Tìm kiếm Giáo án
Bài 9. Công thức hoá học

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đoàn Thị Hồng Hoa
Ngày gửi: 00h:45' 20-05-2025
Dung lượng: 140.1 KB
Số lượt tải: 8
Nguồn:
Người gửi: Đoàn Thị Hồng Hoa
Ngày gửi: 00h:45' 20-05-2025
Dung lượng: 140.1 KB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích:
0 người
1
Phần thứ nhất
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bản thân là một giáo viên đứng lớp giảng dạy bộ môn Khoa học tự nhiên phân
môn Hoá học nhiều năm, tôi cảm thấy việc đọc tên nguyên tố hoá học, muối, oxide,
acid, base và viết đúng công thức hoá học của học sinh là hết sức khó khăn. Qua thực
tế việc đổi mới phương pháp dạy học, bản thân tôi nhận thấy cần rèn luyện cho học
sinh kĩ năng lập công thức hoá học của hợp chất oxide, acid, base, muối thông qua
phương pháp này giúp học sinh rèn luyện kĩ năng củng cố kiến thức, kĩ năng viết công
thức hoá học của các hợp chất sẽ đem lại hiệu quả rất cao. Phương pháp này là công cụ
hữu hiệu để kiểm tra kiến thức, kĩ năng của từng học sinh. Giúp giáo viên phát huy
được vai trò học tập của học sinh, làm bộc lộ sai lầm của học sinh trong học tập hoá
học. Đồng thời giáo viên có biện pháp giúp học sinh vượt qua khó khăn và khắc phục
sai lầm đó.
Qua thực tế giảng dạy bản thân tôi nhận thấy đa số học sinh gặp khó khăn khi gọi
tên các nguyên tố, oxide, acid, base, muối và lập công thức hóa học của hợp chất. Học
sinh chưa làm quen cách gọi tên nguyên tố, oxide, acid, base, muối; chưa nắm vững
các khái niệm oxide, acid, base, muối; chưa thuộc hóa trị của nguyên tố và hóa trị gốc
axit, nên khi vận dụng làm bài tập rất máy móc, rập khuôn.
Chính vì vậy, tôi nghĩ giải pháp “Giúp học sinh đọc tên nguyên tố hoá học, muối,
oxide, acid, base và viết đúng công thức hoá học theo chương trình mới” phần nào sẽ
mang lại sự hiệu quả trong dạy bộ môn Khoa học tự nhiên phân môn Hoá học trong
trường”.
2
Phần thứ hai
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề
2.1.1. Vì sao sử dụng tên gọi các nguyên tố hóa học bằng tiếng Anh
Trước hết phải hiểu đây không phải là danh pháp mới, IUPAC không hề thay đổi
danh pháp từ khi đặt tên cho các nguyên tố, mà ở đây là chúng ta đang thay đổi cách viết
phù hợp với tên gọi của IUPAC quy định, đó là sử dụng tiếng Anh. Ba ưu điểm nổi trội
khi các em sử dụng tên gọi các nguyên tố hoá học và theo đó là các chất hoá học bằng
tiếng Anh có thể kể như sau:
Thứ nhất là tính nhất quán và thuận lợi: Tên gọi các nguyên tố và các chất hoá học
theo sách giáo khoa cũ cũng đã thay đổi nhiều lần theo thời gian và do được phiên âm để
tiện đọc nên đã không thống nhất với tên quy định quốc tế (IUPAC). Ví dụ, tên gọi
nguyên tố H theo tiếng Việt đang tồn tại nhiều cách viết (hiđrô, hiđro, hidro, hyđrô,
hydro), nhưng nếu viết theo tên tiếng Anh chỉ có một cách duy nhất là hydrogen. Tương
tự, một thời chúng ta gọi chất đường đơn giản là glucoza, sau đó lại đổi sang glucozơ,
nhưng vẫn không đúng theo tên quốc tế là glucose. Với ba cách viết này, cách viết cuối
cùng bằng tiếng Anh sẽ nhanh hơn kể cả khi viết tay cũng như khi đánh máy vì không có
dấu và quan trọng là viết đúng theo quy định quốc tế, do đó chắc chắn sẽ không còn tranh
cãi về cách viết tên gọi (danh pháp) các nguyên tố và chất hoá học về lâu dài.
Thứ hai là tính đồng bộ và ứng dụng trong cuộc sống: Khi sử dụng tên gọi các
nguyên tố và chất hoá học bằng tiếng Anh trong sách giáo khoa, chúng ta sẽ đồng bộ hoá
được tên gọi mà các em được học trong nhà trường với tên hoá chất được ghi trên bao bì,
chai, lọ của các nhà sản xuất hoá chất trong và ngoài nước. Đồng thời không gây nhầm
lẫn cho các em khi đọc thông tin về thành phần của các loại thuốc, biệt dược do nhà sản
xuất công bố.
Thứ ba là tính hội nhập toàn cầu: Giáo dục Việt Nam ngày càng phát triển, đặc biệt
khoa học tự nhiên có tính hội nhập sâu rộng và để hội nhập được phải thích ứng toàn cầu.
Hiện nay học sinh có xu hướng ngày càng tham gia nhiều cuộc thi khoa học khu vực,
quốc tế, cũng như tham gia học tập và nghiên cứu ở các nước phát triển. Do đó cách gọi
3
tên các nguyên tố, chất và thuật ngữ hoá học bằng tiếng Anh sẽ tạo điều kiện cho học sinh
tiếp cận nhanh chóng với kiến thức khoa học của nhân loại.
2.1.2 Vai trò và tác dụng của bài tập Khoa học tự nhiên phân môn Hoá học
trong dạy và học ở trường THCS: Việc dạy học không thể thiếu bài tập. Sử dụng bài
tập để luyện tập là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy
học. Bài tập hoá học có ý nghĩa, tác dụng to lớn về nhiều mặt:
- Bài tập hoá học làm chính xác hoá các khái niệm hoá học. Củng cố, đào sâu và
mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn. Chỉ khi vận dụng được các
kiến thức vào việc giải bài tập, học sinh mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc.
- Bài tập hoá học có tác dụng ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực
nhất. Khi ôn tập, học sinh sẽ buồn chán nếu chỉ yêu cầu họ nhắc lại kiến thức. Thực tế cho
thấy, học sinh chỉ thích giải bài tập trong giờ ôn tập.
- Bài tập hoá học rèn luyện cho học sinh các kỹ năng như cân bằng phương trình
phản ứng, tính toán theo công thức hoá học và phương trình hoá học ... Nếu là bài tập thực
nghiệm sẽ rèn các kỹ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho
học sinh.
- Bài tập hoá học rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn đời sống, lao động sản xuất và bảo vệ môi trường.
- Bài tập hoá học rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các
thao tác tư duy.
- Bài tập hoá học là công cụ để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của học sinh.
- Bài tập hoá học giúp cho học sinh phát triển các năng lực tư duy logic, biện
chứng, khái quát, độc lập, thông minh và sáng tạo.
- Bài tập hoá học có tác dụng rèn luyện cho học sinh có đức tính chính xác, kiên
nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học Hoá học. Bài tập thực nghiệm còn có tác dụng
rèn luyện văn hoá lao động (lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch
sẽ nơi làm việc).
2.2. Thực trạng của vấn đề
Trong năm học này, tôi được nhà trường phân công giảng dạy bộ môn Khoa học
4
tự nhiên 7,8,9 phân môn Hoá. Trong thời gian đó tôi nhận thấy có những thuận lợi và
khó khăn trong công tác giảng dạy:
2.2.1. Thuận lợi:
- Được sự quan tâm nhiệt tình của ngành, ban giám hiệu nhà trường và các cấp
chính quyền ở địa phương.
- Cơ sở vật chất, phòng học, bàn ghế, trang thiết bị tương đối đầy đủ, cơ bản đáp
ứng tốt nhu cầu dạy và học.
- Đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình, năng động trong công tác giảng dạy, đủ về số
lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng.
- Nhà trường đã xây dựng và duy trì tốt các nề nếp dạy và học, đa số học sinh
chấp hành tốt nội quy nhà trường và đa số các em chăm chỉ, chịu khó học tập.
2.2.2. Khó khăn:
- Khi học chương trình mới, sách giáo khoa mới học sinh vẫn chưa thể làm quen
với cách đọc mới các nguyên tố hóa học bởi vì cách đọc khác không theo phiên âm
bằng tiếng Việt như trước kia. Nguyên tố N nay được đọc thành Nitrogen thay vì Nitơ;
O thì đọc thành Oxygen thay vì Oxi, H đọc thành Hydrogen thay vì Hidro, Cu đọc
thành Copper thay vì Đồng, Natri thì đọc thành Sodium, Kali thành Potassium, Magie
biến đổi sang Magnesium.
- Các em cảm thấy khó khăn khi phải nhớ hết tên gọi tiếng Anh của tất cả nguyên
tố. Cứ mỗi khi có tiết Khoa học tự nhiên phân môn Hoá không khí lớp em sôi động
hơn hẳn vì cả lớp nhao nhao hỏi nhau cách phát âm. Có bạn thì căng thẳng vì không
thể nhớ, có bạn lại cười ồ lên khi thấy bạn khác đọc sai".
- Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, tên gọi các nguyên tố, hợp chất,
oxide, acid, base, muối… sẽ được đọc bằng tiếng Anh theo danh pháp IUPAC thay vì
đọc theo phiên âm tiếng Việt như trước đây, chỉ sau vài tuần lên lớp, đã phải thốt lên
rằng: "khó quá, đọc mà méo cả mặt". Giáo viên chưa được tập huấn dạy học về phát
âm nguyên tố hoá học. Cứ dạy đến đâu lên mạng tra đến đó rồi về hướng dẫn cho học
sinh".
- Giáo viên trong một trường mà mỗi người đọc một kiểu, không thống nhất làm
cho học sinh các lớp cũng đọc khác nhau rất khó khăn cho cả học sinh và giáo viên.
5
Học sinh thắc mắc sao mỗi thầy cô đọc 1 kiểu không thống nhất.
Chương trình kiến thức Khoa học tự nhiên phân môn Hoá với lượng kiến thức
không nhỏ, đòi hỏi kỹ năng thực hành của học sinh nhiều và lượng bài tập hoá học học
sinh phải giải khá nhiều. Học sinh viết công thức hoá học chưa đúng.
Qua nhiều lần suy nghĩ, tôi cũng đã tìm ra được giải pháp “Giúp học sinh đọc tên
nguyên tố hoá học, muối, oxide, acid, base và viết đúng công thức hoá học theo
chương trình mới” giúp các em học sinh, bản thân, giáo viên trong tổ đọc được tên của
nguyên tố, acid, base, muối, oxide theo chương trình mới; giúp học sinh viết đúng
công thức acid, base, muối, oxide.
2.3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
Ngay từ đầu năm học tôi đã chuẩn bị tài liệu cho học sinh để đảm bảo cho học
sinh về cách gọi tên theo chương trình mới và viết đúng công thức hoá học. Giải pháp
áp dụng vào các bài 3 Khoa học tự nhiên 7; bài 8,9,10,11 Khoa học tự nhiên 8.
2.3.1. Biện pháp 1: Cung cấp cho học sinh tài liệu về cách gọi tên nguyên tố,
oxide, acid, muối, base; bài ca hoá trị và hoá trị của gốc acid.
2.3.1.1. Hệ thống tên các nguyên tố: Với hệ thống tiếng Anh, cả nguyên tố và
đơn chất đều được biểu diễn bằng thuật ngữ “element”. Tên gọi của nguyên tố và đơn
chất theo đó giống nhau.
Bảng nguyên tố hóa học theo IUPAC
Z
Kí hiệu hóa
Tên gọi
học
Phiên âm Tiếng Diễn giải Việt
Ý nghĩa
Anh
hóa
1
H
Hydrogen
/ˈhaɪdrədʒən/
'hai-đrờ-zần
Hiđro
2
He
Helium
/ˈhiːliəm/
'hít-li-ầm
Heli
3
Li
Lithium
/ˈlɪθiəm/
'lít-thi-ầm
Liti
4
Be
Beryllium
/bəˈrɪliəm/
bờ-'ri-li-ầm
Beri
5
B
Boron
/ˈbɔːrɒn/
'bo-roon
Bo
Ghi chú
“đr” là âm
kép “đờ rờ”,
phát âm
nhanh.
Âm “oo”
6
tương tự âm
giữa của hai
âm “o” và
“a”.
/ˈbɔːrɑːn/
6
7
C
N
Carbon
Nitrogen
/ˈkɑːbən/
/ˈkɑːrbən/
/ˈnaɪtrədʒən/
'Ka-bần
'nai-trờ-zần
Âm “k”
tương tự âm
Cacbon đứng giữa hai
âm “c” và
“kh”.
Nitơ
“tr” là âm
kép “tờ rờ”,
phất âm
nhanh.
8
O
Oxygen
/ˈɒksɪdʒən/
/ˈɑːksɪdʒən/
Oxi
Âm “óoc”
tương tự là
âm đứng giữa
hai âm “oc”
và “ắc”.
'phlo-rìn
Flo
Âm “phl” âm
kép “phờ l-”,
phát âm
nhanh.
'ni-àn
Neon
'óoc-xi-zần
/ˈflɔːriːn/
9
F
Fluorine
/ˈflʊəriːn/
/ˈflɔːriːn/
/ˈflʊriːn/
/ˈniːɒn/
10
Ne
Neon
11
Na
Sodium
/ˈsəʊdiəm/
'sâu-đì-ầm
Natri
12
Mg
Magnesiu
m
/mæɡˈniːziəm/
Mẹg-'ni-zi-ầm
Magie
13
Al
Aluminium
/ˌæljəˈmɪniəm/
a-lờ-'mi-ni-ầm Nhôm
/ˈniːɑːn/
7
/ˌæləˈmɪniəm/
/ˌæljəˈmɪniəm/
/ˌæləˈmɪniəm/
14
15
16
17
Si
Silicon
P
Phosphorus
S
Sulfur
Cl
Chlorine
/ˈsɪlɪkən/
/ˈfɒsfərəs/
/ˈfɑːsfərəs/
/ˈsʌlfə(r)/
/ˈsʌlfər/
/ˈklɔːriːn/
/ˈɑːɡɒn/
'sík-li-cần
Silic
Âm “oo”
tương tự âm
'phoos-phờPhốt pho giữa của hai
rợs
âm “o” và
“a”.
'sâu-phờ
Lưu
huỳnh
'klo-rìn
Clo
'a-gàn
Agon
18
Ar
Argon
19
K
Potassium
/pəˈtæsiəm/
Pờ-'tes-zi-ầm
Kali
20
Ca
Calcium
/ˈkælsiəm/
'kel-si-ầm
Canxi
21
Sc
Scandium
/ˈskændiəm/
'sken-đì-ầm
Scanđi
/tɪˈteɪniəm/
Tì-'tây-ni-ầm
/taɪˈteɪniəm/
Tài-'tây-ni-ầm
Vờ-'nây-đi-âm Vanađi
/ˈɑːrɡɑːn/
22
Ti
Titanium
23
V
Vanadium
/vəˈneɪdiəm/
24
Cr
Chromium
/ˈkrəʊmiəm/
'Krâu-mi-um
Âm “kl-” là
âm kép “kờ
l-”, phát âm
nhanh.
Titan
Crom
Tránh đọc sai
thành
chrominum
hay
8
chrominium.
25
26
27
Mn
Fe
Co
Manganese
Iron
Cobalt
/ˈmæŋɡəniːz/
/ˈaɪən/
/ˈaɪərn/
/ˈkəʊbɔːlt/
'me-gờ-nìz
'ai-ần
'kâu-bol-t
Mangan
Sắt
Kí tự “r”
trong cách
ghi iron là
âm câm nên
không phát
âm.
Âm “k”
tương tự âm
đứng giữa hai
âm “c” và
Coban
“kh”.
Âm “t” là âm
đuôi.
28
29
30
Ni
Cu
Zn
Nickel
Copper
Zinc
/ˈnɪkl/
/ˈkɒpə(r)/
/ˈkɑːpər/
/zɪŋk/
/ˈɑːsnɪk/
'nik-kồl
Niken
Đồng
Âm “oo”
tương tự âm
giữa của hai
âm “o” và
“a”.
zin-k
Kẽm
Âm “k” trong
trường hợp
này là âm
đuôi.
'a-sờ-nịk
Asen
'kóop-pờ
33
As
Arsenic
34
Se
Selenium
/səˈliːniəm/
Sờ-'li-nì-ầm
Selen
35
Br
Bromine
/ˈbrəʊmiːn/
'brâu-mìn
Brom
/ˈɑːrsnɪk/
Âm “br-” là
âm kép “bờ
9
r-”, phát âm
nhanh.
36
Kr
Krypton
37
Rb
Rubidium
/ˈkrɪptɒn/
/ˈkrɪptɑːn/
/ruːˈbɪdiəm/
'kríp-tan
kripton
Rù-'bí-đì-âm
Rubi
Âm “str” là
âm kép “sờ
tr-”, phát âm
nhanh.
/ˈstrɒntiəm/
38
Sr
Strontium
/ˈstrɒnʃiəm/
/ˈstrɑːntiəm/
'Stroon-tì-um
Stronti
tương tự âm
giữa của hai
âm “o” và
“a”.
/ˈstrɑːnʃiəm/
46
47
Pd
Ag
Palladium
Silver
/pəˈleɪdiəm/
/ˈsɪlvə(r)/
/ˈsɪlvər/
Pờ-'lây-đì-ầm
Palađi
'siu-vờ
Bạc
48
Cd
Cadmium
/ˈkædmiəm/
'kéd-mi-ầm
50
Sn
Tin
/tɪn/
Tin
/ˈaɪədiːn/
'ai-ợt-đin
/ˈaɪədaɪn/
'ai-ờ-đai-n
/ˈzenɒn/
'zê-nan
53
I
Iodine
54
Xe
Xenon
Âm “oo”
Dựa vào cách
ghi thì Cd là
Cadmium
chứ không
Cađimi
phải
Cadminium
hay
Cadiminum.
Thiếc
Iot
Xenon
10
/ˈziːnɒn/
/ˈzenɑːn/
'zi-nan
/ˈziːnɑːn/
55
Cs
Caesium
56
Ba
Barium
78
Pt
Platinum
/ˈsiːziəm/
/ˈbeəriəm/
/ˈberiəm/
/ˈplætɪnəm/
si-zì-âm
Xesi
'be-rì-ầm
Bari
'plét-ti-nầm
Platin
Khi một âm
được kết thúc
79
Au
Gold
/ɡəʊld/
Gâul-đ
Vàng
bằng âm tiết
“l” thì âm đó
sẽ cần được
ôm khẩu hình
lại.
Âm “đ” trong
trường hợp
này là âm
đuôi.
80
82
87
Hg
Pb
Fr
Mercury
Lead
Francium
/ˈmɜːkjəri/
/ˈmɜːrkjəri/
/liːd/
/ˈfrænsiəm/
'mek-kiờ-ri
li-đ
'phren-si-ầm
Thủy
ngân
Âm “iơ” là
âm ghép “i
ờ”, phát âm
nhanh.
Chì
Âm “đ” trong
trường hợp
này là âm
đuôi.
Franxi
“phr-” là âm
kép “phờ r-”,
cần phát âm
nhanh.
11
88
Ra
Radium
/ˈreɪdiəm/
'rây-đì-ầm
Rađi
2.3.1.2. Phân loại và cách gọi tên một số chất vô cơ
2.3.1.2.1. Oxide (Oxit)
- “Oxide” - /ˈɒksaɪd/ hay /ˈɑːksaɪd/ - “óoc-xai-đ”
- Đối với oxide của kim loại (hướng đến basic oxide - oxit bazơ):
Tên kim loại + (Hoá trị) + Oxide
Ví dụ: Na2O: sodium oxide - /ˈsəʊdiəm ˈɒksaɪd/ - /sâu-đì-ầm óoc-xai-đ/.
MgO: magnesium oxide - /mæɡˈniːziəm ˈɒksaɪd/ - /mẹg-ni-zi-ầm óoc-xai-đ/.
2.3.1.2.2. Base (Bazơ)
- “Base” - /beɪs/ - /bêi-s/
- “Hydroxide” - /haɪˈdrɒksaɪd/ hay /haɪˈdrɑːksaɪd/ - /'hai-đrooc-xai-đ/
- Cách gọi tên:
Tên kim loại + (Hoá trị) + Hydroxide
Ví dụ:
Ba(OH)2: barium hydroxide - /be-rì-ầm hai-đrooc-xai-đ/
Fe(OH)3: iron (III) hydroxide - /ai-ần (thri) hai-đrooc-xai-đ/ hay ferric
hydroxide - /phe-rik hai-đrooc-xai-đ/
Fe(OH)2: iron (II) hydroxide - /ai-ần (tuu) hai-đrooc-xai-đ/ hay ferrous
hydroxide - /phe-rợs hai-đrooc-xai-đ/
2.3.1.2.3. Acid (Axit)
“Acid” - /ˈæsɪd/ - /e-xiđ/ hoặc
Ví dụ:
H2SO3
Sulfurous acid
Sulphurous acid
/ˈsʌlfərəs ˈæsɪd/
/sâu-phơ-rợs e-xiđ/
2.3.1.2.4. Muối và một số hợp chất cộng hoá trị khác
[Tên nguyên tố đứng đầu Ammonium (NH4) /əˈməʊniəm/ + Tên gốc muối
12
Tên gốc muối gồm:
+ Gốc không chứa oxygen → Đuôi ide /aid/
+ Gốc chứa oxgen, hóa trị thấp → đuôi ite /aɪt/
+ Gốc chứa oxygen, hóa trị cao → Đuôi ate /eɪt/
Ví dụ:
Gốc
muối;
Hoá trị
Tên gốc
Phiên âm
/ˈflɔːraɪd/
F (I)
Cl (I)
-fluoride
-chloride
/ˈflʊəraɪd/
Ví dụ
NaF: sodium fluoride /sâu-đì-ầm flo-rai-đ/
SF6: sulfur hexafluoride /sâu-phờ hek-xờ flo-
/ˈflʊraɪd/
rai-đ/
/ˈklɔːraɪd/
CuCl2: copper (II) chloride /kop-pờ (tuu) klorai-đ/
cupric chloride /kyu-prik klo-rai-đ/
HCl(gas): hydrogen chloride /hai-đrờ-zần klorai-đ/
Br (I)
-bromide
/ˈbrəʊmaɪd/
FeBr3: iron (III) bromide /ai-ần brâu-mai-đ/
ferric bromide /phe-rik brâu-mai-đ/
I (I)
-iodide
/ˈaɪədaɪd/
AgI: silver iodide /siu-vờ ai-ợt-đai-đ/
S (II)
-sulfide
/ˈsʌlfaɪd/
PbS: lead sulfide /li-đ sâu-phai-đ/
C (IV)
-carbide
/ˈkɑːbaɪd/
Al4C3: aluminium carbide /a-lờ-mi-ni-ầm kabai-đ/
N(III)
-nitride
/ˈnaɪtraɪd/
Li3N: lithium nitride /lit-thi-ầm nai-trai-đ/
P(III)
-phosphide
CN (I)
-cyanide
/ˈfɒsfaɪd/
/ˈfɑːsfaɪd/
/ˈsaɪənaɪd/
Zn3P2: zinc phosphide /zin-k phoos-phai-đ/
KCN: potassium cyanide /pờ-tes-zi-ầm sai-ờnai-đ/
13
-sulfate
/ˈsʌlfeɪt/
Na2SO4: sodium sulfate /sâu-đì-ầm sâu-phâyt/
-hydrogen
sulfate
/ˈhaɪdrədʒən
sʌlfeɪt/
-bisulfate
/baɪˈsʌlfeɪt/
KHSO4: potassium hydrogen sulfate /pờ-teszi-ầm hai-đrờ-zần sâu-phây-t/
potassium bisulfate /pờ-tes-zi-ầm bai-sâuphây-t/
SO3(II)
-sulfite
/ˈsʌlfaɪt/
CaSO3: calcium sulfite /kel-si-ầm sâu-phai-t/
NO3(I)
-nitrate
/ˈnaɪtreɪt/
AgNO3: silver nitrate /siu-vờ nai-trây-t/
NO2(I)
-nitrite
/ˈnaɪtraɪt/
NaNO2: sodium nitrite /sâu-đì-ầm nai-trai-t/
SO4 (II)
HSO4(I)
KMnO4: potassium permanganate /pờ-tes-ziMnO4(I) -permanganate /pəˈmæŋɡəˌneɪt/
ầm pờ-men-gờ-nây-t/
CO3(II)
HCO3(II
)
-carbonate
/ˈkɑːbənət/
-hydrogen
carbonate
/ˈhaɪdrədʒən
ˈkɑːbənət/
-bicarbonate
PO4(III)
-phosphate
HPO4(II)
-hydrogen
phosphate
-dihydrogen
H2PO4(I) phosphate
MgCO3: magnesium carbonate /mẹg-ni-zi-ầm
ka-bờ-nợt/
Ba(HCO3)2: barium hydrogen carbonate /beri-ầm hai-đrờ-zần ka-bờ-nợt/
/baɪˈ ˈkɑːbənət/ barium bicarbonate /be-ri-ầm bai-ka-bờ-nợt/
/ˈfɒsfeɪt/
/ˈfɑːsfeɪt/
Ag3PO4: silver phosphate /siu-vờ phoos-phâyt/
/ˈhaɪdrədʒən
ˈfɒsfeɪt/
(NH4)2HPO4: ammonium hydrogen phosphate
/ờ-mâu-nì-ầm hai-đrờ-zần phoos-phây-t/
/dai ˈhaɪdrədʒən Ca(H2PO4)2: calcium dihydrogen phosphate
ˈfɒsfeɪt/
/kel-si-ầm đài-hai-đrờ-zần phoos-phây-t/
2.3.1.3. Bài ca hoá trị
Chlo-rine (Cl), Po-tas-si-um (K)
Hy-dro-gen (H), So-di-um (Na), Silver (Ag)
Và I-o (d) -dine nữa cơ
Đều cùng hóa trị một (I) nha mọi người
Mag-ne(s)-si-um (Mg), cop-per (Cu)
14
Ba-ri-um (Ba), Zinc (Zn), Lead (Pb), Mer-cu-ry (Hg)
Cal-ci-um (Ca), O-xy-gen (O)
Hóa trị hai (II) ấy có phần dễ hơn
Bác a-lu-mi-ni-um (Al)
Hóa trị là (III) ghi tâm khắc cốt
Car-bon (C) và Si-li-con (Si)
Là hóa trị bốn (IV) khi cần chớ quên
Ni-tro-gen (N) rắc rối hơn
Một hai ba bốn (I, II, III, IV) khi thì năm (V)
Sul -fur (S) lắm lúc chơi khăm
Lúc hai (II), lúc sáu (VI) khi nằm thứ tư (IV)
Phos-pho-rus (P) nhắc không dư
2.3.2. Biện pháp 2: Cung cấp cho học sinh video về cách gọi tên nguyên tố,
oxide, acid, muối, base. (Mở tại lớp và chuyển qua zalo lớp cho học sinh): Video
chép vào thẻ nhớ kèm theo.
2.3.3. Biện pháp 3: Hướng dẫn cho học sinh đọc dựa vào phiên âm và diễn
giải viết hoá gọi tên nguyên tố, oxide, acid, muối, base theo chương trình mới theo
tài liệu kèm đã gửi.
Ví dụ:
- Nguyên tố H: Hydrogen đọc là'Hai-đrờ-zần.
- MgO: Magnesium oxide đọc là mẹg-ni-zi-ầm óoc-xai-đ.
- Ba(OH)2: Barium hydroxide đọc ra be-rì-ầm hai-đrooc-xai-đ.
- H2SO3 Sulphurous acid đọc là sâu-phơ-rợs e-xiđ.
- CuCl2: copper (II) chloride đọc là kop-pờ (tuu) klo-rai-đ.
2.3.4. Biện pháp 4: Hướng dẫn và lưu ý cho học sinh viết đúng công thức
oxide, acid, muối, base.
15
2.3.4.1. Giới thiệu các dạng bài tập lập công thức hoá học theo trình tự từ dễ
đến khó .
Dạng 1: Lập công thức hoá học của các oxide tạo bởi các nguyên tố sau: K (I),
Ca (II), Fe (III)
Dạng 2: Lập công thức hoá học của các acid tạo bởi các gốc acid sau: Cl (I), NO 3
(I), SO4(II), PO4 (III)
Dạng 3: Lập công thức hoá học của các base tạo bởi các kim loại sau: K(I),
Mg(II), Al (III)
Dạng 4: Lập công thức hoá học của các muối tạo bởi các kim loại và các gốc
acid sau:
a. K(I) và Cl(I)
b. Ag(I) và CO3(II)
c. Ba(II) và SO4(II)
d. Al(III) và SO3(II)
e. Na(I) và PO4(III)
Dạng 5: Bài tập yêu cầu học sinh phải thuộc hoá trị các nguyên tố, nhóm nguyên
tử và nắm khái niệm, phân loại
- Ví dụ 1: Lập công thức hoá học các hợp chất sau:
a. Fe(II) và O
b. Al và Cl
c. Ba và OH
d. H và PO4
e. C (IV) và O
f. Fe(III) và CO3
g. Cu(II) và SO4
- Ví dụ 2: Lập công thức hoá học của các hợp chất khi biết tên gọi:
a. Zinc oxide
16
b. Ỉon (III) sulfate
c. Calcicum hydroxide
d. Đinitride pentaoxide
e. Hydrochloric acid
f. Magnesium carbonate
g. Copper (II) hydroxide
h. Hydrogen sulfide
Trên đây là các dạng bài tập lập công thức hoá học được vận dụng trong chương
trình Trung học Cơ sở.
2.3.4.2. Kiến thức Hoá học cần có:
Những kiến thức cần thiết để vận dụng lập công thức Hoá học bao gồm:
- Quy tắc hoá trị
- Các khái niệm oxide, acid, base và muối.
- Bảng hoá trị của nguyên tố và nhóm nguyên tử.
- Viết đúng các kí hiệu nguyên tố và nhóm nguyên tố.
2.3.4.3. Phương pháp lập công thức hoá học:
2.3.4.3.1. Phương pháp chung:
-Viết đúng các kí hiệu nguyên tố và nhóm nguyên tử.
-Thuộc hoá trị của các nguyên tố và nhóm nguyên tử.
-Vận dụng qui tắc hoá trị viết nhanh công thức hoá học
- Chỉ số đặt dưới chân kí hiệu không ghi ngang bằng kí hiệu
Ví dụ : Na2SO4 không ghi Na2SO4
Ca(OH)2 không ghi Ca(OH)2
2.3.4.3.2. Phương pháp cụ thể:
Dạng 1: Lập công thức hoá học các hợp chất oxide được thực hiện như sau:
a. - Viết công thức dạng chung:
17
I
II
K x Oy
- Vận dụng quy tắc hoá trị:
x . I = y .II
=
=
- Viết công thức hoá học:
K 2O
b. - Viết công thức dạng chung:
II II
CaxOy
=
=
x =1 ; y = 1
- Viết công thức hoá học: CaO
c. - Viết công thức dạng chung:
III II
FexOy
=
x = 2 ; y = 3
- Viết công thức hoá học: Fe2O3
Sau khi học sinh nắm vững cách lập công thức hoá học của oxide đến hợp chất
acid, base, muối tôi yêu cầu học sinh lập nhanh công thức hoá học bằng cách đưa ra
hai đường chéo hoá trị suy ra chỉ số.
sau:
Dạng 2: Lập công thức hoá học của các hợp chất axít được thực hiện như
I I
HCl
HCl
18
I I
HNO3
HNO3
I II
H(SO4)
H2SO4
I III
H(PO4)
H3PO4
Lưu ý: Gốc acid có hoá trị bao nhiêu liên kết với bấy nhiêu nguyên tử hidro.
Dạng 3: Lập công thức hoá học của các hợp chất bazơ được thực hiện như
sau:
I I
K(OH)
II
KOH
I
Mg(OH)
III
Mg(OH)2
I
Al(OH)
Al(OH)3
Lưu ý: Kim loại có hoá trị bao nhiêu liên kết với bấy nhiêu nhóm OH.
sau:
Dạng 4: Lập công thức hoá học của các hợp chất muối được thực hiện như
I I
KCl
KCl
I II
Ag(CO3)
II II
Ag2CO3
19
Ba(SO4)
III
BaSO4
II
Al(SO3)
Al2(SO3)3
I III
Na(PO4)
Na3PO4
Dạng 5: Lập công thức hoá học của các hợp chất sau:
Ở dạng này tôi yêu cầu học sinh thuộc hoá trị của nguyên tố, nhóm nguyên tử và
nhẩm hoá trị viết đúng công thức hoá học.
Ví dụ 1:
a. FeO
b. AlCl3
c. Ba(OH)2
d. H3PO4
e. CO2
f. Fe2(CO3)3
g. CuSO4
Ví dụ 2: Từ tên gọi học sinh viết công thức hoá học của các hợp chất
Dạng này đòi hỏi người học phải thuộc các khái niệm, phân loại các hợp chất
oxide, acid, base, muối để viết đúng công thức hoá học
a. ZnO
b. Fe2(SO4)3
c. Ca(OH)2
d. N2O5
e. HCl
f. MgCO3
g. Cu(OH)2
h. H2S
20
* Một số lưu ý khi viết công thức hoá học của hợp chất:
- Hoá trị của 2 nguyên tố hoặc hoá trị của nguyên tố và nhóm nguyên tử bằng
nhau không ghi chỉ số.
Ví dụ: Lập công thức hoá học các hợp chất sau:
a. Ba(II) và O
b. Zn(II) và SO4
Giải:
a. BaO không ghi Ba2O hoặc Ba2O2
b. ZnSO4 không ghi Zn2(SO4)2 hoặc Zn2SO4
- Nhóm nguyên tử có chỉ số 2 cho vào dấu ngoặc đơn
Ví dụ: Lập công thức hoá học các hợp chất sau:
a. Mg(II) và NO3(I)
b. Fe(III) và SO4 (II)
Giải:
a. Mg(NO3)2 không ghi MgNO3 2
b. Fe2(SO4)3 không ghi Fe2SO4 3
- Nhóm nguyên tử có chỉ số 1 không cần cho vào dấu ngoặc đơn.
Ví dụ: Lập công thức hoá học các hợp chất sau:
a. Na(I) và OH (I)
b. Ca (II) và CO3 (II)
Giải:
a. NaOH không ghi Na(OH)
b. CaCO3 không ghi Ca(CO3)
- Kí hiệu nguyên tố và nhóm nguyên tử viết đúng theo thống nhất chung.
Ví dụ : Al không ghi AL
Cu không ghi CU
21
NO3 không ghi N03
SO4 không ghi SO4
- Chỉ số phải ghi dưới chân kí hiệu, không ghi ngang kí hiệu hoặc quá cao quá
thấp so với kí hiệu.
Ví dụ: Na2SO4 không ghi Na2SO4
Chỉ số ghi bằng số tự nhiên không ghi bằng số la mã
Ví dụ: K2CO3 không ghi KIICO3
* Tóm lại, để viết đúng công thức hoá học của hợp chất, học sinh cần nắm vững
các kiến thức cơ bản sau:
- Các khái niệm oxide, base, muối, công thức chung, phân loại và tên gọi.
- Qui tắc hoá trị, thuộc hoá trị của nguyên tố và nhóm nguyên tử
Trên đây là một số biện pháp mà bản thân đã áp dụng trong quá trình giảng dạy
giúp học sinh đọc tên nguyên tố hoá học, muối, oxide, acid, base và viết đúng công
thức hoá học theo chương trình mới.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến
Từ những khó khăn mà tôi gặp phải trong việc giảng dạy cho các em, trong năm
học 2024 – 2025 tôi đã cố gắng tìm biện pháp để khắc phục khó khăn, đồng thời tìm ra
giải pháp để nâng cao chất lượng bộ môn.
Số liệu thống kê:
STT Khối
lớp
Năm học
Sĩ số
Gọi tên
Gọi tên
nguyên tố
nguyên tố
hoá học
hoá học
đúng
acid, base,
(Lớp 7)
muối,
oxide;
Viết công
thức hoá
học đúng
Kết quả
Đạt
Tỉ lệ
22
Đầu năm
1
7
2024 – 2025
(Học kỳ I)
2
8
192
101
192
190
(Lớp 8)
101
52,6%
189
98,44%
Đầu năm
142
72
72
50,7%
2024 – 2025
142
135
134
94,37%
(Học kỳ I)
Việc áp dụng đề tài vào quá trình giảng dạy mang lại nhiều ưu điểm như:
- Học sinh làm quen và đọc được với cách đọc mới các nguyên tố hóa học
"Nguyên tố N nay được đọc thành Nitrogen; O thì đọc thành Oxygen, H đọc thành
Hydrogen, Cu đọc thành Copper, Natri thì đọc thành Sodium, Kali thành Potassium,
Magie biến đổi sang Magnesium và đọc được tên của các hợp chất acid, base, oxide,
muối.
- Các em không còn thấy khó khăn khi phải nhớ tên gọi tiếng Anh của tất cả
nguyên tố. Cứ mỗi khi có tiết khoa học tự nhiên phân môn Hoá học không khí lớp
không còn nhao nhao hỏi nhau cách đọc tên nguyên tố và hợp chất nữa.
- Giáo viên cũng làm quen với cách gọi tên theo chương trình mới và hướng dẫn
cho học sinh đọc tốt. Giáo viên trong một trường có một cách đọc, thống nhất làm cho
học sinh không thắc mắc sao mỗi thầy cô đọc 1 kiểu.
- Học sinh viết công thức hoá học của oxide, base, acid, muối theo các bước hoặc
gạch chéo đúng và không còn gặp khó khăn như trước đây.
23
Phần thứ 3
KẾT LUẬN
Khi thực hiện giải pháp “Giúp học sinh đọc tên nguyên tố hoá học, muối, oxide,
acid, base và viết đúng công thức hoá học theo chương trình mới” ở trường và các
trường bạn giải pháp này giúp học sinh làm quen, đọc được các nguyên tố hóa học; tên
của các hợp chất acid, base, oxide, muối. Các em không cò thấy khó khăn khi phải nhớ
tên gọi tiếng Anh của tất cả nguyên tố và hợp chất nữa. Giáo viên trong trường cũng
làm quen với cách gọi tên theo chương trình mới và hướng dẫn cho học sinh đọc tốt.
Giáo viên trong một trường có một cách đọc, thống nhất làm cho học sinh không thắc
mắc sao mỗi thầy cô đọc 1 kiểu. Học sinh viết công thức hoá học của oxide, base, acid,
muối theo các bước hoặc gạch chéo đúng.
Qua bài viết này tôi rất mong được sự bổ sung, góp ý chân thành của Hội đồng
khoa học các cấp và các đồng nghiệp để tôi ngày càng có nhiều kinh nghiệm hơn trong
việc đổi mới phương pháp dạy học, nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục mà Đảng và
Nhà nước đã đề ra. Trong quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những thiếu sót
rất mong được sự đóng góp ý kiến của các cấp quản lí để tôi thực hiện nhiệm vụ được
tốt hơn. Rất mong đuợc sự đóng góp ý kiến chân thành từ những đồng nghiệp và quý
cấp lãnh đạo để tôi có thể sửa chữa bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả dạy học.
Phần thứ nhất
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bản thân là một giáo viên đứng lớp giảng dạy bộ môn Khoa học tự nhiên phân
môn Hoá học nhiều năm, tôi cảm thấy việc đọc tên nguyên tố hoá học, muối, oxide,
acid, base và viết đúng công thức hoá học của học sinh là hết sức khó khăn. Qua thực
tế việc đổi mới phương pháp dạy học, bản thân tôi nhận thấy cần rèn luyện cho học
sinh kĩ năng lập công thức hoá học của hợp chất oxide, acid, base, muối thông qua
phương pháp này giúp học sinh rèn luyện kĩ năng củng cố kiến thức, kĩ năng viết công
thức hoá học của các hợp chất sẽ đem lại hiệu quả rất cao. Phương pháp này là công cụ
hữu hiệu để kiểm tra kiến thức, kĩ năng của từng học sinh. Giúp giáo viên phát huy
được vai trò học tập của học sinh, làm bộc lộ sai lầm của học sinh trong học tập hoá
học. Đồng thời giáo viên có biện pháp giúp học sinh vượt qua khó khăn và khắc phục
sai lầm đó.
Qua thực tế giảng dạy bản thân tôi nhận thấy đa số học sinh gặp khó khăn khi gọi
tên các nguyên tố, oxide, acid, base, muối và lập công thức hóa học của hợp chất. Học
sinh chưa làm quen cách gọi tên nguyên tố, oxide, acid, base, muối; chưa nắm vững
các khái niệm oxide, acid, base, muối; chưa thuộc hóa trị của nguyên tố và hóa trị gốc
axit, nên khi vận dụng làm bài tập rất máy móc, rập khuôn.
Chính vì vậy, tôi nghĩ giải pháp “Giúp học sinh đọc tên nguyên tố hoá học, muối,
oxide, acid, base và viết đúng công thức hoá học theo chương trình mới” phần nào sẽ
mang lại sự hiệu quả trong dạy bộ môn Khoa học tự nhiên phân môn Hoá học trong
trường”.
2
Phần thứ hai
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề
2.1.1. Vì sao sử dụng tên gọi các nguyên tố hóa học bằng tiếng Anh
Trước hết phải hiểu đây không phải là danh pháp mới, IUPAC không hề thay đổi
danh pháp từ khi đặt tên cho các nguyên tố, mà ở đây là chúng ta đang thay đổi cách viết
phù hợp với tên gọi của IUPAC quy định, đó là sử dụng tiếng Anh. Ba ưu điểm nổi trội
khi các em sử dụng tên gọi các nguyên tố hoá học và theo đó là các chất hoá học bằng
tiếng Anh có thể kể như sau:
Thứ nhất là tính nhất quán và thuận lợi: Tên gọi các nguyên tố và các chất hoá học
theo sách giáo khoa cũ cũng đã thay đổi nhiều lần theo thời gian và do được phiên âm để
tiện đọc nên đã không thống nhất với tên quy định quốc tế (IUPAC). Ví dụ, tên gọi
nguyên tố H theo tiếng Việt đang tồn tại nhiều cách viết (hiđrô, hiđro, hidro, hyđrô,
hydro), nhưng nếu viết theo tên tiếng Anh chỉ có một cách duy nhất là hydrogen. Tương
tự, một thời chúng ta gọi chất đường đơn giản là glucoza, sau đó lại đổi sang glucozơ,
nhưng vẫn không đúng theo tên quốc tế là glucose. Với ba cách viết này, cách viết cuối
cùng bằng tiếng Anh sẽ nhanh hơn kể cả khi viết tay cũng như khi đánh máy vì không có
dấu và quan trọng là viết đúng theo quy định quốc tế, do đó chắc chắn sẽ không còn tranh
cãi về cách viết tên gọi (danh pháp) các nguyên tố và chất hoá học về lâu dài.
Thứ hai là tính đồng bộ và ứng dụng trong cuộc sống: Khi sử dụng tên gọi các
nguyên tố và chất hoá học bằng tiếng Anh trong sách giáo khoa, chúng ta sẽ đồng bộ hoá
được tên gọi mà các em được học trong nhà trường với tên hoá chất được ghi trên bao bì,
chai, lọ của các nhà sản xuất hoá chất trong và ngoài nước. Đồng thời không gây nhầm
lẫn cho các em khi đọc thông tin về thành phần của các loại thuốc, biệt dược do nhà sản
xuất công bố.
Thứ ba là tính hội nhập toàn cầu: Giáo dục Việt Nam ngày càng phát triển, đặc biệt
khoa học tự nhiên có tính hội nhập sâu rộng và để hội nhập được phải thích ứng toàn cầu.
Hiện nay học sinh có xu hướng ngày càng tham gia nhiều cuộc thi khoa học khu vực,
quốc tế, cũng như tham gia học tập và nghiên cứu ở các nước phát triển. Do đó cách gọi
3
tên các nguyên tố, chất và thuật ngữ hoá học bằng tiếng Anh sẽ tạo điều kiện cho học sinh
tiếp cận nhanh chóng với kiến thức khoa học của nhân loại.
2.1.2 Vai trò và tác dụng của bài tập Khoa học tự nhiên phân môn Hoá học
trong dạy và học ở trường THCS: Việc dạy học không thể thiếu bài tập. Sử dụng bài
tập để luyện tập là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy
học. Bài tập hoá học có ý nghĩa, tác dụng to lớn về nhiều mặt:
- Bài tập hoá học làm chính xác hoá các khái niệm hoá học. Củng cố, đào sâu và
mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn. Chỉ khi vận dụng được các
kiến thức vào việc giải bài tập, học sinh mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc.
- Bài tập hoá học có tác dụng ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực
nhất. Khi ôn tập, học sinh sẽ buồn chán nếu chỉ yêu cầu họ nhắc lại kiến thức. Thực tế cho
thấy, học sinh chỉ thích giải bài tập trong giờ ôn tập.
- Bài tập hoá học rèn luyện cho học sinh các kỹ năng như cân bằng phương trình
phản ứng, tính toán theo công thức hoá học và phương trình hoá học ... Nếu là bài tập thực
nghiệm sẽ rèn các kỹ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho
học sinh.
- Bài tập hoá học rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn đời sống, lao động sản xuất và bảo vệ môi trường.
- Bài tập hoá học rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các
thao tác tư duy.
- Bài tập hoá học là công cụ để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của học sinh.
- Bài tập hoá học giúp cho học sinh phát triển các năng lực tư duy logic, biện
chứng, khái quát, độc lập, thông minh và sáng tạo.
- Bài tập hoá học có tác dụng rèn luyện cho học sinh có đức tính chính xác, kiên
nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học Hoá học. Bài tập thực nghiệm còn có tác dụng
rèn luyện văn hoá lao động (lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch
sẽ nơi làm việc).
2.2. Thực trạng của vấn đề
Trong năm học này, tôi được nhà trường phân công giảng dạy bộ môn Khoa học
4
tự nhiên 7,8,9 phân môn Hoá. Trong thời gian đó tôi nhận thấy có những thuận lợi và
khó khăn trong công tác giảng dạy:
2.2.1. Thuận lợi:
- Được sự quan tâm nhiệt tình của ngành, ban giám hiệu nhà trường và các cấp
chính quyền ở địa phương.
- Cơ sở vật chất, phòng học, bàn ghế, trang thiết bị tương đối đầy đủ, cơ bản đáp
ứng tốt nhu cầu dạy và học.
- Đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình, năng động trong công tác giảng dạy, đủ về số
lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng.
- Nhà trường đã xây dựng và duy trì tốt các nề nếp dạy và học, đa số học sinh
chấp hành tốt nội quy nhà trường và đa số các em chăm chỉ, chịu khó học tập.
2.2.2. Khó khăn:
- Khi học chương trình mới, sách giáo khoa mới học sinh vẫn chưa thể làm quen
với cách đọc mới các nguyên tố hóa học bởi vì cách đọc khác không theo phiên âm
bằng tiếng Việt như trước kia. Nguyên tố N nay được đọc thành Nitrogen thay vì Nitơ;
O thì đọc thành Oxygen thay vì Oxi, H đọc thành Hydrogen thay vì Hidro, Cu đọc
thành Copper thay vì Đồng, Natri thì đọc thành Sodium, Kali thành Potassium, Magie
biến đổi sang Magnesium.
- Các em cảm thấy khó khăn khi phải nhớ hết tên gọi tiếng Anh của tất cả nguyên
tố. Cứ mỗi khi có tiết Khoa học tự nhiên phân môn Hoá không khí lớp em sôi động
hơn hẳn vì cả lớp nhao nhao hỏi nhau cách phát âm. Có bạn thì căng thẳng vì không
thể nhớ, có bạn lại cười ồ lên khi thấy bạn khác đọc sai".
- Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, tên gọi các nguyên tố, hợp chất,
oxide, acid, base, muối… sẽ được đọc bằng tiếng Anh theo danh pháp IUPAC thay vì
đọc theo phiên âm tiếng Việt như trước đây, chỉ sau vài tuần lên lớp, đã phải thốt lên
rằng: "khó quá, đọc mà méo cả mặt". Giáo viên chưa được tập huấn dạy học về phát
âm nguyên tố hoá học. Cứ dạy đến đâu lên mạng tra đến đó rồi về hướng dẫn cho học
sinh".
- Giáo viên trong một trường mà mỗi người đọc một kiểu, không thống nhất làm
cho học sinh các lớp cũng đọc khác nhau rất khó khăn cho cả học sinh và giáo viên.
5
Học sinh thắc mắc sao mỗi thầy cô đọc 1 kiểu không thống nhất.
Chương trình kiến thức Khoa học tự nhiên phân môn Hoá với lượng kiến thức
không nhỏ, đòi hỏi kỹ năng thực hành của học sinh nhiều và lượng bài tập hoá học học
sinh phải giải khá nhiều. Học sinh viết công thức hoá học chưa đúng.
Qua nhiều lần suy nghĩ, tôi cũng đã tìm ra được giải pháp “Giúp học sinh đọc tên
nguyên tố hoá học, muối, oxide, acid, base và viết đúng công thức hoá học theo
chương trình mới” giúp các em học sinh, bản thân, giáo viên trong tổ đọc được tên của
nguyên tố, acid, base, muối, oxide theo chương trình mới; giúp học sinh viết đúng
công thức acid, base, muối, oxide.
2.3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
Ngay từ đầu năm học tôi đã chuẩn bị tài liệu cho học sinh để đảm bảo cho học
sinh về cách gọi tên theo chương trình mới và viết đúng công thức hoá học. Giải pháp
áp dụng vào các bài 3 Khoa học tự nhiên 7; bài 8,9,10,11 Khoa học tự nhiên 8.
2.3.1. Biện pháp 1: Cung cấp cho học sinh tài liệu về cách gọi tên nguyên tố,
oxide, acid, muối, base; bài ca hoá trị và hoá trị của gốc acid.
2.3.1.1. Hệ thống tên các nguyên tố: Với hệ thống tiếng Anh, cả nguyên tố và
đơn chất đều được biểu diễn bằng thuật ngữ “element”. Tên gọi của nguyên tố và đơn
chất theo đó giống nhau.
Bảng nguyên tố hóa học theo IUPAC
Z
Kí hiệu hóa
Tên gọi
học
Phiên âm Tiếng Diễn giải Việt
Ý nghĩa
Anh
hóa
1
H
Hydrogen
/ˈhaɪdrədʒən/
'hai-đrờ-zần
Hiđro
2
He
Helium
/ˈhiːliəm/
'hít-li-ầm
Heli
3
Li
Lithium
/ˈlɪθiəm/
'lít-thi-ầm
Liti
4
Be
Beryllium
/bəˈrɪliəm/
bờ-'ri-li-ầm
Beri
5
B
Boron
/ˈbɔːrɒn/
'bo-roon
Bo
Ghi chú
“đr” là âm
kép “đờ rờ”,
phát âm
nhanh.
Âm “oo”
6
tương tự âm
giữa của hai
âm “o” và
“a”.
/ˈbɔːrɑːn/
6
7
C
N
Carbon
Nitrogen
/ˈkɑːbən/
/ˈkɑːrbən/
/ˈnaɪtrədʒən/
'Ka-bần
'nai-trờ-zần
Âm “k”
tương tự âm
Cacbon đứng giữa hai
âm “c” và
“kh”.
Nitơ
“tr” là âm
kép “tờ rờ”,
phất âm
nhanh.
8
O
Oxygen
/ˈɒksɪdʒən/
/ˈɑːksɪdʒən/
Oxi
Âm “óoc”
tương tự là
âm đứng giữa
hai âm “oc”
và “ắc”.
'phlo-rìn
Flo
Âm “phl” âm
kép “phờ l-”,
phát âm
nhanh.
'ni-àn
Neon
'óoc-xi-zần
/ˈflɔːriːn/
9
F
Fluorine
/ˈflʊəriːn/
/ˈflɔːriːn/
/ˈflʊriːn/
/ˈniːɒn/
10
Ne
Neon
11
Na
Sodium
/ˈsəʊdiəm/
'sâu-đì-ầm
Natri
12
Mg
Magnesiu
m
/mæɡˈniːziəm/
Mẹg-'ni-zi-ầm
Magie
13
Al
Aluminium
/ˌæljəˈmɪniəm/
a-lờ-'mi-ni-ầm Nhôm
/ˈniːɑːn/
7
/ˌæləˈmɪniəm/
/ˌæljəˈmɪniəm/
/ˌæləˈmɪniəm/
14
15
16
17
Si
Silicon
P
Phosphorus
S
Sulfur
Cl
Chlorine
/ˈsɪlɪkən/
/ˈfɒsfərəs/
/ˈfɑːsfərəs/
/ˈsʌlfə(r)/
/ˈsʌlfər/
/ˈklɔːriːn/
/ˈɑːɡɒn/
'sík-li-cần
Silic
Âm “oo”
tương tự âm
'phoos-phờPhốt pho giữa của hai
rợs
âm “o” và
“a”.
'sâu-phờ
Lưu
huỳnh
'klo-rìn
Clo
'a-gàn
Agon
18
Ar
Argon
19
K
Potassium
/pəˈtæsiəm/
Pờ-'tes-zi-ầm
Kali
20
Ca
Calcium
/ˈkælsiəm/
'kel-si-ầm
Canxi
21
Sc
Scandium
/ˈskændiəm/
'sken-đì-ầm
Scanđi
/tɪˈteɪniəm/
Tì-'tây-ni-ầm
/taɪˈteɪniəm/
Tài-'tây-ni-ầm
Vờ-'nây-đi-âm Vanađi
/ˈɑːrɡɑːn/
22
Ti
Titanium
23
V
Vanadium
/vəˈneɪdiəm/
24
Cr
Chromium
/ˈkrəʊmiəm/
'Krâu-mi-um
Âm “kl-” là
âm kép “kờ
l-”, phát âm
nhanh.
Titan
Crom
Tránh đọc sai
thành
chrominum
hay
8
chrominium.
25
26
27
Mn
Fe
Co
Manganese
Iron
Cobalt
/ˈmæŋɡəniːz/
/ˈaɪən/
/ˈaɪərn/
/ˈkəʊbɔːlt/
'me-gờ-nìz
'ai-ần
'kâu-bol-t
Mangan
Sắt
Kí tự “r”
trong cách
ghi iron là
âm câm nên
không phát
âm.
Âm “k”
tương tự âm
đứng giữa hai
âm “c” và
Coban
“kh”.
Âm “t” là âm
đuôi.
28
29
30
Ni
Cu
Zn
Nickel
Copper
Zinc
/ˈnɪkl/
/ˈkɒpə(r)/
/ˈkɑːpər/
/zɪŋk/
/ˈɑːsnɪk/
'nik-kồl
Niken
Đồng
Âm “oo”
tương tự âm
giữa của hai
âm “o” và
“a”.
zin-k
Kẽm
Âm “k” trong
trường hợp
này là âm
đuôi.
'a-sờ-nịk
Asen
'kóop-pờ
33
As
Arsenic
34
Se
Selenium
/səˈliːniəm/
Sờ-'li-nì-ầm
Selen
35
Br
Bromine
/ˈbrəʊmiːn/
'brâu-mìn
Brom
/ˈɑːrsnɪk/
Âm “br-” là
âm kép “bờ
9
r-”, phát âm
nhanh.
36
Kr
Krypton
37
Rb
Rubidium
/ˈkrɪptɒn/
/ˈkrɪptɑːn/
/ruːˈbɪdiəm/
'kríp-tan
kripton
Rù-'bí-đì-âm
Rubi
Âm “str” là
âm kép “sờ
tr-”, phát âm
nhanh.
/ˈstrɒntiəm/
38
Sr
Strontium
/ˈstrɒnʃiəm/
/ˈstrɑːntiəm/
'Stroon-tì-um
Stronti
tương tự âm
giữa của hai
âm “o” và
“a”.
/ˈstrɑːnʃiəm/
46
47
Pd
Ag
Palladium
Silver
/pəˈleɪdiəm/
/ˈsɪlvə(r)/
/ˈsɪlvər/
Pờ-'lây-đì-ầm
Palađi
'siu-vờ
Bạc
48
Cd
Cadmium
/ˈkædmiəm/
'kéd-mi-ầm
50
Sn
Tin
/tɪn/
Tin
/ˈaɪədiːn/
'ai-ợt-đin
/ˈaɪədaɪn/
'ai-ờ-đai-n
/ˈzenɒn/
'zê-nan
53
I
Iodine
54
Xe
Xenon
Âm “oo”
Dựa vào cách
ghi thì Cd là
Cadmium
chứ không
Cađimi
phải
Cadminium
hay
Cadiminum.
Thiếc
Iot
Xenon
10
/ˈziːnɒn/
/ˈzenɑːn/
'zi-nan
/ˈziːnɑːn/
55
Cs
Caesium
56
Ba
Barium
78
Pt
Platinum
/ˈsiːziəm/
/ˈbeəriəm/
/ˈberiəm/
/ˈplætɪnəm/
si-zì-âm
Xesi
'be-rì-ầm
Bari
'plét-ti-nầm
Platin
Khi một âm
được kết thúc
79
Au
Gold
/ɡəʊld/
Gâul-đ
Vàng
bằng âm tiết
“l” thì âm đó
sẽ cần được
ôm khẩu hình
lại.
Âm “đ” trong
trường hợp
này là âm
đuôi.
80
82
87
Hg
Pb
Fr
Mercury
Lead
Francium
/ˈmɜːkjəri/
/ˈmɜːrkjəri/
/liːd/
/ˈfrænsiəm/
'mek-kiờ-ri
li-đ
'phren-si-ầm
Thủy
ngân
Âm “iơ” là
âm ghép “i
ờ”, phát âm
nhanh.
Chì
Âm “đ” trong
trường hợp
này là âm
đuôi.
Franxi
“phr-” là âm
kép “phờ r-”,
cần phát âm
nhanh.
11
88
Ra
Radium
/ˈreɪdiəm/
'rây-đì-ầm
Rađi
2.3.1.2. Phân loại và cách gọi tên một số chất vô cơ
2.3.1.2.1. Oxide (Oxit)
- “Oxide” - /ˈɒksaɪd/ hay /ˈɑːksaɪd/ - “óoc-xai-đ”
- Đối với oxide của kim loại (hướng đến basic oxide - oxit bazơ):
Tên kim loại + (Hoá trị) + Oxide
Ví dụ: Na2O: sodium oxide - /ˈsəʊdiəm ˈɒksaɪd/ - /sâu-đì-ầm óoc-xai-đ/.
MgO: magnesium oxide - /mæɡˈniːziəm ˈɒksaɪd/ - /mẹg-ni-zi-ầm óoc-xai-đ/.
2.3.1.2.2. Base (Bazơ)
- “Base” - /beɪs/ - /bêi-s/
- “Hydroxide” - /haɪˈdrɒksaɪd/ hay /haɪˈdrɑːksaɪd/ - /'hai-đrooc-xai-đ/
- Cách gọi tên:
Tên kim loại + (Hoá trị) + Hydroxide
Ví dụ:
Ba(OH)2: barium hydroxide - /be-rì-ầm hai-đrooc-xai-đ/
Fe(OH)3: iron (III) hydroxide - /ai-ần (thri) hai-đrooc-xai-đ/ hay ferric
hydroxide - /phe-rik hai-đrooc-xai-đ/
Fe(OH)2: iron (II) hydroxide - /ai-ần (tuu) hai-đrooc-xai-đ/ hay ferrous
hydroxide - /phe-rợs hai-đrooc-xai-đ/
2.3.1.2.3. Acid (Axit)
“Acid” - /ˈæsɪd/ - /e-xiđ/ hoặc
Ví dụ:
H2SO3
Sulfurous acid
Sulphurous acid
/ˈsʌlfərəs ˈæsɪd/
/sâu-phơ-rợs e-xiđ/
2.3.1.2.4. Muối và một số hợp chất cộng hoá trị khác
[Tên nguyên tố đứng đầu Ammonium (NH4) /əˈməʊniəm/ + Tên gốc muối
12
Tên gốc muối gồm:
+ Gốc không chứa oxygen → Đuôi ide /aid/
+ Gốc chứa oxgen, hóa trị thấp → đuôi ite /aɪt/
+ Gốc chứa oxygen, hóa trị cao → Đuôi ate /eɪt/
Ví dụ:
Gốc
muối;
Hoá trị
Tên gốc
Phiên âm
/ˈflɔːraɪd/
F (I)
Cl (I)
-fluoride
-chloride
/ˈflʊəraɪd/
Ví dụ
NaF: sodium fluoride /sâu-đì-ầm flo-rai-đ/
SF6: sulfur hexafluoride /sâu-phờ hek-xờ flo-
/ˈflʊraɪd/
rai-đ/
/ˈklɔːraɪd/
CuCl2: copper (II) chloride /kop-pờ (tuu) klorai-đ/
cupric chloride /kyu-prik klo-rai-đ/
HCl(gas): hydrogen chloride /hai-đrờ-zần klorai-đ/
Br (I)
-bromide
/ˈbrəʊmaɪd/
FeBr3: iron (III) bromide /ai-ần brâu-mai-đ/
ferric bromide /phe-rik brâu-mai-đ/
I (I)
-iodide
/ˈaɪədaɪd/
AgI: silver iodide /siu-vờ ai-ợt-đai-đ/
S (II)
-sulfide
/ˈsʌlfaɪd/
PbS: lead sulfide /li-đ sâu-phai-đ/
C (IV)
-carbide
/ˈkɑːbaɪd/
Al4C3: aluminium carbide /a-lờ-mi-ni-ầm kabai-đ/
N(III)
-nitride
/ˈnaɪtraɪd/
Li3N: lithium nitride /lit-thi-ầm nai-trai-đ/
P(III)
-phosphide
CN (I)
-cyanide
/ˈfɒsfaɪd/
/ˈfɑːsfaɪd/
/ˈsaɪənaɪd/
Zn3P2: zinc phosphide /zin-k phoos-phai-đ/
KCN: potassium cyanide /pờ-tes-zi-ầm sai-ờnai-đ/
13
-sulfate
/ˈsʌlfeɪt/
Na2SO4: sodium sulfate /sâu-đì-ầm sâu-phâyt/
-hydrogen
sulfate
/ˈhaɪdrədʒən
sʌlfeɪt/
-bisulfate
/baɪˈsʌlfeɪt/
KHSO4: potassium hydrogen sulfate /pờ-teszi-ầm hai-đrờ-zần sâu-phây-t/
potassium bisulfate /pờ-tes-zi-ầm bai-sâuphây-t/
SO3(II)
-sulfite
/ˈsʌlfaɪt/
CaSO3: calcium sulfite /kel-si-ầm sâu-phai-t/
NO3(I)
-nitrate
/ˈnaɪtreɪt/
AgNO3: silver nitrate /siu-vờ nai-trây-t/
NO2(I)
-nitrite
/ˈnaɪtraɪt/
NaNO2: sodium nitrite /sâu-đì-ầm nai-trai-t/
SO4 (II)
HSO4(I)
KMnO4: potassium permanganate /pờ-tes-ziMnO4(I) -permanganate /pəˈmæŋɡəˌneɪt/
ầm pờ-men-gờ-nây-t/
CO3(II)
HCO3(II
)
-carbonate
/ˈkɑːbənət/
-hydrogen
carbonate
/ˈhaɪdrədʒən
ˈkɑːbənət/
-bicarbonate
PO4(III)
-phosphate
HPO4(II)
-hydrogen
phosphate
-dihydrogen
H2PO4(I) phosphate
MgCO3: magnesium carbonate /mẹg-ni-zi-ầm
ka-bờ-nợt/
Ba(HCO3)2: barium hydrogen carbonate /beri-ầm hai-đrờ-zần ka-bờ-nợt/
/baɪˈ ˈkɑːbənət/ barium bicarbonate /be-ri-ầm bai-ka-bờ-nợt/
/ˈfɒsfeɪt/
/ˈfɑːsfeɪt/
Ag3PO4: silver phosphate /siu-vờ phoos-phâyt/
/ˈhaɪdrədʒən
ˈfɒsfeɪt/
(NH4)2HPO4: ammonium hydrogen phosphate
/ờ-mâu-nì-ầm hai-đrờ-zần phoos-phây-t/
/dai ˈhaɪdrədʒən Ca(H2PO4)2: calcium dihydrogen phosphate
ˈfɒsfeɪt/
/kel-si-ầm đài-hai-đrờ-zần phoos-phây-t/
2.3.1.3. Bài ca hoá trị
Chlo-rine (Cl), Po-tas-si-um (K)
Hy-dro-gen (H), So-di-um (Na), Silver (Ag)
Và I-o (d) -dine nữa cơ
Đều cùng hóa trị một (I) nha mọi người
Mag-ne(s)-si-um (Mg), cop-per (Cu)
14
Ba-ri-um (Ba), Zinc (Zn), Lead (Pb), Mer-cu-ry (Hg)
Cal-ci-um (Ca), O-xy-gen (O)
Hóa trị hai (II) ấy có phần dễ hơn
Bác a-lu-mi-ni-um (Al)
Hóa trị là (III) ghi tâm khắc cốt
Car-bon (C) và Si-li-con (Si)
Là hóa trị bốn (IV) khi cần chớ quên
Ni-tro-gen (N) rắc rối hơn
Một hai ba bốn (I, II, III, IV) khi thì năm (V)
Sul -fur (S) lắm lúc chơi khăm
Lúc hai (II), lúc sáu (VI) khi nằm thứ tư (IV)
Phos-pho-rus (P) nhắc không dư
2.3.2. Biện pháp 2: Cung cấp cho học sinh video về cách gọi tên nguyên tố,
oxide, acid, muối, base. (Mở tại lớp và chuyển qua zalo lớp cho học sinh): Video
chép vào thẻ nhớ kèm theo.
2.3.3. Biện pháp 3: Hướng dẫn cho học sinh đọc dựa vào phiên âm và diễn
giải viết hoá gọi tên nguyên tố, oxide, acid, muối, base theo chương trình mới theo
tài liệu kèm đã gửi.
Ví dụ:
- Nguyên tố H: Hydrogen đọc là'Hai-đrờ-zần.
- MgO: Magnesium oxide đọc là mẹg-ni-zi-ầm óoc-xai-đ.
- Ba(OH)2: Barium hydroxide đọc ra be-rì-ầm hai-đrooc-xai-đ.
- H2SO3 Sulphurous acid đọc là sâu-phơ-rợs e-xiđ.
- CuCl2: copper (II) chloride đọc là kop-pờ (tuu) klo-rai-đ.
2.3.4. Biện pháp 4: Hướng dẫn và lưu ý cho học sinh viết đúng công thức
oxide, acid, muối, base.
15
2.3.4.1. Giới thiệu các dạng bài tập lập công thức hoá học theo trình tự từ dễ
đến khó .
Dạng 1: Lập công thức hoá học của các oxide tạo bởi các nguyên tố sau: K (I),
Ca (II), Fe (III)
Dạng 2: Lập công thức hoá học của các acid tạo bởi các gốc acid sau: Cl (I), NO 3
(I), SO4(II), PO4 (III)
Dạng 3: Lập công thức hoá học của các base tạo bởi các kim loại sau: K(I),
Mg(II), Al (III)
Dạng 4: Lập công thức hoá học của các muối tạo bởi các kim loại và các gốc
acid sau:
a. K(I) và Cl(I)
b. Ag(I) và CO3(II)
c. Ba(II) và SO4(II)
d. Al(III) và SO3(II)
e. Na(I) và PO4(III)
Dạng 5: Bài tập yêu cầu học sinh phải thuộc hoá trị các nguyên tố, nhóm nguyên
tử và nắm khái niệm, phân loại
- Ví dụ 1: Lập công thức hoá học các hợp chất sau:
a. Fe(II) và O
b. Al và Cl
c. Ba và OH
d. H và PO4
e. C (IV) và O
f. Fe(III) và CO3
g. Cu(II) và SO4
- Ví dụ 2: Lập công thức hoá học của các hợp chất khi biết tên gọi:
a. Zinc oxide
16
b. Ỉon (III) sulfate
c. Calcicum hydroxide
d. Đinitride pentaoxide
e. Hydrochloric acid
f. Magnesium carbonate
g. Copper (II) hydroxide
h. Hydrogen sulfide
Trên đây là các dạng bài tập lập công thức hoá học được vận dụng trong chương
trình Trung học Cơ sở.
2.3.4.2. Kiến thức Hoá học cần có:
Những kiến thức cần thiết để vận dụng lập công thức Hoá học bao gồm:
- Quy tắc hoá trị
- Các khái niệm oxide, acid, base và muối.
- Bảng hoá trị của nguyên tố và nhóm nguyên tử.
- Viết đúng các kí hiệu nguyên tố và nhóm nguyên tố.
2.3.4.3. Phương pháp lập công thức hoá học:
2.3.4.3.1. Phương pháp chung:
-Viết đúng các kí hiệu nguyên tố và nhóm nguyên tử.
-Thuộc hoá trị của các nguyên tố và nhóm nguyên tử.
-Vận dụng qui tắc hoá trị viết nhanh công thức hoá học
- Chỉ số đặt dưới chân kí hiệu không ghi ngang bằng kí hiệu
Ví dụ : Na2SO4 không ghi Na2SO4
Ca(OH)2 không ghi Ca(OH)2
2.3.4.3.2. Phương pháp cụ thể:
Dạng 1: Lập công thức hoá học các hợp chất oxide được thực hiện như sau:
a. - Viết công thức dạng chung:
17
I
II
K x Oy
- Vận dụng quy tắc hoá trị:
x . I = y .II
=
=
- Viết công thức hoá học:
K 2O
b. - Viết công thức dạng chung:
II II
CaxOy
=
=
x =1 ; y = 1
- Viết công thức hoá học: CaO
c. - Viết công thức dạng chung:
III II
FexOy
=
x = 2 ; y = 3
- Viết công thức hoá học: Fe2O3
Sau khi học sinh nắm vững cách lập công thức hoá học của oxide đến hợp chất
acid, base, muối tôi yêu cầu học sinh lập nhanh công thức hoá học bằng cách đưa ra
hai đường chéo hoá trị suy ra chỉ số.
sau:
Dạng 2: Lập công thức hoá học của các hợp chất axít được thực hiện như
I I
HCl
HCl
18
I I
HNO3
HNO3
I II
H(SO4)
H2SO4
I III
H(PO4)
H3PO4
Lưu ý: Gốc acid có hoá trị bao nhiêu liên kết với bấy nhiêu nguyên tử hidro.
Dạng 3: Lập công thức hoá học của các hợp chất bazơ được thực hiện như
sau:
I I
K(OH)
II
KOH
I
Mg(OH)
III
Mg(OH)2
I
Al(OH)
Al(OH)3
Lưu ý: Kim loại có hoá trị bao nhiêu liên kết với bấy nhiêu nhóm OH.
sau:
Dạng 4: Lập công thức hoá học của các hợp chất muối được thực hiện như
I I
KCl
KCl
I II
Ag(CO3)
II II
Ag2CO3
19
Ba(SO4)
III
BaSO4
II
Al(SO3)
Al2(SO3)3
I III
Na(PO4)
Na3PO4
Dạng 5: Lập công thức hoá học của các hợp chất sau:
Ở dạng này tôi yêu cầu học sinh thuộc hoá trị của nguyên tố, nhóm nguyên tử và
nhẩm hoá trị viết đúng công thức hoá học.
Ví dụ 1:
a. FeO
b. AlCl3
c. Ba(OH)2
d. H3PO4
e. CO2
f. Fe2(CO3)3
g. CuSO4
Ví dụ 2: Từ tên gọi học sinh viết công thức hoá học của các hợp chất
Dạng này đòi hỏi người học phải thuộc các khái niệm, phân loại các hợp chất
oxide, acid, base, muối để viết đúng công thức hoá học
a. ZnO
b. Fe2(SO4)3
c. Ca(OH)2
d. N2O5
e. HCl
f. MgCO3
g. Cu(OH)2
h. H2S
20
* Một số lưu ý khi viết công thức hoá học của hợp chất:
- Hoá trị của 2 nguyên tố hoặc hoá trị của nguyên tố và nhóm nguyên tử bằng
nhau không ghi chỉ số.
Ví dụ: Lập công thức hoá học các hợp chất sau:
a. Ba(II) và O
b. Zn(II) và SO4
Giải:
a. BaO không ghi Ba2O hoặc Ba2O2
b. ZnSO4 không ghi Zn2(SO4)2 hoặc Zn2SO4
- Nhóm nguyên tử có chỉ số 2 cho vào dấu ngoặc đơn
Ví dụ: Lập công thức hoá học các hợp chất sau:
a. Mg(II) và NO3(I)
b. Fe(III) và SO4 (II)
Giải:
a. Mg(NO3)2 không ghi MgNO3 2
b. Fe2(SO4)3 không ghi Fe2SO4 3
- Nhóm nguyên tử có chỉ số 1 không cần cho vào dấu ngoặc đơn.
Ví dụ: Lập công thức hoá học các hợp chất sau:
a. Na(I) và OH (I)
b. Ca (II) và CO3 (II)
Giải:
a. NaOH không ghi Na(OH)
b. CaCO3 không ghi Ca(CO3)
- Kí hiệu nguyên tố và nhóm nguyên tử viết đúng theo thống nhất chung.
Ví dụ : Al không ghi AL
Cu không ghi CU
21
NO3 không ghi N03
SO4 không ghi SO4
- Chỉ số phải ghi dưới chân kí hiệu, không ghi ngang kí hiệu hoặc quá cao quá
thấp so với kí hiệu.
Ví dụ: Na2SO4 không ghi Na2SO4
Chỉ số ghi bằng số tự nhiên không ghi bằng số la mã
Ví dụ: K2CO3 không ghi KIICO3
* Tóm lại, để viết đúng công thức hoá học của hợp chất, học sinh cần nắm vững
các kiến thức cơ bản sau:
- Các khái niệm oxide, base, muối, công thức chung, phân loại và tên gọi.
- Qui tắc hoá trị, thuộc hoá trị của nguyên tố và nhóm nguyên tử
Trên đây là một số biện pháp mà bản thân đã áp dụng trong quá trình giảng dạy
giúp học sinh đọc tên nguyên tố hoá học, muối, oxide, acid, base và viết đúng công
thức hoá học theo chương trình mới.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến
Từ những khó khăn mà tôi gặp phải trong việc giảng dạy cho các em, trong năm
học 2024 – 2025 tôi đã cố gắng tìm biện pháp để khắc phục khó khăn, đồng thời tìm ra
giải pháp để nâng cao chất lượng bộ môn.
Số liệu thống kê:
STT Khối
lớp
Năm học
Sĩ số
Gọi tên
Gọi tên
nguyên tố
nguyên tố
hoá học
hoá học
đúng
acid, base,
(Lớp 7)
muối,
oxide;
Viết công
thức hoá
học đúng
Kết quả
Đạt
Tỉ lệ
22
Đầu năm
1
7
2024 – 2025
(Học kỳ I)
2
8
192
101
192
190
(Lớp 8)
101
52,6%
189
98,44%
Đầu năm
142
72
72
50,7%
2024 – 2025
142
135
134
94,37%
(Học kỳ I)
Việc áp dụng đề tài vào quá trình giảng dạy mang lại nhiều ưu điểm như:
- Học sinh làm quen và đọc được với cách đọc mới các nguyên tố hóa học
"Nguyên tố N nay được đọc thành Nitrogen; O thì đọc thành Oxygen, H đọc thành
Hydrogen, Cu đọc thành Copper, Natri thì đọc thành Sodium, Kali thành Potassium,
Magie biến đổi sang Magnesium và đọc được tên của các hợp chất acid, base, oxide,
muối.
- Các em không còn thấy khó khăn khi phải nhớ tên gọi tiếng Anh của tất cả
nguyên tố. Cứ mỗi khi có tiết khoa học tự nhiên phân môn Hoá học không khí lớp
không còn nhao nhao hỏi nhau cách đọc tên nguyên tố và hợp chất nữa.
- Giáo viên cũng làm quen với cách gọi tên theo chương trình mới và hướng dẫn
cho học sinh đọc tốt. Giáo viên trong một trường có một cách đọc, thống nhất làm cho
học sinh không thắc mắc sao mỗi thầy cô đọc 1 kiểu.
- Học sinh viết công thức hoá học của oxide, base, acid, muối theo các bước hoặc
gạch chéo đúng và không còn gặp khó khăn như trước đây.
23
Phần thứ 3
KẾT LUẬN
Khi thực hiện giải pháp “Giúp học sinh đọc tên nguyên tố hoá học, muối, oxide,
acid, base và viết đúng công thức hoá học theo chương trình mới” ở trường và các
trường bạn giải pháp này giúp học sinh làm quen, đọc được các nguyên tố hóa học; tên
của các hợp chất acid, base, oxide, muối. Các em không cò thấy khó khăn khi phải nhớ
tên gọi tiếng Anh của tất cả nguyên tố và hợp chất nữa. Giáo viên trong trường cũng
làm quen với cách gọi tên theo chương trình mới và hướng dẫn cho học sinh đọc tốt.
Giáo viên trong một trường có một cách đọc, thống nhất làm cho học sinh không thắc
mắc sao mỗi thầy cô đọc 1 kiểu. Học sinh viết công thức hoá học của oxide, base, acid,
muối theo các bước hoặc gạch chéo đúng.
Qua bài viết này tôi rất mong được sự bổ sung, góp ý chân thành của Hội đồng
khoa học các cấp và các đồng nghiệp để tôi ngày càng có nhiều kinh nghiệm hơn trong
việc đổi mới phương pháp dạy học, nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục mà Đảng và
Nhà nước đã đề ra. Trong quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những thiếu sót
rất mong được sự đóng góp ý kiến của các cấp quản lí để tôi thực hiện nhiệm vụ được
tốt hơn. Rất mong đuợc sự đóng góp ý kiến chân thành từ những đồng nghiệp và quý
cấp lãnh đạo để tôi có thể sửa chữa bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả dạy học.
 









Các ý kiến mới nhất