Giáo án tổng hợp

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trương Thùy Linh
Ngày gửi: 10h:15' 27-02-2024
Dung lượng: 669.9 KB
Số lượt tải: 39
Nguồn:
Người gửi: Trương Thùy Linh
Ngày gửi: 10h:15' 27-02-2024
Dung lượng: 669.9 KB
Số lượt tải: 39
Số lượt thích:
0 người
1.TRUYỆN:
ĐỀ 1: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi ở dưới:
Quà của bà
Bà tôi bận lắm, cặm cụi công việc suốt ngày. Nhưng chả lần
nào đi chợ mà bà không tạt vào thăm hai anh em tôi, cho chúng tôi
khi thì tấm bánh đa, quả thị, khi thì củ sắn luộc hoặc mớ táo. Ăn quà
của bà rất thích, nhưng ngồi vào lòng bà nghe bà kể chuyện còn
thích hơn nhiều.
Gần đây, bà tôi không được khỏe như xưa nữa. Đã hai năm
nay, bà bị đau chân. Bà không đi chợ được, cũng không đến chơi với
các cháu được. Thế nhưng lần nào chúng tôi đến thăm bà, bà cũng
vẫn có quà cho chúng tôi: khi thì mấy củ dong riềng, khi thì cây mía,
quả na, hoặc mấy khúc sắn dây, toàn những thứ tự tay bà trồng ra.
Chiều qua, đi học về, tôi chạy đến thăm bà. Bà ngồi dậy, cười cười,
rồi tay bà run run, bà mở cái tay nải của bà, đưa cho tôi một gói
quà đặc biệt: ô mai sấu!
Bà ơi bà! Ô mai sấu bà cho, cháu sẽ chia cho bố cháu, mẹ cháu
và anh cháu… Cháu biết rồi, bà ơi… Cứ sáng sớm, sau mỗi đêm
mưa gió, bà lại lần ra sân, nhặt những quả sấu rụng ở quanh gốc
cây sấu bà trồng từ thời con gái. Rồi bà rửa, bà ngâm muối, bà
phơi. Bà gói thành từng gói nhỏ, bà đợi các cháu đến bà cho…
(Theo Vũ Tú Nam)
Câu 1 : Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2: Tìm một cụm chủ - vị có vai trò mở rộng câu trong câu: “Cứ sáng sớm,
sau mỗi đêm mưa gió, bà lại lần ra sân, nhặt những quả sấu rụng ở quanh gốc cây sấu
bà trồng từ thời con gái.”
Câu 3: Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn
sau: “Bà ngồi dậy, cười cười, rồi tay bà run run, bà mở cái tay nải của bà, đưa cho tôi
một gói quà đặc biệt: ô mai sấu!”
Câu 4 : Theo em, tác giả muốn nói điều gì qua văn bản trên?
Câu 5: Từ nội dung văn bản ở phần đọc hiểu trên, em hãy viết một đoạn văn
(khoảng 100 chữ), nêu cảm nhận của em về hình ảnh người bà và tình cảm của nhân vật
“tôi” đối với bà.
GỢI Ý:
1
2
3
Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
HS tìm được 1 cụm C-V theo yêu cầu của đề bài.
VD: bà trồng, …
Biện pháp tu từ: Liệt kê.
Liệt kê cử chỉ, hoạt động của bà: ngồi dậy, cười cười, mở, đưa
Tác dụng: Thể hiện hình ảnh người bà hiền hậu với tình thương yêu trìu
mến của bà dành cho người cháu; luôn quan tâm và dành cho cháu
những món quà “đặc biệt” mà cháu thích.
Đây là câu hỏi mở, tùy học sinh lựa chọn bức thông điệp miễn là lí giải
hợp lí. Dưới đây là một số nội dung gợi ý:
- Tình cảm của bà cháu là tình cảm gia đình thiêng liêng quý giá vì đây
1
2. TIỂU THUYẾT:
ĐỀ 1: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Không ai biết tên thật của gã là gì. Mười mấy năm về trước, gã một mình bơ một
chiếc xuồng nát đến che lều ở giữa khu rừng đầy thú dữ này. Gã sống đơn độcmột
mình, đến con chó để làm bạn cũng không có. Hồi ấy, rừng này còn nhiều hồ lắm.
[...] Một buổi trưa, gã đang ngủ trong lều, có con hổ chúa mà vào, từ ngoài sản
phỏng một cái phủ lên người gã. Bất thần gã tỉnh dậy. Gã và luôn cái mặc bên người,
cũng không kịp ngồi dậy nữa, cử nằm ngửa thế mà xóc mũi mặc lên đảm thẳng một
nhát vào hàm dưới con hổ chúa, hai chân gã đã thốc lên bụng nó, không cho con ác
thủ kịp chụp xuống người. Con hổ chúa lộn vòng, rơi xuống đất. Lưỡi mặc đảm từ
hàm dưới thấu lên tận óc, làm nó không hả hạng được, nhưng vẫn còn cố vớt cái tát
cuối cùng, để lại trên mặt gã một hàng sẹo khủng khiếp chạy từ thái dương xuống cổ.
Không biết có phải do đấy mà gã mang tên "Võ Tòng" hay không? Chứ theo như
một vài ông lão đa sự, thì ngày xưa, gã là một chàng trai hiền lành, ở tận một vùng
xa lắm. Gã cũng có gia đình đàng hoàng như ai. Vợ gã là một người đàn bà trông
cũng xinh mắt. Chị ấy, lúc có chứa đứa đầu lòng, cử kêu thèm ăn măng. Gã đàn ông
hiền lành, quý vợ rất mực ấy bên liều xách dao đến bụi tre đình làng xắn một mụt
măng. Khi về qua ngang bờ tre nhà tên địa chủ, tên này bắt gã bỏ mụt măng xuống
và vu cho gã lấy trộm măng tre của hắn. Gã một mực cãi lại, nhưng tên địa chủ
2
quyền thế nhất xã ấy cử vung ba trong đánh lên đầu gã. “Đánh đâu thì còn nhịn
được, chử đánh lên đầu là nơi thờ phụng ông bà... thì số mày tôi rồi!". Lưỡi dao trên
tay gã không cho phép tên địa chủ ngang ngược kia giơ tay đánh ba trong lên đầu gã
đến cái thứ hai. Nhát dao chém trả vào mặt đã gi tên bóc lột và hống hách này nằm
gục xuống vũng máu. Nhưng gã không trốn chạy. Gã đường hoàng xách dao đến
ném trước nhà việc, bỏ tay chịu tội.
Sau mười năm tù đày, gã trở về làng cũ thì nghe tin vợ đã làm lẽ tên địa chủ kia,
và đứa con trai độc nhất mà gã chưa biết mặt thì đã chết từ khi gã còn ngồi trong
khám lạnh. Người trong xã vốn ghét tên địa chủ hống hách, khấp khởi chờ xem cuộc
rửa thù bằng máu lần thứ hai. Nhưng họ đã thất vọng. Gã chỉ kêu trải một tiếng rồi
cười nhạt bỏ làng ra đi. Những người đa sự quả quyết rằng chính gã đã mang tên
"Võ Tòng" từ lúc xách dao đến nhà việc chịu tội. Còn như những chữ bùa xanh lè
xăm rằn rực trên người gã, và gã trở nên một người giỏi võ từ lúc nào, thì có kẻ nói
đó là dấu vết trong những năm gã ở tù, lại có người bảo đó là mới có từ lúc gã đi
giang hồ. Hơn mười năm sống trơ trọi giữa rừng, mặc dầu, cũng có nhiều người đánh
tiếng mối mai cho gã, nhưng tuyệt nhiên Võ Tòng không để mắt tới một người đàn
bà nào nữa. Ở trong rừng lâu năm chầy tháng, gã ngày càng trở nên kì hình dị tướng.
Nhưng ai cũng mến gã ở cái tính tình chất phác, thật thà, lúc nào cũng sẵn sàng giúp
đỡ mọi người mà không hề nghĩ đến chuyện người ta có đền đáp lại mình không.
Điều đó, mà nuôi tôi quả quyết, nói một cách chắc chắn như vậy...
a) Đoạn trích trên tập trung khắc hoạ nhân vật Võ Tòng từ các phương diện nào? Ai
là người kể chuyện trong đoạn trích trên? Ngôi kể ở đoạn trích này có tác dụng gì?
b) Câu văn: "Nhưng ai cũng mến gã ở cái tính tinh chất phác, thật thà, lúc nào cũng
sẵn sàng giúp đỡ mọi người mà không hề nghĩ đến chuyện người ta có đến đáp lại
minh không” là lời nhận xét của ai về Võ Tòng? Người nhận xét ấy có phải là người
kể trong đoạn trích trên không?
c) Qua đoạn trích trên, nếu vẽ nhân vật Võ Tòng, em sẽ vẽ thế nào? Theo em, nét
tính cách nào của nhân vật này tiêu biểu cho tính cách người Nam Bộ?
GỢI Ý:
1.
Đoạn trích Người đàn ông cô độc giữa rừng kể lại việc tía nuôi dắt An đi thăm chú
Võ Tòng tại nhà của chú. Đó là một căn nhà trong rừng sâu với nhiều cây cối và con
vượn bạc má kêu “chét…ét, chét..ét” tạo cảm giác hoang vắng.
2.
a) Lời người kể chuyện theo ngôi thứ nhất (trực tiếp): Chủ cởi trần, mặc chiếc quần
ka ki còn mới, nhưng coi bộ đã lâu không giặt (chiếc quần linh Pháp có những sau
túi). Bên hãng, chủ đeo lủng lẳng một lưỡi lê nằm gọn trong vỏ sắt, đúng như lời mà
nuôi tôi đã tả.
b) Lời người kể chuyện theo ngôi thứ ba (gián tiếp): Không ai biết tên thật của gã là
gì. Mười mấy năm về trước, gã một mình bơi một chiếc xuồng nát đến che lều ở giữa
khu rừng đầy thủ dữ này. Gã sống đơn độc một mình, đến con chó để làm bạn cũng
không có.
e) Lời các nhân vật khác: tính tình chất phác, thật thà, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ
mọi người mà không hề nghĩ đến chuyện người ta có đền đáp lại mình không.
3.
Người kể chuyện trong văn bản này vừa ở ngôi thứ nhất (xưng “tôi ), vừa t ngôi thứ
ba, tức là “uy hai mà một”. Việc thay đổi ngôi kể về nhân vật Võ Tòng như trong
3
đoạn trích có tác dụng giúp việc kể chuyện linh hoạt hơn, khắc hoạ chân dung Võ
Tòng ở nhiều góc nhìn khác nhau (cả trực tiếp và gián tiếp). Vì vậy mà nhân vật
càng trở nên sinh động, chân thực trong cái nhìn vừa khách quan, vừa chủ quan.
4. Một số yếu tố (ngôn ngữ, phong cảnh, tính cách con người, nếp sinh hoạt,...) trong
văn bản cho thấy tiểu thuyết của Đoàn Giỏi mang đậm màu sắc Nam Bộ:
Ngôn ngữ: sử dụng nhiều từ ngữ địa phương (tía, má, khô nai, xuồng,...)
Phong cảnh: sông nước, rừng hoang sơ
Tính cách con người: thẳng thắn, bộc trực, gan dạ, tình cảm
Nếp sinh hoạt: đi xuồng, ăn ở phóng khoáng
5. Có thể thấy, đoạn trích Người đàn ông cô độc giữa rừng giúp ta hiểu thêm về con
người Nam Bộ. Cụ thể là những người như ông Hai, bà Hai (tía và mà nuôi của An),
nhân vật “tôi” và đặc biệt là chú Võ Tòng.... Đó là những con người sống chan hoà
với thiên nhiên, tính cách trung thực, thẳng thắn, trọng nghĩa khinh tài, anh dũng,
luôn vì nghĩa lớn,.
6.
- Chi tiết con vượn bạc má xuất hiện 4 lần trong đoạn trích.
- Chi tiết này tạo cho em ấn tượng gì về nhân vật Võ Tòng và bối cảnh của truyện là:
Đây là lần đầu nhân vật “tôi” gặp chú Võ Tòng trực tiếp tại “nhà” của chú là chiếc
lều giữa rừng (trước đó chỉ gặp qua ở bờ sông và chủ yếu là nghe qua lời kể của vợ
chồng ông Hai); thời gian gặp lại vào ban đêm về sáng. Tiếng con vượn bạc má kêu
“ché..ét, ché…ét”, “ngồi vắt vẻo trên một thanh xà ngang, nhe răng dọa tôi” làm cho
bối cảnh của cuộc gặp gỡ mang màu sắc hoang sơ, li kì, … Chi tiết đó cũng làm
người đọc có ấn tượng mạnh mẽ về nhân vật Võ Tòng: một người sống trần trụi như
muông thú giữa thiên nhiên.
7.
- Qua lời kể của chú bé An, Võ Tòng là một con người có hình dáng bề ngoài rất kì
lạ, như người rừng; như người từ thuở hoang sơ: “Dường như những cái bóng lặng lẽ
ngồi bên bếp đây đang sống lùi lại từ cái thời kì loài người mới tìm ra lửa vậy.”,
nhưng lại là một người rất gần gũi, ấm áp và kiên cường. Đây là ấn tượng của nhân
vật An lúc mới vào lều của chú Võ Tòng: “Tôi không sợ chú Võ Tòng như cái đêm
đã gặp chú lần đầu tiên ở bờ sông, mà lại còn có đôi chút cảm tình xen lẫn với ngạc
nhiên hơi buồn cười thế nào ấy?
- Chú Võ Tòng là người giản dị, dũng cảm, mạnh mẽ và không sợ bất cứ khó khăn
nguy hiểm nào.8. Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu:
8.
a) Có thể thấy, đoạn trích tập trung khắc hoạ nhân vật Võ Tòng từ các phương diện:
xuất thân (lai lịch); hành động, việc làm (giết hổ, đánh trả địa chủ, sẵn sàng nhận tội,
đi tủ, trở về và bỏ vào rừng sống một mình,...). Người kể lại câu chuyện trong đoạn
trích trên kể theo ngôi thứ ba. Đến phần cuối đoạn trích, tác giả lại chuyển về kể theo
ngôi thứ nhất (xưng “tôi”). Ngôi kể ở đoạn trích này có tác dụng khắc hoạ chân dung
Võ Tòng một cách khách quan, sinh động hơn, giúp người đọc nhìn nhận từ nhiều
phía khác nhau,...
b) Câu văn: “Nhưng ai cũng mến gã ở cái tính tình chất phác, thật thả, lúc nào cũng
sẵn sàng giúp đỡ mọi người mà không hề nghĩ đến chuyện người ta có đền đáp lại
minh không." là lời nhận xét của bà Hai — má nuôi của An – về Võ Tòng, Người
nhận xét ấy không phải là người kể trong đoạn trích mà do người kể (nhân vật An)
nhắc lại.
4
c) Các em tham khảo gợi ý ở bài tập 7. Vẽ nhân vật Võ Tòng theo hình dung của em
dựa vào đoạn trích. Có thể vẽ bằng tranh, cũng có thể miêu tả bằng lời về nhân vật
ấy,
ĐỀ 2: Đọc kĩ đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi theo yêu cầu:
“ - Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!
Rồi chị túm lấy cổ hắn, ấn giúi ra cửa. Sức lẻo khoẻo của anh chàng nghiện chạy
không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất,
miệng vẫn nham nhảm thét trói vợ chồng kẻ thiếu sưu.
Người nhà Lý trưởng sấn sổ bước đến, hươ gậy chực đánh chị Dậu. Nhanh như cắt,
chị Dậu nắm ngay được gậy của hắn. Hai người giằng co nhau du đẩy nhau, rồi ai nấy
đều buông gậy ra, áp vào vật nhau. Hai đứa trẻ con kêu khóc om sòm. Kết cục, anh
chành hầu cận ông Lý yếu hơn chị chàng con mọn, hắn bị chị này túm tóc lẳng cho một
cái, ngã nhào ra thềm.
Anh Dậu sợ quá muốn dậy can vợ, nhưng mệt đắm ngồi lên lại nằm xuống, vừa run
vừa rên :
- U nó không được thế! Người ta đánh mình không sao, mình đánh người ta thì mình
phải tù phải tội.
Chị Dậu vẫn chưa nguôi giận;
- Thà ngồi tù. Để cho chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được...
Người nhà lý trưởng hết cơn lặng cá, lóp ngóp bò dậy hắn chỉ vừa thở vừa chửi chị
Dậu, không dám động đến thân thể chị nữa.”
(Theo Ngô Tất Tố)
Câu 1: Tóm tắt đoạn trích?
Câu 2: Nêu cảm nghĩ của em về nhân vật chị Dậu trong đoạn trích?
Câu 3: Xác định cấu tạo của câu văn sau và cho biết đó là kiểu câu nào? Ý nghĩa nội
dung câu có quan hệ như thế nào?
nhau.
Hai người giằng co nhau du đẩy nhau, rồi ai nấy đều buông gậy ra, áp vào vật
Câu 4: Cho câu văn: Nhanh như cắt, chị Dậu nắm ngay được gậy của hắn.
a. Trong câu có dùng phép tu tù nào? Nêu tác dụng của phép tu tù đó?
b. Hãy tìm 5 thành ngữ có cách nói : Nhanh như cắt
Câu 5: Dựa vào nội dung văn bản có chứa đoạn trích trên hãy tưởng tượng em là người
chứng kiến tình huống chị Dậu chống trả lại cai lệ và tên người nhà lý trưởng. Hãy kể
lại bằng lời văn của mình.
GỢI Ý:
Câu 1: - Nêu nội dung đoạn: Chị Dậu đánh trả cai lệ - Nói về việc 'Tức nước vỡ bờ,
Câu 2: Yêu cầu: Nêu được cảm nghĩ về nhân vật: cảm nghĩ về cách cư xử; Cảm nghĩ về
5
hành động,…. Cảm nghĩ về cách xây dựng nhân vật: Đặt vào tình huống để bộc lộ tính
cách.
Câu 3: cấu tạo ngữ pháp:
Hai người //giằng co nhau du đẩy nhau, rồi ai nấy// đều buông gậy ra, áp vào vật
nhau. -> Câu ghép
Câu 4: a. Phép tu từ so sánh
- Tác dụng: Miêu tả hành động nhanh nhẹn của chị Dậu
b. Nhanh như chớp; Nhanh như điện; Nhanh như gió; Nhanh như sóc; Nhanh
như tên
Câu 5:
1. Mở bài:
- Giới thiệu hoàn cảnh gia đình chị Dậu.
- Tình huống người kể sang nhà chị Dậu.
2. Thân bài
- Diễn biến sự việc
+ Chị Dậu đang chăm sóc chồng…
+ Thái độ của tên cai lệ và tên người nhà lý trưởng khi mới đến, Chị Dậu cầu xin ra
sao…
+ Cao trào của sự việc (thái độ hung hãn của tên cai lệ, sự phản ứng qua từng cách
xưng hô của chị Dậu, hai bên lao vào…)
+ Kết quả sự việc qua lời khẳng định của chị Dậu…
3. Kết bài
- Ca ngợi hành động của chị Dậu vì thương chồng đã dũng cảm đứng lên bảo vệ chồng.
- Khẳng định ý nghĩa của quy luật
ĐỀ 3: Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
có
áp
bức,
có
đấu
tranh
“ Bước lên sàn điếm, Lý trưởng quăng tạch cuốn sổ xuống sàn, giơ tay chỉ vào
mặt mấy tên đàn em:
- Hiệu không thổi, để làm sỏ bố chúng bay à?
Một hồi còi tu tu đồng thời nổi lên, hiệu sừng sen với hiệu ốc theo đúng hiệu ốc
cố theo đúng mệnh của "nhất lý chi trưởng".
Ðập hai bàn chân vào nhau, rũ cho sạch bụi, rồi co chân lên ngồi vào chiếu, Lý
trưởng vớ luôn lấy chiếu điếu cầy và sai tuần phủ lấy đóm, thổi lửa.
Mấy anh thợ cày của những điền chủ đã nộp đủ thuế, bạo dạn tiến đến trước mặt
ông Lý:
- Thưa ông, trưa lắm rồi! Xin ông cho tuần mở cổng để chúng tôi đánh trâu đi
cầy!...
- Thong thả! Hãy đứng đấy! Cầy đã nóng bằng thuế của nhà nước à?
Vừa nói, Lý trưởng vừa giặt mồi thuốc vào điếu, hút luôn một sạp ba điếu. khói
thuốc theo hai lỗ mũi tuôn ra như hai ngà voi. Lý trưởng dõng dạc.
6
- Trương tuần, anh bảo nó mở cổng ra. Nhà nào đủ thuế thì cho trâu bò ra đồng.
Còn nhà nào thiếu thì bắt trâu bò điệu cả về đình cho tôi, để tôi liệu cho chúng nó! ”
(Ngô Tất Tố, Tắt Đèn )
Câu 1. Chỉ ra các kiểu câu được sử dụng trong đoạn trích .
Câu 2. Trong cuộc thoại trên, có mấy nhân vật và mỗi nhân vật có mấy lượt lời.
Câu 3. Từ cuộc thoại trên, em hiểu gì về nội dung của đoạn trích.
Câu 4: Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật văn bản chứa đoạn văn trên. Từ nội dung
văn bản đó, em rút ra được quy luật gì trong cuộc sống?
Câu 6: Trong cuộc sống hôm nay, nếu chứng kiến cảnh người phụ nữ hay một bé gái
bị chồng, cha ngược đãi, em sẽ ứng xử như thế nào?
GỢI Ý
1
2
3
4
Trong đoạn trích có 4 kiểu câu được sử dụng đó là:
- Câu nghi vấn:
+ Hiệu không thổi, để làm sỏ bố chúng bay à?
+Cầy đã nóng bằng thuế của nhà nước à?
- Câu cảm thán: Thưa ông, trưa lắm rồi!
- Câu cầu khiến:
+ Xin ông cho tuần mở cổng để chúng tôi đánh trâu đi cầy!...
+Thong thả! Hãy đứng đấy!
- Câu trần thuật:
+ Bước lên sàn điếm, Lý trưởng quăng tạch cuốn sổ xuống sàn, giơ
tay chỉ vào mặt mấy tên đàn em
+ Ðập hai bàn chân vào nhau, rũ cho sạch bụi, rồi co chân lên
ngồi vào chiếu, Lý trưởng vớ luôn lấy chiếu điếu cầy và sai tuần
phủ lấy đóm, thổi lửa.
+ Mấy anh thợ cày của những điền chủ đã nộp đủ thuế, bạo dạn
tiến đến trước mặt ông Lý
+ Vừa nói, Lý trưởng vừa giặt mồi thuốc vào điếu, hút luôn một sạp
ba điếu. khói thuốc theo hai lỗ mũi tuôn ra như hai ngà voi. Lý
trưởng dõng dạc…
Trong cuộc thoại trên có: 3 nhân vật (có 2 nhân vật có lời thoại)
- Lý trưởng: Có 3 lượt lời
- Thợ cày: Có 1 lượt lời
Trong đoạn trích trên là cuộc thoại giữa Lý trưởng với thợ cày. Thợ
cày xin được mở cổng làng cho trâu đi cày, nhưng ông Lý chưa cho
vì còn nhiều người chưa nộp thuế.
*Giá trị nội dung: Bằng ngòi bút hiện thực sinh động, đoạn trích
“Tức nước vỡ bờ” đã vạch rõ bộ mặt xấu xa, tàn bạo của xã hội thực
dân phong kiến đương thời đẩy người nông dân vào tình cảnh vô
7
cùng khốn khổ, bế tắc, khiến họ phải liều mạng cự lại. Đoạn trích
còn cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ nông dân, vừa giàu
tình yêu thương vừa có sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ
*Giá trị nghệ thuật
+ Nghệ thuật tạo tình huống truyện có tính kịch
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật: miêu tả nhân vật chân thật, sinh
động về ngoại hình, ngôn ngữ, hành động, tâm lí.
+ Đoạn trích tiêu biểu cho ngòi bút hiện thực, ngôn ngữ kể chuyện
vô cùng linh hoạt.
*Từ nội dung văn bản, em rút ra được quy luật: Tức nước vỡ bờ,
có áp bức có đấu tranh
Giải thích để người ngược đãi hiểu đó là việc làm vi phạm luật bình
đẳng giới, vi phạm quyền trẻ em.
5
- Chạy báo để mọi người xung quanh cùng biết, cùng can ngăn, đưa
người bị hại ra khỏi nơi bị ngược đãi.
- Báo cho chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng gần nhất
để kịp thời xử lý kẻ ngược đãi.
1. THƠ BỐN CHỮ, NĂM CHỮ
ĐỀ 1: Đọc bài thơ Ông đồ (Vũ Đình Liên) và trả lời câu hỏi
ÔNG ĐỒ (Vũ Đình Liên)
8
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực Tàu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài:
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa, rồng bay”
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu...
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay
1936
(Hoài Thanh, Hoài Chân,
Thi nhân Việt Nam,
NXB Văn học, 2007)
Câu 1. Xác định thể thơ (chỉ ra các dấu hiệu nhận biết thể thơ), đề tài và chủ đề của bài
thơ.
Câu 2. Điền các thông tin vào Phiếu học tập sau để tìm hiểu hình ảnh ông đồ.
Tìm hiểu những từ ngữ, chi tiết miêu
Khổ 1,2
Khổ 3,4
tả:
1. Khung cảnh, thời gian:
......
......
2. Hình ảnh ông đồ
3. Các biện pháp nghệ thuật đặc sắc
......
......
được tác giả sử dụng để miêu tả ông đồ:
4. Thái độ, tình cảm của mọi người
......
......
dành cho ông đồ.
5. Tâm trạng của ông đồ trước thái độ
......
......
tình cảm của mọi người
6. Tình cảm của tác giả dành cho ông
......
......
đồ
7. Nhận xét tình cảm của tác giả với ông
......
......
đồ ở khổ cuối.
Câu 3. Bài thơ gợi trong em tình cảm, cảm xúc gì?
*GỢI Ý
Câu 1.
9
- Thể thơ: năm chữ. Dấu hiệu nhận biết: Có 5 chữ mỗi dòng, gồm 5 khổ, mỗi khổ 4
câu. Vần chân (gieo ở tiếng cuối câu, vần cách, vần liền, bằng trắc xen kẽ hoặc nối
tiếp). Ngắt nhịp: 2/3 hoặc 3/2.
- Đề tài: Viết về ông đồ.
- Chủ đề: Thể hiện niềm thương cảm của nhà thơ với ông đồ và lớp người như ông,
niềm nhớ tiếc quá khứ với những phong tục văn hóa đẹp đẽ.
Câu 2.
Tìm hiểu
Khổ 1,2
Khổ 3,4
những từ ngữ,
chi tiết miêu
tả:
1. Khung
cảnh, thời
gian:
2. Hình ảnh
ông đồ:
+ Thời gian: “Mỗi năm”, thời
điểm “hoa đào nở”;
+ Không gian: “phố đông người ”;
+ Công việc: “Bày mực tàu giấy
đỏ”;
+ Hình ảnh “hoa đào”- loài hoa
mang tín hiệu của mùa xuân gợi ta
nhớ đến không khí ngày Tết cổ
truyền của dân tộc.
+ Cùng mực tàu, giấy đỏ góp phần
vào sự đông vui náo nhiệt của phố
phường.
+ Ông trở thành trung tâm của bức
tranh xuân, là đối tượng để mọi
người ngưỡng mộ, ngợi ca.
+ Trong niềm vui đông khách,
ông như người nghệ sĩ được trổ tài
trước công chúng - đưa tay viết
những nét chữ thanh cao, bay
bổng, phóng khoáng: “Hoa tay
thảo những nét/Như phượng múa
rồng bay”
+ Thời gian: “Mỗi năm mỗi
vắng”;
+ Không gian: “người thuê viết
này đâu? không ai hay”; “giấy đỏ
buồn, mực đọng, lá vàng rơi,
mưa bụi bay…”
+ Công việc: “ngồi đấy”
+ Ông đồ trở thành người nghệ sĩ
mất công chúng, niềm vui viết
chữ giúp ích cho mọi người
không còn nên ngồi buồn trong
nỗi sầu tủi.
+ Nỗi buồn sầu của ông như
thấm sâu vào cảnh vật phản
chiếu lên giấy, nghiên mực:
“Giấy đỏ buồn không thắm/Mực
đọng trong nghiên sầu”
+ Dù mọi người không còn mến
mộ đến tìm mua chữ “ông đồ
vẫn ngồi đấy”- bên hè phố đông
người, vẫn bám trụ cuộc sống,
vẫn muốn góp phần vào sự đông
vui của phố phường, vẫn muốn
giúp ích cho mọi người thế
nhưng người đời quên hẳn ông,
không ai chú ý đến sự có mặt của
ông trên hè phố: “Lá vàng rơi
trên giấy/Ngoài giời mưa bụi
10
3. Các biện
pháp nghệ
thuật đặc
sắc được tác
giả sử dụng
để miêu tả
ông đồ:
- Phụ từ lại cụm từ mỗi năm gợi
sự lặp lại thời gian, lặp lại hình
ảnh ông đồ xuất hiện bên phố vào
mỗi dịp Tết đến, xuân về.
- Biện pháp nghệ thuật so sánh đã
gợi tài năng viết chữ, niềm vui
đông khách của ông đồ khi được
giúp ích cho mọi người, cho cuộc
đời.
4. Thái độ,
tình cảm
của mọi
người dành
cho ông đồ.
+ Nô nức tìm đến ông đồ để mua
chữ;
+ Tấm tắc, ngợi ca tài viết chữ
đẹp của ông.
-> Thể hiên thái độ mến mộ, quý
trọng ông đồ - yêu mến chữ nho,
mến mộ chữ nho- nét đẹp văn hóa
truyền thống của dân tộc.
bay”
+ Từ ngữ: “nhưng” gợi sự ngạc
nhiên bất thường đổi khác trong
thái độ của mọi người với ông
đồ, “mỗi năm” gợi sự lặp lại của
thời gian.
+ Câu hỏi tu từ “Người thuê viết
nay đâu?” thể hiện thái độ ngạc
nhiên, ngậm ngùi chua xót về sự
thay đổi thái độ của người đời
với ông đồ.
+ Nghệ thuật đối lập: Thể hiện
sự cô đơn, lạc lõng của ông đồ,
gợi niềm xót xa cho ông đồ lớp
trí thức lỗi thời, niềm xót xa khi
nét đẹp văn hóa cổ truyền, nét
đẹp tâm hồn không còn nữa.
+ Nhân hóa: “Giấy đỏ buồn,
nghiên sầu“ -> giúp lời thơ giàu
sức gợi, gợi nỗi buồn sầu trĩu
nặng trong lòng ông đồ thấm
sâu, lan tỏa vào cảnh vật.
- Tả cảnh ngụ tình: gợi hình ảnh
lá vàng rơi rụng, cùng mưa bụi
đang phủ lên vai ông đồ, rơi trên
giấy đỏ…
-> Gợi hình ảnh đáng thương của
ông đồ đang chìm vào quên lãng,
chìm vào không gian đầy mưa
gió.
+ Theo thời gian mọi người tìm
đến ông đồ mua chữ ít dần, “Mỗi
năm, mỗi vắng”, rồi vắng bóng
“Người thuê viết nay đâu?”
+ Không ai chú ý đến sự có mặt
của ông đồ “Qua đường không
ai hay”
-> Sự thay đổi thái độ của mọi
người với ông đồ là biểu hiện
của nền văn hóa bị lụi tàn, bị đổi
thay giá trị, nét đẹp văn hóa một
11
5. Tâm
trạng ……
6. Tình cảm
của tác giả
dành cho
ông đồ:
7. Niềm
hoài cổ của
tác giả với
ông đồ ở
khổ cuối
Câu 3.
Vui, phấn khởi, đắc ý,...
thời nay không còn nữa.
Buồn, cô lẻ, bơ vơ,…
Yêu mến, kính trọng ông đồ - tấm
lòng mến mộ nhà nho, chữ Nho
nét đẹp văn hóa cổ truyền đáng
trân trọng.
+ Buồn, xót thương cho ông đồ,
cho một nét đẹp văn hóa lụi tàn.
+ Buồn thương cho ông đồ và
lớp người như ông đã bị người
đời lãng quên.
- Hình ảnh: “Hoa đào”, “ông đồ” được lặp lại tạo nên kết cấu đầu - cuối
tương ứng, tương phản “Cảnh cũ người đâu?”
+ Hoa đào nở, cái đẹp bất biến >< Người biến mất, vắng bóng.
- Tác giả gọi “ông đồ xưa” thể hiện một cách tinh tế ông đồ không còn
nữa “Đã chết theo một thời tàn”. Qua đó bộc lộ tâm trạng hẫng hụt, nuối
tiếc của tác giả.
- Khi không thấy ông đồ tác giả thảng thốt: “Những người muôn năm
cũ/Hồn ở đâu bây giờ?”
+ “Người muôn năm cũ”: những người có tâm hồn cao đẹp. Đó là những
nhà nho vang bóng một thời, là những người từng yêu mến nhà nho, chữ
nho. Đó là cách gọi tôn vinh thể hiện tấm lòng quý trọng của tác giả.
+ Lời thơ như tiếng gọi hồn, thể hiện niềm hoài cổ, nhớ tiếc của tác giả
với ông đồ, với lớp trí thức lỗi thời, với những gì từng là giá trị nay rơi
vào quên lãng.
Bài thơ gợi trong em tình cảm, cảm xúc:
- Yêu mến, ngưỡng mộ, ngợi ca ông đồ;
- Ngậm ngùi, thương cảm khi ông đồ phải ra lề phố bán chữ.
ĐỀ 2. Viết đoạn văn cảm nhận cái hay của hai câu thơ:
Đoạn văn tham khảo
a. Cảm nhận cái hay của hai câu thơ
Giấy đỏ buồn không thắm
12
Mực đọng trong nghiên sầu
Hai câu thơ với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc đã nói lên nỗi buồn sầu tủi của
ông đồ khi vắng bóng những người thuê viết. Trong hoàn cảnh Tết đến xuân về khi hoa
đào rực nở, ông đồ vẫn xuất hiện bên phố mong giúp ích cho đời với niềm vui thảo chữ
đầu năm, nhưng người đời đã thay đổi thái độ với ông. Phố vẫn đông nhưng khách đến
mua chữ vắng dần, mỗi năm mỗi vắng. Bên phố đông người, ông ngồi buồn nhìn dòng
đời qua lại như có ý đợi chờ khách tìm đến. Nhưng phố vẫn đông mà chẳng ai chú ý đến
ông đến sự có mặt của ông bên lề phố để nỗi buồn của ông như thấm vào cánh vật “Giấy
đỏ buồn không thắm/Mực đọng trong nghiên sầu”. Với nghệ thuật nhân hóa đặc sắc (các
từ buồn, sầu vốn chỉ tâm trạng của con người được sử dụng trong lời thơ năm chữ Vũ
Đình Liên đã tạo nên lời thơ tả cảnh ngụ tình tuyệt bút, khiến cho các sự vật vô tri như
giấy và nghiên mực như có linh hồn, cũng cảm thấy như con người bơ vơ lạc lõng. Hình
ảnh thơ gợi cho ta thấy từng tờ giấy đỏ cứ phơi ra mà chẳng được bút lông chạm đến trở
nên bẽ bàng, màu đỏ của nó cũng không thắm lên được, không thể tươi màu son đỏ.
Nghiên mực không được bút lông chấm vào nên không còn sóng sánh đen đặc mà như
đọng nỗi sầu buồn tủi. Hình ảnh thơ phản chiếu tâm hồn ông đồ - một nỗi buồn u ám, trĩu
nặng lên nghiên mực. Nỗi sầu tủi kết đọng hòa cùng mực, màu nước mắt, tạo thành nỗi
sầu tủi của giấy mực, của nghiên, của chính ông đồ. Từ “đọng” như kéo nỗi buồn trĩu
xuống, sầu kéo dài nỗi buồn thêm cùng đó. Dấu ba chấm lan tỏa trong không gian làm
người đọc thêm nặng trĩu thương ông đồ và lớp người như ông. Và càng buồn hơn trước
sự vô tình của người đời, khi nét đẹp văn hóa một thời không còn nữa.
b. Cảm nhận cái hay của hai câu thơ:
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay
Hai câu thơ với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc đã nói lên nỗi buồn trĩu nặng của ông đồ
trước sự thờ ơ vô tình của người đời. Mỗi năm mỗi vắng, Tết đến xuân về, khi hoa đào rực
nở, ông đồ vẫn xuất hiện bên phố vẫn mong được góp ích cho cuộc đời nhưng người đời đã
quên hẳn ông, thờ ơ đến vô tình. Ông ngồi bên phố đông người với ánh mắt buồn nhìn dòng
đời qua lại. Và nỗi buồn sầu của ông như thấm vào cảnh vật “Lá vàng rơi trên giấy/Ngoài
trời mưa bụi bay”. “Lá vàng” là lá cuối đông thả mình rơi trên giấy, đó là biểu hiện sự rơi
rụng, tàn lụi. “Mưa bụi” là mưa nhỏ, nhè nhẹ. Hai câu thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc cho thấy
trời đất cũng ảm đạm như chính lòng ông đồ. Tờ giấy đỏ lúc trước không thắm lên được,
giờ lại được phủ lá vàng: gió mưa lá rụng phủ lên mặt giấy, lên vai ông đồ, mưa trên phố
nhè nhẹ mà thấm đẫm nỗi buồn. Hình ảnh ông đồ như chìm dần, nhòe dần vào không gian
đầy mưa gió. Mưa trên phố chính là mưa trong lòng người, để rồi từ đó vĩnh viễn không còn
nhìn thấy ông đồ. Hình ảnh “lá vàng”, “mưa bụi” đã dệt nên tấm khăn liệm đưa ông đồ về
cõi vĩnh hằng. Hai câu thơ gợi trong lòng ta niềm xót thương cho ông đồ, cho lớp người trở
thành lỗi thời - thương cho những gì từng là giá trị, nay trở thành tàn tạ, rơi vào quên lãng.
ĐỀ 3: Đọc bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh và trả lời các câu hỏi:
Trên đường hành quân xa
[...] Tiếng gà trưa
Tiếng gà trưa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Tay bà khum soi trứng
Mang bao nhiêu hạnh phúc
13
Tiếng gà ai nhảy ổ:
“Cục... cục tác cục ta”
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đỡ mỏi
Nghe gọi về tuổi thơ
Tiếng gà trưa
Ổ rơm hồng những trứng
Này con gà mái mơ
Khắp mình hoa đốm trắng
Này con gà mái vàng
Lông óng như màu nắng
Dành từng quả chắt chịu
Cho con gà mái ấp
Đêm cháu về nằm mơ
Giấc ngủ hồng sắc trứng
Cứ hàng năm hàng năm,
Khi gió mùa đông tới
Bà lo đàn gà toi
Mong trời đừng sương muối
Để cuối năm bán gà
Cháu được quần áo mới.
Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi, cũng vì bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ.
Ôi cái quần chéo go
Ống rộng dài quét đất
Cái áo cánh chúc bâu
Đi qua nghe sột soạt.
2-7-1965 (Xuân
Quỳnh, Hoa dọc chiến hào,
NXB Văn học, Hà Nội,
1968, tr. 5 — 7)
Câu hỏi:
Câu 1: Nêu một số đặc điểm hình thức của bài thơ Tiếng gà trưa trên các phương diện: số
tiếng trong mỗi dòng, số dòng trong mỗi khổ, cách gieo vần, ngắt nhịp.
Câu 2 : Tiếng gà trưa là một bài thơ có yếu tố tự sự. Em hãy cho biết ai là người kể
chuyện và nội dung câu chuyện được kể là gì.
Vẽ sơ đồ theo mẫu sau vào vở và điền vào sơ đồ những sự việc chính trong câu chuyện:
Câu 3: Hình ảnh đàn gà của bà trong kí ức của cháu được miêu tả như thế nào?
Câu 4: Tiếng gà trưa gợi người cháu nhớ về tuổi thơ được bà yêu thương. Nêu cảm nhận
của em về tình cảm của bà dành cho người cháu.
Câu 5: Xác định biện pháp tu từ điệp ngữ trong khổ thơ sau và nêu tác dụng của biện
pháp tu từ đó:
Cháu chiến đấu hôm nay
Vì tiếng gà cục tác
Vì lòng yêu Tổ quốc
Ổ trứng hồng tuổi thơ.
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi, cũng vì bà
Câu 6: Chỉ ra những nét tương đồng giữa hình ảnh người cháu trong bài thơ Tiếng gà
trưa và hình ảnh người con trong bài thơ Gặp lá cơm nếp.
14
GỢI Ý:
Câu 1: Nêu một số đặc điểm hình thức của bài thơ Tiếng gà trưa trên các phương diện: số
tiếng trong mỗi dòng, số dòng trong mỗi khổ, cách gieo vần, ngắt nhịp.
Một số đặc điểm hình thức của bài thơ:
- Bài thơ Tiếng gà trưa viết theo thể thơ năm chữ. Tuy nhiên, có ba khổ mà dòng đầu mỗi
khổ chỉ có ba tiếng: Tiếng gà trưa. Việc lặp lại những dòng thơ ba tiếng đó nhấn mạnh ấn
tượng của người cháu về âm thanh tiếng gà mỗi buổi trưa hè. Tiếng gà vang lên trong thực
tại gợi nhớ về tiếng gà tuổi thơ - khi cháu được sống bên bà, được bà yêu thương, chăm
sóc.
- Số dòng trong mỗi khổ không đều nhau: Khổ 1 dài nhất với 7 dòng. Các khổ còn lại chỉ
gồm 4 hoặc 6 dòng.
- Cách gieo vần của bài thơ cũng khá linh hoạt:
Tiếng gà trưa
Ổ rơm hồng những trứng
Này con gà mái mơ
Khắp mình hoa đốm trắng
Này con gà mái vàng
15
Lông óng như màu nắng
- Ngắt nhịp: đa phần các dòng trong bài thơ ngắt nhịp 3/2 và 2/3, luân phiên khá nhịp
nhàng.
Trên đường /hành quân xa
Dừng chân / bên xóm nhỏ
Tiếng gà ai/ nhảy ổ:
“Cục... cục tác / cục ta”
Nghe xao động / nắng trưa
Nghe bàn chân / đỡ mỏi
Nghe gọi về / tuổi thơ
Câu 2 :
Tiếng gà trưa là một bài thơ có yếu tố tự sự. Người kể chuyện là người cháu đang trên
đường hành quân đi chiến đấu.
Sơ đồ những sự việc chính trong câu chuyện:
Câu 3:
Hình ảnh đàn gà của bà trong kí ức của cháu được miêu tả rất sinh động:
- Đó là một đàn gà mái nhiều màu sắc, con nào cũng đẹp và rất khoẻ mạnh. Có con gà mái
mơ mình vàng với những đốm lông màu trắng như hoa mơ, có con gà lông màu vàng óng
như màu nắng. Có ổ rơm hồng những trứng.
- Biện pháp tu từ điệp ngữ này con gà khiến hình ảnh những con gà mái ...
ĐỀ 1: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi ở dưới:
Quà của bà
Bà tôi bận lắm, cặm cụi công việc suốt ngày. Nhưng chả lần
nào đi chợ mà bà không tạt vào thăm hai anh em tôi, cho chúng tôi
khi thì tấm bánh đa, quả thị, khi thì củ sắn luộc hoặc mớ táo. Ăn quà
của bà rất thích, nhưng ngồi vào lòng bà nghe bà kể chuyện còn
thích hơn nhiều.
Gần đây, bà tôi không được khỏe như xưa nữa. Đã hai năm
nay, bà bị đau chân. Bà không đi chợ được, cũng không đến chơi với
các cháu được. Thế nhưng lần nào chúng tôi đến thăm bà, bà cũng
vẫn có quà cho chúng tôi: khi thì mấy củ dong riềng, khi thì cây mía,
quả na, hoặc mấy khúc sắn dây, toàn những thứ tự tay bà trồng ra.
Chiều qua, đi học về, tôi chạy đến thăm bà. Bà ngồi dậy, cười cười,
rồi tay bà run run, bà mở cái tay nải của bà, đưa cho tôi một gói
quà đặc biệt: ô mai sấu!
Bà ơi bà! Ô mai sấu bà cho, cháu sẽ chia cho bố cháu, mẹ cháu
và anh cháu… Cháu biết rồi, bà ơi… Cứ sáng sớm, sau mỗi đêm
mưa gió, bà lại lần ra sân, nhặt những quả sấu rụng ở quanh gốc
cây sấu bà trồng từ thời con gái. Rồi bà rửa, bà ngâm muối, bà
phơi. Bà gói thành từng gói nhỏ, bà đợi các cháu đến bà cho…
(Theo Vũ Tú Nam)
Câu 1 : Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2: Tìm một cụm chủ - vị có vai trò mở rộng câu trong câu: “Cứ sáng sớm,
sau mỗi đêm mưa gió, bà lại lần ra sân, nhặt những quả sấu rụng ở quanh gốc cây sấu
bà trồng từ thời con gái.”
Câu 3: Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn
sau: “Bà ngồi dậy, cười cười, rồi tay bà run run, bà mở cái tay nải của bà, đưa cho tôi
một gói quà đặc biệt: ô mai sấu!”
Câu 4 : Theo em, tác giả muốn nói điều gì qua văn bản trên?
Câu 5: Từ nội dung văn bản ở phần đọc hiểu trên, em hãy viết một đoạn văn
(khoảng 100 chữ), nêu cảm nhận của em về hình ảnh người bà và tình cảm của nhân vật
“tôi” đối với bà.
GỢI Ý:
1
2
3
Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
HS tìm được 1 cụm C-V theo yêu cầu của đề bài.
VD: bà trồng, …
Biện pháp tu từ: Liệt kê.
Liệt kê cử chỉ, hoạt động của bà: ngồi dậy, cười cười, mở, đưa
Tác dụng: Thể hiện hình ảnh người bà hiền hậu với tình thương yêu trìu
mến của bà dành cho người cháu; luôn quan tâm và dành cho cháu
những món quà “đặc biệt” mà cháu thích.
Đây là câu hỏi mở, tùy học sinh lựa chọn bức thông điệp miễn là lí giải
hợp lí. Dưới đây là một số nội dung gợi ý:
- Tình cảm của bà cháu là tình cảm gia đình thiêng liêng quý giá vì đây
1
2. TIỂU THUYẾT:
ĐỀ 1: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Không ai biết tên thật của gã là gì. Mười mấy năm về trước, gã một mình bơ một
chiếc xuồng nát đến che lều ở giữa khu rừng đầy thú dữ này. Gã sống đơn độcmột
mình, đến con chó để làm bạn cũng không có. Hồi ấy, rừng này còn nhiều hồ lắm.
[...] Một buổi trưa, gã đang ngủ trong lều, có con hổ chúa mà vào, từ ngoài sản
phỏng một cái phủ lên người gã. Bất thần gã tỉnh dậy. Gã và luôn cái mặc bên người,
cũng không kịp ngồi dậy nữa, cử nằm ngửa thế mà xóc mũi mặc lên đảm thẳng một
nhát vào hàm dưới con hổ chúa, hai chân gã đã thốc lên bụng nó, không cho con ác
thủ kịp chụp xuống người. Con hổ chúa lộn vòng, rơi xuống đất. Lưỡi mặc đảm từ
hàm dưới thấu lên tận óc, làm nó không hả hạng được, nhưng vẫn còn cố vớt cái tát
cuối cùng, để lại trên mặt gã một hàng sẹo khủng khiếp chạy từ thái dương xuống cổ.
Không biết có phải do đấy mà gã mang tên "Võ Tòng" hay không? Chứ theo như
một vài ông lão đa sự, thì ngày xưa, gã là một chàng trai hiền lành, ở tận một vùng
xa lắm. Gã cũng có gia đình đàng hoàng như ai. Vợ gã là một người đàn bà trông
cũng xinh mắt. Chị ấy, lúc có chứa đứa đầu lòng, cử kêu thèm ăn măng. Gã đàn ông
hiền lành, quý vợ rất mực ấy bên liều xách dao đến bụi tre đình làng xắn một mụt
măng. Khi về qua ngang bờ tre nhà tên địa chủ, tên này bắt gã bỏ mụt măng xuống
và vu cho gã lấy trộm măng tre của hắn. Gã một mực cãi lại, nhưng tên địa chủ
2
quyền thế nhất xã ấy cử vung ba trong đánh lên đầu gã. “Đánh đâu thì còn nhịn
được, chử đánh lên đầu là nơi thờ phụng ông bà... thì số mày tôi rồi!". Lưỡi dao trên
tay gã không cho phép tên địa chủ ngang ngược kia giơ tay đánh ba trong lên đầu gã
đến cái thứ hai. Nhát dao chém trả vào mặt đã gi tên bóc lột và hống hách này nằm
gục xuống vũng máu. Nhưng gã không trốn chạy. Gã đường hoàng xách dao đến
ném trước nhà việc, bỏ tay chịu tội.
Sau mười năm tù đày, gã trở về làng cũ thì nghe tin vợ đã làm lẽ tên địa chủ kia,
và đứa con trai độc nhất mà gã chưa biết mặt thì đã chết từ khi gã còn ngồi trong
khám lạnh. Người trong xã vốn ghét tên địa chủ hống hách, khấp khởi chờ xem cuộc
rửa thù bằng máu lần thứ hai. Nhưng họ đã thất vọng. Gã chỉ kêu trải một tiếng rồi
cười nhạt bỏ làng ra đi. Những người đa sự quả quyết rằng chính gã đã mang tên
"Võ Tòng" từ lúc xách dao đến nhà việc chịu tội. Còn như những chữ bùa xanh lè
xăm rằn rực trên người gã, và gã trở nên một người giỏi võ từ lúc nào, thì có kẻ nói
đó là dấu vết trong những năm gã ở tù, lại có người bảo đó là mới có từ lúc gã đi
giang hồ. Hơn mười năm sống trơ trọi giữa rừng, mặc dầu, cũng có nhiều người đánh
tiếng mối mai cho gã, nhưng tuyệt nhiên Võ Tòng không để mắt tới một người đàn
bà nào nữa. Ở trong rừng lâu năm chầy tháng, gã ngày càng trở nên kì hình dị tướng.
Nhưng ai cũng mến gã ở cái tính tình chất phác, thật thà, lúc nào cũng sẵn sàng giúp
đỡ mọi người mà không hề nghĩ đến chuyện người ta có đền đáp lại mình không.
Điều đó, mà nuôi tôi quả quyết, nói một cách chắc chắn như vậy...
a) Đoạn trích trên tập trung khắc hoạ nhân vật Võ Tòng từ các phương diện nào? Ai
là người kể chuyện trong đoạn trích trên? Ngôi kể ở đoạn trích này có tác dụng gì?
b) Câu văn: "Nhưng ai cũng mến gã ở cái tính tinh chất phác, thật thà, lúc nào cũng
sẵn sàng giúp đỡ mọi người mà không hề nghĩ đến chuyện người ta có đến đáp lại
minh không” là lời nhận xét của ai về Võ Tòng? Người nhận xét ấy có phải là người
kể trong đoạn trích trên không?
c) Qua đoạn trích trên, nếu vẽ nhân vật Võ Tòng, em sẽ vẽ thế nào? Theo em, nét
tính cách nào của nhân vật này tiêu biểu cho tính cách người Nam Bộ?
GỢI Ý:
1.
Đoạn trích Người đàn ông cô độc giữa rừng kể lại việc tía nuôi dắt An đi thăm chú
Võ Tòng tại nhà của chú. Đó là một căn nhà trong rừng sâu với nhiều cây cối và con
vượn bạc má kêu “chét…ét, chét..ét” tạo cảm giác hoang vắng.
2.
a) Lời người kể chuyện theo ngôi thứ nhất (trực tiếp): Chủ cởi trần, mặc chiếc quần
ka ki còn mới, nhưng coi bộ đã lâu không giặt (chiếc quần linh Pháp có những sau
túi). Bên hãng, chủ đeo lủng lẳng một lưỡi lê nằm gọn trong vỏ sắt, đúng như lời mà
nuôi tôi đã tả.
b) Lời người kể chuyện theo ngôi thứ ba (gián tiếp): Không ai biết tên thật của gã là
gì. Mười mấy năm về trước, gã một mình bơi một chiếc xuồng nát đến che lều ở giữa
khu rừng đầy thủ dữ này. Gã sống đơn độc một mình, đến con chó để làm bạn cũng
không có.
e) Lời các nhân vật khác: tính tình chất phác, thật thà, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ
mọi người mà không hề nghĩ đến chuyện người ta có đền đáp lại mình không.
3.
Người kể chuyện trong văn bản này vừa ở ngôi thứ nhất (xưng “tôi ), vừa t ngôi thứ
ba, tức là “uy hai mà một”. Việc thay đổi ngôi kể về nhân vật Võ Tòng như trong
3
đoạn trích có tác dụng giúp việc kể chuyện linh hoạt hơn, khắc hoạ chân dung Võ
Tòng ở nhiều góc nhìn khác nhau (cả trực tiếp và gián tiếp). Vì vậy mà nhân vật
càng trở nên sinh động, chân thực trong cái nhìn vừa khách quan, vừa chủ quan.
4. Một số yếu tố (ngôn ngữ, phong cảnh, tính cách con người, nếp sinh hoạt,...) trong
văn bản cho thấy tiểu thuyết của Đoàn Giỏi mang đậm màu sắc Nam Bộ:
Ngôn ngữ: sử dụng nhiều từ ngữ địa phương (tía, má, khô nai, xuồng,...)
Phong cảnh: sông nước, rừng hoang sơ
Tính cách con người: thẳng thắn, bộc trực, gan dạ, tình cảm
Nếp sinh hoạt: đi xuồng, ăn ở phóng khoáng
5. Có thể thấy, đoạn trích Người đàn ông cô độc giữa rừng giúp ta hiểu thêm về con
người Nam Bộ. Cụ thể là những người như ông Hai, bà Hai (tía và mà nuôi của An),
nhân vật “tôi” và đặc biệt là chú Võ Tòng.... Đó là những con người sống chan hoà
với thiên nhiên, tính cách trung thực, thẳng thắn, trọng nghĩa khinh tài, anh dũng,
luôn vì nghĩa lớn,.
6.
- Chi tiết con vượn bạc má xuất hiện 4 lần trong đoạn trích.
- Chi tiết này tạo cho em ấn tượng gì về nhân vật Võ Tòng và bối cảnh của truyện là:
Đây là lần đầu nhân vật “tôi” gặp chú Võ Tòng trực tiếp tại “nhà” của chú là chiếc
lều giữa rừng (trước đó chỉ gặp qua ở bờ sông và chủ yếu là nghe qua lời kể của vợ
chồng ông Hai); thời gian gặp lại vào ban đêm về sáng. Tiếng con vượn bạc má kêu
“ché..ét, ché…ét”, “ngồi vắt vẻo trên một thanh xà ngang, nhe răng dọa tôi” làm cho
bối cảnh của cuộc gặp gỡ mang màu sắc hoang sơ, li kì, … Chi tiết đó cũng làm
người đọc có ấn tượng mạnh mẽ về nhân vật Võ Tòng: một người sống trần trụi như
muông thú giữa thiên nhiên.
7.
- Qua lời kể của chú bé An, Võ Tòng là một con người có hình dáng bề ngoài rất kì
lạ, như người rừng; như người từ thuở hoang sơ: “Dường như những cái bóng lặng lẽ
ngồi bên bếp đây đang sống lùi lại từ cái thời kì loài người mới tìm ra lửa vậy.”,
nhưng lại là một người rất gần gũi, ấm áp và kiên cường. Đây là ấn tượng của nhân
vật An lúc mới vào lều của chú Võ Tòng: “Tôi không sợ chú Võ Tòng như cái đêm
đã gặp chú lần đầu tiên ở bờ sông, mà lại còn có đôi chút cảm tình xen lẫn với ngạc
nhiên hơi buồn cười thế nào ấy?
- Chú Võ Tòng là người giản dị, dũng cảm, mạnh mẽ và không sợ bất cứ khó khăn
nguy hiểm nào.8. Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu:
8.
a) Có thể thấy, đoạn trích tập trung khắc hoạ nhân vật Võ Tòng từ các phương diện:
xuất thân (lai lịch); hành động, việc làm (giết hổ, đánh trả địa chủ, sẵn sàng nhận tội,
đi tủ, trở về và bỏ vào rừng sống một mình,...). Người kể lại câu chuyện trong đoạn
trích trên kể theo ngôi thứ ba. Đến phần cuối đoạn trích, tác giả lại chuyển về kể theo
ngôi thứ nhất (xưng “tôi”). Ngôi kể ở đoạn trích này có tác dụng khắc hoạ chân dung
Võ Tòng một cách khách quan, sinh động hơn, giúp người đọc nhìn nhận từ nhiều
phía khác nhau,...
b) Câu văn: “Nhưng ai cũng mến gã ở cái tính tình chất phác, thật thả, lúc nào cũng
sẵn sàng giúp đỡ mọi người mà không hề nghĩ đến chuyện người ta có đền đáp lại
minh không." là lời nhận xét của bà Hai — má nuôi của An – về Võ Tòng, Người
nhận xét ấy không phải là người kể trong đoạn trích mà do người kể (nhân vật An)
nhắc lại.
4
c) Các em tham khảo gợi ý ở bài tập 7. Vẽ nhân vật Võ Tòng theo hình dung của em
dựa vào đoạn trích. Có thể vẽ bằng tranh, cũng có thể miêu tả bằng lời về nhân vật
ấy,
ĐỀ 2: Đọc kĩ đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi theo yêu cầu:
“ - Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!
Rồi chị túm lấy cổ hắn, ấn giúi ra cửa. Sức lẻo khoẻo của anh chàng nghiện chạy
không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất,
miệng vẫn nham nhảm thét trói vợ chồng kẻ thiếu sưu.
Người nhà Lý trưởng sấn sổ bước đến, hươ gậy chực đánh chị Dậu. Nhanh như cắt,
chị Dậu nắm ngay được gậy của hắn. Hai người giằng co nhau du đẩy nhau, rồi ai nấy
đều buông gậy ra, áp vào vật nhau. Hai đứa trẻ con kêu khóc om sòm. Kết cục, anh
chành hầu cận ông Lý yếu hơn chị chàng con mọn, hắn bị chị này túm tóc lẳng cho một
cái, ngã nhào ra thềm.
Anh Dậu sợ quá muốn dậy can vợ, nhưng mệt đắm ngồi lên lại nằm xuống, vừa run
vừa rên :
- U nó không được thế! Người ta đánh mình không sao, mình đánh người ta thì mình
phải tù phải tội.
Chị Dậu vẫn chưa nguôi giận;
- Thà ngồi tù. Để cho chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được...
Người nhà lý trưởng hết cơn lặng cá, lóp ngóp bò dậy hắn chỉ vừa thở vừa chửi chị
Dậu, không dám động đến thân thể chị nữa.”
(Theo Ngô Tất Tố)
Câu 1: Tóm tắt đoạn trích?
Câu 2: Nêu cảm nghĩ của em về nhân vật chị Dậu trong đoạn trích?
Câu 3: Xác định cấu tạo của câu văn sau và cho biết đó là kiểu câu nào? Ý nghĩa nội
dung câu có quan hệ như thế nào?
nhau.
Hai người giằng co nhau du đẩy nhau, rồi ai nấy đều buông gậy ra, áp vào vật
Câu 4: Cho câu văn: Nhanh như cắt, chị Dậu nắm ngay được gậy của hắn.
a. Trong câu có dùng phép tu tù nào? Nêu tác dụng của phép tu tù đó?
b. Hãy tìm 5 thành ngữ có cách nói : Nhanh như cắt
Câu 5: Dựa vào nội dung văn bản có chứa đoạn trích trên hãy tưởng tượng em là người
chứng kiến tình huống chị Dậu chống trả lại cai lệ và tên người nhà lý trưởng. Hãy kể
lại bằng lời văn của mình.
GỢI Ý:
Câu 1: - Nêu nội dung đoạn: Chị Dậu đánh trả cai lệ - Nói về việc 'Tức nước vỡ bờ,
Câu 2: Yêu cầu: Nêu được cảm nghĩ về nhân vật: cảm nghĩ về cách cư xử; Cảm nghĩ về
5
hành động,…. Cảm nghĩ về cách xây dựng nhân vật: Đặt vào tình huống để bộc lộ tính
cách.
Câu 3: cấu tạo ngữ pháp:
Hai người //giằng co nhau du đẩy nhau, rồi ai nấy// đều buông gậy ra, áp vào vật
nhau. -> Câu ghép
Câu 4: a. Phép tu từ so sánh
- Tác dụng: Miêu tả hành động nhanh nhẹn của chị Dậu
b. Nhanh như chớp; Nhanh như điện; Nhanh như gió; Nhanh như sóc; Nhanh
như tên
Câu 5:
1. Mở bài:
- Giới thiệu hoàn cảnh gia đình chị Dậu.
- Tình huống người kể sang nhà chị Dậu.
2. Thân bài
- Diễn biến sự việc
+ Chị Dậu đang chăm sóc chồng…
+ Thái độ của tên cai lệ và tên người nhà lý trưởng khi mới đến, Chị Dậu cầu xin ra
sao…
+ Cao trào của sự việc (thái độ hung hãn của tên cai lệ, sự phản ứng qua từng cách
xưng hô của chị Dậu, hai bên lao vào…)
+ Kết quả sự việc qua lời khẳng định của chị Dậu…
3. Kết bài
- Ca ngợi hành động của chị Dậu vì thương chồng đã dũng cảm đứng lên bảo vệ chồng.
- Khẳng định ý nghĩa của quy luật
ĐỀ 3: Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
có
áp
bức,
có
đấu
tranh
“ Bước lên sàn điếm, Lý trưởng quăng tạch cuốn sổ xuống sàn, giơ tay chỉ vào
mặt mấy tên đàn em:
- Hiệu không thổi, để làm sỏ bố chúng bay à?
Một hồi còi tu tu đồng thời nổi lên, hiệu sừng sen với hiệu ốc theo đúng hiệu ốc
cố theo đúng mệnh của "nhất lý chi trưởng".
Ðập hai bàn chân vào nhau, rũ cho sạch bụi, rồi co chân lên ngồi vào chiếu, Lý
trưởng vớ luôn lấy chiếu điếu cầy và sai tuần phủ lấy đóm, thổi lửa.
Mấy anh thợ cày của những điền chủ đã nộp đủ thuế, bạo dạn tiến đến trước mặt
ông Lý:
- Thưa ông, trưa lắm rồi! Xin ông cho tuần mở cổng để chúng tôi đánh trâu đi
cầy!...
- Thong thả! Hãy đứng đấy! Cầy đã nóng bằng thuế của nhà nước à?
Vừa nói, Lý trưởng vừa giặt mồi thuốc vào điếu, hút luôn một sạp ba điếu. khói
thuốc theo hai lỗ mũi tuôn ra như hai ngà voi. Lý trưởng dõng dạc.
6
- Trương tuần, anh bảo nó mở cổng ra. Nhà nào đủ thuế thì cho trâu bò ra đồng.
Còn nhà nào thiếu thì bắt trâu bò điệu cả về đình cho tôi, để tôi liệu cho chúng nó! ”
(Ngô Tất Tố, Tắt Đèn )
Câu 1. Chỉ ra các kiểu câu được sử dụng trong đoạn trích .
Câu 2. Trong cuộc thoại trên, có mấy nhân vật và mỗi nhân vật có mấy lượt lời.
Câu 3. Từ cuộc thoại trên, em hiểu gì về nội dung của đoạn trích.
Câu 4: Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật văn bản chứa đoạn văn trên. Từ nội dung
văn bản đó, em rút ra được quy luật gì trong cuộc sống?
Câu 6: Trong cuộc sống hôm nay, nếu chứng kiến cảnh người phụ nữ hay một bé gái
bị chồng, cha ngược đãi, em sẽ ứng xử như thế nào?
GỢI Ý
1
2
3
4
Trong đoạn trích có 4 kiểu câu được sử dụng đó là:
- Câu nghi vấn:
+ Hiệu không thổi, để làm sỏ bố chúng bay à?
+Cầy đã nóng bằng thuế của nhà nước à?
- Câu cảm thán: Thưa ông, trưa lắm rồi!
- Câu cầu khiến:
+ Xin ông cho tuần mở cổng để chúng tôi đánh trâu đi cầy!...
+Thong thả! Hãy đứng đấy!
- Câu trần thuật:
+ Bước lên sàn điếm, Lý trưởng quăng tạch cuốn sổ xuống sàn, giơ
tay chỉ vào mặt mấy tên đàn em
+ Ðập hai bàn chân vào nhau, rũ cho sạch bụi, rồi co chân lên
ngồi vào chiếu, Lý trưởng vớ luôn lấy chiếu điếu cầy và sai tuần
phủ lấy đóm, thổi lửa.
+ Mấy anh thợ cày của những điền chủ đã nộp đủ thuế, bạo dạn
tiến đến trước mặt ông Lý
+ Vừa nói, Lý trưởng vừa giặt mồi thuốc vào điếu, hút luôn một sạp
ba điếu. khói thuốc theo hai lỗ mũi tuôn ra như hai ngà voi. Lý
trưởng dõng dạc…
Trong cuộc thoại trên có: 3 nhân vật (có 2 nhân vật có lời thoại)
- Lý trưởng: Có 3 lượt lời
- Thợ cày: Có 1 lượt lời
Trong đoạn trích trên là cuộc thoại giữa Lý trưởng với thợ cày. Thợ
cày xin được mở cổng làng cho trâu đi cày, nhưng ông Lý chưa cho
vì còn nhiều người chưa nộp thuế.
*Giá trị nội dung: Bằng ngòi bút hiện thực sinh động, đoạn trích
“Tức nước vỡ bờ” đã vạch rõ bộ mặt xấu xa, tàn bạo của xã hội thực
dân phong kiến đương thời đẩy người nông dân vào tình cảnh vô
7
cùng khốn khổ, bế tắc, khiến họ phải liều mạng cự lại. Đoạn trích
còn cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ nông dân, vừa giàu
tình yêu thương vừa có sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ
*Giá trị nghệ thuật
+ Nghệ thuật tạo tình huống truyện có tính kịch
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật: miêu tả nhân vật chân thật, sinh
động về ngoại hình, ngôn ngữ, hành động, tâm lí.
+ Đoạn trích tiêu biểu cho ngòi bút hiện thực, ngôn ngữ kể chuyện
vô cùng linh hoạt.
*Từ nội dung văn bản, em rút ra được quy luật: Tức nước vỡ bờ,
có áp bức có đấu tranh
Giải thích để người ngược đãi hiểu đó là việc làm vi phạm luật bình
đẳng giới, vi phạm quyền trẻ em.
5
- Chạy báo để mọi người xung quanh cùng biết, cùng can ngăn, đưa
người bị hại ra khỏi nơi bị ngược đãi.
- Báo cho chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng gần nhất
để kịp thời xử lý kẻ ngược đãi.
1. THƠ BỐN CHỮ, NĂM CHỮ
ĐỀ 1: Đọc bài thơ Ông đồ (Vũ Đình Liên) và trả lời câu hỏi
ÔNG ĐỒ (Vũ Đình Liên)
8
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực Tàu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài:
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa, rồng bay”
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu...
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay
1936
(Hoài Thanh, Hoài Chân,
Thi nhân Việt Nam,
NXB Văn học, 2007)
Câu 1. Xác định thể thơ (chỉ ra các dấu hiệu nhận biết thể thơ), đề tài và chủ đề của bài
thơ.
Câu 2. Điền các thông tin vào Phiếu học tập sau để tìm hiểu hình ảnh ông đồ.
Tìm hiểu những từ ngữ, chi tiết miêu
Khổ 1,2
Khổ 3,4
tả:
1. Khung cảnh, thời gian:
......
......
2. Hình ảnh ông đồ
3. Các biện pháp nghệ thuật đặc sắc
......
......
được tác giả sử dụng để miêu tả ông đồ:
4. Thái độ, tình cảm của mọi người
......
......
dành cho ông đồ.
5. Tâm trạng của ông đồ trước thái độ
......
......
tình cảm của mọi người
6. Tình cảm của tác giả dành cho ông
......
......
đồ
7. Nhận xét tình cảm của tác giả với ông
......
......
đồ ở khổ cuối.
Câu 3. Bài thơ gợi trong em tình cảm, cảm xúc gì?
*GỢI Ý
Câu 1.
9
- Thể thơ: năm chữ. Dấu hiệu nhận biết: Có 5 chữ mỗi dòng, gồm 5 khổ, mỗi khổ 4
câu. Vần chân (gieo ở tiếng cuối câu, vần cách, vần liền, bằng trắc xen kẽ hoặc nối
tiếp). Ngắt nhịp: 2/3 hoặc 3/2.
- Đề tài: Viết về ông đồ.
- Chủ đề: Thể hiện niềm thương cảm của nhà thơ với ông đồ và lớp người như ông,
niềm nhớ tiếc quá khứ với những phong tục văn hóa đẹp đẽ.
Câu 2.
Tìm hiểu
Khổ 1,2
Khổ 3,4
những từ ngữ,
chi tiết miêu
tả:
1. Khung
cảnh, thời
gian:
2. Hình ảnh
ông đồ:
+ Thời gian: “Mỗi năm”, thời
điểm “hoa đào nở”;
+ Không gian: “phố đông người ”;
+ Công việc: “Bày mực tàu giấy
đỏ”;
+ Hình ảnh “hoa đào”- loài hoa
mang tín hiệu của mùa xuân gợi ta
nhớ đến không khí ngày Tết cổ
truyền của dân tộc.
+ Cùng mực tàu, giấy đỏ góp phần
vào sự đông vui náo nhiệt của phố
phường.
+ Ông trở thành trung tâm của bức
tranh xuân, là đối tượng để mọi
người ngưỡng mộ, ngợi ca.
+ Trong niềm vui đông khách,
ông như người nghệ sĩ được trổ tài
trước công chúng - đưa tay viết
những nét chữ thanh cao, bay
bổng, phóng khoáng: “Hoa tay
thảo những nét/Như phượng múa
rồng bay”
+ Thời gian: “Mỗi năm mỗi
vắng”;
+ Không gian: “người thuê viết
này đâu? không ai hay”; “giấy đỏ
buồn, mực đọng, lá vàng rơi,
mưa bụi bay…”
+ Công việc: “ngồi đấy”
+ Ông đồ trở thành người nghệ sĩ
mất công chúng, niềm vui viết
chữ giúp ích cho mọi người
không còn nên ngồi buồn trong
nỗi sầu tủi.
+ Nỗi buồn sầu của ông như
thấm sâu vào cảnh vật phản
chiếu lên giấy, nghiên mực:
“Giấy đỏ buồn không thắm/Mực
đọng trong nghiên sầu”
+ Dù mọi người không còn mến
mộ đến tìm mua chữ “ông đồ
vẫn ngồi đấy”- bên hè phố đông
người, vẫn bám trụ cuộc sống,
vẫn muốn góp phần vào sự đông
vui của phố phường, vẫn muốn
giúp ích cho mọi người thế
nhưng người đời quên hẳn ông,
không ai chú ý đến sự có mặt của
ông trên hè phố: “Lá vàng rơi
trên giấy/Ngoài giời mưa bụi
10
3. Các biện
pháp nghệ
thuật đặc
sắc được tác
giả sử dụng
để miêu tả
ông đồ:
- Phụ từ lại cụm từ mỗi năm gợi
sự lặp lại thời gian, lặp lại hình
ảnh ông đồ xuất hiện bên phố vào
mỗi dịp Tết đến, xuân về.
- Biện pháp nghệ thuật so sánh đã
gợi tài năng viết chữ, niềm vui
đông khách của ông đồ khi được
giúp ích cho mọi người, cho cuộc
đời.
4. Thái độ,
tình cảm
của mọi
người dành
cho ông đồ.
+ Nô nức tìm đến ông đồ để mua
chữ;
+ Tấm tắc, ngợi ca tài viết chữ
đẹp của ông.
-> Thể hiên thái độ mến mộ, quý
trọng ông đồ - yêu mến chữ nho,
mến mộ chữ nho- nét đẹp văn hóa
truyền thống của dân tộc.
bay”
+ Từ ngữ: “nhưng” gợi sự ngạc
nhiên bất thường đổi khác trong
thái độ của mọi người với ông
đồ, “mỗi năm” gợi sự lặp lại của
thời gian.
+ Câu hỏi tu từ “Người thuê viết
nay đâu?” thể hiện thái độ ngạc
nhiên, ngậm ngùi chua xót về sự
thay đổi thái độ của người đời
với ông đồ.
+ Nghệ thuật đối lập: Thể hiện
sự cô đơn, lạc lõng của ông đồ,
gợi niềm xót xa cho ông đồ lớp
trí thức lỗi thời, niềm xót xa khi
nét đẹp văn hóa cổ truyền, nét
đẹp tâm hồn không còn nữa.
+ Nhân hóa: “Giấy đỏ buồn,
nghiên sầu“ -> giúp lời thơ giàu
sức gợi, gợi nỗi buồn sầu trĩu
nặng trong lòng ông đồ thấm
sâu, lan tỏa vào cảnh vật.
- Tả cảnh ngụ tình: gợi hình ảnh
lá vàng rơi rụng, cùng mưa bụi
đang phủ lên vai ông đồ, rơi trên
giấy đỏ…
-> Gợi hình ảnh đáng thương của
ông đồ đang chìm vào quên lãng,
chìm vào không gian đầy mưa
gió.
+ Theo thời gian mọi người tìm
đến ông đồ mua chữ ít dần, “Mỗi
năm, mỗi vắng”, rồi vắng bóng
“Người thuê viết nay đâu?”
+ Không ai chú ý đến sự có mặt
của ông đồ “Qua đường không
ai hay”
-> Sự thay đổi thái độ của mọi
người với ông đồ là biểu hiện
của nền văn hóa bị lụi tàn, bị đổi
thay giá trị, nét đẹp văn hóa một
11
5. Tâm
trạng ……
6. Tình cảm
của tác giả
dành cho
ông đồ:
7. Niềm
hoài cổ của
tác giả với
ông đồ ở
khổ cuối
Câu 3.
Vui, phấn khởi, đắc ý,...
thời nay không còn nữa.
Buồn, cô lẻ, bơ vơ,…
Yêu mến, kính trọng ông đồ - tấm
lòng mến mộ nhà nho, chữ Nho
nét đẹp văn hóa cổ truyền đáng
trân trọng.
+ Buồn, xót thương cho ông đồ,
cho một nét đẹp văn hóa lụi tàn.
+ Buồn thương cho ông đồ và
lớp người như ông đã bị người
đời lãng quên.
- Hình ảnh: “Hoa đào”, “ông đồ” được lặp lại tạo nên kết cấu đầu - cuối
tương ứng, tương phản “Cảnh cũ người đâu?”
+ Hoa đào nở, cái đẹp bất biến >< Người biến mất, vắng bóng.
- Tác giả gọi “ông đồ xưa” thể hiện một cách tinh tế ông đồ không còn
nữa “Đã chết theo một thời tàn”. Qua đó bộc lộ tâm trạng hẫng hụt, nuối
tiếc của tác giả.
- Khi không thấy ông đồ tác giả thảng thốt: “Những người muôn năm
cũ/Hồn ở đâu bây giờ?”
+ “Người muôn năm cũ”: những người có tâm hồn cao đẹp. Đó là những
nhà nho vang bóng một thời, là những người từng yêu mến nhà nho, chữ
nho. Đó là cách gọi tôn vinh thể hiện tấm lòng quý trọng của tác giả.
+ Lời thơ như tiếng gọi hồn, thể hiện niềm hoài cổ, nhớ tiếc của tác giả
với ông đồ, với lớp trí thức lỗi thời, với những gì từng là giá trị nay rơi
vào quên lãng.
Bài thơ gợi trong em tình cảm, cảm xúc:
- Yêu mến, ngưỡng mộ, ngợi ca ông đồ;
- Ngậm ngùi, thương cảm khi ông đồ phải ra lề phố bán chữ.
ĐỀ 2. Viết đoạn văn cảm nhận cái hay của hai câu thơ:
Đoạn văn tham khảo
a. Cảm nhận cái hay của hai câu thơ
Giấy đỏ buồn không thắm
12
Mực đọng trong nghiên sầu
Hai câu thơ với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc đã nói lên nỗi buồn sầu tủi của
ông đồ khi vắng bóng những người thuê viết. Trong hoàn cảnh Tết đến xuân về khi hoa
đào rực nở, ông đồ vẫn xuất hiện bên phố mong giúp ích cho đời với niềm vui thảo chữ
đầu năm, nhưng người đời đã thay đổi thái độ với ông. Phố vẫn đông nhưng khách đến
mua chữ vắng dần, mỗi năm mỗi vắng. Bên phố đông người, ông ngồi buồn nhìn dòng
đời qua lại như có ý đợi chờ khách tìm đến. Nhưng phố vẫn đông mà chẳng ai chú ý đến
ông đến sự có mặt của ông bên lề phố để nỗi buồn của ông như thấm vào cánh vật “Giấy
đỏ buồn không thắm/Mực đọng trong nghiên sầu”. Với nghệ thuật nhân hóa đặc sắc (các
từ buồn, sầu vốn chỉ tâm trạng của con người được sử dụng trong lời thơ năm chữ Vũ
Đình Liên đã tạo nên lời thơ tả cảnh ngụ tình tuyệt bút, khiến cho các sự vật vô tri như
giấy và nghiên mực như có linh hồn, cũng cảm thấy như con người bơ vơ lạc lõng. Hình
ảnh thơ gợi cho ta thấy từng tờ giấy đỏ cứ phơi ra mà chẳng được bút lông chạm đến trở
nên bẽ bàng, màu đỏ của nó cũng không thắm lên được, không thể tươi màu son đỏ.
Nghiên mực không được bút lông chấm vào nên không còn sóng sánh đen đặc mà như
đọng nỗi sầu buồn tủi. Hình ảnh thơ phản chiếu tâm hồn ông đồ - một nỗi buồn u ám, trĩu
nặng lên nghiên mực. Nỗi sầu tủi kết đọng hòa cùng mực, màu nước mắt, tạo thành nỗi
sầu tủi của giấy mực, của nghiên, của chính ông đồ. Từ “đọng” như kéo nỗi buồn trĩu
xuống, sầu kéo dài nỗi buồn thêm cùng đó. Dấu ba chấm lan tỏa trong không gian làm
người đọc thêm nặng trĩu thương ông đồ và lớp người như ông. Và càng buồn hơn trước
sự vô tình của người đời, khi nét đẹp văn hóa một thời không còn nữa.
b. Cảm nhận cái hay của hai câu thơ:
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay
Hai câu thơ với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc đã nói lên nỗi buồn trĩu nặng của ông đồ
trước sự thờ ơ vô tình của người đời. Mỗi năm mỗi vắng, Tết đến xuân về, khi hoa đào rực
nở, ông đồ vẫn xuất hiện bên phố vẫn mong được góp ích cho cuộc đời nhưng người đời đã
quên hẳn ông, thờ ơ đến vô tình. Ông ngồi bên phố đông người với ánh mắt buồn nhìn dòng
đời qua lại. Và nỗi buồn sầu của ông như thấm vào cảnh vật “Lá vàng rơi trên giấy/Ngoài
trời mưa bụi bay”. “Lá vàng” là lá cuối đông thả mình rơi trên giấy, đó là biểu hiện sự rơi
rụng, tàn lụi. “Mưa bụi” là mưa nhỏ, nhè nhẹ. Hai câu thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc cho thấy
trời đất cũng ảm đạm như chính lòng ông đồ. Tờ giấy đỏ lúc trước không thắm lên được,
giờ lại được phủ lá vàng: gió mưa lá rụng phủ lên mặt giấy, lên vai ông đồ, mưa trên phố
nhè nhẹ mà thấm đẫm nỗi buồn. Hình ảnh ông đồ như chìm dần, nhòe dần vào không gian
đầy mưa gió. Mưa trên phố chính là mưa trong lòng người, để rồi từ đó vĩnh viễn không còn
nhìn thấy ông đồ. Hình ảnh “lá vàng”, “mưa bụi” đã dệt nên tấm khăn liệm đưa ông đồ về
cõi vĩnh hằng. Hai câu thơ gợi trong lòng ta niềm xót thương cho ông đồ, cho lớp người trở
thành lỗi thời - thương cho những gì từng là giá trị, nay trở thành tàn tạ, rơi vào quên lãng.
ĐỀ 3: Đọc bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh và trả lời các câu hỏi:
Trên đường hành quân xa
[...] Tiếng gà trưa
Tiếng gà trưa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Tay bà khum soi trứng
Mang bao nhiêu hạnh phúc
13
Tiếng gà ai nhảy ổ:
“Cục... cục tác cục ta”
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đỡ mỏi
Nghe gọi về tuổi thơ
Tiếng gà trưa
Ổ rơm hồng những trứng
Này con gà mái mơ
Khắp mình hoa đốm trắng
Này con gà mái vàng
Lông óng như màu nắng
Dành từng quả chắt chịu
Cho con gà mái ấp
Đêm cháu về nằm mơ
Giấc ngủ hồng sắc trứng
Cứ hàng năm hàng năm,
Khi gió mùa đông tới
Bà lo đàn gà toi
Mong trời đừng sương muối
Để cuối năm bán gà
Cháu được quần áo mới.
Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi, cũng vì bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ.
Ôi cái quần chéo go
Ống rộng dài quét đất
Cái áo cánh chúc bâu
Đi qua nghe sột soạt.
2-7-1965 (Xuân
Quỳnh, Hoa dọc chiến hào,
NXB Văn học, Hà Nội,
1968, tr. 5 — 7)
Câu hỏi:
Câu 1: Nêu một số đặc điểm hình thức của bài thơ Tiếng gà trưa trên các phương diện: số
tiếng trong mỗi dòng, số dòng trong mỗi khổ, cách gieo vần, ngắt nhịp.
Câu 2 : Tiếng gà trưa là một bài thơ có yếu tố tự sự. Em hãy cho biết ai là người kể
chuyện và nội dung câu chuyện được kể là gì.
Vẽ sơ đồ theo mẫu sau vào vở và điền vào sơ đồ những sự việc chính trong câu chuyện:
Câu 3: Hình ảnh đàn gà của bà trong kí ức của cháu được miêu tả như thế nào?
Câu 4: Tiếng gà trưa gợi người cháu nhớ về tuổi thơ được bà yêu thương. Nêu cảm nhận
của em về tình cảm của bà dành cho người cháu.
Câu 5: Xác định biện pháp tu từ điệp ngữ trong khổ thơ sau và nêu tác dụng của biện
pháp tu từ đó:
Cháu chiến đấu hôm nay
Vì tiếng gà cục tác
Vì lòng yêu Tổ quốc
Ổ trứng hồng tuổi thơ.
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi, cũng vì bà
Câu 6: Chỉ ra những nét tương đồng giữa hình ảnh người cháu trong bài thơ Tiếng gà
trưa và hình ảnh người con trong bài thơ Gặp lá cơm nếp.
14
GỢI Ý:
Câu 1: Nêu một số đặc điểm hình thức của bài thơ Tiếng gà trưa trên các phương diện: số
tiếng trong mỗi dòng, số dòng trong mỗi khổ, cách gieo vần, ngắt nhịp.
Một số đặc điểm hình thức của bài thơ:
- Bài thơ Tiếng gà trưa viết theo thể thơ năm chữ. Tuy nhiên, có ba khổ mà dòng đầu mỗi
khổ chỉ có ba tiếng: Tiếng gà trưa. Việc lặp lại những dòng thơ ba tiếng đó nhấn mạnh ấn
tượng của người cháu về âm thanh tiếng gà mỗi buổi trưa hè. Tiếng gà vang lên trong thực
tại gợi nhớ về tiếng gà tuổi thơ - khi cháu được sống bên bà, được bà yêu thương, chăm
sóc.
- Số dòng trong mỗi khổ không đều nhau: Khổ 1 dài nhất với 7 dòng. Các khổ còn lại chỉ
gồm 4 hoặc 6 dòng.
- Cách gieo vần của bài thơ cũng khá linh hoạt:
Tiếng gà trưa
Ổ rơm hồng những trứng
Này con gà mái mơ
Khắp mình hoa đốm trắng
Này con gà mái vàng
15
Lông óng như màu nắng
- Ngắt nhịp: đa phần các dòng trong bài thơ ngắt nhịp 3/2 và 2/3, luân phiên khá nhịp
nhàng.
Trên đường /hành quân xa
Dừng chân / bên xóm nhỏ
Tiếng gà ai/ nhảy ổ:
“Cục... cục tác / cục ta”
Nghe xao động / nắng trưa
Nghe bàn chân / đỡ mỏi
Nghe gọi về / tuổi thơ
Câu 2 :
Tiếng gà trưa là một bài thơ có yếu tố tự sự. Người kể chuyện là người cháu đang trên
đường hành quân đi chiến đấu.
Sơ đồ những sự việc chính trong câu chuyện:
Câu 3:
Hình ảnh đàn gà của bà trong kí ức của cháu được miêu tả rất sinh động:
- Đó là một đàn gà mái nhiều màu sắc, con nào cũng đẹp và rất khoẻ mạnh. Có con gà mái
mơ mình vàng với những đốm lông màu trắng như hoa mơ, có con gà lông màu vàng óng
như màu nắng. Có ổ rơm hồng những trứng.
- Biện pháp tu từ điệp ngữ này con gà khiến hình ảnh những con gà mái ...
 








Các ý kiến mới nhất