Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

CÓ NHỮNG NHÀ VĂN NHƯ THÊ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:11' 20-02-2024
Dung lượng: 5.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Mục lục
Lời dẫn
PHẦN THỨ NHẤT
Rabelais và thiên tiểu thuyết hiện đại đầu tiên
Nhà thơ ngụ ngôn La Fontaine
Cặp mắt của La Bruyère
Racine – Nhà thơ bị nguyền rủa
Sau 300 năm Madame De Sévigné lại lên ngôi
CeRvantes - Người hiệp sĩ của muôn đời
Don Quichotte - Người bạn đường của nhân loại
Pushkin xuyên qua những thăng trầm lịch sử của nước Nga
Dostoievsky - Tài năng nghiệt ngã
Chekhov - Tấn bi kịch của cái dung tục
Một gương mặt khác của Chekhov
Heinrich Heine – Kẻ ngoài cuộc
Cuộc đời phi thường của Alexandre Dumas
Một thiên tài phóng túng
Honoré De Balzac - Kẻ ganh đua với Chúa trời
Cuộc đời kỳ diệu của Victor Hugo
Victor Hugo – Một siêu sao
Alfred De Musset - Đứa con không thế kỷ
Nhà “cuồng chữ” Mallarmé
Khúc cầu siêu cho Paul Verlaine
Hawthorne - Người phù thủy của Salem

Ngọn hải đăng của chủ nghĩa nhân văn và văn học Mỹ
Những nơi mà hồn ma của Edgar Allan Poe còn vướng vất
Oscar Wilde - Chân dung một con người kỳ cục
PHẦN THỨ HAI
Pygmalion & G. Bernard Shaw
Hermann Hesse – Thông điệp của ông cho thế giới hôm nay
Rabindranath Tagore - Một khúc Thơ Dâng
Nỗi cô đơn của Stefan Zweig
Scott Fitzgerarld và một thế hệ mất mát
Hemingway - Cuộc đời là một ngày hội lớn
Trăm năm cô đơn với ngòi bút
Thế giới của Faulkner - Mảng tối của con người
Cây mộc lan và bức tượng
Tấm mộ chí của một nhà văn
Nathalie Sarraute - Nhà văn cùng tuổi với thế kỷ
Tác phẩm dở dang của Camus
Jacques Prévert với Những chiếc lá khô
Thiên sử thi André Malraux
Graham Greene - Người Anh không thầm lặng
Homère của thế kỷ XX
Garcia marquez - Ông vua của ngôn từ
Jorge Amado - Bậc hiền nhân
Berthold Brecht - Bậc thầy của sân khấu và thơ
Nazim hikmet - Nhà thơ của lưu đày
Những nỗi băn khoăn của một nhà văn Ý

Marguerite duras - Niềm đam mê không suy suyển
PHẦN THỨ BA
Guenter Grass - Tiếng nói của nước Đức nhân đạo
Grass: Không gì có thể thay thế cho văn hóa đọc
Norman Mailer coi mình là chúa Jésus
“Tôi không phải là một vị thánh”
John Updike - Nhà văn thiên phú
Cây bút về đời sống Mỹ hiện đại
Ralph Ellison - Nhà văn lớn với một tác phẩm
“Thằng bé bẩn thỉu” của văn học Mỹ tự bạch
Sự bí ẩn của Salinger
Don Delillo và nước Mỹ của cái thời điên cuồng
Naguib Mahfouz giữa đời thường
Ông vua của chủ nghĩa hiện thực Ả Rập
Walcott nhà thơ gắn bó với cội nguồn
Toni Morrison - Nhà văn Mỹ da đen đầu tiên đoạt giải Nobel
Morrison ở thiên đường
Kenzaburo Oe và nỗi lo âu trước tương lai nhân loại
Kenzaburo Oe - Con người và tác phẩm
Seamus Heaney - Khuôn mặt sáng của làng thơ thế giới
Phần thưởng dành cho một thi hào khiêm nhường
Thơ Wislawa Szymborska
Dario Fo - Người gây bão táp quanh những vở hài kịch
V.S. Naipaul - Nhà biên niên sử về các xã hội hậu thuộc địa
Naipaul - “Điều thú vị ở tuổi 70? Đó là sự tĩnh tại”

Elfriede Jelinek - Con người ẩn dật với ngòi bút đầy sức mạnh
“Viết là con thuyền cứu sinh của tôi”
Thomas Bernhard - Nhà văn lớn của sự chối bỏV
Le Clézio và hành trình tìm kiếm bản sắc
Kundéra và sứ mệnh của tiểu thuyết
Từ trải nghiệm đến bản sắc
Nhà văn trốn đời Harper Lee
Carlos fuentes - Nhà văn bậc thầy của Mỹ La Tinh
90 tuổi vẫn chưa hết kinh ngạc trước thành côngV
Hiện tượng AndreI Makine
Makanin và thế giới tâm thức của người Nga đương đại

LỜI DẪN

Q

uá trình hội nhập văn học của văn học Việt Nam với văn học
thế giới từ giữa thập kỷ tám mươi thế kỷ XX đến nay thường
được nhìn nhận theo những cách thức khác nhau.

Với những người đã chứng kiến sự bùng nổ thông tin ghê gớm đang
diễn ra ở nhiều nước trên thế giới thì những hoạt động đó còn có vẻ
dè dặt, do đó bé nhỏ đơn sơ và không có gì đáng kể.
Song chỉ cần trở lại với thực tế Việt Nam, nhớ lại sự xơ cứng trong
hoạt động này trong khoảng mười năm ngay sau chiến tranh, thì
người ta đã có thể nói rằng ở đây đã diễn ra một bước chuyển căn
bản.
Chúng ta không chỉ cho dịch những cuốn sách bán chạy, không chỉ
giới thiệu mọi mặt hoạt động sách vở ở nước nọ nước kia, mà còn
chia sẻ với họ cách nhìn nhận cũng như cách hiểu về văn học nói
chung. Ngay cách đưa tin cũng bao nhiêu đổi khác. Những tác
phẩm tưởng như xa lạ trở nên gần gũi bởi chủ đề nhân bản sâu sắc
và cách diễn tả độc đáo. Và những nhà văn hàng đầu của thế giới
cũng hiện ra với bao nhiêu chuyện thân tình tuy vẫn không vì thế
mà mất đi tầm vóc lớn lao. Cả cái vẻ rất hiện đại, những tìm tòi
tưởng là kỳ cục quái gở mà chỉ văn chương cuối thế kỷ XX này mới
có, khi vào với đời sống văn học còn tĩnh lặng ở ta, cũng vẫn giữ
được cái sự cận nhân tình cần thiết. Còn những giá trị cổ điển thì
lại luôn được làm mới.
Sở dĩ được như thế một phần là vì những người đảm nhận vai trò
thông tin ở ta, khi dựa vào báo chí nước người để nhờ họ làm trung
gian cho sự giao lưu vừa mới bắt đầu, đã có một cách xử lý khôn
ngoan và hợp lý.

Chẳng hạn như trường hợp Hà Vinh. Không chỉ có một căn bản
tiếng Anh và Pháp, mà quan trọng hơn ở người môi giới văn học
này còn có một khẩu vị tinh tế và nhất là một tư duy văn học mềm
mại theo kịp với những đổi mới hiện đại của văn học phương Tây.
Thêm vào đấy nữa việc vận dụng tiếng Việt khá tự do đã khiến cho
ông trong phần lớn trường hợp, nói lại chuyện người một cách tự
nhiên và chủ động diễn tả những điều mới mẻ theo những cách thức
phải nói là nhiều chiều cạnh, nhiều tầng nghĩa, người chưa quen dễ
chấp nhận, mà người biết nhiều vẫn cảm thấy có cái mới.
Theo sự quan sát của tôi thì trong khoảng thời gian hai chục năm
qua, những bài viết mang tính cách biên soạn của Hà Vinh và các
cộng tác viên của ông, thoạt đầu được in trên tờ Thể thao và văn
hóa, thực sự đã trở thành một món ăn tinh thần thường xuyên do
đó thành người bạn tin cậy của nhiều bạn đọc thanh niên ở ta,
trong đó có cả nhiều người viết văn không có may mắn là biết được
một ngoại ngữ để tự do hội nhập với thế giới.
Đó cũng là lý do khiến tập sách này được biên soạn. Chúng ta chỉ
làm công việc đơn giản là chỉnh sửa một số câu chữ sắp xếp lại các
bài theo diễn biến của văn học và tước đi những sự lặp lại không
cần thiết. Hy vọng  Có những nhà văn như thế sẽ đồng hành cùng
các bạn trên đường học tập và nghiên cứu, nói nôm na là để các bạn
đọc lại trong những dịp cần thiết.
Trình độ người viết và người biên soạn có hạn, tập sách chắc không
tránh khỏi thiếu sót, rất mong bạn đọc lượng thứ.

VƯƠNG TRÍ NHÀN

PHẦN THỨ NHẤT

RABELAIS VÀ THIÊN TIỂU THUYẾT HIỆN
ĐẠI ĐẦU TIÊN

V

ào thời trẻ Rabelais[1]  đã là tu sĩ tại tu viện Puy-SaintMartin ở Fontenay-le-Comte, vùng Vendée nước Pháp và
những kỷ niệm về ông đã và đang còn hết sức hiện diện
tại cái thành phố nhỏ bé này. Tên của ông khắc với những chữ
cái to đùng trên bể nước phun tại quảng trường Viète nơi mà
vào ngày lễ, chủ nhật dàn nhạc thường hay trình diễn. Ngay gần
phố Orfèvres, một vòi nước khác có từ thời Francois Đệ nhất,
được trang trí bằng một bi ký theo bút tích của người tu sĩ
thông thái này. Trên phố Orfèvres, người ta còn thấy những
thầy tu dòng Franciscain đi lại, mặc áo choàng nâu bằng len thô,
đi chân đất, khiến người ta tưởng tượng là có thể trong số họ có
một thầy tu trẻ tóc hung đang nhăn mặt làm hề với một chú bé
nào đó theo cái cách mà các thầy giáo đôi khi gợi lên khi giảng
dạy về Rabelais. Và rồi không xa Fontenay là tu viện Maillezais
hoang phế, nơi mà Rebelais đã sống những ngày hạnh phúc, nơi
của những tu sĩ Bénédictin có học và hiền hòa.
Chính trong môi trường này đã ra đời tuyệt
tác  Pantagruel  và  Gargantua  như thể là một sưu tập những
truyện kể địa phương. Cũng vẫn là những cuộc chè chén lu bù,

những con người to bự ấy, những kẻ phóng đãng ấy, những tật
phàm ăn ấy.
Trong cuộc sống lang bạt và ly hương kéo dài của mình – ở
Montpellier, Lyon, Roma, Piémont, Metz–Rabelais bao giờ cũng
nhớ lại quê hương Touraine của mình, coi đó là trung tâm thế
giới đối với ông, nơi diễn ra tất cả những chương hồi của các tiểu
thuyết của ông, nhưng cũng không quên đi xứ Vendée.
Đã bao lâu người ta khinh thường Rabelais. Người ta ít đọc hay
không hề đọc sách ông. Ông hiện ra một cách tối tăm mờ nhạt,
bị che phủ trong một kho từ vựng cổ xưa. Những thứ tục tĩu của
ông viết ra còn làm cho cả Voltaire cũng bị sốc. Từ cái chết của
vua Francois Đệ Nhất, kẻ vốn yêu ông, thì Rabelais bị xếp vào
ngăn kéo của những cuốn sách cũ vì bị coi là khiếm nhã. Văn
học Pháp ư? Không phải là thứ rối rắm tối nghĩa ấy mà là sự
trong sáng của Ronsard, Ronsard thù ghét Rabelais và ngôn ngữ
dung tục của ông. Hoàn toàn giống Rebalais, Ronsard đảm nhận
việc tạo ra ngôn ngữ Pháp – cái thay thế cho tiếng La Tinh, ngôn
ngữ chính thức, thứ ngôn ngữ của tương lai. Nhưng Ronsard
muốn dẫn dắt văn học Pháp qua cánh cửa của ngôn ngữ cung
đình. Ngược lại Rabelais thì giương cao thứ ngôn từ rộng lớn của
những thổ ngữ, những tiếng lóng, những thành ngữ dân gian
như một dòng thác từ ngữ mà ông bày ra dưới chân Đại học
đường Sorbonne.
Louis-Ferdinand Céline có lần nói: “Rabelais, ông đã thất bại”.
Ông thất bại bởi vì Ronsard đã thắng, và sau đó là Malherbe và
Boileau. Ngôn ngữ cung đình đã và luôn luôn là tiếng nói của
văn học Pháp, mặc dầu vào thế kỷ XIX, Hugo, Gautier, Flaubert
mưu toan khôi phục Rabelais và mặc dầu văn học thế kỷ XX lấy
động lực từ  Ulysse  của James Joyce và  Mort à Crédit  (Chết nợ  –
tạm dịch) của Céline trong mạch văn Rabelais.
Việc xuất bản hàng loạt những tác phẩm của Rabelais vào dịp kỷ
niệm “giả” 500 ngày sinh của ông (nói là “giả” vì đã gần 10 năm

người ta bỏ lơ đi ngày sinh của ông) không phải là chuyện tình
cờ. Nó đánh dấu sự phục hồi của Ralebais, con người cùng thời
với chúng ta, và nếu như ông ta đã thua keo đầu thì lại thắng
keo sau.
Bởi lẽ điều hết sức rõ ràng là Rabelais đồng thời với chúng ta
hơn là Ronsard. Đồng thời với ngôn từ lẫn đầu óc, cả tài năng
sáng tạo lẫn cái “gu” thông thái và còn cả cái nghệ thuật lãng
mạn của ông nữa.
Pantagruel  và  Gargantua  trong thực tế không chỉ là một cuốn,
mà là tập đại thành, có 5 lớp, của những tác phẩm bao trùm
suốt cuộc đời tác giả. Nó là tiểu thuyết Pháp đầu tiên, viết bằng
tiếng Pháp, bằng thứ ngôn ngữ bình dân. Và bây giờ chúng ta
còn thấy ra rằng nó là cuốn tiểu thuyết “hiện đại” đầu tiên.
Thứ tiểu thuyết phúng dụ như  Don Quichotte  xuất hiện ở Tây
Ban Nha sau đó một thế kỷ và xem ra lấy cảm hứng từ những
truyện kể hiệp sĩ dân gian. Về phần Rabelais, đôi chân của ông
cắm sâu vào thời Trung cổ, còn cái đầu ngẩng cao hướng về
tương lai. Lối viết của ông không quen thuộc với chúng ta vì đấy
là một sự hòa trộn giữa những cái thô lậu, những chuyện đầu
Ngô mình Sở, những câu đùa cợt bẩn thỉu và cả cái chất thông
thái uyên bác, một thứ văn hóa bách khoa của một thầy thuốc tu sĩ (người ta biết ông là một trong những nhà y học tiếng tăm
nhất thời đại mình).  Pantagruel  và  Gargantua  viết ra như là
những cuốn sách phổ thông nhưng thực sự là những tác phẩm
cực kỳ thông thái về chủ đề, mã hóa và hàng đống biểu tượng.
Cũng không nên quên rằng đấy là thời của Tòa Án Dị Giáo đầy
khủng bố, rằng người bạn ông là Etienne Dolet bị thiêu sống vì
coi là tà giáo. Rabelais, suốt đời vẫn là tu sĩ, và rất quan tâm đến
thần học cũng như chủ nghĩa nhân đạo. Cái khung vũ hội hóa
trang của truyện ông là nhằm ngụy trang cho những quan điểm
chính trị và tôn giáo. Bởi vì con người này sống vào một thời đại
mà sự bất khoan dung và thuyết toàn vẹn là những thứ đã tạo ra
những nỗi khủng khiếp của cuộc chiến tranh tôn giáo giữa Công

giáo La Mã và Tin lành. Ông đã hướng mọi tác phẩm của mình
về sự khoan dung, tự do tư tưởng, quyền tự do được sống theo
cách của mình. Và ông đã bị nhà thờ cấm tác
phẩm Gargantua,  và sở dĩ đời ông lang bạt chui nhủi là vì sau
bước chân mình là giàn thiêu của Tòa Án Dị Giáo săn đuổi.
Pantagruel xuất bản năm 1532 ở Lyon, khiến độc giả nhao nhao
tìm đọc nhưng lại không được giới tinh hoa đón nhận và chính
do điều này nữa, Rabelais là người đương thời với chúng ta. Như
người ta biết, thành công của ông làm học đường Sorbonne bối
rối, và tác giả trở thành một phần tử bị tình nghi. Hơn nữa việc
ông tưởng tượng ra những nhân vật có một sức sống lớn lao đến
mức có thể kéo dài đến tận bây giờ đã không hề góp phần làm
cho ông đáng được sự bảo chứng của cái Đại học đường đó. Tiểu
thuyết hành động, với những pha hồi hộp, những tình tiết lắt
léo, những tình huống say sưa và gồm đủ các loại người. Chẳng
hạn Panurge, giảo hoạt như Ulysse, là người biết nhiều ngôn
ngữ. Nếu  Ulysse  của Joyce không giống với tác phẩm  Quart
Livre của Rabelais với một cuộc phiêu lưu lớn trên biển trong đó
có cái giai thoại về những con cừu của Panurge, thì cuốn sau lại
không phải không có gì giống với Odyssée của Homère (nên nhớ
là Rabelais rất thông thạo tiếng Hy Lạp).
Pantagruel và Gargantua đã không ngừng trở lại với thế giới sử
thi của Hy Lạp, và tìm cách đánh lạc hướng, từ trò bắt chước đến
những truyện ngụ ngôn. Rabelais đã tham bác và biên soạn
nhiều về những tác phẩm hài hước la tinh, hứng thú với ngày
hội “thằng ngu” và “lễ lừa”. Vào cuối thời trung cổ, trật tự giáo
hội và hiệp sĩ bị nổ tung. Và thế kỷ XV chứng kiến sự ra đời của
Rabelais, nổ bùng ra như một chiếc bụng quá căng phồng. Trước
khi biến mất đi một thế giới bần cùng, đầy thiên kiến, cuồng tín,
khủng bố, nó khiến ông có một sự ham muốn cháy bỏng, một
tham vọng điên cuồng, để khôi phục lại cái ký ức đó bằng vô vàn
truyện tiếu lâm. Huyền thoại hóa thứ ngôn ngữ của chợ búa,
của đường phố, của hàng quán, nông nô và đồng thời dân chủ
hóa ngôn ngữ, ông viết bằng thứ ngôn ngữ đời thường trong

tinh thần bình đẳng giữa những con người. Gargantua, một
nông dân, sản phẩm của truyện thần thoại xen-tích vốn đã được
truyền miệng trước đó, được sử dụng làm công cụ đánh đổ chủ
nghĩa giáo điều trung cổ. Gargantua và Pantagruel nhìn thế giới
từ những mặt trái của nó. Nhưng mặt trái chính là mặt phải.
Thế kỷ của Rabelais bắt đầu với một khao khát thế tục, một
niềm vui được hiểu biết, từ các nhà hiền triết cổ đại đến những
phát hiện địa lý (châu Mỹ) và kỹ thuật (máy in) và kết liễu trong
nỗi khủng khiếp của các cuộc chiến tranh tôn giáo. Trong khi
đó, tiếng kêu của một số người tự do đã làm thế giới chao đảo.
Và đấy là ba tu sĩ cổ: Erasme, Luther và Rabelais. Cả ba đều
muốn mang trở lại cho Thiên Chúa giáo cái thông điệp về tự do
và bình đẳng mà các Giáo hoàng đã quên đi.
Gargantua và Pantagruel phá vỡ những xích xiềng của thần học
trung cổ, của tinh thần hiệp sĩ, của nền chính trị bất khoan
dung. Tinh thần tự do và bình đẳng, cái thông điệp của nó hiện
đại đến sững sờ. Trong tu viện Thélème, không có tường bao,
không có kỷ luật. Đấy là sự biện giải của Diogène.
Đấy là việc tại sao, trong cái thời đại của bất khoan dung, của
cuồng tin, của chủ nghĩa toàn vẹn hiện nay của chúng ta, tác
phẩm của Rabelais một lần nữa lại trở nên hấp dẫn. Đấy là việc
tại sao nó vẫn bổ ích đối với chúng ta. Đấy là việc tại sao chúng
ta cảm thấy mình gắn bó anh em với nó.
[1] 1494-1553

NHÀ THƠ NGỤ NGÔN LA FONTAINE

N

hân kỷ niệm 300 năm ngày mất của nhà viết truyện ngụ
ngôn nổi tiếng Jean de la Fontaine[1], tập Truyện Ngụ ngôn
toàn tập của ông được xuất bản kèm theo 250 minh họa.
Theo giáo sư Marc Fumaroli tại Cao đẳng học viện Pháp quốc và
chuyên gia về thế kỷ XVII ở Pháp, La Fontaine là một nhà văn
“vẫn sống và hoạt động”. Đấy là nhà văn của sự dịu dàng, vui
sống và hạnh phúc, những nét căn bản trong thơ ông. Về cơ bản
La Fontaine là người theo tư tưởng Flaton -  trọng sự cao quý về
tinh thần. Người ta chỉ có thể tiếp cận với chân lý qua sự trung
gian của cái đẹp và niềm vui thích gắn liền với cái đẹp.
Những truyện ngụ ngôn của ông, ở khắp mọi thời vẫn được
người ta ngưỡng mộ. Vậy thì cái bí mật của sự thành công phổ
quát đó là gì? Kể từ thời phục hưng, rất ít tác giả lại nghĩ rằng họ
có thể xây dựng một tác phẩm lấy từ truyện ngụ ngôn. La
Fontaine đã nẩy ra cái ý định thiên tài là ông có thể dùng cái cốt
lõi vốn già như trái đất và bao phủ nó bằng những trang sức để
làm cho mọi truyện kể trở thành bản tóm tắt thực sự của tất cả
những cái tinh tế của thơ ca Pháp, như nó đã từng rộ nở vào đầu
thế kỷ XVII. Ông đã tạo ra quanh một truyện ngụ ngôn có phần
khô khan và vào thời đấy mang tính chất sư phạm, một không
khí của sự trò chuyện duyên dáng, lịch sự và quyến rũ. Ông

cũng đã làm điều mà không một nhà thơ Pháp nào trước ông đã
từng làm, kể cả Marot: Ông giải phóng khuôn khổ câu thơ, tạo ra
một thi pháp điêu luyện, tô điểm cho các truyện ngụ ngôn một
sự lưu loát đầy nhạc tính.
Bản thân La Fontaine là một người sành sỏi về âm nhạc đương
thời, và đặc biệt rất thích loại đàn  luth, một nhạc cụ mà một
mình nó đệm riêng cho ca khúc rất thịnh hành vào thời 1640
đến 1660. Đây là thứ âm nhạc rất tâm tình, đầy nội cảm, gắn
chặt với một sự thưởng thức sâu lắng và chăm chú trong những
nhóm nhỏ bè bạn. Đây là cái nhịp điệu nội tâm của đối thoại.
Toàn bộ văn chương thế kỷ XVII trước hết là sự thưởng thức
bằng tai, thứ bút chiến thường xuyên chống lại thứ vương
quyền tuyệt đối. Khuynh hướng của các truyện ngụ ngôn của
ông trước hết là thù địch với quyền bính nhà vua. Ông đã kế
thừa một lý tưởng về một nước Pháp, dù có ngôi vua, nhưng đa
thực thể, chống chiến tranh ở ngoài nước và hòa hoãn với Rome.
Quan niệm đó về nước Pháp đi đôi với một quan niệm về châu
Âu mà nguyên tắc chủ đạo của nó không phải là một quyền lực
quân sự mà là một quyền lực tinh thần. Chủ đề thường xuyên
của những truyện ngụ ngôn là hòa bình. Tự thâm tâm, La
Fontaine là một con người hiền hậu và theo lý tưởng hòa bình.
Thành công của Truyện Ngụ Ngôn năm 1668 không chỉ là thành
công của một tuyệt tác văn học bất ngờ mà còn là sự trả đũa lại
một cách nhẹ nhàng, gián tiếp, đầy chất thơ trước sự chiến
thắng của nhà nước quân sự và quan liêu. Chính vì vậy bản thân
nó là một thứ quyền lực thực sự vì nó duy trì – trước quyền lực
nhà vua đòi sự phục tùng và nô dịch, loại trừ sự phóng khoáng
và những quyền tự do – một chân trời của sự quyến rũ, của suy
tư, của trí tuệ và sự dịu dàng. La Fontaine và bạn bè ông tin vào
một sự hòa hợp ở trên cao mà người ta có thể kéo nó xuống để
chiếm lĩnh chung quanh họ. Sự hòa hợp không phải là một trật
tự duy lý. Trong các truyện ngụ ngôn, không có đạo lý đã hoàn
thiện sẵn. Đây là lúc mà nhờ vào đức hạnh cao cả thiên nhiên
người ta trở nên có thể nhận biết được sự thánh thiện. Một thiên
nhiên có được cái đẹp, điều thiện về tình yêu. Khi mà lý lẽ cùng

đường, người ta tìm thấy ngụ ngôn. Và với ngụ ngôn người ta
đến với chân lý êm đềm mà lý lẽ không thể nào đạt tới.
Riêng về con người của La Fontaine, một trong những chân
dung tuyệt vời nhất về ông là của Mlle de Scudéry trong cuốn
tiểu thuyết  Le Clélie  mà ông xuất hiện dưới cái thác danh là
Anacréon. Cả trước khi ông xuất bản Truyện Ngụ Ngôn, đây đã là
những nét cơ bản về tính cách của ông: “Nhạy cảm với mọi sinh
thú không trừ cái gì”. Cái mà ông thích nhất là những cuộc tụ
hội của “dăm sáu bè bạn, không có công chuyện mà cũng không
có ưu phiền”, và giữa họ với nhau là việc “trò chuyện tự do, tào
lao và vui thích”, và xen vào đó là những khúc hát nhẹ nhàng,
nghe nhạc và ít phút dạo chơi. Ông còn là nhà thơ trong sáng.
Một trong những điều ám ảnh ông nhiều là “sự phiền muộn”.
Nghệ thuật được tạo ra để cho chúng ta bớt đi những nỗi buồn
chán, dù là chút ít. Phiền muộn là cái cảm giác nặng nề u ám của
một thế giới không âm nhạc. Theo nghĩa đó, La Fontaine là một
nhà thơ hiện đại. Ông hình dung trước sự phân cực mang chất
Baudelaire giữa thế giới ca hát của văn học và sự phiền muộn
mà nó muốn xua đuổi đi.
Chính vì thế việc nghiên cứu La Fontaine không phải là việc
chơi đồ cổ. Thế kỷ XVII làm bối cảnh cho những nhà văn lãng
mạn lớn của Pháp. Nó mở đường cho người ta tìm hiểu các tác
giả của thế kỷ XIXvà tuyệt tác của Alexandre Dumas, bộ tiểu
thuyết 3 tập  Ba người lính ngự lâm,  đấy là cả một biển thơ và
chất liệu lịch sử. Người ta tìm thấy trong thơ của Baudelaire tất
cả những gì làm vang vọng làn thơ ca ba-rốc, và để đến với
Proust, cần phải thấy ra rằng ở những tầng sâu thẳm nhất
của Đi tìm thời gian đã mất là Mme de Sévigné, Saint-Simon, Nữ
Công tước Guermantes… Là một nhà thơ lớn của hoài niệm,
Proust nhìn thấy tất cả mọi giai đoạn của một nền văn hóa, và
thế kỷ XVII là điểm tựa cơ bản nhất cho những suy tưởng của
ông.

Một trong những tấn kịch của thời đại chúng ta là phải sống
trên bề mặt của chính mình và của người khác. Cần phải làm tất
cả để đánh thức ký ức để nhận biết cái chiều thứ tư là thời gian
của hồi tưởng. Bởi thế La Fontaine là một nhà văn đang sống và
đang hoạt động.
[1] 1621-1695

CẶP MẮT CỦA LA BRUYÈRE

L

a Bruyère[1]  là một trong những nhà văn vĩ đại nhất của
nước Pháp. Một cuộc đời âm thầm và đầy nghi ngại, một
tác phẩm lớn duy nhất, một “ga-lơ-ri” về những biếm họa
của thời đại ông và của mọi thời đại, một dự án cải cách về
phong cách sống và các mối quan hệ, một sự sâu sắc về tư duy
thường gợi nhắc người ta nhớ đến Pascal, một cảm quan sắc bén
về tính tương đối, một cặp mắt chăm chú: Tất cả những cái đó
đều quá mạnh, quá khó chịu, quá chi ly làm người ta có nguy cơ
nhận ra mình trong đó. Les Caractères (“Những Tính Cách” hay
“Các Con Chữ” tùy ta hiểu - ND) chính là một luận văn phê bình
xã hội hiện đại.
Những nhà văn Pháp này đều như thế, dẫu tên của họ là gì.
Molière, Sévigné, La Fontaine, La Rochefoucauld, La Bruyère,
Racine, Boileau, Vauvenargues, Voltaire, Sade, và muộn hơn là
Céline, Genet… Người ta nói đến một phong cảnh, với những
thung lũng, những cánh đồng cỏ, những con sông, cây cối,
những hố sâu của bóng tối, những khoảng rừng thưa, những
bông hoa. La Bruyère có ở đấy, phía bên trái, giống như một bụi
cây rì rào bất an. Những tính cách ư? Phải rồi, theo nghĩa Hy Lạp
thì đấy là sự khắc họa, là in ấn. Từ này mang một ý nghĩa sinh
học, thần học, tâm lý học và cả mẫu chữ in ấn nữa. Mắt là một

phần của chữ hiện ra do in ấn, làm người ta đụng đến vật liệu
thần kinh của sự thuyết giảng. Chẳng phải ngẫu nhiên mà
chương đầu của tác phẩm  Les Caractères  mang tiêu đề “Những
sản phẩm của trí tuệ” và chương cuối cùng “Những trí lực mạnh
mẽ”. Người ta bắt đầu với những suy ngẫm về nghệ thuật ngôn
từ, và kết thúc bằng việc khơi dậy lại sức bật của thượng đế vốn
thông thường có khuynh hướng bỏ quên nghĩa vụ. (Và người ta
biết rằng La Bruyère, đối với các ngài giáo sư, đã mang tiếng xấu,
vì ông thuộc về cánh Bossuet).
“Với đầu óc sắc bén, cái rất hiếm hoi trên thế gian này, đấy là
những viên kim cương và ngọc trai”. Đấy là cái văn phong
“nhanh hoạt, chuẩn xác, kích động”, cái cách “sử dụng ngôn từ
hoàn toàn mới mẻ” (lời của Voltaire đã nói ra) trong khi hoàn
thành một cuộc cách mạng mà từ “Ánh sáng” là biểu trưng của
nó (Montesquieu, độc giả của La Bruyère). Tác phẩm  Les
Caractères lập tức có một công chúng độc giả rộng lớn và cũng
đầy những sự ghen tị. Cũng theo Voltaire, “những ẩn dụ người
ta thấy đầy rẫy trong cuốn sách làm cho nó thành công”. Nhưng
“chìa khóa” là gì: Chắc hẳn rằng có đấy và thiên hạ tùy theo địa
vị của mình mà nhìn nhận, nhưng những chiếc thìa khóa này là
những hình mẫu được cố định và còn có thể áp dụng cho những
mẫu người của thời đại chúng ta. Bạn hãy đọc mà xem: “Có
những tâm hồn bẩn thỉu, đầy bùn nhơ và cặn bã, những kẻ chả
phải là cha là mẹ, chả là bầu bạn, chả là công dân, chả phải tín
đồ Thiên chúa giáo, mà có lẽ cũng chả phải là người: Họ có đầy
tiền”. Hoặc nữa: “Khi nhìn nhận người phụ nữ này bằng sắc đẹp
cô ta, tuổi trẻ cô ta, sự kiêu căng và thói đỏng đảnh của cô ta, thì
không có ai nghi ngờ rằng một ngày nào đó thế nào cũng có một
anh chàng say mê cô ả. Sự chọn lựa của tôi đã rõ: Đấy là một con
quái vật chẳng có đầu óc”. Và cứ thế, cứ thế…
Điều lạ lùng nhất là La Bruyère lại rất hiện đại do một sự hồi cố
về các tác giả Hy Lạp và La Tinh, và rằng trong cuộc tranh cãi
nổi tiếng giữa những bậc cổ điển và kẻ hiện đại, thì chính các vị
tiền bối lại làm cuộc lật đổ trong khi những người “hiện đại”,

những kẻ rập khuôn theo thời đại mình, lại nhạt nhẽo, rối rắm,
đạo đức giả, khoa trương. Quả là một mở đầu dữ dội đầy kinh
ngạc mà La Bruyère đã viết ra trong diễn văn khi ông nhậm
chức viện sĩ hàn lâm của Pháp. Ông đã gây ra một vụ xì-căngđan khi bảo vệ những bạn bè mình: La Fontaine, Boileau,
Bossuet, Fénelon, Racine. Và từ đó, ông tố cáo cái gian đảng của
những tín đồ mà bao giờ cũng có sẵn: “Tôi không hề có một chút
nghi ngờ gì rằng công chúng sẽ không chán chường và mệt mỏi
để nghe, từ mấy năm nay, về những con quạ già nua kêu quàng
quạc quanh những người mà, từ đôi cánh tự do và một ngòi bút
thanh thoát, đã đạt tới một vinh quang nào đó bằng văn phẩm
của mình (…). Văn xuôi, văn vần, tất cả đều là mồi săn của sự
hiềm tị khôn nguôi của những kẻ được coi là chống lại người
nào dám xuất hiện trong sự toàn bích nào đó và được công
chúng thừa nhận”.
Đấy là điểm chủ yếu: Cái mà những quan chức văn học hay trí
thức không chịu ủng hộ, trong sự tầm thường “thiếu sức mạnh
và hơi thở” của nó, là cái hoàn hảo đến thẳng với công chúng, và
vì thế thường có một liên minh tự nhiên giữa tài năng và dân
tộc. Người ta đã hết sức thích thú với Những người tỉnh lẻ, Truyện
ngụ ngôn, Những tính cách và cả Tartu e hayPhèdre. Dù cho một
nhà báo hay một viện sĩ có giận dữ đến xùi bọt mép để phủ
nhận thì cũng chả làm điều gì được. Tác phẩm  Les Caractères,
trước hết, không ai nghi ngờ rằng là một cỗ máy chiến tranh
chống lại sự mù quáng của dư luận và cái bậu sậu tạo ra nó:
“Điều đi ngược lại với những lời xì xào về những sự việc hay
những con người thường là sự thật”. Hay nữa: “Cần phải làm
như những người khác: câu phương ngôn hầu như lúc nào cũng
đáng nghi ngờ”. Hoặc giả: “Chỉ dần dà thôi, và còn bị thúc bách
bởi thời đại và hoàn cảnh, mà những đức hạnh hoàn hảo và
những thói xấu lan tràn cuối cùng mới tự bộc lộ ra”.
Cần lưu ý, La Bruyère nói rằng không hề có một phán quyết tối
hậu, nó chỉ mang tính “hình thức” mà không phải là cái gì khác.
Cũng đừng mong thoát khỏi, trong nghệ thuật, với cái thớ thịt

chằng chịt bí hiểm của nó, sự phán xét đối với chúng ta: “Trong
nghệ thuật có một điểm hoàn bích giống như cái thiện và sự
chín muồi của thế giới tự nhiên. Những ai cảm thấy nó và yêu
mến nó thì có được cái “gu” hoàn thiện, những ai không cảm
thấy, không đầy đủ hay quá mức, thì cái “gu” khiếm khuyết. Bởi
thế có một thứ “gu” tốt và thứ “gu” xấu, và người ta cãi nhau về
nó một cách có căn cứ”. Việc không có “gu” như người ta thấy, có
việc đi lướt qua bên cạnh một điểm. Sự ngu dại bản thân nó là
một vấn đề tự động. “Kẻ ngu dốt là người máy”. Hài kịch xã hội
là một sự mộng du, một vở kịch múa rối, đáng cười hơn là đáng
khóc, bởi vì “sự bất an, sợ hãi, chán nản không xa rời cái chết mà
ngược lại”.
Sức mạnh của văn chương: Nhờ vào một sự chuẩn xác nhất
định về biểu tả, người ta ghi tên mình vào tâm điểm của nguyên
lý về mâu thuẫn. Chính vì vậy mà La Bruyère đã không phải ít
vui thích khi thấy mình được Lautréamont lặp lại. La Bruyère
viết: “Tất cả đã được nói ra, và người ta đã đến quá muộn kể từ
hơn bảy ngàn năm khi đã có những con người và họ suy nghĩ.
Người ta chỉ việc đi cóp nhặt theo chân những bậc cổ đại và sự
khéo léo trong những người hiện đại”. Còn Lautréamont (trong
cuốn  Các vần Thơ) viết: “Chưa có gì được nói ra. Người ta đến
quá sớm kể từ hơn bảy ngàn năm khi đã có những người…
Chúng ta có lợi thế làm việc theo gương những người cổ đại và
sự khéo léo trong những người hiện đại”. Tất cả đã được nói ra.
Mà cũng chưa có gì được nói ra. Riêng cái việc “nói” tự nó đã mở
cánh cửa của thời gian.
Jouhandeau, trong lời nói đầu tinh tế của cuốn  Les
Caractères  được tái bản, đã đi đến mức so sánh La Bruyère với
Nietzsche. Ông đã đưa ra làm bằng chứng đoạn văn sau đây: “Có
những con người có thể trở nên đặc biệt: Họ lướt đi, dương
buồm trên một biển cả, nơi mà những kẻ khác thất bại và đắm
thuyền; họ thành đạt bằng việc làm thương tổn đến mọi nguyên
tắc của sự thành đạt; họ lấy ra từ cái bất bình thường và cái điên
rồ của họ tất cả mọi thành quả của một sự khôn ngoan được tiêu

thụ nhiều nhất; họ tự nâng mình lên bởi một sự vi phạm không
ngừng đến cái mức nghiêm trang của phẩm giá; và cuối cùng họ
kết thúc và gặp gỡ một tương lai mà họ đã không hề thấy mà
cũng không hề mong mỏi. Cái còn lại đối với họ trên trái đất này,
ấy là tấm gương soi của số mệnh họ, thật chết người đối với
những ai muốn theo đuổi cái số mệnh đó”.
Người ta có thể đọc đi đọc lại đoạn văn này. Nó chẳng bao giờ là
cũ cả.
[1] 1688-1896

Racine
NHÀ THƠ BỊ NGUYỀN RỦA

V

ới những quan niệm đã được khuôn đúc vào những ký ức
về những năm cuối bậc phổ thông, chúng ta khó lòng
chấp nhận được ý kiến cho rằng Jean Racine[1]  lại là một
nhà thơ bị nguyền rủa.
Vào đầu thế kỷ XIX, Stendhal đã đội lên đầu Racine cũng như
Boileau một “mớ tóc giả già nua” của các viện sĩ hàn lâm. Vào
cuối thế kỷ, Verlaine đã tạo ra khái niệm “những nhà thơ bị
nguyền rủa”. Nhưng Verlaine chỉ dành cho những con người
đương thời với ông: Baudelaire, Mallarmé, Rimbaud. Chính là
chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa khoa học vạn năng, tinh thần đạo
đức tư sản và dân chủ của thời đại đã ngược đãi cái chân lý của
các nhà thơ.
Ở thế kỷ XVII, không có một nhà tư sản hay một người dân chủ
nào nắm quyền lực. Song le người ta nhớ lại rằng Platon và
nhiều cha cố nhà thờ đã đuổi Homerè ra khỏi nền “Cộng hòa”
của họ. Racine, bước vào Hàn lâm viện Pháp năm 1673, được
phong chức nhà chép sử chính thức của hoàng gia năm 1677 và
là một quý tộc trong Vương cung năm 1690, ăn ở trong cung
điện Versailles năm 1695, rõ ràng đã có một sự nghiệp khác hẳn

ệ
g
ộ ự g ệp
với Théophile de Viau (bị bỏ tù) với Etienne Durand (bị hỏa
thiêu) hay D'Assoucy (trở thành kẻ lang thang). Nhưng sự
“nguyền rủa”, cả theo nghĩa mà Verlaine ám chỉ, không giới hạn
ở cái số phận tỏ tường của các nhà thơ. Nó có thể hành hạ họ từ
thế giới nội tâm. Từ năm 1663 đến 1667, và rồi từ năm 1689
đến 1691, Racine đã đưa ra dưới ánh sáng của thi đàn một thứ
thơ ca lạ lẫm, dữ dằn, bị bài xích kịch liệt. Tập thơ này có thể
đánh lừa: Bề ngoài xem ra nó ngoan ngoãn tuân thủ những quy
tắc nghiêm ngặt nhất của thơ cổ điển, và mang lại khoái cảm
cho người nghe bởi âm vận hài hòa tuyệt vời của nó. Nhưng
dưới lớp áo nề nếp và duyên dáng đó có biết bao cái đột phá và
tiếng kêu gào vì hận thù, đau đớn và say mê, bao sự thực kinh
hoàng của trái tim.
Trong cuốn tiểu sử tuyệt vời  Cuộc đời Racine  xuất bản năm
1927, Francois Mauriac chỉ ra cái khoảng cách kinh ngạc giữa
những biểu hiện thông thường đương thời, vốn nhạt nhẽo và
phởn phơ, với cái mà Racine gợi lên về niềm ...
 
Gửi ý kiến