Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

ĐÔNKIHÔTÊ NHÀ QUÝ TỘC TÀI BA XỨ MANTRA

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuviensach.vn
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:25' 25-01-2024
Dung lượng: 3.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Thông tin ebook
Tên truyện : Đôn Kihôtê - Nhà Quý
Tộc Tài Ba Xứ Mantra
Nguyên tác : DON QUIJOTE DE LA
MANCHA, do nhà xuất bản Aguilar phát
hành tại Madrid năm 1968
Tác giả : Miguel De Cervantes
Saavedra
Dịch giả : Trương Đắc Vị
Thể loại : Văn học nước ngoài
Nhà xuất bản : Văn Học
Ngày xuất bản : Quý IV/2004
Số trang : 1024
Kích thước : 14,5 x 20,5 cm
Trọng lượng : 1020 g
Số quyển / 1 bộ : 1
Hình thức bìa : Bìa cứng

Giá bìa : 115.000 VNĐ
---------------------------------Nguồn : vnthuquan.net, thuvienebook.com
Đánh máy : huytran, Vân Trung Tử
Tạo prc (TVE) : santseiya
Ngày hoàn thành : 13/12/2008
Nơi hoàn thành : Hà Nội
Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook http://www.dtv-ebook.com
Mục Lục
Lời giới thiệu
Lời nói đầu
PHẦN THỨ NHẤT
Chương I
Chương II
Chương III

Chương IV
Chương V
Chương VI
Chương VII
Chương VIII
Chương IX
Chương X
Chương XI
Chương XII
Chương XIII
Chương XIV
Chương XV
Chương XVI
Chương XVII
Chương XVIII
Chương XIX
Chương XX

Chương XXI
Chương XXII
Chương XXIII
Chương XXIV
Chương XXV
Chương XXVI
Chương XXVII
Chương XXVIII
Chương XXIX
Chương XXX
Chương XXXI
Chương XXXII
Chương XXXIII
Chương XXXIV
Chương XXXV
Chương XXXVI
Chương XXXVII

Chương XXXVIII
Chương XXXIX
Chương XL
Chương XLI
Chương XLII
Chương XLIII
Chương XLIV
Chương XLV
Chương XLVI
Chương XLVII
Chương XLVIII
Chương XLIX
Chương L
Chương LI
Chương LII
PHẦN THỨ HAI
Chương I

Chương II
Chương III
Chương IV
Chương V
Chương VI
Chương VII
Chương VIII
Chương IX
Chương X
Chương XI
Chương XII
Chương XIII
Chương XIV
Chương XV
Chương XVI
Chương XVII
Chương XVIII

Chương XIX
Chương XX
Chương XXI
Chương XXII
Chương XXIII
Chương XXIV

Lời giới thiệu

Mighel đê Xervantêx Xaavêđra (Miguel
de Cervantes Saavedra), nhà đại văn hào
Tây Ban Nha, sinh tháng 10 năm 1547 tại
thị trấn Alcala đê Enarêx, gần thủ đô
Mađrít, trong một gia đình quý tộc nhỏ,
đã sa sút. Ông thân sinh ra Xervan-têx
làm nghề thầy thuốc, phải lang thang từ
tỉnh này sang tỉnh khác để kiếm tiền nuôi
sống bảy đứa con. Về thời niên thiếu của
Xervantêx, người ta biết rất ít. Sách chỉ
ghi rằng cậu bé Xervantêx đi theo bố mẹ
và đã sống ở Vaiađôlít, Xalamanca,
Mađrít, Xêviia...
Trình độ học vấn của Xêvantêx chỉ ở
mức trung bình. Trong hoàn cảnh gia

đình sống nay đây mai đó, Xervantêx
không thể theo học một trường nào đến
đầu đến đũa. Có thời kỳ ông học tại một
viện của thầy dòng Giêduýt, thời kỳ sau
ông lại theo học một học giả nổi tiếng ở
Mađrít là Huan Lôpêx đê Ôiô. Tuy
nhiên, bù đắp vào sự thiếu sót đó,
Xervan-têx có trí thông minh, óc nhận xét
và tính ham đọc sách. Sự nghiệp văn
chương của ông mở đầu bằng một bài thơ
làm vào dịp hoàng hậu Tây Ban Nha
Idabel đê Valôix tạ thế. Năm đó, ông 21
tuổi (1568).
Vào thời kỳ này, Ý-đại-lợi là một nơi tụ
tập những kẻ đi tìm công danh trong binh
nghiệp hoặc văn chương. Năm 1569,

người ta thấy Xervantêx tại Rôma, phục
vụ giáo chủ Huliô Aquaviva. Năm sau,
Xervantêx gia nhập quân đội Tây Ban
Nha đồn trú trên đất Ý. Năm 1571, trong
trận thủy chiến Lêpantô giữa một bên là
đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ, một bên là mấy
thành thị Ý liên minh với Tây Ban Nha
do đôn Huan đê Aoxtria chỉ huy,
Xervantêx bị trọng thương, bàn tay trái
bị nghiền nát, do đó người ta đặt biệt
hiệu cho ông là "Người cụt tay trong trận
Lêpantô". Năm 1572, ở bệnh viện ra,
Xervantêx lại gia nhập quân đội. Trong
ba năm tại ngũ, ông đã qua các nơi như
đảo Xixilia, Xerđênha, hoặc các thành
phố như Phlôrenxia, Hênôva, Napôlêx,
Milan, Rôma là những kho tàng di tích

của nền văn học nghệ thuật cổ điển HyLa. Năm 1575, ông về nước với một bức
thư giới thiệu của chủ tướng là đôn Huan
đê Aoxtria, hy vọng sẽ được nhà vua
trọng dụng. Rủi thay, ngày 26 tháng 9,
trên đường về Tây Ban Nha, tàu của ông
bị bọn cướp biển tấn công và ông bị bắt
giải về Arhêl (Alger).
Trong thời gian bị cầm tù Arhêl (1575 1580), ông luôn luôn có ý chí đấu tranh,
khuyến khích bạn bè giữ vững tinh thần
tìm cơ hội thoát thân. Ông tổ chức bốn,
năm lần vượt ngục nhưng đều thất bại, và
mỗi lần, ông đã can đảm nhận phần trách
nhiệm của người chủ mưu. Tinh thần
dũng cảm và lòng vị tha của Xervantêx

không những gây tín nhiệm trong anh em
cùng chung số phận mà còn làm cho
chính vua Arhêl phải kính nể, không giết.
Quãng đời này của Xervan-têx đã được
nhắc lại trong câu chuyện Người tù,
trong cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà
quý tộc tài ba xứ Mantra. Cũng trong
thời gian này, ông đã nhiều lần cầu cứu
những nhân viên cao cấp Tây Ban Nha
giải thoát cho ông, song đều vô hiệu.
Cuối cùng, chính gia đình ông phải lo
liệu tiền nong và, với sự giúp đỡ của
Nhà dòng, chuộc được ông về nước.
Lúc này, Xervantêx 33 tuổi. Ông trở về
Tây Ban Nha, những tưởng với công
trạng xưa của mình, sẽ được triều đình

cất nhắc. Nhưng, thất vọng. Năm 1585,
ông lập gia đình với Catalina đê Palaxiô
Xaladar. Ngán ngẩm bước đường công
danh lận đận, lại gặp những khó khăn
kinh tế, ông bắt đầu viết sách để kiếm
thêm tiền nuôi sống gia đình.
Tập La Galatêa là tác phẩm đầu tay của
Xervantêx (1585). Cũng trong thời gian
này, ông sáng tác trên hại chục vở kịch
được đưa lên sân khấu. Nhưng nhà viết
kịch thiên tài Lôpê đê Vêga (Lope de
Vega), "Lôpêt vĩ đại" như chính Xervantêx gọi, đã xuất hiện, và Xervantêx
bỏ nghề viết kịch.
Cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý

tộc tài ba xứ Mantra, tác phẩm xuất sắc
nhất của Mighel đê Xervantex Xaavêđra,
ra đời năm 1605 (phần thứ nhất - 52
chương). Người ta cho rằng ông bắt đầu
sáng tác vào năm 1602, lúc đang ở trong
nhà tù Xêviia, vì như ông đã viết trong
lời nói đầu, "tôi thai nghén nó (cuốn tiểu
thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba
xứ Mantra - ND) trong một nhà tù, nơi
trú ngụ của mọi bất tiện và mọi âm thanh
buồn thảm".
Năm 1614, ở Taragôna bỗng dưng xuất
hiện Tập hai cuốn Đôn Kihôtê - Nhà
quý tộc tài ba xứ Mantra. Tác giả đã
không giám ký tên thật của mình mà núp
dưới cái tên giả là Alphônxô Phernanđêx

đê Avêianêđa. Năm sau, 1615,
Xervantêx xuất bản lần thứ hai cuốn tiểu
thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba
xứ Mantra (gồm 74 chương). Qua lời
mở đầu phần này, ông vạch mặt kẻ cướp
đoạt văn chương. Trong phần thứ hai
cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý
tộc tài ba xứ Mantra, nghệ thuật của
Xervantêx càng tỏ ra điêu luyện, già dặn.
Tác phẩm cuối cùng của ông là cuốn
Perxilêx và Xihixmunđa.
Từ ngày ở Arhêl về nước cho tới cuối
đời, Xervantêx vừa viết văn, vừa phải
nhận của triều đình một số việc linh tinh
để bảo đảm sinh kế, khi làm nhiệm vụ
tiếp lương cho hạm đội Armađa bách

chiến bách thắng, lúc đi thu thuế, v.v...
đôi ba lần phải ra tòa, bị ngồi tù oan ức,
mà cuối cùng nghèo túng vẫn hoàn nghèo
túng. Sách có ghi lại một câu chuyện như
sau:
Vào tháng 2 năm 1615, có một đoàn sử
giả Pháp sang Tây Ban Nha để đón công
chúa Ana đê Aoxtria. Lâu nay hâm mộ
tài năng của Xervantêx, họ xin được tới
thăm ông. Tới nơi, thấy cảnh nhà quá
thanh bạch, một người thốt lên: "Sao!
Một con người như vậy mà nước Tây
Ban Nha không lấy công quỹ cung dưỡng
và làm cho giàu có ư!". Một người khác
nói thêm một cách ý nhị: "Nếu sự nghèo
túng buộc ông ta phải viết sách thì cầu

Chúa cho ông ta không bao giờ sung túc
để những tác phẩm của một người nghèo
như ông làm giàu thiên hạ".
Ngày 23 tháng 4 năm 1616, Mighel đê
Xervantêx Xaavêđra qua đời tại Mađrít.
Khi đó, ông 69 tuổi.
*
**
Từ khi ra đời, cuốn tiểu thuyết Đôn
Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra
đã chinh phục dư luận người đọc trong
nước cũng như ngoài nước. Ngay trong
năm 1605, tại Tây Ban Nha, tập truyện
đã được tái bản 5 lần, và sinh thời,

Xervantêx đã nhìn thấy tác phẩm của
mình được xuất bản 13 lần (6 lần ở Tây
Ban Nha, 3 lần ở Bồ Đào Nha, 3 lần ở
Bỉ, 1 lần ở Ý). Trải qua gần 400 năm,
vượt ra khỏi sự đào thải của thời gian,
Đôn Kyhôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ
Mantra vẫn giành được sự hâm mộ rộng
khắp và được công nhận là một trong
những tác phẩm văn học lớn nhất của
nhân loại. Năm 1795, nhà đại văn hào
Đức, Gớt (Goethe), viết cho nhà thơ lớn
Silơ (Schiller): "Tôi đã tìm thấy trong
cuốn tiểu thuyết của Xervantêx cả một
kho tàng thú vị và bổ ích".
Pho truyện thật sự đã đi sâu vào quần
chúng. Trong các ngày hội, những cuộc

vui hóa trang ở Tây Ban Nha, Bồ Đào
Nha cũng như ở nhiều nước châu Âu
khác, người ta thường thấy xuất hiện hiệp
sĩ đôn Kihôtê và giám mã Xantrô Panxa
"hệt như tả trong truyện", Cuốn sách đã
được dịch ra hầu hết các thứ tiếng trên
thế giới: Anh, Pháp, Ý, Đức, Thổ, Arập,
Êbrơ, Xăngxcri, Trung Hoa, Nhật Bản,
Triều Tiên... và cả Thế giới ngữ. Ngót
bốn thế kỷ nay, Đôn Kihôtê vẫn là đề tài
của sân khấu, âm nhạc, hội họa, điêu
khắc, màn ảnh. Từ Đông sang Tây, từ Âu
sang Á, các nhà phê bình, triết học, các
nhà văn, nhà thơ, những người làm công
tác văn nghệ, không ai không xác nhận
giá trị tư tưởng và nghệ thuật của cuốn
truyện này.

Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ
Mantra là cuốn tiểu thuyết cận đại đầu
tiên của Tây Ban Nha, viết theo hướng
hiện thực phê phán. Trước đó, độc giả
các nước phương Tây rất ham thích loại
tiểu thuyết kiếm hiệp kể "những truyện
hoang đường không lệ thuộc vào những
yêu cầu chính xác của sự thật, những
nhận xét của ngành thiên văn học, những
luật lệ về hình học hay tu từ học" (Lời
mở đầu phần thứ nhất, cuốn tiểu thuyết
Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ
Mantra. Loại tiểu thuyết hoang đường đó
có tác dụng rất tai hại vì nó tạo cho
người đọc một quan niệm hoàn toàn sai
lầm về vũ trụ, về nhân sinh, về tư tưởng,

về xã hội. Sách kể lại rằng có cả một gia
đình đã khóc lóc thảm thiết khi đọc tới
đoạn nói về cái chết của hiệp sĩ Amađix!
Với cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà
quý tộc tài ba xứ Mantra, Xervantêx đã
chôn vùi văn chương kiếm hiệp và khai
sinh cho tiểu thuyết cận đại. Selinh
(Schelling), triết gia Đức, đã phát biểu:
"Chúng ta sẽ không quá lời khi khẳng
định rằng cho tới nay chỉ có hai cuốn tiểu
thuyết, đó là cuốn Đôn Kihôtê của
Xervantêx và cuốn Vinhem Maixtơ của
Gớt". Sơlêgơn (Schlegel), nhà phê bình
văn học người Đức, cũng đã đánh giá
Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ
Mantra là "tác phẩm có một không hai
trong loại của nó, mở đầu cho tiểu thuyết

cận đại..."
Toàn bộ cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra gồm 126
chương, là một bức tranh sinh động về xã
hội Tây Ban Nha với những màu sắc thật
của địa phương, của thời đại. Tác giả đã
đưa vào truyện trên hai trăm con người
thuộc đủ lứa tuổi và tầng lớp, từ lão chủ
quán "giảo quyệt" đến những cô gái quán
trọ "nom cũng chẳng phải thiện nhân", từ
chàng sinh viên Grixôxtômô si tình đến
cô Marxêla xinh đẹp và yêu tự do, từ gã
lái la độc ác đến tên chủ trại tham lam,
cha xứ, bác phó cạo, bà quản gia, ông
thầy tu, lão chăn dê, viên cảnh sát, đám
phạm nhân cùng một loạt vương tôn công

tử, quan lại, nhà giàu... Và ngần ấy con
người xoay quanh hai nhân vật chính là
anh chàng quý tộc nhưng nghèo đôn
Kihôtê và bác giám mã Xantrô Panxa,
một thợ cày chính cống. Tác giả đã đưa
hiệp sĩ và giám mã của chàng đi khắp đó
đây trên đất nước Tây Ban Nha, từ thành
thị đến thôn quê, từ những cánh đồng bao
la tới những miền núi sâu vực thẳm, từ
những quán trọ bình dân tới chốn thâm
nghiêm quyền quý. Cảnh vật, con người
đều có thật. Và nếu như trí tưởng tượng
phong phú của Đôn Kihôtê đã biến quán
trọ thành lâu đài, chậu thau thành mũ sắt,
đàn cừu thành đạo quân thì, trái lại,
những lời nói giản dị mà chí lý của bác
giám mã gốc nông dân luôn luôn lôi kéo

ta về với hiện thực. Tóm lại, Xervantêx
phản ánh khá toàn diện cuộc sống thật
của xã hội đương thời. Và ông đã thành
công.
*
**
Một hôm, vua Tây Ban Nha Phêlipê
III đứng trên lâu đài nhìn xuống đường,
thấy một anh học trò đang đọc một cuốn
sách, thỉnh thoảng lại ngừng đọc cười
vang. Nhà vua thầm nghĩ: "Hoặc tên học
trò kia điên, hoặc là hắn đang đọc cuốn
tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài
ba xứ Mantra". Quả nhiên anh học trò
đang đọc cuốn tiểu thuyết đó thật.

Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ
Mantra đúng là một cuốn tiểu thuyết giàu
tính trào lộng. Làm sao người đọc không
cười được khi thấy Đôn Kihôtê một
thương một mã lăn xả vào tấn công
những chiếc cối xay gió vô tội trên cánh
đồng Môntiel mà chàng tưởng là "những
tên khổng lồ hung tợn có cánh tay dài tới
gần hai dặm", hoặc khi chàng cứ nhè
những bao rượu trong quán trọ mà đâm,
mà chém, ngỡ mình đang đọ sức với tên
khổng lồ ở vương quốc Mi-cômicôn!
Thế nhưng Đôn Kihôtê có phải là một kẻ
viển vông, điên rồ không? Và Đôn
Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra

phải chăng chỉ là pho sách kể về những
hành động nực cười của chàng hiệp sĩ xứ
Mantra? Bàn về tác phẩm số một của
Xervantêx, năm 1821 Bairơn (Byron),
nhà đại thi hào Anh, viết: "Đó là cuốn
truyện buồn nhất, và nó càng buồn vì làm
chúng ta cười". Prôxper Mêrimê
(Prosper Mérimée), nhà văn thế kỷ XIX
của Pháp, cũng đã nói: "Bất hạnh thay kẻ
nào không có được một vài ý nghĩ của
Đôn Kihôtê và không dám cả gan nhận
roi đòn cùng sự chế giễu để bênh vực kẻ
yếu hèn!".
Có hai cách đọc tiểu thuyết Đôn Kihôtê Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra: một là
trên những dòng chữ, và ta sẽ thấy toàn
bộ pho sách là mũi nhọn tấn công vào

tiểu thuyết kiếm hiệp; hai là đọc giữa
những dòng chữ để tìm hiểu ý tứ sâu xa
của tác giả và tác phẩm. Đọc theo cách
thứ hai ta sẽ thấy toát ra từ toàn bộ tác
pho truyện một bài học nhẹ nhàng, ý nhị
về chính nghĩa, công lý, tự do. Đôn
Kihôtê là một người chân chính. Mục
đích cuộc đời chàng là "trả thù cho
những người bị xúc phạm, bênh vực kẻ
hèn yếu, uốn nắn những điều sai trái, phi
lý, đả phá mọi lạm dụng, bất công". Ta
hãy xem chàng lý luận với tên chủ trại và
giải thoát cho chú bé chăn cừu Anđrê bị
tên này hành hạ và quịt tiền công:
"- Tên đê tiện này dám nói dối cả ta ư?
Đôn Kihôtê thét lên... Cởi trói cho nó

ngay.
Tên chủ trại cúi đầu, không dám hé răng,
vội vàng cởi trói cho chú bé. Đôn Kihôtê
hỏi số tiền công chủ còn thiếu là bao
nhiêu. Chú bé thưa rằng chủ còn nợ chín
tháng công, mỗi tháng bảy đồng. Đôn
Kihôtê nhân lên thành sáu mươi ba đồng,
chàng bảo tên chủ trại muốn sống phải
trả ngay. Tên này sợ hãi đáp rằng đúng
như lời y đã thề (thực ra y đã thề câu nào
đâu), số tiền không nhiều đến thế vì y đã
chi cho chú bé ba đôi giày và một đồng
để chích máu hai lần khi chú ốm.
- Được rồi, Đôn Kihôtê vặn lại; nhưng
việc thằng bé phải chịu roi vọt, mặc dù

nó không có tội tình gì, cũng đủ bù vào
số tiền giày và tiền chích máu. Nó làm
rách da giày của ngươi thì ngươi làm
rách da thịt của nó. Người ta chích máu
khi nó đau ốm thì ngươi chích máu khi nó
mạnh khỏe. Như vậy là hòa..."
Đôn Kihôtê - hay nói đúng hơn là
Xervantêx - đã vạch trần tính tham lam
độc ác của bọn nhà giàu thôn quê.
Đây, một đoạn khác về tính chất hà khắc
và thối nát của pháp luật phong kiến. Một
hôm, trên đường phiêu lưu, Đôn Kihôtê
gặp một toán người "cổ đeo chung một
dây xiềng to bằng sắt, tay đeo xích; đi
theo họ có hai người cưỡi ngựa và hai

người đi bộ; hai người cưỡi ngựa có
súng còn hai người đi bộ cầm gươm
mác". Chàng hiệp sĩ bèn dừng ngựa hỏi
duyên cớ vì đâu mà họ khốn khổ như vậy.
Đám tù nhân đã kể tội trạng của họ: một
anh chỉ vì quá "yêu" một cái giành quần
áo mà phải chịu một trăm roi và ba năm
khổ sai; một anh ăn trộm gia súc mà bị
hai trăm roi và sáu năm khổ sai; một anh
bị năm năm khổ sai chỉ vì không có mười
đồng tiền vàng đút lót cho bọn lục sự,
biện lý; một ông già "đạo mạo" cũng bị
đưa đi đày chỉ vì ông muốn cho mọi
người sung sướng sống yên lành, vui vẻ
với nhau, không cãi cọ, không ưu
phiền..."

Trong những hành động có vẻ điên rồ của
Đôn Kihôtê, vẫn thấy toát lên tình thương
yêu nhân loại. Nếu đối với Xantrô
Panxa, những cối xay gió là... những cối
xay gió, thì trái lại, dưới con mắt của
Đôn Kihôtê, chúng là những tên khổng lồ
hung ác, một giống xấu xa cần phải quét
sạch khỏi trái đất".
Đôn Kihôtê yêu tự do, công lý, chính
nghĩa. Chàng mong muốn với "cánh tay
dũng mãnh" của mình mang lại hạnh
phúc, cuộc sống yên vui cho mọi người.
Với một tinh thần dũng cảm, không biết
sợ, không ngại gian nguy, đơn thương
độc mã, chàng lao vào "cuộc chiến đấu
không cân xứng", luôn luôn tin tưởng và

lạc quan, mặc dù mỗi lần lại bị biêu đầu
sứt trán trước những thực tế đáng buồn
của thời đại.
Đôn Kihôtê là biểu hiện của sự tương
phản giữa thực tế phũ phàng với lý tưởng
cao đẹp mà chàng mơ ước và chiến đấu
cho nó, là hình ảnh tượng trưng cho cuộc
đấu tranh giữa thế giới thực tại và thế
giới tương lai mà chúng ta vươn tới.
Cuộc sống phải trút bỏ cái vỏ bề ngoài
của nó, trút bỏ sự giả dối, ích kỷ, bất
công, và phải mang trong nó những ước
mơ và làm cho những ước mơ đó trở
thành hiện thực.
Đó là nội dung tư tưởng sâu xa của tác

phẩm.
*
**
Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ
Mantra là một kho tiểu thuyết trường
thiên bằng tiếng Tây Ban Nha. Khung
cảnh hoạt động của các nhân vật là một
địa bàn bao la, với nhiều màu sắc dân
tộc, với những đặc điểm của từng địa
phương và những tính cách riêng biệt của
từng nhân vật. Tác giả cũng đã sử dụng
một ngôn ngữ phong phú, đa dạng, đặc
biệt là ông dùng nhiều ca dao, tục ngữ, từ
ngữ dân gian của từng vùng đất nước Tây
Ban Nha. Văn chương trong Đôn Kihôtê

- Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra lại là
văn chương của thế kỷ XVI - XVII. Dịch
nó quả là khó. Bản dịch này chắc không
khỏi còn những sai sót, những "hạt sạn"
mà trình độ có hạn của tôi đã không cho
phép tôi tránh được. Tôi thành thật mong
độc giả lượng thứ cho. Tôi cũng trông
chờ những nhận xét, phê bình của các
bạn để rút kinh nghiệm cho bản dịch
phần thứ hai cuốn truyện được tốt hơn.
Người dịch

Lời nói đầu

Độc giả nhàn hạ, chẳng cần thề thốt, tôi
chắc rằng các bạn cũng phải tin rằng tôi
muốn cuốn sách này - con đẻ của trí tuệ phải là cuốn sách hay nhất, tốt nhất, hoàn
hảo nhất mà người đời có thể hình dung
được. Nhưng tôi không thể làm trái quy
luật tạo hóa là loài nào sinh ra giống nấy.
Thành thử, với khối óc khô cằn và thô
thiển của mình, tôi chỉ có thể tạo nên một
câu chuyện khô khan, ngô nghê, vô lý,
đầy rẫy những ý tưởng tản mạn không ai
nghĩ tới bao giờ. Vả chăng, tôi đã thai
[1]
nghén nó ở trong một nhà tù , nơi trú

ngụ của mọi bất tiện và mọi âm thanh
buồn thảm. Cảnh vật yên tĩnh, thôn xóm
thanh bình, đồng quê êm ả, bầu trời trong
sáng, tiếng suối róc rách, tâm trí thảnh
thơi, nhưng cái đó một phần lớn khiến
cho những thi hứng cằn cỗi nhất cũng trở
nên phong phú và nảy nở những án văn
chương khiến người ta phải thích thú và
thán phục. Một người cha có một đứa
con xấu xí, không được một vẻ gì, nhưng
tình thương che mắt ông ta khiến ông ta
nhìn những cái dở, cái xấu của con mình
lại thấy nó hay, nó đẹp, và ông ta đi khoe
khắp với bà con, bạn hữu. Nhưng tôi
không phải là bố đẻ của Đôn Kihôtê như
người ta tưởng, mà chỉ là bố dượng thôi.
Cho nên, tôi không muốn làm như mọi

người, khóc lóc van xin bạn đọc yêu quý
rộng lượng bỏ qua những sai sót trong
quyển sách này. Bạn không phải là người
thân kẻ thuộc của nó, bạn có suy xét
riêng và có quyền phê phán nó với tất cả
sự sáng suốt của mình. Bạn lại ở ngay
trong nhà bạn, nơi mà bạn có toàn quyền
như nhà vua có toàn quyền trong việc thu
thuế vậy. Phương ngôn có câu: "Một khi
không sợ bị tội, con người có thể giết cả
vua". Hoàn toàn không có cái gì bó buộc
bạn và bạn cứ nghĩ sao nói vậy, khen chê
đều vô thưởng vô phạt, không có gì đáng
e ngại cả.
Tôi muốn cuốn sách này tới tay bạn một
cách mộc mạc tự nhiên, không tô điểm

bằng những lời tựa hoặc bằng vô số
những bài thơ ca và những lời tán tụng,
như người ta vẫn mở đầu các cuốn sách.
Bởi vì, xin thú thật, đối với tôi công việc
biên soạn cả cuốn sách này có vất vả,
song cũng không vất vả bằng việc viết
lời mở đầu. Đã bao lần tôi cầm bút lên
rồi lại đặt bút xuống, chẳng biết viết gì.
Một hôm, giữa lúc tôi đang phân vân, tờ
giấy trước mặt, quản bút gài tai, khuỷu
tay chống lên bàn, tay ôm má, bỗng đâu
có một anh bạn bước vào. Anh này là
một người học rộng tài cao. Thấy tôi
ngồi trầm ngâm, anh hỏi tại sao. Không
giấu giếm, tôi trả lời là tôi đang suy nghĩ
về lời mở đầu phải viết cho truyện Đôn
Kihôtê, là tôi rất nản, không muốn làm và

cũng chẳng muốn giới thiệu với thiên hạ
những chiến công của trang hiệp sĩ tài ba
như vậy.
Anh bạn ạ, tôi nói, tôi chẳng khỏi hổ thẹn
trước những lời phê phán của người
giám định nghệ thuật già đời là trước
công chúng mỗi khi thấy tôi, sau bao năm
im hơi lặng tiếng, giờ đây đã ngần này
tuổi đầu, đưa ra một câu chuyện khô như
ngói, không chút sáng tạo, bút pháp ngớ
ngẩn, ý tứ nghèo nàn, học vấn thô thiển,
thiếu dẫn giải ghi ở lề trang hay phụ chú
ghi ở trang cuối cùng như những cuốn
sách khác; và tuy những quyển này thật là
hoang đường và phàm tục những lại
được độc giả khâm phục do chứa đầy

những câu châm ngôn của Arixtôtêlêx,
Platôn và nhiều triết gia khác. Tác giả
những cuốn sách đó được coi là những
bậc tài giỏi, uyên bác, hùng biện; nhất là
khi họ lại trích những lời trong Thánh
kinh thì tưởng đâu họ là những thánh
sống và những thuyết gia giáo lý đại tài.
Câu trên họ tả một anh chàng si tình đồi
bại, câu dưới họ dẫn ra một bài giáo
thuyết nhỏ, khiến người đọc cảm thấy vui
tai, mát mắt. Sách của tôi thiếu tất cả
những cái đó vì tôi không biết ghi gì ở
ngoài lề trang cũng như ở phần cuối; hơn
nữa, tôi cũng chẳng biết những lời tôi
trích dẫn ra do ai viết để còn ghi tên họ
lên đầu cuốn sách theo thứ tự A, B, C...
như người ta thường làm. Cuốn sách của

tôi thiếu cả những bài thơ đề tựa của các
vị công tước, hầu tước, bá tước, các vị
giám mục, các mệnh phụ và văn hào nổi
danh, mặc dù nếu tôi ngỏ ý với một vài
người bạn quen, họ sẽ tặng cho những
bài thơ còn hay hơn tất cả những tác
phẩm của những thi sĩ tiếng tăm nhất trên
đất Tây Ban Nha này. Cuối cùng, anh bạn
ạ, tôi nói tiếp, tôi quyết định vùi sâu
chôn chặt anh chàng Đôn Kihôtê trong
đống văn thư lưu trữ của xứ Mantra cho
tới khi Trời giúp cho một người có tài tô
son vẽ phấn cho chàng ta. Riêng tôi thấy
bất lực do thiếu học vấn và do bản chất
nhút nhát, lười biếng, không chịu đi tìm
kiếm những người nói lên điều mà tôi
cũng có thể nói được nếu không có họ.

Đó, chính vì vậy mà anh thấy tôi ngồi
đắn đo, suy nghĩ. Bây giờ, sau khi nghe
tôi trình bày, chắc anh đã hiểu rõ nguyên
nhân.
Anh bạn vỗ trán, cười phá lên rồi nói:
- Lạy Chúa, té ra bây giờ tôi mới biết là
tôi đã nhầm,anh bạn ạ. Từ lâu nay kết
bạn với nhau, tôi cứ tưởng anh là con
người khôn ngoan và thận trọng. Giờ đây,
tôi thấy giữa anh và con người đó có một
khoảng cách khá xa, cũng như trái đất
cách xa mặt trời vậy. Làm sao những
việc con con dễ giải quyết như thế lại có
thể chi phối được một trí tuệ già dặn như
anh, sẵn sàng đạp bằng những trở ngại

còn lớn hơn nhiều! Thật ra, điều đó
không phải phát sinh từ sự thiếu tài năng
mà là từ sự lười biếng quá mức và sự
thiếu suy nghĩ. Muốn biết tôi nói có đúng
hay không, xin hãy lắng nghe và chỉ trong
khoảnh khắc, anh sẽ thấy tôi gạt bằng mọi
trở ngại và khắc phục hết những thiếu sót
mà anh vừa nêu ra, nó đã khiến anh phải
do dự, lùi bước, không dám cho ra mắt
độc giả chuyện chàng Đôn Kihôtê trứ
danh của anh, ánh sáng và tấm gương
hiệp sĩ giang hồ.
Nghe anh bạn nói, tôi bèn hỏi lại:
- Thế theo ý anh thì làm thế nào gạt bỏ
được nỗi lo lắng và những ý nghĩ mơ hồ

của tôi?
Anh bạn đáp:
- Trước hết là những bài thơ ca hay
những lời tán dương do những nhân vật
có chức có quyền đề tựa. Để giải quyết
vấn đề này, bản thân anh phải chịu khó
làm, rồi sau đó ký một cái tên nào đó, tỉ
dụ vua Huan xứ Ấn Độ hay hoàng đế xứ
Trapixônđa là những nhà thơ nổi tiếng
xưa kia, theo chỗ tôi biết. Và dù họ
không có tiếng tăm gì chăng nữa, dù kẻ
thông thái dởm hoặc ngứa mồm nào đó
chê bai và tỏ vẻ hoài nghi sau lưng anh,
anh cũng chớ quan tâm; cho rằng họ phát
hiện ra điều dối giả thì cũng chẳng chặt

được bàn tay cầm bút của anh. Về việc
ghi ở lề trang tên tác giả và sách trong đó
anh trích ra những câu châm ngôn, ngạn
ngữ, chỉ cần làm thế nào đưa đúng lúc
đúng chỗ mấy câu La Tinh mà anh đã
thuộc lòng hoặc nếu không, chỉ cần bỏ
chút ít công sức ra tìm. Ví dụ, khi người
ta nói đến sự tự do hoặc sự giam cầm,
hãy đưa câu La Tinh này vào: "Ngàn
vàng không mua nổi tự do", rồi ghi ở lề
[2]
trang tên của Ôraxiô
hay tên người
nào đã nói câu ấy. Bàn về sức mạnh của
sự chết, đã có câu: "Cái chết đến với cả
kẻ sang người hèn". Nếu nói về tình bạn
và tình yêu, hãy lấy ngay câu của Chúa
trong Thánh kinh: "Ta khuyên các ngươi
hãy yêu mến kẻ thù của mình". Và về

những ý nghĩ xấu xa, sách Phúc Âm nói
rằng: "Nhưng ý nghĩ xấu xa xuất phát từ
trái tim". Về sự tráo trở của con người
có câu của Catôn: "Giàu sang nhiều bạn
lắm bè, đến khi hoạn nạn chẳng hề có
ai".
Với những câu La tinh đó hoặc những
câu tương tự, anh sẽ được coi là một nhà
thông thái, mà trên đời này, điều đó mang
lại cho ta vinh dự và quyền lợi không
nhỏ.
Còn về phần phụ chú ở cuối cuốn sách,
chắc chắn có thể làm được theo cách sau
đây: nếu anh định nêu tên một gã khổng
lồ nào đó thì phải là Gôliáx, vì anh

không mất gì mà lại có sẵn một lời phụ
chú dài: "Trong cuốn sách của các đế
vương có một chương nói về Gôliáx hay
Gôliát, một kẻ ngoại đạo; y đã bị anh
chàng chăn cừu Đavít dùng ná bắn đá
giết chết ở thung lũng Têrêbintô". Và để
tỏ ra mình là một người học rộng, am
hiểu vũ trụ, hãy tìm cách đưa con sông
Tahô vào cuốn truyện của anh, thế là lại
được một lời ghi chú nữa rất hay: "Một
ông vua Tây Ban Nha đã đặt tên cho con
sông đó là sông Tahô. Nó bắt nguồn từ
một nơi nào đó, chảy qua thành Lixboa
nổi tiếng rồi đổ ra biển, theo lời đồn, cát
ở đây có vàng...". Nếu muốn tả bọn kẻ
cắp, tôi sẽ kể cho nghe chuyện Cacô mà
tôi thuộc lòng, tả gái giang hồ, có chuyện
 
Gửi ý kiến

↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓