng từ bi, yêu mến mọi người mọi vật trên thế
gian.
Dịch giả

Huệ tím
Trong mùa xuân của thời thơ dại, Anselm thường thơ thẩn chạy khắp khu
vườn xanh lá cây. Cậu bé yêu đặc biệt một bông hoa giữa các loài hoa của
mẹ: Hoa huệ tím[1]. Cậu thường áp má mình vào những chiếc lá dài màu
xanh, tẩn mẩn ấn ngón tay mình vào đầu ngọn lá nhọn, hoặc vừa ngửi; vừa
hít nụ hoa lớn đẹp huyền diệu kia và nhìn lâu vào tận trong đóa hoa. Ở đó,
vươn lên từ nền hoa màu xanh tím nhạt những ngón tay màu vàng xếp thành
hàng dài, giữa những búp măng vàng ấy hun hút một ngõ sáng đi sâu vào đài
hoa, và sâu hơn nữa vào tận trong chỗ bí ẩn xa xôi màu xanh da trời của nụ
hoa. Cậu bé yêu say mê nụ hoa, thường mở to mắt nhìn rất lâu vào trong hoa
để thấy phần màu vàng thanh tao ấy, khi thì thấy giống một hàng rào bằng
vàng ở vườn thượng uyển, lúc lại giống một lối đi có hai hàng cây mơ mộng
đẹp đẽ viền quanh, hàng cây huyền ảo không bị gió lay động và ở giữa
chúng, có con đường sáng bí ẩn; được viền bằng những đường gân mờ nhạt
mềm mại và linh động chạy dài vào trong nội tâm của hoa. Vòm hoa tỏa rộng
dị kỳ. Lùi vào bên trong, con đường giữa hai hàng cây bằng vàng mất hút vô
tận trong “yết hầu” của hoa. Trên con đường ấy, những vòm tím nhạt uốn
mình xuống một cách cao quý, chiếu bóng đen mỏng manh kỳ ảo với một sự
mầu nhiệm yên lặng và chờ đợi. Anselm biết đây là miệng hoa, còn tim và ý
nghĩ của hoa ở sau những điểm vàng lộng lẫy trong chốn yết hầu xanh thẳm,
hơi thở và những giấc mơ của hoa thoát ra đi vào con đường vân xinh xắn,
sáng sủa và trong suốt.

Bên cạnh đóa hoa lớn, những búp hoa nhỏ hơn còn chưa hé nở, đứng trên
cuống hoa mọng nước chắc cứng, trong cái đài nhỏ màu xanh nâu. Búp hoa
non nớt trồi lên lặng lẽ, kín đáo nhưng đầy sức lực được cuốn tròn chắc nịch
và dịu dàng; bọc kín trong màu xanh sáng, và màu tím nhạt; ở đầu nhọn xinh
xinh, ló ra màu tím thẫm trẻ măng. Ngay trên những búp non cuốn chặt này
cũng có những đường gân và trăm ngàn đường nét để nhìn ngắm rồi.
Mỗi buổi sáng, khi cậu bé trở lại vườn từ căn nhà, từ giấc ngủ, từ cơn mơ,
từ những thế giới xa lạ trong cơn mơ ngủ, khu vườn vẫn ở đó, luôn luôn mới
nguyên và chờ đợi cậu. Rồi ở nơi mà hôm qua cái mũi búp hoa cứng nhọn
màu xanh lơ cuốn tròn trong vỏ xanh còn đứng bất động; giờ đã lấp ló một
cánh non mỏng và xanh như khí trời, như một cái lưỡi và một cái môi, đang
tìm kiếm hình dáng và nét cong mà cánh hoa đã mơ ước từ lâu. Ở tận cùng
nhất, nơi nụ hoa còn đang âm thầm tranh đấu để thoát ra khỏi bức màn lá
xanh cuốn quanh mình, người ta đã thấy lờ mờ những cánh mỏng thanh tao
màu vàng, con đường đầy gân sáng rỡ và vực thẳm linh hồn xa xăm đầy
hương thơm của nụ hoa. Có lẽ đến trưa, có lẽ xế chiều, hoa hé nở, căng tấm
màn lụa xanh trên khu rừng mơ mộng bằng vàng; những giấc mơ đầu tiên,
những ý nghĩ, lời ca xuất hiện thầm lặng từ hố thẳm đầy ảo thuật bắt đầu hít
thở khí trời.
Có một ngày, đầy hoa hình chuông màu xanh đứng chụm nhau trong cỏ.
Rồi lại có một ngày, bỗng nhiên âm vang tiếng lạ và hương thơm mới trong
vườn; trên đám lá đỏ đượm thắm mặt trời, phất phơ những đóa trà mi mềm
mại đỏ thắm. Rồi lại có một ngày không còn đóa hoa huệ nào trong vườn
nữa. Chúng đã ra đi. Không còn con đường nhỏ viền vàng nào dẫn dắt ta một
cách dịu dàng vào bí mật thơm ngát. Những ngọn lá cứng ngắc đứng trơ xa
lạ, lạnh lùng. Nhưng may sao, đâu đó ở các bụi cây, từng đàn, từng đàn bươm

bướm dập dìu đùa cợt trên hoa ngôi sao. Những con bướm nâu đó có lưng
óng ánh xà cừ, bầy bươm bướm nắc nẻ nhộn nhịp ồn ào; cánh trong như thủy
tinh.
Anselm nói chuyện với bướm, với những viên sỏi trong vườn, làm bạn
với bọ rầy và chim sáo. Chim kể cho cậu nghe chuyện loài chim, cây dương
xỉ kín đáo chỉ cho cậu hạt giống nâu đã được gom lại dưới những ngọn lá
khổng lồ. Những mảnh thủy tinh hứng cho cậu tia sáng mặt trời, chúng bỗng
hóa thành lâu đài, vườn cây và các kho tàng chói lọi. Khi hoa huệ tàn thì hoa
kapuziner[2] lại nở, đóa trà mi héo thì những chùm dâu sặc sỡ nhuốm màu
nâu. Tất cả đều đổi thay, tất cả luôn luôn ở đó, và luôn luôn lìa xa, biến mất
rồi trong khoảnh khắc lại trở về. Ngay cả những ngày hãi hùng bất thường,
cơn gió lạnh lùng rít ầm ĩ trên ngọn cây thông, đám lá úa đùa xào xạc tái tê và
rũ rượi khắp nơi trong vườn, vẫn mang đến cho cậu một bài ca, một nhịp
sống, một câu chuyện; kể cả khi tất cả sụp xuống, tuyết rơi trước cửa sổ, khi
các thiên thần bay cùng tiếng chuông bạc suốt cả buổi chiều, hành lang cùng
nền nhà thơm ngát mùi trái cây phơi khô. Không bao giờ tình bạn hữu và
niềm tin lại phụt tắt ở thế giới tốt lành này. Như một sự ngẫu nhiên, những
chùm hoa tuyết xuất hiện sáng rỡ bên cạnh đám lá trường xuân đằng đen sì,
những chú chim đầu tiên bay vút lên khoảng cao xanh mới mẻ, thì dường như
mọi vật vẫn luôn luôn còn đó, đứng đó tự bao giờ.
Cho đến một hôm, búp non màu tím nhạt lấp ló từ những chồi ngọc của
hoa huệ tím, vẫn luôn luôn đúng hẹn và như mong đợi.
Tất cả đều đẹp đẽ. Anselm mừng đón tất cả đầy thân thiết, tin cẩn. Nhưng
giây phút lớn lao nhất, đầy mầu nhiệm hằng năm đối với cậu bé vẫn là lúc
đón đóa huệ tím đầu tiên. Chính ở trong đài hoa ấy, trong giấc mơ trẻ thơ xa
xưa, lần đầu tiên trong đời cậu đã đọc được quyển sách của phép nhiệm mầu
- hương thơm và màu xanh rung rinh của hoa là lời mời gọi và chìa khóa của
sáng tạo. Huệ tím cùng với cậu đã đi qua những năm dài trong trắng ngây
thơ. Mỗi mùa hè mới, hoa không những mới nguyên mà còn như tăng vẻ bí
mật và dễ cảm hơn. Những loài hoa khác cũng có miệng, cũng gửi hương và
ý tưởng cho gió truyền đi, cũng quyến rũ ong và bọ rầy vào trong phòng the
nhỏ bé ngọt ngào của chúng. Nhưng đối với cậu, đóa huệ tím vẫn đáng yêu
hơn và quan trọng hơn tất cả. Với cậu, huệ tím là biểu tượng, là tấm gương
cho tất cả những gì đáng được suy ngẫm, cho những gì tuyệt vời tuyệt tác.
Khi cậu cúi nhìn vào đài hoa, theo dõi say sưa bằng ý tưởng con đường nhỏ

trong sáng mơ mộng và gặp gỡ lòng hoa còn u minh giữa những hàng cây
màu vàng kỳ ảo, tâm hồn cậu đã nhìn thấu vào chốn “nhập môn”, nơi mà mọi
sự xuất hiện đều trở thành bí nhiệm và mọi sự “thấy” đều trở nên linh cảm.
Nhiều đêm, cậu bé mơ nhiều lần về cái đài hoa đó; thấy đài hoa mở rộng vô
cùng ở trước mặt như cánh cửa Thiên đường, thấy mình cưỡi ngựa hay ngồi
trên thiên nga bay vào trong đó và cả thế giới cũng theo cậu nhẹ nhàng lướt,
bay, trượt như bị thu hút bằng ảo thuật vào trong yết hầu mỹ miều của hoa,
vào sâu xuống dưới, ở đó mọi sự chờ đợi đều được đền đáp và mọi linh cảm
đều trở thành chân lý.
Mỗi sự xuất hiện trên địa cầu là một biểu tượng và mỗi biểu tượng là một
cánh cửa mở ngó cho linh hồn sẵn sàng đi vào nội tâm của thế giới nơi mà
người với tôi vĩnh viễn là một. Mỗi người trong đời mình đều đã gặp đâu đây
trên đường đi cánh cửa mở ngỏ đó, ai cũng có một lúc nào đấy bất chợt nghĩ
rằng tất cả những điều mắt thấy tai nghe đều là biểu tượng, sau biểu tượng
này hiển hiện cõi tâm linh và đời sống vĩnh cửu. Nhưng ít người đã đi qua
cánh cửa mở đó và chịu đánh đổi vẻ đẹp bên ngoài để lấy cái thực chất nội
tâm còn lờ mờ trong tâm khảm.
Đối với Anselm, đóa hoa tím xanh lơ kia xuất hiện như một câu hỏi ám
ảnh tâm trí cậu đòi hỏi phải có lời giái đáp. Nhưng rồi vạn vật muôn màu
muôn vẻ đáng yêu lại lôi kéo cậu đi nơi khác, vào những cuộc tỉ tê, đùa giỡn
với đá sỏi, với cỏ dại bụi cây, với côn trùng và với tất cả tình bằng hữu của
cậu với thế giới bé nhỏ ấy. Có khi cậu đắm mình ngắm nghía, quan sát chính
bản thân mình, trao trọn tâm tư vào những điều khác lạ của thân thể, nhắm
mắt nghe những cảm xúc kỳ lạ, những kích thích và tưởng tượng trong cổ và
mồm mỗi khi nuốt, hoặc khi hát hay thở, và cảm nhận được ngay cả nơi linh
hồn bắt nhịp với linh hồn. Cậu quan sát một cách ngạc nhiên những hình màu
đầy ý nghĩa thường xuất hiện trong bóng tối đỏ bầm khi nhắm nghiền đôi
mắt, các vòng bán nguyệt màu xanh lơ hoặc đỏ thẫm có những đường nét
sáng trong chen vào giữa... Đôi khi Anselm lại cảm nhận với nỗi xúc động
vừa vui vừa sợ hãi sự liên hệ giữa thị giác và thính giác, giữa khứu giác và vị
giác và cảm nhận trong một khoảnh khắc đẹp ngắn ngủi thanh âm, lời và các
vần chữ thân thuộc với nhau, sự đồng loại giữa màu đỏ với màu xanh, giữa
cứng và mềm, hoặc cậu kinh ngạc khi ngửi một ngọn rau hay một rễ cây xanh
được bóc ra, hương vị sao mà giống nhau đến thế, có khi chúng lại tan hòa
vào nhau và trở thành vị duy nhất một cách diệu kỳ.

Mọi trẻ thơ đều cảm thấy như vậy dù cho cường độ nhạy cảm khác nhau.
Ở rất nhiều trẻ thơ, những lắng nghe, khám phá đó thường biến mất như chưa
bao giờ hiện hữu, trước khi đứa trẻ đọc được vần chữ đầu tiên. Nhưng một số
đứa trẻ, vẻ bí nhiệm của tuổi thơ vẫn còn lẩn quẩn và chúng vẫn mang theo
dư âm của nó cho đến lúc tóc nhuốm màu sương, trong những ngày muộn
màng mệt mỏi của cuộc đời. Mọi trẻ thơ, khi chúng thấy cuộc sống giấu đầy
bí mật, đều bận tâm với một điều quan trọng nhất: bản thân mình và mối
quan hệ đầy bí ẩn giữa mình và thế giới xung quanh. Kẻ đi tìm và nhà hiền
triết thường quay về mối bận tâm này sau những năm chín muồi suy tư, còn
phần đông thì quên lãng và rời bỏ rất sớm thế giới nội tâm kia vĩnh viễn, để
suốt đời lang thang trong những sai lầm hỗn tạp đầy những lo âu, ước muốn
và mục đích, trong đó không có cái gì hiện hữu trong nội tâm sâu kín của họ,
không gì có thể dẫn dắt họ tìm đến cõi lòng sâu xa nhất và trở lại quê nhà
được.

Những mùa hè và mùa thu trẻ dại của Anselm cứ đến dịu dàng và đi nhẹ
nhàng. Hoa tuyết chuông, hoa tím, hoa đinh tử; hoa huệ, hoa hồng... thay
nhau nở rồi tàn, rồi lại nở, vẫn đẹp đẽ và phong phú như tự bao giờ. Anselm
sống với hoa, chim; hoa tâm sự với cậu, cây và suối lắng nghe cậu, và cậu
thường đem những chữ tập viết đầu tiên, những âu lo đầu tiên giãi bày với
khu vườn, với mẹ, với những viên đá sặc sỡ ở bồn hoa.
Rồi có một mùa xuân, mùa xuân ấy không rộn rã và đượm mùi như các
mùa xuân trước, chim sáo hót véo von nhưng lời ca không phải bài hát cũ,
hoa huệ tím nở nhưng không còn những giấc mơ, hình dáng thần thoại với
con đường viền vàng của đài hoa. Những trái dâu đó tươi cười núp sau đám
lá xanh và bươm bướm vẫn bay rộn ràng lấp lánh trên những tán hoa cao...
Nhưng tất cả không còn như trước, cậu bé bận tâm với nhiều chuyện khác.

Ngay với mẹ, cậu cũng đã nhiều lần gây gổ. Chính cậu cũng không hiểu
duyên cớ tại sao, có điều gì làm cậu đau đớn trong lòng, có một điều gì đấy
luôn luôn quấy rầy cậu. Chỉ biết là thế giới đã đổi thay, tình bằng hữu từ
trước đến nay đã rơi rụng và để lại cậu trơ trọi một mình.
Một năm trôi qua, rồi một năm nữa, Anselm không còn là một chú bé
con. Những viên sỏi sặc sỡ ở bồn hoa trở nên buồn chán, những đóa hoa như
hóa câm và đám bọ rầy bị cậu lấy kim xâu bỏ vào hộp: linh hồn cậu đang
bước vào con đường dài và chông gai. Những tình cảm thuở trước đã không
còn nữa.
Chàng trẻ tuổi vội vã lăn xả vào đời, cuộc đời như mới bắt đầu từ đây. Đã
qua rồi và chìm trong lãng quên cái thế giới biểu tượng ngày xưa, những ước
mơ mới mẻ và con đường mới lạ quyến rũ cậu đi xa. Có chăng là một chút trẻ
dại còn thoang thoảng như một làn hương trong ánh mắt xanh và phất phơ
trong mớ tóc mềm mại của chàng, nhưng chàng không thích điều đó. Chàng
cắt tóc ngắn đi và sửa ánh mắt cho có vẻ bạo tợn, sành sỏi hơn lên. Chàng
thay đổi nhanh chóng theo năm tháng. Khi là một người học trò và bạn tốt,
khi trơ trọi và rụt rè, khi vùi đầu trong vở đến khuya, lúc lại điên cuồng ồn ào
trong những quán rượu. Chàng phải rời quê nhà và chỉ gặp lại quê cũ trong
những lần hiếm hoi về thăm nhà ngắn ngủi. Về nhà với mẹ, chàng bây giờ là
một chàng trai trưởng thành, ăn diện thanh lịch. Chàng thường mang theo bạn
bè, sách vở, luôn luôn có những thứ khác lạ. Khi chàng đi qua khu vườn cũ,
khu vườn thu lại bé nhỏ và bặt tiếng trước tia nhìn lơ đãng của chàng. Chàng
không bao giờ nhìn thấy nữa những câu chuyện ở đường gân sặc sỡ của các
viên sỏi và lá cây. Chàng không bao giờ nhìn ra thượng đế và sự vĩnh cửu ở
vẻ bí mật của đóa hoa huệ tím nữa.
Anselm là học trò, rồi sinh viên, chàng trở về quê với mũ đỏ, rồi mũ
vàng, với vành râu mép lơ thơ và rồi với một bộ râu. Chàng mang sách ngoại
ngữ về, có lần mang theo một con chó. Và trong cặp da treo ở ngực, khi thì
đầy ắp những bài thơ mới viết, khi thì mấy tờ giấy chép những câu danh ngôn
xưa, tranh họa và thư từ của các cô gái đẹp. Chàng trở về quê sau một thời
gian sống ở ngoại quốc và lênh đênh trên những con tàu ngoài biển khơi.
Chàng trở về là một học giá trẻ, mang mũ đen và bao tay màu sẫm. Những
người láng giềng cũ ngả mũ khi gặp chàng và gọi chàng là “ông giáo sư” dù
chàng chưa phải là giáo sư. Chàng trở về, mặc áo tang, đi lặng lẽ và nghiêm
trang sau chiếc xe tang mẹ chàng yên ngủ trong chiếc quan tài kết hoa. Và từ

đó, những lần chàng trở về càng hiếm hơn.
Bấy giờ Anselm sống ở đô thị, dạy sinh viên và được xem là học giả nổi
tiếng. Chàng sống cũng giống mọi người trên thế gian, cũng đi, cũng dạo
chơi, cũng ngồi, cũng đứng, trong y phục trang nhã, nghiêm nghị hay thân
mật với đôi mắt nhanh nhẹn và đôi khi hơi mệt mỏi. Chàng đã là một nhà
nghiên cứu, một nhân vật đúng như chàng mong muốn. Lúc bấy giờ, tâm
trạng chàng giống như những năm cuối thời trẻ thơ. Chàng bỗng thấy thời
gian trôi quá nhanh còn mình vẫn đứng trơ trọi và không thỏa mãn ở thế gian,
thế gian mà chàng luôn luôn mải mê theo đuổi. Chàng nhận thấy làm giáo sư
không phải là hạnh phúc thực sự, được dân chúng, sinh viên chào đón kính
trọng cũng không phải là một hứng thú sung mãn. Tất cả điều đó sẽ tàn úa và
biến thành cát bụi, hạnh phúc xa vời trong tương lai còn con đường đi đến đó
xem ra nóng nực, bụi bặm và tầm thường.
Anselm hay đến chơi nhà một người bạn có cô em gái thu hút chàng. Bây
giờ chàng không dễ dàng chạy theo một khuôn mặt đẹp nữa, chàng nghĩ hạnh
phúc phải đến với mình một cách đặc biệt hơn và không nằm sau mỗi cánh
cửa. Chàng rất thích cô em gái của người bạn, thậm chí chàng nghĩ mình yêu
nàng thật tình. Nhưng nàng là một cô gái đặc biệt, mỗi bước đi, mỗi lời nói
của nàng đều được tô điểm một vẻ riêng và thật không dễ dàng đến được với
nàng, bắt đúng nhịp với nàng. Anselm thường băn khoăn về cô bạn gái.
Chàng đi đi lại lại một mình trong nhà, nghe tiếng bước chân của mình, lòng
ngổn ngang những ý nghĩ. Nàng lớn tuổi hơn mình, nàng rất kỳ cục và chắc
sẽ rất khó khăn nếu vừa sống với nàng vừa muốn theo đuổi tham vọng. Nàng
không bao giờ muốn nghe nói đến chữ “tham vọng”. Nàng không khỏe mạnh
lắm và không thể chịu đựng khách khứa, tiệc tùng. Nàng thích sống với hoa,
âm nhạc, với một quyển sách bên mình trong sự yên tĩnh cô đơn, chờ đợi xem
có ai đến với mình không và để mặc thế giới trôi xuôi. Đôi khi nàng rất mỏng
manh, dễ cảm đến nỗi một chút xa lạ cũng khiến cho nàng đau đớn và chảy
nước mắt. Rồi sau đó nàng lại rực rỡ một cách trầm tĩnh và thanh thoát với vẻ
hạnh phúc riêng tư. Những ai biết điều đó đều cảm thấy thật khó để trao tặng
cho người đàn bà đẹp hiếm có này một điều gì hoặc để có một ý nghĩa nào đó
đối với nàng. Anselm tin nàng yêu mình, nhưng đôi khi chàng lại thấy hình
như nàng chẳng yêu ai mà dịu dàng và thân mật với tất cả. Nàng không để ý
một thứ gì trên thế gian, chỉ muốn được yên tĩnh. Còn chàng, thì lại muốn đòi
hỏi ở đời sống một thứ khác nữa và nếu như chàng lấy vợ thì tiếng rộn rã, sự

hiếu khách phải có ở trong nhà mới được.
Một hôm chàng nói với nàng: “Iris, Iris thân yêu, nếu thế giới khác đi,
nếu không có gì khác ngoài thế giới đẹp đẽ và dịu dàng với hoa, tư tưởng và
âm nhạc của em, thì tôi không ao ước gì hơn là được sống suốt đời bên em,
nghe em kể chuyện. Riêng tên của em thôi cũng đủ làm tôi dễ chịu, Iris là
một tên tuyệt diệu, hình như tên đó nhắc nhở tôi một điều gì”.
Iris đáp: “Anh biết hoa huệ tím mang tên Iris chứ?”
“Có,” chàng kêu lên trong cảm giác lo sợ; “tôi biết và điều đó cũng đã
đẹp rồi. Nhưng mỗi khi tôi nói tên em thì dường như tên em muốn nhắc cho
tôi một điều gì đó, hình như nó gắn liền với kỷ niệm sâu xa và trọng đại đối
với tôi, nhưng tôi không biết và không tìm ra được”.
Iris mỉm cười với chàng, trong lúc chàng đứng trơ ra đó và lấy tay lau
trán.
“Mỗi lần em đều cảm thấy như thế,” nàng nói bằng giọng nhẹ như chim,
“khi em ngứi một bông hoa. Mỗi lần tim em đều cho rằng gắn liền với hương
thơm kia luôn luôn có một kỷ vật để nhớ đến, một cái gì đẹp và quý báu tuyệt
trần, kỷ vật đó trước đây là của em và bị đánh mất đi. Với âm nhạc và đôi khi
với thơ văn cũng thế, ở đó đột nhiên lóe sáng một vật gì trong chớp mắt, ví
như khi người ta thấy lại được quê hương đã mất bỗng nhiên hiện ra trong
thung lũng dưới chân mình và rồi giây phút đó biến mất đi và bị quên lãng.
Anselm thân mến! Em tin rằng chúng ta hiện hữu ở trên quả đất này có ý
nghĩa cho sự hồi tưởng, tìm kiếm và lắng nghe những hình dáng màu sắc âm
thanh đã mất, và quê hương thật sự của chúng ta chính là ở đằng sau đó”.
“Em nói hay quá!” Anselm nói và cảm thấy trong lồng ngực nhói lên một
rung động gần như đau đớn, như có một cây kim chỉ nam được giấu kín bỗng
bật ra chỉ ngay vào mục tiêu xa xăm nào đó. Mục tiêu này hoàn toàn khác với
mục tiêu mà chàng nhắm cho đời mình, điều đó làm chàng đau đớn. Chàng tự
hỏi mình có nên phung phí cả cuộc đời trong những giấc mộng với những
chuyện thần thoại đẹp đẽ kia không?
Bẵng đi một dạo, một hôm, Anselm trở về từ một cuộc viễn du cô đơn;
thấy gian phòng trống trải chào đón mình lạnh lẽo và ngột ngạt, chàng liền đi
đến thăm bạn và nghĩ sẽ cầu hôn nàng Iris xinh đẹp.
Chàng nói với nàng: “Iris ơi! Tôi không muốn tiếp tục sống thế này nữa.
Em luôn là người bạn tốt của tôi, tôi phải nói với em tất cả. Tôi phải có vợ

nếu không thì cuộc sống sẽ trống rỗng và vô nghĩa. Và tôi có thể ao ước một
người vợ nào khác hơn là em, đóa hoa yêu quý? Em có bằng lòng không hở
Iris? Em sẽ có tất cả các loài hoa có thể tìm được trên thế gian, em sẽ có một
khu vườn đẹp nhất thế gian. Em có muốn đến với tôi không?”
Iris im lặng nhìn rất lâu vào mắt chàng. Nàng không mỉm cười và không
đó mặt, rồi trả lời bằng giọng chắc chắn:
“Anselm à, em không ngạc nhiên về câu hỏi của anh, em yêu anh dù
không bao giờ nghĩ sẽ trở thành vợ anh. Nhưng nghe đây, người bạn của em,
em sẽ có những đòi hỏi to lớn với ai muốn lấy em làm vợ. Em có những đòi
hỏi lớn hơn những người đàn bà khác. Anh muốn hiến dâng cho em nhiều
hoa và có ý tốt với em. Nhưng em có thể sống không có hoa và không có âm
nhạc, em có thể làm điều đó và không đòi hỏi nhiều thứ khác nếu cần phải
thế. Chỉ có một điều em không thể và không muốn thiếu đi: Đấy là em không
thể sống một ngày mà thứ âm nhạc trong con tim của em không phải là điều
chính yếu. Nếu em sống với một người chồng thì người đó phải là người có
âm nhạc nội tâm hòa hợp tốt đẹp và thanh thoát với tiết tấu âm thanh của em,
và hơn nữa âm nhạc của người ấy phải là ước muốn duy nhất của đời chàng.
Anh có thể làm được như vậy không hỡi bạn của em? Có lẽ rồi anh sẽ không
được nổi tiếng và không có danh vọng nữa, nhà của anh sẽ yên tĩnh và các
nếp nhăn ở trên trán anh mà em đã thấy từ bao năm qua phải được rửa trôi đi.
Ồ Anselm ơi! Không được đâu. Hãy xem, con người anh vẫn như thế, vẫn là
người cứ phải học cho đến khi những nếp nhăn ở trán cày sâu thêm, vẫn là
người luôn tạo ra những lo âu mới. Còn em và tâm tư của em, anh có yêu
thích và thấy hay hay đấy, nhưng anh và nhiều người khác cũng chỉ xem như
một trò chơi thanh nhã. Anh nghe em đây: tất cả những gì anh coi là trò chơi
thì với em chính là cuộc sống. Anh cũng phải coi đó là cuộc sống của anh.
Còn tất cả những gì anh đã phải cực nhọc và lo âu làm nên thì đối với em cái
đấy là trò chơi, và theo em chắng đáng giá gì cho cuọc sống của chúng ta. Em
sẽ không thay đổi đâu, Anselm à, bởi vì em sống theo quy luật của trái tim
mình. Nhưng anh có thể thay đổi không? Và anh sẽ phải thay đổi, nếu muốn
lấy em làm vợ”.
Bị đánh trúng tâm lý, Anselm im lặng trước ý muốn của nàng, ý muốn mà
chàng đã cho là yếu ớt và đùa bỡn. Chàng câm nín bóp nát một bông hoa
trong bàn tay run rẩy của mình. Iris dịu dàng lấy bông hoa ở tay chàng ra, cứ
chỉ này như một lời trách móc đâm thẳng vào tim chàng. Nàng bỗng mỉm

cười một cách rạng rỡ và đáng yêu, như khi bất ngờ tìm ra trong bóng tối một
lời giải đáp.
Nàng nói nhỏ nhẹ và mặt hơi đỏ lên: “Em có một ý kiến, có lẽ anh sẽ thấy
nó kỳ cục và cho đó là một ý tưởng điên rồ, nhưng không điên rồ chút nào
đâu. Anh muốn nghe chăng? Và anh có muốn chấp thuận nó để nó quyết định
cho chúng ta chăng?”
Anselm chăm chú nhìn cô bạn gái mà chẳng hiểu gì cả. Nụ cười mỉm của
nàng buộc chàng đồng ý.
“Em muốn giao cho anh một công việc”, nàng nói và bỗng trở nên
nghiêm trang.
“Này, em hãy nói đi, đó là quyền của em” Anselm trả lời.
Nàng nói: “Đây là điều quan trọng của em và là lời nói cuối cùng của em.
Anh có muốn đón nhận nó như nó đến từ linh hồn của em và không mặc cả
so đo, dù cho anh không hiểu ngay điều đó không?”
Anselm hứa. Bây giờ nàng vừa nói vừa đứng dậy và đưa tay cho chàng.
“Nhiều lần anh đã nói với em là mỗi khi nói tên em, anh đều cảm thấy
nhớ đến một điều gì đó đã bị lãng quên nhưng đối với anh là rất trọng đại và
thần thánh. Đó là một dấu hiệu, Anselm à; và điều đó đã thôi thúc anh đến
với em. Em cũng tin là anh đã đánh mất và quên đi một điều gì quan trọng và
thần thánh trong tâm hồn mình, điều đó cần phải được đánh thức lại, trước
khi anh có thể tìm ra hạnh phúc và đạt tới định mệnh của anh: Hãy đi và hãy
nhìn cho đến khi tìm lại được trong ký ức điều đó, điều mà anh nhớ đến mỗi
khi anh gọi tên em. Ngày nào anh tìm ra được thì ngày ấy em sẽ là vợ anh, sẽ
đi với anh đến nơi nào anh muốn và sẽ không có ước muốn nào nữa ngoài
ước muốn của anh”.
Chàng Anselm bối rối, bàng hoàng muốn ngắt lời nàng và trách rằng lời
yêu cầu thật điên rồ, nhưng ánh mắt trong sáng của nàng nhắc nhở lời chàng
đã hứa nên chàng phải im lặng. Với cặp mắt mỏi mệt và chịu thua, chàng
nắm lấy tay nàng, đưa lên môi hôn và từ giã.
Trong đời chàng đã nhận nhiều bổn phận, và đã giải quyết chúng, nhưng
không bổn phận nào kỳ lạ, quan trọng mà lại làm chàng nản chí như bổn phận
này. Ngày ngày, chàng đi lang thang và ngẫm nghĩ về nó đến mệt đừ, có lúc
chàng tuyệt vọng và giận dữ cho rằng đây là tính khùng của đàn bà, định từ
bỏ không nghĩ đến nữa. Nhưng rồi trong thâm tâm chàng, có điều gì, như một

nỗi đau bí ẩn và mỏng manh, một nhắc nhở không lời rất dịu dàng phản đối
lại ý nghĩ đó. Giọng nói nhỏ nhẹ, giọng nói đi từ thâm tâm của chính chàng,
đã đồng tình với Iris và cũng đòi hỏi như nàng vậy.
Công việc đó quả thật là khó khăn. Chàng phải nhớ lại điều mà từ lâu đã
quên khuấy đi, phải gỡ cho ra sợi dây vàng duy nhất khỏi tấm lưới nhện...
 
Gửi ý kiến