Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Giáo án học kì 1

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trung Tiến
Ngày gửi: 20h:49' 25-04-2025
Dung lượng: 36.1 KB
Số lượt tải: 12
Số lượt thích: 0 người
Ngày soạn:
Ngày giảng: 22/11/2023 (8A1)
27/11/2023 (8A2)
TIẾT 48,49:
VĂN BẢN 3. MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI
TRONG THƠ TRÀO PHÚNG
(Trần Thị Hoa Lê)
I. Mục tiêu
1. Năng lực
Yêu cầu tối thiểu đối với học sinh
- HS chỉ ra được đối tượng miêu tả, thể hiện của văn học trào phúng trong
văn bản
- HS trình bày cách hiểu về giọng điệu trào phúng thông qua một số nhận
định trong văn bản
Yêu cầu với học sinh khá giỏi
- HS chỉ ra được đối tượng miêu tả, thể hiện của văn học trào phúng trong
văn bản
- HS trình bày cách hiểu về giọng điệu trào phúng thông qua một số nhận
định trong văn bản
2. Phẩm chất:
- Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
- Trách nhiệm, trung thực
II. Thiêt bị và học liệu
Thiết bị: Máy tính, máy chiếu…
Học liệu: Video, phiếu học tập..
III. Tiến trình dạy học
Hoạt động 1: Mở đầu (3-5')
a. Mục tiêu: Tạo hứng thú cho HS, thu hút HS sẵn sàng thực hiện nhiệm
vụ học tập của mình từ đó HS khắc sâu kiến thức nội dung bài Một số giọng
điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng
b. Tổ chức thực hiện:
- GV đặt câu hỏi “Em đã được học và mong muốn biết thêm nội dung nào
ở thể thơ trào phúng?” Hãy điền vào bảng KWL sau
- HS tham gia chia sẻ
- GV mời từng thành viên trong lớp chia sẻ
- GV nhận xét, khen ngợi HS.
- Từ chia sẻ của HS, GV dẫn dắt vào bài học mới
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức
a. Mục tiêu: Nắm được những thông tin về tác phẩm Một số giọng điệu
của tiếng cười trong thơ trào phúng. HS chỉ ra được đối tượng miêu tả, thể hiện
của văn học trào phúng trong văn bản. HS trình bày cách hiểu về giọng điệu trào
phúng thông qua một số nhận định trong văn bản
b. Tổ chức thực hiện:

Nhiệm vụ 1: Đọc, tìm hiểu chung
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS

DỰ KIẾN SẢN PHẨM
I. Đọc, Tìm hiểu chung
- GV yêu cầu HS đọc thông tin trong 1. Đọc
SGK, nêu hiểu biết về tác giả, tác 2. tìm hiểu chung
phẩm.
- HS tiếp nhận nhiệm vụ.
1. Tác giả
- HS đọc thông tin và chuẩn bị trình - Trần Thị Hoa Lê
bày.
- GV mời 1 – 2 HS phát biểu, yêu cầu
cả lớp nhận xét, góp ý, bổ sung (nếu 2. Tác phẩm
cần thiết).
- GV nhận xét, đánh giá, chốt kiến Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng
thức.
9/2022
Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu văn bản
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS

DỰ KIẾN SẢN PHẨM
II. Tìm hiểu văn bản
- GV chia lớp thành 4 nhóm, yêu cầu 1. Đối tượng miêu tả, thể hiện của
các nhóm thảo luận các câu hỏi:
văn học trào phúng.
H: Đối tượng miêu tả, thể hiện của
văn học trào phúng là gì? Văn bản đã
nêu những đối tượng cụ thể nào mà
tiếng cười trào phúng thường nhằm
tới?
* Tiếng cười trong văn chương xuất
hiện muộn và không đều đặn trong
các tác phẩm văn học viết thời trung
đại. Đặc biệt ở thể loại truyện
ngắn/truyện văn xuôi chữ Hán, phải
đến cuối thế kỷ XIV sang thế kỷ XVI,
tiếng cười hiếm hoi mới thực sự xuất
hiện một cách dè dặt. 
Thơ trào phúng mang đậm màu sắc
cuộc sống, phản ánh được những góc
trần trụi của cuộc sống. Khác với thơ
lãng mạn, thơ trào phúng dùng tiếng
cười để xây dựng tư tưởng, tình cảm
cho con người, chống lại cái xấu xa,
lạc hậu, thoái hóa, rởm đời, hoặc để
đả kích, vạch mặt kẻ thù, đánh vào
những tư tưởng, hành động mang bản
chất thù địch với con người. Vạch
mâu thuẫn của sự vật – mâu thuẫn
giữa cái bên ngoài và cái thực chất

bên trong – để làm cho người đọc
nhận thấy sự mỉa mai, trào lộng của
sự vật là cách làm chủ yếu của thơ
trào phúng; cho nên thơ trào phúng
thường sử dụng lối nói phóng đại, so
sánh, chơi chữ dí dỏm hay lời nói mát
mẻ sâu cay. 

Hết tiết 48 chuyển tiết 49
Ngày giảng: 27/11/2023 (8A1)
29/11/2023 (8A2)
H: Văn bản đề cập đến những giọng
điệu nào của tiếng cười trong thơ
trào phúng? Hãy chỉ rõ dấu hiệu để
nhận biết từng giọng điệu?
- HS tiếp nhận nhiệm vụ
- Các nhóm thảo luận, điền vào phiếu
học tập.
- GV mời đại diện các nhóm dán
phiếu học tập lên bảng.
- GV nhận xét, đánh giá, chốt kiến
thức Ghi lên bảng.
Văn bản đề cập đến những giọng điệu
của tiếng cười trong thơ trào phúng là
hài hước, mỉa mai - châm biếm, đả
kích...
Dấu hiệu để nhận biết từng giọng
điệu:
- Hài hước: cách đùa cợt nhẹ nhàng
cùng những yếu tố khác lạ phóng
túng, phá vỡ các khuôn khổ quen
thuộc.
- Mỉa mai – châm biếm: cách tạo ra
những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gic,

- Đối tượng miêu tả, thể hiện trong văn
học trào phúng là sự bất toàn của con
người, cuộc sống.
- Văn bản đã nêu những đối tượng cụ
thể mà tiếng cười trào phúng thường
nhắm tới: những thói xấu (tự mãn, kiêu
căng, đạo đức giả, keo kiệt…), tham
quan trong xã hội xưa, tình trạng đạo
đức gia đình và xã hội xuống cấp
nghiêm trọng.
2. Những giọng điệu của tiếng cười
trong thơ trào phúng.

đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên
tiếng phê phán, thanh lọc những thói
xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo
đức giả, keo kiệt,…
- Đả kích: thường mang giọng điệu
phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện
quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác
giả, có thể là những ngôn từ mang
tính “mắng chửi”, có phần suồng sã,
thô mộc.
H:Trong các giọng điệu của tiếng
cười ở thơ trào phúng mà văn bản đề
cập, em cảm thấy thích thú với giọng
điệu nào? Vì sao?
Lời giải chi tiết:
Trong các giọng điệu của tiếng cười ở
thơ trào phúng mà văn bản đề cập, em
cảm thấy thích thú với giọng điệu đả
kích. Ví nó là sự phủ nhận gay gắt của
đối tượng đồng thời cũng thể hiện
được đạo đức và quan niệm về nhân
sinh của người viết.

H: Trình bày cách hiểu của em về
nhận định: “Tiếng cười trong văn
chương nói chung, thơ trào phúng nói
riêng thật phong phú và đa sắc màu
như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy
thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu,
hướng mỗi con người đến những giá

- Những giọng điệu của tiếng cười
trong thơ trào phúng: hài hước, mỉa
mai - châm biếm, đả kích.
- Từng giọng điệu đều có những dấu
hiệu nhận biết rõ ràng:
+ Hài hước: cách đùa cợt nhẹ nhàng
cùng những yếu tố khác lạ phóng túng,
phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc.
+ Mỉa mai – châm biếm: cách tạo ra
những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gic,
đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên
tiếng phê phán, thanh lọc những thói
xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo
đức giả, keo kiệt,…
+ Đả kích: thường mang giọng điệu
phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện
quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác
giả, có thể là những ngôn từ mang tính
“mắng chửi”, có phần suồng sã, thô
mộc.
3. Nhận định.
- "Tiếng cười trong văn chương nói
chung, thơ trào phúng nói riêng thật
phong phú và đa sắc màu như chính
cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết
để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con
người đến những giá trị cao đẹp hơn".

trị cao đẹp hơn”.
Lời giải chi tiết:
Thơ trào phúng mang đậm màu sắc
cuộc sống, phản ánh được những góc
trần trụi của cuộc sống. Khác với thơ
lãng mạn, thơ trào phúng dùng tiếng
cười để xây dựng tư tưởng, tình cảm
cho con người, chống lại cái xấu xa,
lạc hậu, thoái hóa, rởm đời, hoặc để
đả kích, vạch mặt kẻ thù, đánh vào
những tư tưởng, hành động mang bản
chất thù địch với con người. Vạch
mâu thuẫn của sự vật – mâu thuẫn
giữa cái bên ngoài và cái thực chất
bên trong – để làm cho người đọc
nhận thấy sự mỉa mai, trào lộng của
sự vật là cách làm chủ yếu của thơ
trào phúng; cho nên thơ trào phúng
thường sử dụng lối nói phóng đại, so
sánh, chơi chữ dí dỏm hay lời nói mát
mẻ sâu cay.
Qua việc vạch trần cái xấu và mỉa mai
thói đời xấu xí, tiếng cười trào phúng
có thể đẩy lùi cái xấu và hướng con
người ta vươn tới những giá trị cao
đẹp, nhân văn hơn.
H: Vận dụng tri thức từ văn bản Một
số giọng điệu của tiếng cười trong
thơ trào phúng,  em hãy cho biết: Hai
bài thơ Lễ xướng danh khoa Đinh
Dậu  và Lai Tân sử dụng những giọng
điệu nào của tiếng cười trào phúng?
Lời giải chi tiết:
Hai bài thơ Lễ xướng danh khoa Đinh
Dậu và Lai Tân sử dụng những giọng
điệu: châm biếm, đả kích.
Nhiệm vụ 3: Tổng kết

Hoạt động của GV&HS

Nội dung

- HĐCN (1p) Em hãy khái quát lại
nội dung và nghệ thuật bài Phân
tích một số giọng điệu của tiếng cười
trong thơ trào phúng.
Hs suy nghĩ trả lời.
Gv kết luận.

III. Tổng kết.
1. Nghệ thuật
- Luận điểm ngắn gọn, tập trung, sắp
xếp theo một trình tự hợp lí.
- Luận cứ xác đáng, toàn diện, nhận
xét sâu sắc.
- Luận chứng phong phú, cụ thể, xác
thực.
2. Nội dung
Văn bản đề cập đến những giọng điệu
của tiếng cười trong thơ trào phúng là
hài hước, mỉa mai - châm biếm, đả
kích... qua đó thể hiện nét đắc trong
nghệ thuật trào phúng trong văn học
Việt Nam.

Hoạt động 3: Luyện tập
a. Mục tiêu: Củng cố lại kiến thức đã học về văn bản Một số giọng điệu
của tiếng cười trong thơ trào phúng
b. Tổ chức thực hiện:
Hoạt động của GV – HS

Nội dung cần đạt

- HS trình bày trước lớp
IV. Luyện tập: Vẽ sơ đồ tư duy hệ
- GV mời một số HS trình bày thống các giọng điệu của tiếng cười
trước lớp, yêu cầu cả lớp nghe, nhận trào phúng mà văn bản đề cập
xét, bổ sung.
- GV nhận xét, đánh giá
Hoạt động 4: Củng cố và hướng dẫn học bài (5')
a. Mục tiêu: Vận dụng kiến thức đã học về văn bản Một số giọng điệu
của tiếng cười trong thơ trào phúng để trả lời câu hỏi
b. Tổ chức thực hiện:
Vận dụng tri thức từ văn bản Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ
trao phúng, em hãy cho biết: Hai bài thơ Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu và Lai
Tân sử dụng những giọng điệu nào của tiếng cười trào phúng?
- HS thực hiện chia sẻ
- GV mời một số HS trình bày trước lớp, yêu cầu cả lớp nghe, nhận xét, bổ sung.
- GV nhận xét, đánh giá
* Hướng dẫn về nhà

- GV dặn dò HS:
+ Ôn tập, nắm được các nội dung chính của văn bản
+ Soạn bài: Viết - Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học
……………………………………………….
Ngày giảng: 22/11/2023 (8A1)
29/11/2023 (8A2)
TIẾT 50,51,52: VIẾT.
VIẾT BÀI VĂN PHÂN TÍCH MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC
(THƠ TRÀO PHÚNG)
I. MỤC TIÊU
1. Năng lực.
* Yêu cầu tối thiểu đối với học sinh.
- Hs biết cách viết bài văn đảm bảo các bước: chuẩn bị trước khi viết (xác
định đề tài, mục đích, thu thập tư liệu), tìm ý và lập dàn ý; chỉnh sửa bài viết; rút
kinh nghiệm
- Phân tích được nội dung trào phúng của bài thơ để làm roc chủ đề.
- HS biết cách viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (Thơ trào
phúng).
- HS phân tích được nội dung cơ bản của tác phẩm thơ trào phúng
* Yêu cầu đối với học sinh khá giỏi.
- Chỉ ra được tác dụng của một số nét đặc sắc nghê thuật trào phúng được
thể hiện trong bài thơ. Khẳng định được giá trị, ý nghĩa của bài thơ. Liên hệ mở
rộng vấn đề.
2. Phẩm chất:
- Có ý thức vận dụng kiến thức vào giao tiếp và tạo lập văn bản.
- Biết yêu quý, trân trọng những giá trị văn hóa, văn học truyền thống.
Yêu mến thơ ca, biết rung động trước vẻ đẹp của những bài thơ hay.
- Thích đọc sách, báo, tìm tư liệu trên mạng Internet để mở rộng hiểu biết.
* Nội dung tích hợp: Có ý thức phê phán cái xấu, tiêu cực và hướng tới
những điều tốt đẹp trong suy nghĩ và hành động.
II. THIẾT BỊ VÀ HỌC LIỆU
- Thiết bị: Máy tính, máy chiếu.
- Học liệu: Ngữ liệu/Sách giáo khoa, phiếu học tập.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
Hoạt động 1: Mở đầu (5')
a. Mục tiêu: Tạo hứng thú cho HS, thu hút HS sẵn sàng thực hiện nhiệm
vụ học tập của mình. HS khắc sâu kiến thức về kiểu bài: bài văn phân tích một
tác phẩm văn học (thơ trào phúng)
b. Tổ chức thực hiện:
- GV đặt câu hỏi gợi dẫn cho HS: Em đã học những tác phẩm nào thuộc
thể thơ trào phúng? Kể tên và nêu tóm tắt nội dung của bài thơ đó

- HS suy nghĩ để trả lời câu hỏi.
- GV mời 2 – 3 HS trả lời câu hỏi trước lớp.
- GV nhận xét, đánh giá, chốt và dẫn dắt vào bài học- Phân tích một tác
phẩm văn học là làm rõ những nét đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật
của tác phẩm. Việc phân tích một bài thơ trào phúng cũng cần được triển khai
theo hướng đó. Ở bài học này em sẽ được thực hành viết bài văn phân tích một
bài thơ trào phúng, qua đó vừa củng cố kĩ năng đọc hiểu tiếp nhận một bài thơ
trào phúng vừa tiếp tục phát triển kĩ năng phân tích một bài thơ mà em đã được
rèn luyện ở Bài 2.
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức
a. Mục tiêu: HS nắm được kiểu bài viết bài văn phân tích một tác phẩm
văn học (thơ trào phúng). HS sử dụng SGK, chắt lọc kiến thức để tiến hành trả
lời câu hỏi về đặc điểm của bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào
phúng)
b. Tổ chức thực hiện:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS
DỰ KIẾN SẢN PHẨM
- GV yêu cầu HS đọc thông tin trong I. Yêu cầu đối với bài văn phân tích về
SGK, yêu cầu HS thảo luận
một tác phẩm văn học.
+Một bài văn phân tích một tác 1. Bài tập
phẩm văn học (thơ trào phúng) cần a. Giới thiệu khái quát về tác giả và bài
đảm bảo yêu cầu gì?
thơ.
- Nữ sĩ Hồ Xuân Hương vốn nổi tiếng
- HS nghe GV yêu cầu, trả lời câu hỏi với một hồn thơ phóng khoáng.
- GV mời 3 HS trình bày nội dung - Bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống ra đời
từng phần
từ sự bức xúc khi bà nhìn thấy cảnh trái
- GV nhận xét, đánh giá, chốt kiến tai gai mắt: một tên tướng giặc bại trận
thức.
phải tự vẫn mà vẫn được lập đền thơm
bà đã không ngại ngần cất tiếng cười
- GV yêu cầu HS đọc thông tin trong giễu cợt.
SGK, yêu cầu HS thảo luận.
b. Phân tích nhan đề và đề tài.
+ Bài viết đã giới thiệu vấn đề nghị - Chữ "đề" trong nhan đề bài thơ thể
luận nào?
hiện nét văn hóa đẹp 'tức cảnh sinh
+ Người viết đã dùng lí lẽ và bằng tình", ngẫu hứng làm thơ vịnh cảnh, cảm
chứng như thế nào để làm rõ luận khái trước khung cảnh thiên nhiên và
điểm chính.
cuộc sống đời thường.
- HS nghe GV yêu cầu, trả lời câu hỏi. - Bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống viết về
- GV mời 3 HS trình bày nội dung một tên tướng giặc bại trận phải tự vẫn
từng phần.
đâu có được ngợi ca mà là đả kích,
- GV nhận xét, đánh giá, chốt kiến khinh thường.
thức.
c. Phân tích nội dung trào phúng của
bài thơ để làm rõ chủ đề.
- Hai câu đầu tả ngôi đền và cách nhìn

của nữ sĩ Hồ Xuân Hương nhân tiện đi
qua, vô tình “trông ngang” mà chợt
“thấy” ngôi đền của quan Thái thú. Bà
mỉm cười và nghĩ: một tướng giặc đi
cướp nước người thất trận (vô dũng, vô
mưu) đã hèn hạ thắt cổ chết. “Trăm năm
bia đá chẳng mòn – Nghìn năm bia
miệng vẫn còn trơ trơ”. Bà ứng khẩu
thành thơ: “Ghé mắt trông ngang thấy
bảng treo”.
- “Ghé mắt trông ngang” là một cái nhìn
bằng nửa con mắt, khinh dẻ. Ngôn từ và
giọng điệu thơ bỡn cợt, khinh thị, sắc
nhọn.
- Nữ sĩ tả qua ngôi đền, tả thực bằng hai
nét: mặt tiền là cái “bảng treo”; thế đứng
của ngôi đền rất “cheo leo”, không chút
uy nghi, vững vàng, lại heo hút! Những
đền đài tráng lệ thường treo đại tự,
hoành phi sơn son thiếp vàng, nhưng
đền Sầm Nghi Đống chỉ có cái “bảng
treo”, tầm thường quá! Một nét vẽ châm
biếm thân tình – Hai tiếng “Thái thú” là
một lời kết tội đanh thép đối với bọn
quan lại tướng tá Thiên Triều, lũ con
cháu của Tô Định, Mã Viện… ngày xưa.
d. Chỉ ra và phân tích tác dụng của
một số nét đặc sắc về nghệ thuật trào
phúng.
- Từ kìa hàm ý chỉ trỏ, chẳng giấu giếm
sự bất kính với chốn đền miếu linh
thiêng, đồng thời cho thấy nữ sĩ tuy
ngắm cảnh, vịnh cảnh, nhưng cũng
chẳng thèm lại gần. - Từ cheo leo vừa
gợi ra vị trí xây dựng của ngôi đền (trên
gò), vừa gợi cảm giác không vững vàng.
= > Câu thơ cho thấy dù là một viên
tướng được thờ phụng, dù là một ngôi
đền được xây cao thì trong mắt của nữ
thi sĩ thì đó là một thứ rẻ rúng, coi
thường và sự tôn nghiêm, thiêng liêng
của ngôi đền đã biến mất sạch sẽ trong

Hết tiết 50, chuyển tiết 51,52

mắt nữ thi sĩ.
e. Khẳng định giá trị, ý nghĩa của bài
thơ.
- Đề đền Sầm Nghi Đống là tiếng cười
trào phúng vừa sâu cay, vừa mạnh mẽ
của Hồ Xuân Hương dành cho một kẻ
xâm lược, góp phần củng cố thêm lòng
yêu nước trong mỗi người Việt Nam.
- Bài thơ cho thấy tài năng nghệ thuật
của Hồ Xuân Hương – một nhà thơ hoàn
toàn xứng đáng với danh hiệu “Bà Chúa
Thơ Nôm”.
2. Kết luận
* Yêu cầu:
- Giới thiệu tác giả và bài thơ; nêu ý kiến
chung của người viết về bài thơ.
- Phân tích được nội dung trào phúng
của bài thơ để làm rõ chủ đề
- Chỉ ra được tác dụng của một số nét
đặc sắc về nghệ thuật trào phúng được
thể hiện trong bài thơ
- Khẳng định được giá trị, ý nghĩa của
bài thơ.

Hoạt động 3: Luyện tập
a. Mục tiêu: HS nắm vững được các bước viết bài văn phân tích một tác
phẩm văn học (thơ trào phúng). HS sử dụng SGK, chắt lọc kiến thức để tiến
hành trả lời câu hỏi liên quan đến quy trình viết và viết được bài văn theo quy
trình. Củng cố lại kiến thức đã học về việc viết bài văn phân tích một tác phẩm
văn học (thơ trào phúng).
* Tích hợp: Có ý thức phê phán cái xấu, tiêu cực và hướng
tới những điều tốt đẹp trong suy nghĩ và hành động.
b. Tổ chức thực hiện:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS
DỰ KIẾN SẢN PHẨM
II. Thực hành viết
1. Trước khi viết.
- GV hướng dẫn HS chuẩn bị trước a. Lựa chọn đề tài.
khi viết và tìm ý, lập dàn ý.
Liệt kê các bài thơ trào phúng mà em đã
- HS lắng nghe GV đặt câu hỏi, suy học hoặc đã đọc (gợi ý: Ông phỗng đá
nghĩ để trả lời.
(Nguyễn Khuyến), Năm mới chúc nhau
- GV mời 3 HS trả lời trước lớp, yêu (Trần Tế Xương) …). Chọn trong số đó
cầu cả lớp nghe, nhận xét.
một bài thơ em cảm nhận rõ nhất tiếng
- GV nhận xét, chốt:
cười trào phúng để phân tích.

- GV mời 2 HS đọc
Bước 2: Tìm ý, lập dàn ý trong SGK
(1 bạn đọc phần Tìm ý, 1 bạn đọc
phần lập dàn ý).
- GV phát phiếu học tập cho HS, yêu
cầu HS lập dàn ý, sau đó trao đổi với
bạn bên cạnh để góp ý cho nhau.
- HS đọc thông tin về

Bước 2: Tìm ý, lập dàn ý trong SGK,
sau đó lập ý và trao đổi với bạn.
- GV mời hai cặp HS đứng lên trình
bày dàn ý của nhóm mình sau khi đã
thống nhất, yêu cầu cả lớp nghe, nhận
xét.
- GV nhận xét, đánh giá, chốt kiến
thức.
- GV yêu cầu HS viết bài. GV nhắc
HS: Cần bám vào dàn ý đồng thời
nhìn vào yêu cầu đối với đoạn văn để
đảm bảo được yêu cầu.
- HS lắng nghe yêu cầu của GV, sau
đó viết bài.
- GV yêu cầu mỗi HS tự đọc lại bài
của mình và dùng bảng kiểm để tự
điều chỉnh đoạn văn.
- GV yêu cầu HS đổi vở với bài của
bạn để góp ý cho nhau dựa trên bảng
kiểm.
- GV nhận xét, chốt một vài bài văn
hay.
- Gv cho Hs đọc tham khảo bài viết

b. Tìm ý.
Để tìm ý cho bài văn phân tích một bài
thơ trào phúng, em cần thực hiện các
bước sau:
- Xác định bố cục của bài thơ và nội
dung chính của từng phần.
- Xác định đối tượng của tiếng cười trào
phúng trong tác phẩm.
- Tìm hiểu các phương tiện nhà thơ sử
dụng để gây cười như từ ngữ (đặc biệt
là các từ tượng hình, từ tượng thanh,
thành ngũ…), biện pháp tu từ (so sánh,
ẩn dụ, nói quá, điệp ngữ, đảo ngữ…)
- Tìm hiểu thông tin về tác giả, hoàn
canh ra đời của tác phẩm và những
thông tin khác có liên quan để liên hệ,
mở rộng khi phân tích.
c. Lập dàn ý
Tổ chức, sắp xếp các ý đã tìm được ở
trên thành một hệ thống chặt chẽ, hợp lí,
gồm các phần Mở bài, Thân bài, Kết
bài. Riêng phần Thân bài có thể lập dàn
ý theo một trong hai phương án: theo bố
cục bài thơ hoặc theo hai phương diện
nội dung và nghệ thuật.
Dàn ý
- Mở bài: Giới thiệu tác giả, tên bài thơ
và hoàn cảnh ra đời (nếu có)…
- Thân bài: Tùy theo phương án lựa
chọn, có thể trình bày phần Thân bài
theo một hệ thống ý tương ứng.
Phương án 1: Phân tích theo bố cục bài
thơ:
+ Ý 1: Câu thơ thứ … (nêu đối tượng
của tiếng cười trào phúng, phân tích
biện pháp nghệ thuật được sử dụng
trong câu thơ để tạo ra tiếng cười trào
phúng).
+ Ý 2: Câu thơ thứ … (nêu đối tượng
của tiếng cười trào phúng, phân tích
biện pháp nghệ thuật được sử dụng

* Tích hợp
Biết phê phán cái xấu, tiêu cực và
hướng tới những điều tốt đẹp trong
suy nghĩ và hành động.

trong câu thơ để tạo ra tiếng cười trào
phúng).
+…
Phương án 2: Phân tích theo hai
phương diện nội dung và nghệ thuật:
+ Ý 1: Phân tích nội dung bài thơ (chỉ
rõ đối tượng trào phúng của bài thơ,
phân tích rõ lí do khiến đối tượng đó bị
phê phán…)
+ Ý 2: Phân tích nét đặc sắc về nghệ
thuật (hình ảnh, biện pháp tu từ… đã
được sử dụng để tạo ra tiếng cười)
+…
- Kết bài: Khái quát ý nghã của tiếng
cười trào phúng và giá trị nghệ thuật của
tác phẩm.
2. Viết bài.
- Triển khai các ý nhất quán theo
phương án dàn ý đã chọn, tránh lẫn lộn
giữa hai phương án. Việc triển khai nhất
quán như vậy giúp cho bài viết được
chặt chẽ và mạch lạc.
- Theo phương án 1, em hãy tham khảo
cách triển khai mỗi ý theo trình tự sau:
thuyết (thuyết minh, dẫn dắt để đảm bảo
tính mạch lạc của bài viết) – dẫn (nêu
dẫn chứng, câu thơ cần phân tích) –
phân tích (nêu đối tượng của tiếng cười
trago phúng, phân tích biện pháp nghệ
thuật được sử dụng trong câu thơ để tạo
ra tiếng cười trào phúng). Theo phương
án 2, bài phân tích cần tách bạch rõ hai
phần: phân tích nội dung và phân tích
hình thức nghệ thuật nên tập trung vào
biện pháp nghệ thuật đặc sắc nhất của
bài thơ.
- Chú ý làm rõ những nét đặc sắc về nội
dung và nghệ thuật trào phúng của bài
thơ, không sa vào tóm tắt nội dung.
3. Chỉnh sửa bài viết
Đọc lại bài viết, căn cứ vào yêu cầu
phân tích một bài thơ trào phúng và dàn

ý đã lập, rà soát các phần, các ý để
chỉnh sửa. Việc chỉnh sửa có thể thực
hiện theo một số gợi ý sau:
- Kiểm tra xem các ý đã được triển khai
theo lô-gic nhất quán chưa
- Rà soát xem bài viết đã chú ý phân
tích một số nét đặc sắc về nọi dung và
nghệ thuật trào phúng của bài thơ chưa.
Nếu thiếu thì phải bổ sung.
- Đối chiếu quy mô và dung lượng
thông tin giữa các ý.

- Bài viết tham khảo:
Vũ Trọng Phụng không chỉ được biết đến là “ông vua phóng sự đất Bắc”
mà còn được biết đến là một nhà tiểu thuyết hiện thực đại tài. Dù thời gian sáng
tác ít ỏi, nhưng ông đã để lại cho văn học Việt Nam hiện đại những tác phẩm
xuất sắc: Giông tố, Số đỏ, Kĩ nghệ lấy tây, … Các tác phẩm của ông thường đi
sâu phân tích, khám phá những mâu thuẫn trong đời sống, phê phán lối sống
giả dối của xã hội thượng lưu đương thời thông qua nghệ thuật trào phúng đặc
sắc. Tất cả những đặc điểm đó đã được phán ánh trong đoạn trích: Hạnh phúc
một tang gia trích từ tiểu thuyết Số đỏ.
Trước hết ta cần hiểu nghệ thuật trào phúng là gì? Nghệ thuật trào phúng
là nghệ thuật tạo nên những mâu thuẫn, tạo nên những tiếng cười mang tính
chất đả kích, châm biếm sâu cay những hiện tượng đáng cười trong xã hội, từ
đó tạo nên tiếng cười mang dụng ý phê phán và lên án xã hội.
Trước hết nghệ thuật trào phúng được thể hiện ở mâu thuẫn trào phúng.
Mẫu thuẫn này đã được bộ lộ ngay từ nhan đề của tác phẩm. Hạnh phúc vốn là
khái niệm chỉ trạng thái tâm lí vui sướng, hân hoan khi đạt được điều gì đó.
Còn tang gia vốn là một nỗi buồn, nỗi đau cho các thành viên trong gia đình
cũng như người xung quanh. Còn trong trường hợp này, tang gia lại trở thành
niềm vui, sự hạnh phúc cho tất cả mọi người.
Cả gia đình cụ cố Hồng đều cho sự sống của cụ cố tổ là bất thường, bởi
cụ đã sống quá lâu, số tài sản mà họ mong ngóng mãi không thể nhận được. Bởi
vậy, việc Xuân Tóc Đỏ làm cho cụ cố tổ tức chết đã làm mãn nguyện tất cả
những thành viên trong gia đình, từ đây tài sản kếch xù mà họ nhòm ngó bấy
lâu nay sẽ được chia. Trong niềm vui chung được nhận gia sản, mỗi người họ
lại có những niềm vui riêng, niềm vui của họ quả là muôn màu, muôn vẻ. Cụ cố
Hồng hám danh, thích khoe mẽ, thì đây chính là cơ hội để cụ được mặc bộ đồ xô
gai, lụ khụ chống gậy để cho người ta khen: “úi kìa, con gia nhớn đã già thế kia
à”, để người ta thấy phúc phận mà người chết được hưởng. Vợ chồng Văn Minh
và TYPN thì lại sung sướng khi có thể biến đám tang thành sàn diễn thời trang,
lăng xê những mẫu quần áo mới nhất của họ. Còn ông Phán mọc sừng nhận ra
giá trị lớn đôi sừng trên đầu, vì đôi sừng đó mà lão nhận thêm được vài nghìn

trong số gia sản tiền đền bù danh dự. Cô Tuyết ngây thơ được trưng diện những
bộ đồ hở hang, “ngây thơ” chứng tỏ mình còn trong trắng. Riêng với cậu Tú
Tân, cậu sẽ được đem chiếc máy ảnh vào thực hành. Không chỉ vậy, những kẻ
ngoài gia đình cũng tìm được hạnh phúc cho mình: Min Đơn Min Toa đang thất
nghiệp bỗng có việc làm; bàn bè cụ cố có dịp khoe huân chương đầy ngực…
Ngoài ra mâu thuẫn trào phúng còn phải kể đến Xuân Tóc Đỏ: hắn là người
gây ra cái chết của cụ cố, vốn có tội lại thành có công, sự vắng mặt của Xuân
khiến cho tất thảy mọi người phải lo lắng: “Thiếu ông đốc tờ Xuân là thiếu tất
cả, những ông thầy thuốc chính hiệu đã thất bại hoàn toàn”. Như vậy một gia
đình tự gán cho mình cái mác văn minh, một xã hội âu hóa nhưng đều là những
kẻ bất hiếu, độc ác, đây là xã hội lố lăng, không có chút tình người.
Không chỉ vậy, để tô đậm chất trào phúng trong đoạn trích, Vũ Trọng Phụng đã
lựa chọn những chi tiết đắt giá, đầy ấn tượng. Đó là cảnh đám ma đông vui, ồn
ã như một đám hội. Đám ma đó là sự kết hợp lố lăng, Tây – Tàu – Ta lẫn lộn,
người đi rước chẳng chút buồn thương, họ không hề quan tâm đến người chết.
Kẻ thì nói chuyện chồng con, hàng xóm, kẻ thì tận dụng cơ hội để chim chuột
nhau,… “đám cứ đi” và tiếp tục câu chuyện của mình. Điệp từ “đám cứ đi”
được lặp đi lặp lại nhiều lần cho thấy sự giả tạo, đi chậm lại không phải quyến
luyến, tiếc thương mà là để cố khoe sự giàu có, hào nhoáng của gia đình, của
đám tang.
Quay đến cận cảnh, Vũ Trọng Phụng hướng ngòi bút vào cậu Tú Tân
đang hò hét, la ó mọi người đứng tư thế sao cho đẹp nhất để cậu chụp ảnh,
người phải chống gậy, kẻ phải gục đầu, người phải lau nước mắt,… ; bà Văn
Minh sốt ruột,… cụ cố Hồng mếu máo, khóc ngất đi; còn ông Phán mọc sừng
trong lúc đau đớn khóc oặt cả người vẫn tận dụng cơ hội để tạo ra một cuộc
mua bán, trao đổi chóng vánh với Xuân Tóc Đỏ, tờ năm đồng được gấp làm tư,
nhanh chóng đưa vào tay Xuân Tóc Đỏ cùng với đó là niềm hi vọng sẽ có cơ hội
hợp tác ở những lần khác hiệu quả hơn nữa. Họ quả là những kẻ diễn viên đại
tài.
Ngoài ra còn phải kể đến ngôn ngữ trào phúng, phóng đại bậc thầy. Vũ
Trọng phụng rất tinh tế khi sử dụng các từ ngữ gây cười, từ cách gọi tên sự vật:
lợn quay đi lọng, lốc bốc xoảng, bú dích… đến cách đặt tên các nhân vật:
TYPN, Min Đơ, Min Toa, ông Phán mọc sừng, sư cụ Tăng Phú… đều diễn đạt
một cách ý nhị thái độ châm biếm của ông. Những hình ảnh so sánh vi von hài
hước: Cảnh sát không được biên phạt buồn như nhà buôn vỡ nợ; Từ chối việc
chạy chữa như những vị danh y biết tự trọng… diễn tả chính xác bản chất nhân
vật và sự thối nát của xã hội. Hình ảnh đậm tính chất trào phúng: “Tuyết đi mời
các quan khách rất nhanh nhẹn, trên mặt lại hơi có một vẻ buồn lãng mạn rất
đúng mốt nhà có đám” … Giọng văn đậm chất châm biếm: Thật là một đám ma
to tát; Cái chết kia làm cho nhiều người sung sướng lắm… Tất cả những yếu tố
nghệ thuật đó đã tạo nên giá trị mỉa mai sâu cay, đặc sắc, tố cáo, vạch trần sự

giả dổi, đểu cáng trong nhân cách của những kẻ giàu có trong xã hội đương
thời.
Bằng bút pháp trào phúng đặc sắc, giọng điệu châm biếm, trào phúng
sâu cay Vũ Trọng Phụng đã vô cùng thành công khi vạch trần bộ mặt xã hội giả
dối, bất nhân. Tiếng cười bật lên vừa hỏm hỉnh vừa sắc sảo, qua đó thể hiện
thái độ coi thường, kinh bỉ cái xã hội âu hóa lố lăng, tầng lớp thị dân lố bịch
đương thời.
Hoạt động 4: Củng cố và hướng dẫn học bài
a. Mục tiêu: Vận dụng được kiến thức đã học để Viết bài văn phân tích
một tác phẩm văn học (thơ trào phúng).
b. Tổ chức thực hiện:
- GV yêu cầu HS về nhà viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ
trào phúng).
- HS lắng nghe yêu cầu của GV, về nhà thực hiện.
- GV nhắc HS sẽ thu bài và chữa bài vào tiết sau.
- GV nhận xét việc học tập của cả lớp trong tiết học.
* Hướng dẫn về nhà.
- GV dặn dò HS:
+ Đọc lại yêu cầu và quy trình viết đối với Viết bài văn phân tích một tác
phẩm văn học (thơ trào phúng)
+ Soạn trước bài tiếp theo
Duyệt giáo án của chuyên môn
 
Gửi ý kiến