Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

đề cương đia li 6

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Dương Thị Yến
Ngày gửi: 14h:39' 01-02-2024
Dung lượng: 484.2 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích: 0 người
Ngày soạn
Ngày dạy
CHƯƠNG 2- TRÁI ĐẤT: HÀNH TINH CỦA MẶT TRỜI
I. NỘI DUNG VÀ YÊU CẦU CẦN ĐẠT
- Vị trí của Trái Đất trong hệ Mặt Trời: Xác định được vị trí của Trái Đất trong hệ Mặt
Trời.
- Hình dạng, kích thước Trái Đất: Mô tả được hình dạng, kích thước Trái Đất.
- Chuyển động của Trái Đất và hệ quả địa lí:
+ Mô tả được chuyển động của Trái Đất (quanh trục và quanh Mặt Trời).
+ Xác định được phương hướng ngoài thực tế dựa vào quan sát hiện tượng tự nhiên hoặc
dùng la bàn.
+ Nhận biết được giờ địa phương, giờ khu vực, sánh được giờ của hai địa điểm trên Trái
Đất.
+ Trình bày được hiện tượng ngày đêm luận phiên nhau và mô tả được sự lệch hướng
chuyển động của vật thể theo chiều kinh tuyến.
+ Trình bày được hiện tượng ngày đêm dài ngắn theo mùa.
+ Câu hỏi và bài tập vận dụng
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC
- SGK, SGV, Tài liệu tham khảo chuyên sâu
- Máy tính máy chiếu
III. KIẾN THỨC CƠ BẢN VÀ CHUYÊN SÂU
1. Vị trí của Trái Đất trong Hệ Mặt Trời
- Trái Đất là một trong tám hành tinh chuyển động xung quanh Mặt Trời.
- Tám hành tinh (theo thứ tự xa dân Mặt Trời): Sao Thuỷ, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hoả,
Sao Mộc, SaoThổ, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương.
- Dựa vào vị trí, đặc điểm cấu tạo, chuyển động của các hành tinh mà phân ra hai nhóm
hành tinh, nhóm bên trong (năm gần Mặt Trời: Thủy, Kim, Hóa, Trái Đất) và nhóm bên
ngoài (năm xa Mặt Trời: Sao Mộc, Thổ, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương).
+ Nhóm bên trong có các đặc điểm là nằm gần Mặt Trời, kích thước nhỏ, cấu tạo chủ
yếu bởi vật chất rắn, tỷ trọng lớn, có ít hoặc không có vệ tinh, thành phần hóa học chủ
yếu là oxy, silic, nhôm, sắt...
+ Nhóm bên ngoài, nằm xa Mặt Trời, kích thước lớn, tỷ trọng nhỏ, có nhiều vệ tinh, có
cấu tạo chủ yếu là các chất khí, thành phần hóa học chủ yếu gồm hydro, heli, carbon
diocid, ammoniac... Do có kích thước, khối lượng quá lớn nên nhóm hành tinh này có
lớp khí quyển rất đậm đặc, không có lợi cho sự tồn tại của sự sống, nên ở các hành tinh
này không có sinh vật.
- Trái Đất có vị trí không quá gần và cũng không quá xa với Mặt Trời.
- Các hành tinh chuyển động quanh Mặt Trời với quỹ đạo có dạng gần tròn và quay theo
chiều kim đồng hồ (từ tây sang đông).
2. Hình dạng, kích thước Trái Đất
- Trái Đất có dạng hình cầu. Trên thực tế, Trái Đất không có dạng cầu hình học lí tưởng
mà có dạng geoid, gần gũi với hình ellipsoid và hình cầu.
- Trái Đất có kích thước rất lớn: Độ dài bán kính Trái Đất là 6370 km, đường xích đạo
dài 40076 km.

- Hình dạng tựa cầu và kích thước của Trái Đất đã đem lại các hệ quả địa lí sau:
+ Hiện tượng ngày đêm: Vì có dạng hình cầu nên có một nửa Trái Đất là ngày và nửa
khác là đêm. Nhịp điệu ngày đêm là kết quả của dạng cầu và chuyển động tự quay của
Trái Đất.
+ Sự phân hóa thành các vành đai nhiệt khác nhau trên Trái Đất và chúng đối xứng nhau
qua xích đạo: Do Trái Đất hình cầu nên góc nhập xạ giảm dần từ xích đạo về hai cực, vì
vậy hình thành các vòng đại nhiệt giảm dần từ xích đạo về hai cực. Dạng hình cầu nên
xích đạo là vĩ tuyến lớn nhất, chia Trái Đất thành hai bán cầu Bắc, Nam và tạo nên sự
đối xứng các vành đai nhiệt, áp, gió trên Địa Cầu.
+Trái Đất có dạng hình cầu nên chứa đựng nhiều nhất lượng vật chất, đồng thời còn có
kích thước và khối lượng đủ lớn nên mọi vật đều bị Trái Đất hút vào tâm. Nhờ vậy, Trái
Đất giữ được lớp khí quyển bao quanh, là hành tinh có sự sống trong hệ Mặt Trời (còn
Mặt Trăng có đường kính nhỏ hơn Trái Đất gần 4 lần, khối lượng nhỏ hơn 81,3 lần, nên
bề mặt Mặt Trăng không có khí quyển).
3. Chuyển động của Trái Đất và hệ quả địa lí
a) Chuyển động của Trái Đất quanh trục
- Chuyển động:
+Trái Đất tự quay quanh một trục tưởng tượng (là đường thẳng nối liền hai cực đi qua
tâm Trái Đất) và nghiêng 66°33' trên mặt phẳng quỹ đạo.
+ Trái Đất tự quay quanh trục theo hướng từ tây sang đông. Thời gian Trái Đất tự quay
một vòng quanh trục trong một ngày đêm được quy ước là 24 giờ.
+ Tốc độ góc quay của Trái Đất 15giờ. Vận tốc quay của Trái Đất phụ thuộc vào vĩ độ
và giảm dần từ Xích đạo về hai cực. Vận tốc quay lớn nhất ở xích đạo là 1670,4 km/giờ
nền ở đây thường được chọn làm sân bay vũ trụ vì khi bắn sẽ bổ sung cho tên lửa một
vận tốc tương ứng.
+ Xác định phương hướng ngoài thực tế: Hướng đông là hướng có Mặt Trời mọc, hướng
tây là hưởng Mặt Trời lặn. Một người đứng giang tay phải về hướng đông, trước một là
hướng bắc, sau lưng là hướng nam.
+ Xác định phương hướng dựa vào địa bàn: Theo hướng bắc của kim la bàn, bên phải
của kim la bàn là hướng đông, bên trái là hưởng tây.
- Giờ địa phương (giờ Mặt Trời): Giờ được tỉnh theo độ cao Mặt Trời tại địa phương đó.
Ở một địa điểm quan sát trên Trái Đất trong một ngày đêm chỉ thấy một lần Mặt Trời
lên cao nhất trên bầu trời lúc đó là 12 giờ trưa. Ở các kinh tuyến khác nhau sẽ nhìn thấy
Mặt Trời trên bầu trời ở những góc khác nhau, vì vậy các địa phương ở trên các kinh
tuyến khác nhau sẽ có giờ địa phương khác nhau. Vận động tự quay của Trái Đất đã tạo
nên mỗi địa phương trên mỗi kinh tuyến có một giờ riêng, gọi là giờ địa phương hay giờ
Mặt Trời.
- Giờ khu vực (giờ múi): Để tránh tình trạng lộn xộn do một lãnh thổ có nhiều giờ địa
phương, người ta qui ước giờ khu vực. Do thời gian Trái Đất hoàn tất một vòng tự quay
(360") là 24 giờ, nên quy ước:
+ Phân chia bề mặt Trái Đất ra 24 khu vực giờ, mỗi múi giờ rộng 15° và đánh số thứ tự
từ khu vực số 0 đến khu vực số 23 (ví dụ: múi giờ 0 có phạm vi từ 7°30'Đ đến 7°30'T
với kinh tuyến 00 đi qua giữa). Mỗi khu vực có một giờ riêng, giờ chính xác của kinh
tuyến đi qua giữa khu vực được tính là giờ chung của khu vực đó.

+ Khu vực có đường kinh tuyến gốc đi qua, được coi là khu vực giờ 0. Nước ta nằm ở
khu vực múi giờ thứ 7 và thứ 8. Giờ khu vực thống nhất lấy theo múi giờ thứ 7. Vì vậy,
khi thủ đô Luân Đôn (nước Anh) 0 giờ, thì ở nước ta lúc đó là 7 giờ sáng.
- Giờ tính theo khu vực giờ gốc (có đường kinh tuyến đi qua đài thiên văn Grin-uýt ở
ngoại ô thủ đô Luân Đôn) là giờ G.M.T (viết tắt của cụm từ Greenwich mean times có
nghĩa là giờ trung bình tại Greenwich).
+Trong tất cả các múi giờ đều có tình trạng giờ giống nhau nhưng ngày lại khác nhau.
Vì vậy để thuận lợi trong tổ chức sản xuất, sinh hoạt người ta quỉ ước lấy đường kinh
tuyến 1800 ở mùi số 12 làm đường đổi ngày quốc tế. Xét về lí thuyết đây là đường thẳng,
nhưng để tránh tình trạng một quốc gia lại có hai ngày khác nhau, nên trên thực tế đường
này là đường ngoằn ngoèo vì phải chạy theo ranh giới của một số quốc gia có đường
này chạy qua. Tương tự, ranh giới của các múi giờ trên thực tế cũng ngoằn ngoèo.
- Hiện tượng ngày đêm luân phiên:
+ Trái Đất có dạng hình cầu, nên Mặt Trời bao giờ cũng chỉ chiếu sáng được một nửa.
Nửa được chiếu sáng là ngày, nửa nằm trong bóng tối là đêm.
+ Trái Đất tự quay quanh trục từ tây sang đông nên khắp mọi nơi trên Trái Đất đều lần
lượt có ngày và đêm, tạo nên nhịp điệu ngày đêm.
- Sự lệch hướng chuyển động của vật thể theo chiều kinh tuyến
+ Do vận động tự quay quanh trục của Trái Đất nên các vật chuyển động trên bề mặt
Trái Đất đều bị lệch hướng. Cụ thể, Trái Đất quay ở xích đạo nhanh hơn ở hai cực. Trái
Đất rộng tại đường xích đạo, vì vậy mất 24 giờ để hoàn thành một vòng quay, tốc độ
1.600 km/giờ. Gần các cực, Trái Đất quay tại chỗ rất chậm chỉ 0,00008 km/ giờ.
+ Nếu nhìn xuôi theo chiều chuyển động, thì ở nửa cầu Bắc, vật chuyển động sẽ lệch về
bên phải, còn ở nửa cầu Nam lệch về bên trái.
b, Chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời
- Chuyển động:
+ Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời theo hướng từ tây sang đông, trên một quỹ đạo
có hình elip gần tròn.
+ Trong khi chuyển động trên quỹ đạo (quanh Mặt Trời), Trái Đất lúc nào cũng giữ
nguyên độ nghiêng và hướng nghiêng của trục không đổi.
- Thời gian Trái Đất chuyển động một vòng trên quỹ đạo là 365 ngày 6 giờ. Khoảng thời
gian này là định nghĩa của một năm.
- Hiện tượng ngày đêm dài ngắn theo mùa.
+ Do trục Trái Đất nghiêng và không đổi hướng trong khi chuyển động trên quỹ đạo nên
Trái Đất có lúc ngủ nửa cầu Bắc, có lúc ngủ nữa cầu Nam về phía Mặt Trời.
+ Nửa cầu nào ngả về phía Mặt Trời, thì có góc chiếu lớn, nhận được nhiều ánh sáng và
nhiệt. Lúc ấy là mùa nóng của nửa cầu đó. Nửa cầu nào không ngả về phía Mặt Trời, thì
có góc chiếu nhỏ, nhận được ít ánh sáng và nhiệt. Lúc ấy là mùa lạnh của nửa cầu đó.
+ Ngày 22 - 6 (Hạ chí), nửa cầu Bắc ngả về phía Mặt Trời, lúc này là mùa hạ của nửa
cầu Bắc.
Ngày 22 - 12 (Đông chi), nửa cầu Nam ngả về phía Mặt Trời, lúc này là mùa hạ của nửa
cầu Nam
Ngày 21 – 3 (Xuân phân) và 23 – 9 (Thu phân), hai nửa cầu có góc chiếu của Mặt Trời
như nhau, nhân được một lượng nhiệt và ánh sáng như nhau. Đó là lúc chuyển tiếp giữa
các mùa nóng và lạnh của Trái Đất

Hình 2.1. Các mùa trong năm và hiện tượng ngày đêm dài ngắn khác nhau
- Hiện tượng ngày đêm dài ngắn theo mùa:
+ Từ sau 21 - 3 đến trước ngày 23 - 9, bán cầu Bắc ngả về phía Mặt Trời, mọi nơi ở bán
cầu Bắc đều có ngày dài đêm ngắn; bán cầu Nam, ngược lại.
+ Từ sau ngày 23 - 9 đến trước ngày 21 - 3, bán cầu Nam ngả về phía Mặt Trời, mọi nơi
ở bán cầu Nam đều có ngày dài đêm ngắn; bán cầu Bắc, ngược lại.
+ Ngày 21 – 3 và 23 – 9, không bán cầu nào ngả về phía Mặt Trời, khắp nơi trên Trái
Đất có ngày và đêm dài bằng nhau.
+ Từ vòng cực Bắc (66"33'B) đến cực Bắc và từ vòng cực Nam (66°33'N) đến cực Nam
có hiện tượng ngày dài suốt 24 giờ (mùa hạ) và đêm dài suốt 24 giờ (mùa đông).
VI. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
Câu hỏi
Hướng dẫn
Câu 1. Phân biệt thiên thể, sao - Thiên thể là những khối vật chất trong vũ trụ có hình dạng,
và hành tinh, vệ tinh.
kích thước khác nhau.
- Các thiên thể mà tự mình có ánh sáng thì được gọi là các
ngôi sao. Ví dụ: Mặt Trời là một ngôi sao
- Tám thiên thể chuyển động quanh Mặt Trời được gọi là
tâm hành tinh. Các hành tinh không có ánh sáng, xã chỉ
phân chiếu ánh sáng Mặt Trời.
- Vệ tinh là các thiên thể chuyển động xung quanh các hành
tinh.
Câu 2. Nếu Trái Đất đứng yên, - Do Trái Đất có dạng hình cầu nên một nửa luôn được
không tự quay quanh trục, thì chiếu sáng và một nửa luôn khuất trong bóng tối. Nửa được
tất cả các điểm trên bề mặt Trái chiếu sáng là ngày, nữa khuất trong bóng tối là đêm.
Đất đều lần lượt có ngày và - Nhờ có sự vận động tự quay của Trái Đất quanh trục từ
đêm không? Tại sao?
Tây sang Đông nên ở khắp mọi nơi trên Trái Đất đều lần
lượt có ngày và đêm.
- Vì vậy, nếu Trái Đất đứng yên không tự quay quanh trục
thì tất cả các điểm trên bề mặt Trái Đất đều không thể lần
lượt có ngày và đêm.

Câu 3. Trên đường xích đạo - Độ đại của đường xích đạo là 40076 km
của quả Địa Cầu, vẽ 360 kinh - Khoảng cách giữa mỗi kinh tuyển bằng 40076 : 360 = 111
tuyến. Hỏi mỗi kinh tuyến cách km
nhau bao nhiêu km?
Câu 4. Một người đi vòng
quanh Trái Đất bằng ô tô với
tốc độ 60 km/h. Hỏi người đó
đi trọn một vòng quanh Trái
Đất theo đường xích đạo mất
hết bao nhiêu giờ?
Câu 5. Tại sao trong cùng một
lúc, ở khắp nơi trên Trái Đất
không có giờ giống nhau? Sự
phân chia bề mặt Trái Đất ra 24
khu vực giờ có thuận lợi gì về
mặt sinh hoạt và đời sống?

- Độ dài đường xích đạo: 40076 km.
- Với tốc độ 60 km h, để đi hết một vòng quanh Trái Đất
theo đường xích đạo, cần: 40076 km : 60 = 668 ngày.

Câu 6. Tại sao Trái Đất chuyển
động quanh Mặt Trời lại sinh ra
hai thời kì nóng và lạnh luân
phiên nhau ở hai nửa cầu trong
năm?

Do khi chuyển động quanh Mặt Trời, trục Trái Đất nghiêng
và không đổi hướng, nên Trái Đất khi thì ngả nửa cầu Bắc,
khi thì ngả nửa cầu Nam về phía Mặt Trời. Nửa cầu nào ngả
về phía Mặt Trời, thì có góc chiếu lớn, nhận được nhiều ánh
sáng và nhiệt, lúc ấy là mùa nóng của nửa cầu đó. Nửa cầu
nào không ngả về phía Mặt Trời, thì có góc chiếu nhỏ, nhận
được ít ánh sáng và nhiệt. Lúc ấy là mùa lạnh của nửa cấu
đó. Trong năm, mùa nóng và mùa lạnh của mỗi nửa cầu cứ
luân phiên nhau như vậy.
Vào các ngày 21 - 3 (Xuân phân) và 23 - 9 (Thu phân), hai
nửa cầu Bắc và Nam đều nhận được một lượng ánh sáng và
nhiệt như nhau.
- Đó là thời gian chuyển tiếp giữa mùa nóng và mùa lạnh
của Trái Đất (còn gọi là mùa xuân và mùa thu).

Câu 7. Vào những ngày nào
trong năm, hai nửa cầu Bắc và
Nam đều nhận được một lượng
ánh sáng và nhiệt như nhau?
Thời gian đó là những mùa gì?
Câu 8. Dựa vào hình vẽ và KT
đã học:
a, Hình vẽ thể hiện hiện tượng
địa lý nào?
b, Giải thích ý nghĩa của các
ngày ghi trong hình?

- Vì trong cùng một lúc, trên bề mặt Trái Đất có cả ngày và
đêm, tức là có đủ 24 giờ.
- Sự phân chia bề mặt Trái Đất ra 24 khu vực giờ thuận tiện
cho việc tính giờ và giao dịch trên toàn thế giới, vì các hoạt
động của người dân ở các nơi khác nhau trên thế giới sẽ
được thống nhất về mặt thời gian.

- Tên của hình: Biểu đồ (đường biểu diễn) chuyển động
biểu kiến của Mặt Trời
- Giải thích
* Mặt Trời gặp (chiếu thẳng góc hoặc lên thiên đỉnh) vĩ độ
0° (Xích đạo) vào ngày 21 tháng 3.
* Gặp (chiếu thẳng góc hoặc lên thiên đỉnh) vĩ độ 23°27' B
vào ngày 22 tháng 6.
* Gặp (chiếu thẳng góc hoặc lên thiên đỉnh) vĩ độ 0° (Xích
đạo) vào ngày 23 tháng 9.
* Gặp (chiếu thẳng góc hoặc lên thiên đỉnh) vĩ độ 23°27' N
vào ngày 22 tháng 12.

Câu 9. Nguyên nhân dẫn đến
hiện tượng các mùa trong năm?
Sự chênh lệch độ dài ngày và
đêm trong năm diễn ra như thế
nao?

Câu 10. Giải thích câu ca dao:
“Đêm tháng năm chưa nằm đã
sáng, ngày tháng mười chưa
cười đã tối”

Câu 11. Tại sao những nơi ở
gần xích đạo, khí hậu quanh

* Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng các mùa trong năm.
- Do trục Trái Đất nghiêng và không đổi phương trong khi
chuyển động trên quỹ đạo quanh Mặt Trời, nên Trái Đất có
lúc ngả nửa cầu Bắc, có lúc ngả nửa cầu Nam về phía Mặt
Trời.
- Nửa cầu nào ngả về phía Mặt Trời sẽ nhận được nhiều ánh
sáng và nhiệt, nửa cầu nào không ngả về phía Mặt Trời sẽ
nhận được ít ánh sáng và nhiệt.
Như vậy, góc chiếu và thời gian chiếu sáng, thu nhận lượng
bức xạ mặt trời ở mỗi bán cầu có sự thay đổi luân phiên
trong năm, gây nên những đặc điểm thời tiết và khí hậu
trong từng thời kì của năm, tạo nên các mùa.
* Sự chênh lệch độ dài ngày đêm trong năm.
- Từ ngày 21/3 đến 23/9, nửa cầu Bắc ngả về phía Mặt Trời,
nên nhận được góc chiếu lớn, diện tích được chiếu sáng lớn
hơn diện tích khuất trong bóng tối ; đó là mùa hạ ở nửa cầu
Bắc, ngày dài hơn đêm. Ở nửa cầu Nam, ngược lại, thời
gian này là mùa đông, đêm dài hơn ngày.
- Từ ngày 23/9 đến 21/3, nửa cầu Nam ngả về phía Mặt
Trời, diện tích được chiếu sáng lớn hơn diện tích khuất
trong bóng tối đó là mùa hạ ở nửa cầu Nam, ngày dài hơn
đêm. Ở nửa cầu Bắc, ngược lại, thời gian này là mùa đông,
đêm dài hơn ngày.
- Trong khi chuyển động quanh Mặt Trời, do trục Trái Đất
nghiêng và không đổi phương, nên tuỳ vị trí Trái Đất trên
quỹ đạo mà ngày, đêm dài ngắn theo mùa.
- Việt Nam ở bán cầu Bắc, vào tháng 5, bán cầu Bắc chúc
về phía Mặt Trời nên phần nhận được ánh sáng Mặt Trời
lớn hơn phần khuất trong bóng tối, ngày dài hơn đêm. Vào
tháng 10, bán cầu Nam nghiêng về phía Mặt Trời, phần
không được chiếu sáng ở bán cầu Bắc rộng hơn phần được
chiếu sáng, ngày ngắn hơn đêm.
Những nơi ở gần xích đạo, khi nửa cầu Bắc hay nửa cầu
Nam ngả về phía Mặt Trời, lượng ánh sáng và nhiệt nhận

năm nóng đều, các mùa không được trong hai thời kì đó chênh nhau không nhiều lắm, nên
rõ rệt?
khí hậu quanh năm nóng đều, các mùa không rõ rệt.
Câu 12. Một tàu thuỷ chạy từ
cảng Hải Phòng lúc 5 giờ ngày
01/03/2020 đi Mác-xây. Sau 20
giờ chạy thì đến Mác-xây vào
lúc 19 giờ ngày 01/03/2020.
Cho biết Mác-xây ở múi giờ số
mấy?

Việt Nam thuộc múi giờ số 7. Khi tàu đến Mác-xây là 19h
ngày 1/3/2020 sau
khi đã chạy mất 20h. Như vậy lúc tàu khởi hành thì giờ ở
Mác-xây là 23h ngày 29/02/2020
Lúc Mác-xây là 23h ngày 28/2/2020 thì ở Hải Phòng là 5h
ngày 1/3/2020.
Như vậy giờ Việt Nam đến sớm hơn giờ ở Mác-xây là 6h.
Việt Nam múi giờ số 7, vậy Mác-xây múi giờ số 1.

a, Kinh tuyến 1000Đ thuộc múi giờ: 1000 : 150 = 6,7 làm
tròn là 7.
- Kinh tuyến 1000T thuộc múi giờ: (3600 - 1000) : 150 = 17.
- Kinh tuyến 1150T thuộc múi giờ: (3600 - 1150) : 150 = 16.
- Kinh tuyến 1760Đ thuộc múi giờ: 1760 : 150 = 12.
b, Cho biết kinh tuyến b, Kinh tuyến 20030'Đ:
20030'Đ, 40053'T, 120030'Đ Đổi 20030'Đ = 20+ ( 30:60)= 20,50
thuộc múi giờ số mấy?
Kinh tuyến20030'Đ thuộc múi giờ số 20,50 : 15= 1,3
Làm tròn theo nguyên tắc toán học = 1
Vậy 20030'Đ thuộc múi giờ số 1
Câu 13.
a,Cho biết ở kinh tuyến số
1000Đ ,1000T, 1150T, 1760Đ
thuộc múi giờ số mấy?

THẦY CÔ CẦN ĐỦ BỘ NHẮN EM AK
 
Gửi ý kiến