Dàn ý Tràng Giang

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: FB Thầy Nhật
Người gửi: Lê Nhựt Tân
Ngày gửi: 21h:41' 22-03-2021
Dung lượng: 20.7 KB
Số lượt tải: 55
Nguồn: FB Thầy Nhật
Người gửi: Lê Nhựt Tân
Ngày gửi: 21h:41' 22-03-2021
Dung lượng: 20.7 KB
Số lượt tải: 55
Số lượt thích:
0 người
DÀN Ý: TRÀNG GIANG 11
-Huy Cận-
I. Khái quát tác giả, hoàn cảnh sáng tác Tràng Giang Trước khi đi vào dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Tràng Giang, chúng ta hãy cùng khái quát qua thông tin về tác giả, hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa nhanh đề của bài thơ:
1. Tác giả Huy Cận (1919 – 2005) – Huy Cận sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo ở tỉnh Hà Tĩnh. – Lúc nhỏ, ông theo học ở quê. Đến khi học trung học, ông học tại Huế, sau đó thi đậu tú tài Pháp rồi chuyển ra Hà Nội học trường Cao đẳng Canh nông. – Ông có thơ đăng báo từ năm 15 tuổi và trở nên nổi tiếng qua nhiều tác phẩm, đặc biệt là tập thơ “Lửa thiêng”. – Trước Cách mạng, ông được biết đến như một thi sĩ hàng đầu trong phong trào Thơ mới. Thơ của ông có nỗi ám ảnh thường trực là nỗi buồn của nhân thế, nỗi sầu bi kéo dài. – Sau Cách mạng, ông là nhà thơ tiêu biểu với tiếng thơ yêu đời, lạc quan, căng tràn sức sống.
2. Hoàn cảnh sáng tác Tràng Giang Bài thơ được sáng tác vào một chiều thu năm 1939, khi Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng ngắm cảnh. Chính cái không gian mênh mang của sông Hồng và suy nghĩ về kiếp người nhỏ bé, trôi nổi, vô định đã gợi lên cảm hưng sáng tác bài thơ này.
3. Ý nghĩa nhanh đề và lời đề tựa bài thơ Tràng Giang – Nhan đề: Ngay từ thi đề, Huy Cận đã khéo léo gợi lên vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại cho bài thơ. “Tràng Giang” là một cách nói chệch đầy sáng tạo của Huy Cận. Hai âm “ang” đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát. Hai chữ “tràng giang” mang sắc thái cổ điển trang nhã, gợi liên tưởng về dòng Trường Giang trong Đường thi, một dòng sông của muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng. – Lời đề tựa: Nhấn mạnh không gian mênh mông và nỗi nhớ sâu thẳm trong lòng người.
II. Dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Tràng Giang Về bố cục, nội dung bài Tràng Giang được chia thành 4 phần: Phần 1 (khổ thơ 1): Khung cảnh sông nước mênh mông, bất tận. Phần 2 (khổ 2): Cảnh cồn bến hoang vắng trong nắng chiều. Phần 3 (khổ 3): Cảnh bèo trôi, bờ xanh hoang vắng. Phần 4 (khổ 4): Tâm sự nhớ quê và nỗi niềm của nhà thơ.
1. Dàn ý phân tích khổ 1 Tràng Giang “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song. Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả; Củi một cành khô lạc mấy dòng.” Với âm điệu nhịp nhàng, trầm buồn, các từ láy đặc sắc, đối ý, hình ảnh độc đáo, chi tiết mới mẻ, Huy Cận đã phác họa nên một nỗi buồn bơ vơ, bế tắc của lòng người trước không gian sông nước mênh mông, rợn ngợp, hoang vắng. a, Hai câu thơ đầu: – Câu thơ mở đầu nhắc lại nhan đề “tràng giang” với cách điệp vần “ang”: gợi sự ngân vọng vang xa cổ kính. – Từ láy “điệp điệp”, “song song”: Khung cảnh sông nước gắn với tâm trạng buồn da diết, khôn nguôi. – Hình ảnh: + “Sóng”: gợi lên từng đợt như những nỗi buồn chồng chéo trong tâm trạng. + “Thuyền” và “nước”: vốn luôn giao hòa nhưng trong câu thơ này lại lạc điệu, li cách.
b, Câu thơ thứ ba: – Hình ảnh: “thuyền” và “nước” lặp lại từ câu thơ trên nhưng vẫn không hề có sự đồng điệu mà còn tan tác hơn với nghệ thuật đối “thuyền về” >< “nước lại”. – Từ ngữ trực tiếp miêu tả cảm xúc “sầu trăm ngả”: nỗi buồn từ trong lòng người lan rộng ra khắp cảnh vật, đất trời.
c, Câu thơ cuối: – Hình ảnh độc đáo “củi một cành khô lạc mấy dòng: sự trôi nổi, bấp bênh của thân phận cỏ cây hay cũng là của số kiếp con người giữa cuộc đời sóng gió trăm ngả. – Nghệ thuật đảo ngữ và đối lập: tăng sức gợi hình, gợi cảm và giá trị biểu đạt cho câu thơ. 2. Khổ 2 bài Tràng Giang “Lơ thơ cồn nhỏ gió điều hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiề Nắng xuống, trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu” Huy Cận đã khắc họa một bức
-Huy Cận-
I. Khái quát tác giả, hoàn cảnh sáng tác Tràng Giang Trước khi đi vào dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Tràng Giang, chúng ta hãy cùng khái quát qua thông tin về tác giả, hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa nhanh đề của bài thơ:
1. Tác giả Huy Cận (1919 – 2005) – Huy Cận sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo ở tỉnh Hà Tĩnh. – Lúc nhỏ, ông theo học ở quê. Đến khi học trung học, ông học tại Huế, sau đó thi đậu tú tài Pháp rồi chuyển ra Hà Nội học trường Cao đẳng Canh nông. – Ông có thơ đăng báo từ năm 15 tuổi và trở nên nổi tiếng qua nhiều tác phẩm, đặc biệt là tập thơ “Lửa thiêng”. – Trước Cách mạng, ông được biết đến như một thi sĩ hàng đầu trong phong trào Thơ mới. Thơ của ông có nỗi ám ảnh thường trực là nỗi buồn của nhân thế, nỗi sầu bi kéo dài. – Sau Cách mạng, ông là nhà thơ tiêu biểu với tiếng thơ yêu đời, lạc quan, căng tràn sức sống.
2. Hoàn cảnh sáng tác Tràng Giang Bài thơ được sáng tác vào một chiều thu năm 1939, khi Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng ngắm cảnh. Chính cái không gian mênh mang của sông Hồng và suy nghĩ về kiếp người nhỏ bé, trôi nổi, vô định đã gợi lên cảm hưng sáng tác bài thơ này.
3. Ý nghĩa nhanh đề và lời đề tựa bài thơ Tràng Giang – Nhan đề: Ngay từ thi đề, Huy Cận đã khéo léo gợi lên vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại cho bài thơ. “Tràng Giang” là một cách nói chệch đầy sáng tạo của Huy Cận. Hai âm “ang” đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát. Hai chữ “tràng giang” mang sắc thái cổ điển trang nhã, gợi liên tưởng về dòng Trường Giang trong Đường thi, một dòng sông của muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng. – Lời đề tựa: Nhấn mạnh không gian mênh mông và nỗi nhớ sâu thẳm trong lòng người.
II. Dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Tràng Giang Về bố cục, nội dung bài Tràng Giang được chia thành 4 phần: Phần 1 (khổ thơ 1): Khung cảnh sông nước mênh mông, bất tận. Phần 2 (khổ 2): Cảnh cồn bến hoang vắng trong nắng chiều. Phần 3 (khổ 3): Cảnh bèo trôi, bờ xanh hoang vắng. Phần 4 (khổ 4): Tâm sự nhớ quê và nỗi niềm của nhà thơ.
1. Dàn ý phân tích khổ 1 Tràng Giang “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song. Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả; Củi một cành khô lạc mấy dòng.” Với âm điệu nhịp nhàng, trầm buồn, các từ láy đặc sắc, đối ý, hình ảnh độc đáo, chi tiết mới mẻ, Huy Cận đã phác họa nên một nỗi buồn bơ vơ, bế tắc của lòng người trước không gian sông nước mênh mông, rợn ngợp, hoang vắng. a, Hai câu thơ đầu: – Câu thơ mở đầu nhắc lại nhan đề “tràng giang” với cách điệp vần “ang”: gợi sự ngân vọng vang xa cổ kính. – Từ láy “điệp điệp”, “song song”: Khung cảnh sông nước gắn với tâm trạng buồn da diết, khôn nguôi. – Hình ảnh: + “Sóng”: gợi lên từng đợt như những nỗi buồn chồng chéo trong tâm trạng. + “Thuyền” và “nước”: vốn luôn giao hòa nhưng trong câu thơ này lại lạc điệu, li cách.
b, Câu thơ thứ ba: – Hình ảnh: “thuyền” và “nước” lặp lại từ câu thơ trên nhưng vẫn không hề có sự đồng điệu mà còn tan tác hơn với nghệ thuật đối “thuyền về” >< “nước lại”. – Từ ngữ trực tiếp miêu tả cảm xúc “sầu trăm ngả”: nỗi buồn từ trong lòng người lan rộng ra khắp cảnh vật, đất trời.
c, Câu thơ cuối: – Hình ảnh độc đáo “củi một cành khô lạc mấy dòng: sự trôi nổi, bấp bênh của thân phận cỏ cây hay cũng là của số kiếp con người giữa cuộc đời sóng gió trăm ngả. – Nghệ thuật đảo ngữ và đối lập: tăng sức gợi hình, gợi cảm và giá trị biểu đạt cho câu thơ. 2. Khổ 2 bài Tràng Giang “Lơ thơ cồn nhỏ gió điều hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiề Nắng xuống, trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu” Huy Cận đã khắc họa một bức
 








Các ý kiến mới nhất