Chuyên đề tiếng việt lớp 2

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Lan (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:24' 14-11-2024
Dung lượng: 151.5 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Lan (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:24' 14-11-2024
Dung lượng: 151.5 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
CHUYÊN ĐỀ PHẦN ĐỌC LỚP 2
DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
I.MỤC TIÊU CỦA CHUYÊN ĐỀ:
Giúp giáo viên:
- Nắm vững quy trình, phương pháp và hình thức dạy học phần đọc môn Tiếng
Việt lớp 2.
- Biết phối hợp vận dụng các kỹ thuật dạy học mới vào trong các tiết học phần
Đọc giúp cho học sinh phát huy tính tích cực trong học tập tốt hơn.
- Nắm được yêu cầu của môn Tiếng Việt lớp 2 là hình thành và phát triển cho
học sinh kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp
trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học Tiếng
Việt nói chung, phần Đọc nói riêng, góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy
cho HS.
- Nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ bản thân, từ đó GV có phương pháp dạy học
phù hợp nâng cao chất lượng giảng dạy trong quá trình công tác.
II. VỊ TRÍ VÀ MỤC TIÊU CỦA PHẦN ĐỌC Ở LỚP 2:
1.Vị trí:
- Hoạt động chính của phần đọc Tiếng Việt lớp 2 là thực hành. Vì vậy, nhiệm
vụ quan trọng nhất của phần này là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng
lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc”
đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (hiểu được nội dung
những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kỹ năng này
được hình thành trong hai hình thức đọc: Đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng
được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện một trong những kỹ
năng này sẽ có tác động tích cực đến những kỹ năng khác.
- Đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh và thông qua đọc đúng các em HS hiểu
được nội dung văn bản. Ngược lại, nếu không hiểu điều đang đọc thì không thể
đọc nhanh và diễn cảm được. Nhiều khi, khó mà nói được rạch ròi kỹ năng nào
làm cơ sở cho kỹ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng, hay chính nhờ hiểu đúng
mới đọc đúng. Vì vậy, trong dạy đọc không thể xem nhẹ yếu tố nào.
2. Mục tiêu:
2.1. Đọc thành tiếng:
- Phát âm đúng.
- Ngắt nghỉ hơi hợp lí.
- Cường độ đọc vừa phải. (Không đọc quá to hay quá nhỏ)
- Tốc độ đọc vừa phải (không ê a, ngắc ngứ hay liến thoắng), yêu cầu tối
thiểu 50 tiếng/1 phút.
- Đọc diễn cảm: Thể hiện được giọng điệu của từng nhân vật và tình cảm
của người viết.
2.2. Đọc thầm và hiểu nội dung:
- Biết đọc thầm và không mấp máy môi.
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
1
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
- Hiểu được nghĩa của các từ ngữ trong bài đọc.
- Có khả năng trả lời đúng các câu hỏi liên quan đến nội dung từng đoạn
hay toàn bài.
2.3. Nghe:
- Nghe và nắm được cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn, bài.
- Nghe - hiểu các câu hỏi và yêu cầu của GV.
- Nghe - hiểu và có khả năng nhận xét ý kiến của bạn.
2.4. Trau dồi vốn tiếng việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự
hiểu biết của HS về cuộc sống.
- Làm giàu và tích cực hóa vốn từ, vốn diễn đạt.
- Bồi dưỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng hiểu biết về cuộc sống, hình
thành một số kĩ năng phục vụ cho đời sống và việc học tập của bản thân (như khai
lí lịch cơ bản, đọc thời khóa biểu, tra và lập mục lục sách, nhận và gọi điện
thoại,...)
2.5. Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng;
tình yêu cái đẹp, cái thiện và thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống;
hứng thú đọc sách và yêu Tiếng Việt, cụ thể:
- Bồi dưỡng tình cảm yêu quý, kính trọng, biết ơn và trách nhiệm đối với
ông bà, cha mẹ, thầy cô, yêu trường lớp, đoàn kết, giúp đỡ bạn bè, vị tha, nhân
hậu.
- Xây dựng ý thức và năng lực thực hiện những phép giao tiếp tối thiểu.
- Từ những mẩu chuyện, bài văn, bài thơ hấp dẫn trong SGK, hình thành
lòng ham muốn đọc sách, khả năng cảm thụ văn bản, văn học, cảm thụ vẻ đẹp của
Tiếng Việt và tình yêu Tiếng Việt.
III. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH PHÂN MÔN ĐỌC TRONG SGK
TIẾNG VIỆT LỚP 2:
1. Cấu trúc chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học:
Cấu trúc chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học được xây dựng theo 3 quan
điểm sau:
- Quan điểm dạy giao tiếp: Chương trình Tiếng Việt tiểu học lấy nguyên tắc
dạy giao tiếp làm định hướng cơ bản. Trong đó ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp
thông thường và quan trọng nhất, thông qua 4 phần đọc, viết, nói và nghe trong
mỗi bài, Tiếng Việt 2 tạo ra những môi trường giao tiếp chọn lọc trang bị những
tri thức nền và phát triển kĩ năng sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp.
- Quan điểm tích hợp: Tích hợp theo chiều ngang và chiều dọc.
- Quan điểm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh: Theo quan điểm
này thầy cô đóng vai trò là người tổ chức hoạt động học tập của học sinh, mỗi học
sinh đều được hoạt động, được bộc lộ mình và được phát triển.
2. Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2:
* Ưu điểm của SGK Tiếng Việt bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống.
- Nội dung từng bài học liên kết với nhau, mạch kiến thức được dàn trải
đều cho các tiết học. Tạo cơ hội phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất cho
HS.
- Hình thức trình bày phong phú, kênh hình rõ nét.
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
2
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
- SGK Tiếng Việt 2 chú trọng khai thác vốn Tiếng Việt mà HS sử dụng
hàng ngày để phát huy hiệu quả dạy học ngôn ngữ trong nhà trường.
- Tiếng Việt 2 được chia thành 2 tập tương ứng với 2 học kì. Cấu trúc bài
học chặt chẽ, rõ ràng, mạch lạc giúp dễ dạy, dễ học. Lấy điểm nhìn từ người học
để xây dựng hệ thống chủ điểm (mở dần từ bản thân, nhà trường, đến gia đình,
thiên nhiên, đất nước, con người v.v...).
* Cấu trúc SGK Tiếng việt lớp 2:
- Tập 1: Gồm 4 bài lớn, tương ứng với chủ điểm.Mỗi bài dạy trong 4 tuần
(40 tiết). Tổng cộng 16 tuần; có 2 tuần dành cho ôn tập và kiểm tra, đánh giá
giữa học kì 1 và cuối học kì 1 (20 tiết). Các chủ điểm đó là:
+ Chủ điểm 1: Em lớn lên từng ngày.
+ Chủ điểm 2: Đi học vui sao.
+ Chủ điểm 3: Niềm vui tuổi thơ.
+ Chủ điểm 4: Mái ấm gia đình.
- Tập 2: Gồm 5 bài (lớn) tương ứng với 5 chủ điểm sau:
+ Chủ điểm 1: Vẻ đẹp quanh em.
+ Chủ điểm 2: Hành tinh xanh của em.
+ Chủ điểm 3: Giao tiếp và kết nối.
+ Chủ điểm 4: Con người Việt Nam
+ Chủ điểm 5: Việt Nam quê Bác.
Mỗi bài dạy từ 2-4 tuần (40 tiết). Tổng cộng 15 tuần; có 2 tuần dành cho ôn
tập và kiểm tra, đánh giá giữa học kì 2 và cuối học kì 2 (20 tiết).
- Ở cả hai tập sách, mỗi bài lớn đều có 8 văn bản (bài nhỏ), mỗi tuần có 2 văn
bản. Do mỗi tuần 10 tiết, nên số tiết cho bài học mỗi văn bản lần lượt là 4 và 6.
Tất cả các bài đều có “phần lõi” 4 tiết như nhau. Ở bài 6 tiết có 2 tiết cho Nghe –
viết chính tả, Viết đoạn văn ngắn và Đọc mở rộng. Trong tiết 5 và 6 của các bài 6
tiết, Tiếng Việt 2 thiết kế các nội dung dạy học khá mở để GV có điều kiện triển
khai các nội dung dạy học một cách linh hoạt. Gv có thể sử dụng tiết 6 để cho HS
được kể chuyện, đọc thơ, chia sẻ ý tưởng từ bài đọc mở rộng và cho HS chỉnh
sửa bài viết, tạo ra các sản phẩm theo cách sáng tạo riêng.
- Các bài học môn Tiếng Việt nói chung, phần Đọc nói riêng được sách giáo
khoa trình bày rõ ràng, chính xác, khoa học, các tranh minh họa màu sắc đẹp, bắt
mắt.
3. Nội dung chương trình phần Đọc trong SGK – Tiếng Việt 2:
a, Nội dung dạy học
- Phần Đọc của Tiếng Việt lớp 2 cũng được bố trí theo các chủ điểm nói
trên.
- Đối với bài 4 tiết có 2 tiết đọc văn bản; với bài 6 tiết có 2 tiết đọc văn bản
và 1 tiết đọc mở rộng.
- Theo yêu cầu của Chương trình 2018, Tiếng Việt 2 chú ý dành nhiều thời
gian cho hoạt động Đọc mở rộng. Qua hoạt động này, HS có cơ hội được tự chọn
ngữ liệu (truyện, thơ, văn bản thông tin,...) để đọc ở nhà hoặc ở lớp và nói, trình
bày với các bạn trong nhóm hoặc trước lớp. Nhờ đó, HS từng bước hình thành
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
3
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
thói quen và hứng thú đọc sách. Đây không phải nét đặc sắc riêng của bộ sách,
nhưng là một đổi mới đáng kể của SGK lần này.
b, Các hình thức luyện tập: (3 hình thức)
* Luyện đọc từng từ, từng câu, từng đoạn hay cả bài:
- Từng HS đọc.
- Cả nhóm hoặc cả lớp đồng thanh. (Đối với bài học thuộc lòng)
* Trả lời câu hỏi:
- Câu hỏi tái hiện nhằm tái hiện các chi tiết trong bài.
- Câu hỏi suy luận nhằm phân tích hoặc khái quát vấn đề trong bài.
* Đọc mở rộng: (1tiết/tuần đối với bài 6 tiết)
- HS tìm đọc một bài thơ hoặc câu chuyện viết về các chủ điểm trong các
tuần học. Nói với các bạn tên bài thơ, câu chuyện và tên tác giả.
- HS khá, giỏi đọc một số câu thơ hay mình sưu tầm được cho các bạn
nghe.
IV. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT:
Trong dạy học Tiếng Việt, GV có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy học
khác nhau để tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, hình thành kiến thức
và kĩ năng. Sau đây là một số phương pháp dạy học thường dùng:
1. Phương pháp phân tích ngôn ngữ:
Đây là phương pháp được sử dụng một cách có hệ thống trong việc xem
xét tất cả các mặt của ngôn ngữ: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, cấu tạo từ, chính tả,
phong cách với mục đích làm rõ cấu trúc các kiểu đơn vị ngôn ngữ, hình thức và
cách thức cấu tạo, ý nghĩa của chúng trong nói năng. Các dạng phân tích ngôn
ngữ: quan sát ngôn ngữ (là giai đoạn đầu trong quá trình phân tích ngôn ngữ
nhằm tìm ra điểm giống và khác nhau và sắp xếp chúng theo một trật tự nhất
định), phân tích ngữ âm, phân tích ngữ pháp, phân tích ngữ nghĩa, phân tích ngôn
ngữ các tác phẩm văn chương... Tất cả các dạng phân tích ngôn ngữ đều là bộ
phận cấu thành của nhiều bài tập khác nhau: bài tập đọc, bài viết, bài luyện tập,
bài trong tiết đọc mở rộng.
2. Phương pháp luyện theo mẫu:
Phương pháp luyện theo mẫu là phương pháp mà HS tạo ra các đơn vị
ngôn ngữ, lời nói bằng mô phỏng lời thầy giáo, bằng làm theo bài tập mẫu trong
tài liệu học... phương pháp này gồm nhiều dạng bài tập như đặt câu theo mẫu cho
trước, phát âm hoặc đọc diễn cảm theo thầy giáo. Phương pháp này thường được
sử dụng trong giờ đọc, viết, nói và nghe.
3. Phương pháp giao tiếp:
Phương pháp giao tiếp là phương pháp dạy tiếng dựa vào lời nói, vào
những thông báo sinh động, vào giao tiếp bằng ngôn ngữ. Phương pháp này gắn
liền với phương pháp luyện theo mẫu. Cơ sở của phương pháp giao tiếp là chức
năng giao tiếp của ngôn ngữ. Nếu ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp thì
lời nói được coi là bản thân sự giao tiếp bằng ngôn ngữ. Dạy Tiếng Việt theo
hướng giao tiếp tức là dạy phát triển lời nói cho từng cá nhân học sinh. Phương
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
4
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
pháp giao tiếp coi trọng sự phát triển lời nói còn những kiến thức lý thuyết thì
được nghiên cứu trên cơ sở phân tích các hiện tượng đưa ra trong bài khoá. Để
thực hiện phương pháp giao tiếp cần có môi trường giao tiếp, các phương tiện
ngôn ngữ và các thao tác giao tiếp.
4. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề:
Giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học trong đó GV tạo ra những tình
huống sư phạm có chứa vấn đề; tổ chức, hướng dẫn HS phát hiện vấn đề; thông
qua đó HS chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học
tập khác. Đặc trưng của phương pháp dạy học này là “HS được đặt vào tình
huống có vấn đề”. Tình huống có vấn đề là tình huống khó khăn mà HS thấy cần
và có khả năng vượt qua, nhưng không thể vượt qua ngay lập tức mà phải trải qua
quá trình tích cực suy nghĩ bằng sự nỗ lực về trí tuệ.
Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề có nhiều ưu điểm. Giải quyết vấn
đề không chỉ giúp phát triển tư duy và nâng cao tính tự lực, tích cực của HS; tạo
hứng thú học tập cho HS mà còn giúp HS được lĩnh hội tri thức, kĩ năng và cả
phương pháp nhận thức thông qua việc giải quyết vấn đề. Hoạt động học tập này
dần hình thành và phát triển ở HS năng lực giải quyết vấn đề, một năng lực hết
sức cần thiết để con người thích ứng với sự phát triển của xã hội.
Việc tách ra từng phương pháp là để giải thích rõ nội dung của chúng.
Trong thực tế dạy học, các phương pháp được sử dụng phối hợp chặt chẽ, không
có phương pháp vạn năng. Điều quan trọng là phải nắm vững các điều kiện cụ thể
của dạy học để lựa chọn phương pháp cho phù hợp. Các yếu tố liên quan trực tiếp
tới lựa chọn phương pháp là nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học, khả năng của
HS, trình độ GV, điều kiện vật chất.
Ngoài ra, dạy Tiếng Việt còn phải sử dụng một số phương pháp dạy học
khác như: trò chơi, trực quan, vấn đáp...
V. VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT TRONG
DẠY HỌC PHẦN ĐỌC.
Năng lực đọc được cụ thể hoá thành các kĩ năng đọc chỉ được hình thành
khi HS thực hiện hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm. Khi nào HS đọc
thành thạo hai hình thức này mới được xem là biết đọc. Vì vậy, tổ chức dạy phần
đọc cho HS chính là quá trình làm việc của thầy và trò để thực hiện hai hình thức
đọc này. Đọc thành tiếng là hình thức không thể thiếu được của dạy đọc.
Chất lượng của đọc thành tiếng bao gồm bốn phẩm chất đọc: đọc đúng, đọc
nhanh (lưu loát), đọc có ý thức (thông hiểu nội dung văn bản) và tập đọc diễn
cảm (Chỉ yêu cầu học sinh có giọng đọc phù hợp với nội dung của bài). Chất
lượng của đọc thầm cũng tập trung vào ba phẩm chất đầu.
Dạy đọc nhằm giúp HS hình thành và phát triển kĩ năng đọc thành tiếng và
đọc hiểu. Khác với lớp 1, ở lớp 2, yêu cầu phát triển kĩ năng đọc thành tiếng và
đọc hiểu đều quan trọng như nhau. HS được đọc các văn bản có độ dài và độ khó
cao hơn so với lớp 1 và phù hợp với yêu cầu của chương trình.
Tiếp nối lớp 1, đối với đọc thành tiếng, phương pháp dạy học chủ yếu là
GV đọc mẫu và HS thực hành theo mẫu. Đọc phân vai dựa theo một truyện kể
cũng cần được chú ý khai thác nhiều hơn. Đối với đọc hiểu, phương pháp dạy học
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
5
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
chủ yếu vẫn là GV huy động trải nghiệm, hiểu biết của HS có liên quan đến nội
dung của văn bản đọc, cho HS so sánh, liên hệ mở rộng; đặt câu hỏi và tổ chức
đàm thoại giữa GV và HS, cho HS thảo luận nhóm. Trước khi đọc văn bản, GV
có thể cho HS dựa vào nhan đề và tranh minh họa để suy đoán nội dung văn bản.
Ở lớp 1, hoạt động này chỉ nên áp dụng với một số văn bản và những đối tượng
phù hợp, nhưng lên lớp 2, GV nên áp dụng với nhiều đối tượng HS hơn. Phương
châm là dạy đọc hiểu phải kích hoạt được việc đọc tích cực, sáng tạo ở chủ thể
đọc.
1. Tổ chức dạy đọc văn bản thành tiếng:
Để chuẩn bị cho việc đọc GV hướng dẫn HS chuẩn bị tâm thế đọc. Khi
ngồi đọc cần ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách khoảng 30-35cm, cổ
và đầu thẳng, phải thở sâu và thở ra chậm để lấy hơi. Tư thế đọc phải đàng hoàng,
thoải mái, sách phải được mở rộng và cầm bằng hai tay. GV phải nói rõ cho HS
khi đọc thành tiếng, tức là không phải chỉ đọc cho mình nghe mà phải đọc đủ to
để cho tất cả mọi người trong lớp nghe rõ. Như vậy cũng không có nghĩa là đọc
quá to hoặc gào lên.
Đọc đúng: Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách
chính xác, không có lỗi. Đọc đúng là không đọc thừa, không sót tiếng, từ. Đọc
đúng phải thể hiện đúng hệ thống ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói
cách khác là không đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn. Đọc đúng bao
gồm việc đọc đúng các âm, thanh (đúng các âm vị), nghỉ ngắt hơi đúng chỗ (đọc
đúng ngữ điệu). Rèn cho HS thể hiện chính xác các âm vị tiếng Việt: Đọc đúng
các phụ âm đầu, các âm chính, các âm cuối, các thanh. Đọc đúng còn bao gồm
đúng tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điệu câu.
Đọc nhanh: Mức độ thấp nhất của đọc nhanh là đọc trơn (nhiệm vụ này
phần đọc của học vần phải đảm nhiệm) đọc nhanh là đọc không ê a ngắc ngứ,
không vừa đọc vừa đánh vần. Tốc độ đọc nhanh là phải để người nghe kịp hiểu
được. Đọc nhanh không phải là đọc liến thoắng, tốc độ đọc nhanh phù hợp khi
đọc thành tiếng là trùng với tốc độ của lời nói. Khi đọc thầm thì tốc độ đọc sẽ
nhanh hơn nhiều.
2. Các phương pháp dạy phần Đọc:
- Phương pháp phân tích mẫu: Dưới sự hướng dẫn của GV, HS phân tích
các vật liệu mẫu (văn bản) để hình thành các kiến thức văn học, các kỹ năng sử
dụng ngôn ngữ. Từ những hiện tượng chứa đựng trong các văn bản, GV giúp HS
phân tích theo các nhiệm vụ đã nêu trong SGK để HS hiểu bài. Để HS phân tích
mẫu được dễ dàng, GV có thể tách các câu hỏi, các công việc nêu trong SGK ra
thành những câu hỏi, nhiệm vụ nhỏ hơn. Về hình thức tổ chức, tuỳ từng bài, từng
nhiệm vụ cụ thể, GV có thể cho HS làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, sau đó
trình bày kết quả phân tích trước lớp.
- Phương pháp trực quan: GV hướng dẫn HS quan sát các tranh minh
hoạ trong các bài Tập đọc giúp HS hiểu thêm một số chi tiết, tình huống và nhân
vật trong bài.
- Phương pháp thực hành giao tiếp: GV tổ chức các hoạt động trong giờ
học sao cho mỗi HS trong lớp đều được đọc (đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc đồng
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
6
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
thanh, đọc cá nhân, đọc theo nhóm...) được trao đổi nhận thức riêng của mình với
GV, bạn bè.
- Ngoài ra, giáo viên có thể sử dụng thêm một số phương pháp học tập
khác như thảo luận nhóm (khi tổ chức cho học sinh tìm hiểu trả lời các câu hỏi
khó, khi rút ra nội dung chính của bài…) hoặc phương pháp trò chơi nhằm tạo
hứng thú trong học tập cho học sinh.
Mỗi phương pháp và hình thức dạy – học phân môn Tập đọc đều có mặt
mạnh và mặt hạn chế riêng, phù hợp với từng loại bài riêng, từng khâu riêng của
tiết học. Vì vậy không quá lạm dụng hoặc phủ định hoàn toàn một phương pháp
và hình thức dạy học nào. Điều quan trọng là căn cứ vào nội dung, tính chất từng
bài; căn cứ vào trình độ học sinh và năng lực, sở trường của giáo viên; căn cứ vào
điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng học sinh mà lựa chọn, sử dụng kết
hợp các phương pháp và hình thức dạy học một cách hợp lý và đúng mức.
VI. CÁC NỘI DUNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ CỦA PHẦN
ĐỌC – TIẾNG VIỆT LỚP 2
Trong giờ Đọc, để tích cực hoá hoạt động của người học, làm cho mỗi HS đều
được bộc lộ mình và được phát triển, cần tổ chức hoạt động của HS thông qua các
biện pháp và hình thức luyện tập chủ yếu sau:
1. Đọc văn bản:
* Luyện đọc:
- GV đọc toàn bài: nhằm giới thiệu, gây xúc cảm, tạo hứng thú và tâm thế
học đọc cho HS. GV căn cứ vào trình độ của HS lớp mình, có thể đọc 1 hoặc 2
lần tuỳ mục đích đề ra.
- Đọc câu, đoạn: nhằm minh họa, hướng dẫn, gợi ý hoặc “tạo tình huống”
để HS nhận xét giải thích tự tìm ra cách đọc... (có thể đọc một vài lần trong quá
trình dạy đọc).
- Đọc từ, cụm từ: nhằm sửa lỗi phát âm và rèn cách đọc đúng cho HS
* Hướng dẫn tìm hiểu nghĩa của từ ngữ trong bài:
- Những từ ngữ cần tìm hiểu nghĩa: Từ ngữ khó đối với HS được chú giải ở
sau bài đọc, từ ngữ phổ thông mà HS địa phương chưa quen, từ ngữ đóng vai trò
chìa khoá để hiểu nội dung bài đọc. Với các từ ngữ còn lại, nếu có HS nào chưa
hiểu, GV giải thích riêng cho HS đó hoặc tạo điều kiện để HS khác giải thích
giúp, không nhất thiết phải đưa ra giảng chung cho cả lớp.
- Một số cách hướng dẫn HS tìm hiểu nghĩa:
+ Đọc phần từ ngữ trong sách giáo khoa.
+ Sử dụng đồ dùng dạy học (hiện vật, tranh vẽ, mô hình...)
+ Tìm từ đồng nghĩa hoặc từ trái nghĩa với từ cần giải nghĩa.
+ Miêu tả sự vật, đặc điểm được biểu thị ở từ cần giải nghĩa (có thể phối hợp
với động tác, cử chỉ).
+ Đặt câu với từ cần giải nghĩa.
(*Chú ý: Dù giải nghĩa từ theo cách nào cũng chỉ nên giới hạn trong phạm
vi nghĩa cụ thể ở bài đọc, không mở rộng ra những nghĩa khác, nhất là những từ
và nghĩa xa lạ với HS lớp 2, không nên bày ra những biện pháp giải nghĩa cồng
kềnh gây quá tải, làm mất thời gian luyện đọc của HS.)
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
7
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
2. Trả lời câu hỏi:
* Phạm vi nội dung cần tìm hiểu:
- Với văn bản văn chương:
+ Nhân vật (số lượng, tên, đặc điểm), tình tiết của câu chuyện; nghĩa đen,
nghĩa bóng dễ nhận ra của các câu văn, câu thơ.
+ Ý nghĩa của câu chuyện, của bài văn, bài thơ.
- Với các văn bản khác (khoa học, hành chính, báo chí...): Tìm hiểu các
đoạn của văn bản, hình thức và bố cục, nội dung và ý nghĩa văn bản, tác dụng...
* Cách tìm hiểu nội dung bài đọc:
- Phương hướng và trình tự tìm hiểu nội dung bài đọc thể hiện ở những
câu hỏi đặt sau mỗi bài. Đối với HS lớp 2, trước hết SGK nêu các câu hỏi giúp
học sinh tái hiện nội dung bài đọc (câu hỏi tái hiện), sau đó mới đặt ra những câu
hỏi giúp các em nắm được những vấn đề thuộc tầng sâu hơn như ý nghĩa của bài,
tính cách nhân vật, thái độ của tác giả (câu hỏi suy luận).
- Dựa vào hệ thống câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa, GV có thể tổ
chức cho HS trả lời câu hỏi, trao đổi, thảo luận, báo cáo kết quả... sao cho mỗi HS
đều được làm việc để tự mình nắm được bài.
- Tuy nhiên, do yêu cầu hạn chế số chữ ở mỗi câu hỏi cho phù hợp với khả
năng đọc của HS lớp 2, SGK chỉ có thể nêu những vấn đề chính cần thảo luận. Để
giúp HS hiểu bài, GV cần có thêm câu hỏi phụ, những yêu cầu, những lời giảng
bổ sung để giúp học sinh hiểu rõ hơn về bài học.
- Sau khi HS nêu ý kiến, GV tổng kết, nhấn mạnh ý chính và ghi bảng (nếu
cần).
- Trong quá trình tìm hiểu bài, GV cần chú ý rèn cho HS cách trả lời câu
hỏi, cách diễn đạt ý bằng câu văn ngắn gọn, rõ ràng.
* Luyện đọc thuộc lòng:
Với những bài dạy có yêu cầu học thuộc lòng (HTL), GV cần cho HS
luyện đọc kỹ hơn. Có thể ghi bảng một số “từ chốt” làm “điểm tựa” cho HS dễ
nhớ và đọc thuộc, sau đó xoá dần “từ chốt” để HS tự nhớ và đọc thuộc toàn bộ;
hoặc tổ chức cuộc thi hay trò chơi luyện HTL nhẹ nhàng, hứng thú cho HS...
3. Luyện đọc lại:
- Các hình thức: Từng HS đọc, từng cặp HS đọc, một nhóm HS đọc theo
cách phân vai.
- GV cần lắng nghe HS đọc để phát hiện khả năng đọc của mỗi HS, từ đó
có cách rèn luyện thích hợp với từng HS; khuyến khích HS trong lớp trao đổi,
nhận xét về chỗ “được” hay “chưa được” của bạn, nhằm giúp HS biết rút kinh
nghiệm để đọc tốt hơn...
4. Luyện tập theo văn bản đọc:
- GV cho HS trả lời các câu hỏi luyện tập dựa vào bài tập đọc tương ứng
từ đó giúp các em HS biết cách vận dụng kiến thức của bài để giải quyết các bài
tập có liên quan đến bài đọc.
VII. QUY TRÌNH GIẢNG DẠY PHẦN ĐỌC TIẾNG VIỆT LỚP 2 :
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
8
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
Mẫu kế hoạch bài dạy (Giáo án)
Mỗi bài soạn cần ngắn gọn nhưng thể hiện rõ các phần cơ bản như sau:
I/ YÊU CẦU CẦN ĐẠT:
1. Kiến thức
2. Kĩ năng
3. Thái độ
* Góp phần hình thành và phát triển:
- Năng lực:
- Phẩm chất:
II/ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC:
- Giáo viên:
- Học sinh:
III/ CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU:
1. Hoạt động mở đầu:
- Ổn định tổ chức:
- Cho HS khởi động:
- Kiểm tra bài cũ:
+ Đối với bài tập đọc hoặc tập đọc kể chuyện: Kiểm tra HS đọc từng đoạn,
hoặc kể nối tiếp mỗi em một đoạn và TLCH hoặc hỏi thêm về nội dung đoạn, bài
để củng cố tiết học trước.
+ Đối với bài HTL: Kiểm tra HS đọc thuộc lòng đoạn hoặc cả bài và TLCH
hoặc hỏi thêm về nội dung của đoạn, bài để củng cố tiết học trước.
- Giới thiệu bài: (Bằng lời hoặc bằng tranh):
+ Cần ngắn gọn, gây hứng thú cho học sinh khi tiếp xúc với văn bản sẽ
học. Riêng bài tập đọc thuộc chủ điểm mới, giáo viên giới thiệu thêm cho học
sinh biết vài nét chính về nội dung chủ điểm sắp học.
+ Giáo viên chọn các biện pháp và hình thức dẫn dắt học sinh vào bài mới
sao cho nhẹ nhàng, hấp dẫn nhưng không cầu kỳ, kéo dài thời gian.
2. Khám phá:
a. Đọc văn bản:
- GV đọc diễn cảm toàn bài.
- Hướng dẫn học sinh luyện đọc, kết hợp giải nghĩa từ
- Đọc từng câu: HS nối tiếp nhau đọc từng câu (một hoặc 2 lượt). GV sửa
lỗi phát âm (nếu có) cho HS.
- Đọc từng đoạn trước lớp: Một vài HS đọc nối tiếp từng đoạn trong bài
(một, hai lượt). GV giúp HS đọc đúng.
- GV giúp HS nắm nghĩa các từ mới
+ Luyện đọc câu dài
+ HS đọc từng đoạn trong nhóm.
Từng cặp HS đọc và góp ý cho nhau về cách đọc.
GV theo dõi, hướng dẫn các nhóm đọc đúng.
- 1 em đọc cả bài hoặc đại diện các nhóm đọc nối tiếp từng đoạn trong
bài.
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
9
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
b. Trả lời câu hỏi:
- GV hướng dẫn học sinh đọc thầm và tìm hiểu bài dựa theo câu hỏi, bài
tập trong SGK (có thể dẫn dắt, gợi mở, điều chỉnh cho sát với đối tượng HS cụ
thể).
c. Luyện đọc lại/ học thuộc lòng (Nếu SGK yêu cầu)
* Luyện đọc lại được thực hiện ngay sau khi HS đã nắm được nội dung bài
đọc. Hình thức tổ chức luyện đọc lại là thi đọc (giữa cá nhân). Yêu cầu chính của
khâu này là luyện cho HS đọc trôi chảy, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, đúng mức.
Riêng một số lớp, học sinh có trình độ khá, GV có thể giúp HS bước đầu có ý
thức đọc diễn cảm với yêu cầu cụ thể như sau:
- Thể hiện được giọng điệu của từng nhân vật.
- Thể hiện được tình cảm của người viết.
* Khâu luyện đọc lại được thực hiện theo các bước sau:
- GV đọc diễn cảm từng đoạn hoặc cả bài.
- Gv lưu ý HS về từng giọng điệu của từng nhân vật hoặc của toàn bộ
đoạn văn, bài văn, những câu cần chú ý. Đối với HS lớp 2, đọc diễn cảm chưa
phải là yêu cầu bắt buộc. Do đó, tùy thuộc trình độ HS lớp cụ thể, GV có thể xác
định mức độ cho phù hợp.
- Từng HS hoặc nhóm HS thi đọc. GV uốn nắn cho từng HS
- GV hướng dẫn HS học thuộc lòng.
- Hướng dẫn HTL (nếu SGK yêu cầu).
* Khâu luyện đọc HTL được thực hiện theo các bước sau:
- Luyện đọc xóa dần bảng. Xóa từng cụm từ đến khi chỉ còn những từ đầu
câu làm điểm tựa. Luyện đọc theo bàn, tổ, dãy bàn.
- Hs thi đọc thuộc lòng khổ thơ, cả bài thơ
- GV nhận xét, biểu dương những học sinh học thuộc tại lớp.
d. Luyện tập theo văn bản đọc:
- GV cho HS trả lời các câu hỏi luyện tập dựa vào bài tập đọc tương ứng
từ đó giúp các em HS biết cách vận dụng kiến thức của bài để giải quyết các bài
tập có liên quan đến bài đọc.
3. Vận dụng - trải nghiệm:
- Học sinh có thể nêu nội dung (hoặc ý nghĩa của bài), liên hệ thực tế, giáo
dục qua bài học.
- Lưu ý về về cách đọc và cách học bài ở nhà.
- HS có hành động, việc làm tích cực, cụ thể trong cuộc sống hằng ngày
được vận dụng từ kiến thức của bài học.
* Ghi bảng:
Ghi bảng phải ngắn gọn, súc tích, đảm bảo tính khoa học, tính sư phạm, tính thẫm
mĩ.
Trình bày bảng có thể như sau:
*Mô hình ghi bảng tiết đọc:
Tiếng Việt
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
10
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
Tên bài: …………………………
Đọc văn bản
-Từ, cụm từ cần luyện đọc
- Câu, đoạn cần luyện đọc
Trả lời câu hỏi
-Từ ngữ, hình ảnh…
-Ý chính của bài cần ghi nhớ.
* Một số lưu ý:
- Bài Đọc dạy trong 2 tiết, có thể được phân bổ thời gian hợp lí theo cách
như sau:
1 tiết dành cho dạy đọc văn bản và trả lời câu hỏi
1 tiết dành cho dạy luyện đọc lại và luyện tập theo văn bản đọc.
- Các bài tập đọc có thể được dạy theo cách “bổ dọc” hay “bổ ngang”. GV
có thể tùy chọn cách dạy thích hợp.
* Vận dụng : Khi dạy bài đọc- Bài 27:“MẸ” Tuần 15 có thể tiến hành như
sau:
TẬP ĐỌC (TIẾT 1+2)
BÀI 27: MẸ
I. MỤC TIÊU:
*Kiến thức, kĩ năng:
- Đọc đúng các từ khó, biết cách đọc bài thơ Mẹ của Trần Quốc Minh (ngắt nghỉ,
nhấn giọng phù hợp).
- Hiểu nội dung bài đọc: Nhận biết được tình cảm yêu thương, sự quan tâm, săn
sóc của mẹ dành cho con.
*Phát triển năng lực và phẩm chất:
- Phát triển vốn từ chỉ tình cảm của người thân trong gia đình, từ chỉ tính cách.
- Có tình cảm yêu thương, biết ơn đối với bố mẹ và người thân trong gia đình;
phát triển năng lực quan sát (thấy được những công việc bố mẹ thường làm cho
mình khi ở nhà) có tinh thần hợp tác trong làm việc nhóm.
II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC:
- GV: Máy tính, tivi để chiếu hình ảnh của bài học.
- HS: Vở BTTV.
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
11
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
HOẠT ĐỘNG CỦA GV
HOẠT ĐỘNG CỦA HS
1. Kiểm tra:
- HS thực hiện.
- HS đọc một đoạn trích trong bài Em mang về
yêu thương và nêu nội dung của đoạn vừa đọc
đọc hoặc nêu một vài chi tiết thú vị trong bài
đọc.
- GV nhận xét, tuyên dương HS.
- HS lắng nghe.
2. Dạy bài mới:
2.1. Khởi động:
- Giáo viên cho học sinh hát múa bài Bàn tay
mẹ.
- Một số HS trả lời câu hỏi.
- Giáo viên hỏi: Bàn tay mẹ đã làm những gì?
Các HS khác bổ sung.
- GV giới thiệu bài đọc: trong bài hát chúng ta
thấy bàn tay mẹ đã làm rất nhiều việc để chăm
sóc các con.Hôm nay chúng ta sẽ được học một
- HS lắng nghe.
bài thơ cũng nói về sự chăm sóc ân cần của mẹ.
2.2. Khám phá:
* Hoạt động 1: Đọc văn bản.
- GV hướng dẫn cả lớp:
+ Học sinh quan sát tranh minh họa bài đọc và
nêu nội dung tranh.
+ GV giới thiệu bài thơ Mẹ.Về rồi Về rồi
- HS lắng nghe.
+ GV đọc mẫu toàn bài. Chú ý đọc với giọng nhẹ
nhàng, tình cảm. Lưu ý nhấn giọng đúng những - HS đọc thầm bài trong khi
nghe GV đọc mẫu.
từ ngữ được xem là tín hiệu nghệ thuật.
+ GV giải nghĩa từ khó. (ạ ời, kẽo cà, gió mùa
thu,...)
- HS giải nghĩa từ khó.
- Giáo viên hướng dẫn cách đọc chung của bài
thơ (giọng khỏe khoắn vui tươi thể hiện đúng
tình cảm yêu thương, trân trọng của bạn nhỏ khi
kể về mẹ)
- HS thực hiện theo cặp.
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
12
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
- Luyện đọc theo cặp:
Gv yêu cầu từng cặp học sinh trong nhóm đọc
nối tiếp từng khổ thơ và góp ý cho nhau.
Gv giúp đỡ học sinh trong các nhóm gặp khó
khăn khi đọc bài, tuyên dương học sinh đọc tiến
bộ.
- HS đọc bài.
- Đọc cá nhân:
+ Từng em tự luyện đọc toàn bộ bài đọc.
+ GV giúp đỡ HS gặp khó khăn khi đọc bài,
tuyên dương HS đọc tiến bộ.
- HS làm việc nhóm (có thể
đọc to từng câu hỏi), cùng
* Hoạt động 2: Trả lời câu hỏi.
nhau trao đối và tìm câu trả
- GV hướng dẫn HS làm việc nhóm để tìm hiểu lời.
bài và trả lời các câu hỏi.
- GV đọc từng câu hỏi và gọi đại diện một số -HS lần lượt chia sẻ ý kiến:
nhóm trình bày câu trả lời của mình. Các nhóm
khác nhận xét, đánh giá.
+ Câu 1: Trong đêm hè oi
- GV và HS thống nhất câu trả lời:
bức, mẹ đã ngồi đưa võng,
hát ru và quạt cho con để con
+ Câu 1: Trong đêm hè ai bức mẹ đã làm gì để
ngủ ngon.
con ngủ ngon con con con con?
+ Câu 2: Hai dòng thơ:
“Những ngôi sao...thức vì
+ Câu 2: Những dòng thơ nào cho thấy mẹ đã chúng con.
thức rất nhiều vì con?
+ Câu 3: Mẹ là niềm hạnh
...
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
CHUYÊN ĐỀ PHẦN ĐỌC LỚP 2
DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
I.MỤC TIÊU CỦA CHUYÊN ĐỀ:
Giúp giáo viên:
- Nắm vững quy trình, phương pháp và hình thức dạy học phần đọc môn Tiếng
Việt lớp 2.
- Biết phối hợp vận dụng các kỹ thuật dạy học mới vào trong các tiết học phần
Đọc giúp cho học sinh phát huy tính tích cực trong học tập tốt hơn.
- Nắm được yêu cầu của môn Tiếng Việt lớp 2 là hình thành và phát triển cho
học sinh kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp
trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học Tiếng
Việt nói chung, phần Đọc nói riêng, góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy
cho HS.
- Nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ bản thân, từ đó GV có phương pháp dạy học
phù hợp nâng cao chất lượng giảng dạy trong quá trình công tác.
II. VỊ TRÍ VÀ MỤC TIÊU CỦA PHẦN ĐỌC Ở LỚP 2:
1.Vị trí:
- Hoạt động chính của phần đọc Tiếng Việt lớp 2 là thực hành. Vì vậy, nhiệm
vụ quan trọng nhất của phần này là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng
lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc”
đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (hiểu được nội dung
những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kỹ năng này
được hình thành trong hai hình thức đọc: Đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng
được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện một trong những kỹ
năng này sẽ có tác động tích cực đến những kỹ năng khác.
- Đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh và thông qua đọc đúng các em HS hiểu
được nội dung văn bản. Ngược lại, nếu không hiểu điều đang đọc thì không thể
đọc nhanh và diễn cảm được. Nhiều khi, khó mà nói được rạch ròi kỹ năng nào
làm cơ sở cho kỹ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng, hay chính nhờ hiểu đúng
mới đọc đúng. Vì vậy, trong dạy đọc không thể xem nhẹ yếu tố nào.
2. Mục tiêu:
2.1. Đọc thành tiếng:
- Phát âm đúng.
- Ngắt nghỉ hơi hợp lí.
- Cường độ đọc vừa phải. (Không đọc quá to hay quá nhỏ)
- Tốc độ đọc vừa phải (không ê a, ngắc ngứ hay liến thoắng), yêu cầu tối
thiểu 50 tiếng/1 phút.
- Đọc diễn cảm: Thể hiện được giọng điệu của từng nhân vật và tình cảm
của người viết.
2.2. Đọc thầm và hiểu nội dung:
- Biết đọc thầm và không mấp máy môi.
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
1
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
- Hiểu được nghĩa của các từ ngữ trong bài đọc.
- Có khả năng trả lời đúng các câu hỏi liên quan đến nội dung từng đoạn
hay toàn bài.
2.3. Nghe:
- Nghe và nắm được cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn, bài.
- Nghe - hiểu các câu hỏi và yêu cầu của GV.
- Nghe - hiểu và có khả năng nhận xét ý kiến của bạn.
2.4. Trau dồi vốn tiếng việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự
hiểu biết của HS về cuộc sống.
- Làm giàu và tích cực hóa vốn từ, vốn diễn đạt.
- Bồi dưỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng hiểu biết về cuộc sống, hình
thành một số kĩ năng phục vụ cho đời sống và việc học tập của bản thân (như khai
lí lịch cơ bản, đọc thời khóa biểu, tra và lập mục lục sách, nhận và gọi điện
thoại,...)
2.5. Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng;
tình yêu cái đẹp, cái thiện và thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống;
hứng thú đọc sách và yêu Tiếng Việt, cụ thể:
- Bồi dưỡng tình cảm yêu quý, kính trọng, biết ơn và trách nhiệm đối với
ông bà, cha mẹ, thầy cô, yêu trường lớp, đoàn kết, giúp đỡ bạn bè, vị tha, nhân
hậu.
- Xây dựng ý thức và năng lực thực hiện những phép giao tiếp tối thiểu.
- Từ những mẩu chuyện, bài văn, bài thơ hấp dẫn trong SGK, hình thành
lòng ham muốn đọc sách, khả năng cảm thụ văn bản, văn học, cảm thụ vẻ đẹp của
Tiếng Việt và tình yêu Tiếng Việt.
III. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH PHÂN MÔN ĐỌC TRONG SGK
TIẾNG VIỆT LỚP 2:
1. Cấu trúc chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học:
Cấu trúc chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học được xây dựng theo 3 quan
điểm sau:
- Quan điểm dạy giao tiếp: Chương trình Tiếng Việt tiểu học lấy nguyên tắc
dạy giao tiếp làm định hướng cơ bản. Trong đó ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp
thông thường và quan trọng nhất, thông qua 4 phần đọc, viết, nói và nghe trong
mỗi bài, Tiếng Việt 2 tạo ra những môi trường giao tiếp chọn lọc trang bị những
tri thức nền và phát triển kĩ năng sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp.
- Quan điểm tích hợp: Tích hợp theo chiều ngang và chiều dọc.
- Quan điểm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh: Theo quan điểm
này thầy cô đóng vai trò là người tổ chức hoạt động học tập của học sinh, mỗi học
sinh đều được hoạt động, được bộc lộ mình và được phát triển.
2. Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2:
* Ưu điểm của SGK Tiếng Việt bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống.
- Nội dung từng bài học liên kết với nhau, mạch kiến thức được dàn trải
đều cho các tiết học. Tạo cơ hội phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất cho
HS.
- Hình thức trình bày phong phú, kênh hình rõ nét.
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
2
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
- SGK Tiếng Việt 2 chú trọng khai thác vốn Tiếng Việt mà HS sử dụng
hàng ngày để phát huy hiệu quả dạy học ngôn ngữ trong nhà trường.
- Tiếng Việt 2 được chia thành 2 tập tương ứng với 2 học kì. Cấu trúc bài
học chặt chẽ, rõ ràng, mạch lạc giúp dễ dạy, dễ học. Lấy điểm nhìn từ người học
để xây dựng hệ thống chủ điểm (mở dần từ bản thân, nhà trường, đến gia đình,
thiên nhiên, đất nước, con người v.v...).
* Cấu trúc SGK Tiếng việt lớp 2:
- Tập 1: Gồm 4 bài lớn, tương ứng với chủ điểm.Mỗi bài dạy trong 4 tuần
(40 tiết). Tổng cộng 16 tuần; có 2 tuần dành cho ôn tập và kiểm tra, đánh giá
giữa học kì 1 và cuối học kì 1 (20 tiết). Các chủ điểm đó là:
+ Chủ điểm 1: Em lớn lên từng ngày.
+ Chủ điểm 2: Đi học vui sao.
+ Chủ điểm 3: Niềm vui tuổi thơ.
+ Chủ điểm 4: Mái ấm gia đình.
- Tập 2: Gồm 5 bài (lớn) tương ứng với 5 chủ điểm sau:
+ Chủ điểm 1: Vẻ đẹp quanh em.
+ Chủ điểm 2: Hành tinh xanh của em.
+ Chủ điểm 3: Giao tiếp và kết nối.
+ Chủ điểm 4: Con người Việt Nam
+ Chủ điểm 5: Việt Nam quê Bác.
Mỗi bài dạy từ 2-4 tuần (40 tiết). Tổng cộng 15 tuần; có 2 tuần dành cho ôn
tập và kiểm tra, đánh giá giữa học kì 2 và cuối học kì 2 (20 tiết).
- Ở cả hai tập sách, mỗi bài lớn đều có 8 văn bản (bài nhỏ), mỗi tuần có 2 văn
bản. Do mỗi tuần 10 tiết, nên số tiết cho bài học mỗi văn bản lần lượt là 4 và 6.
Tất cả các bài đều có “phần lõi” 4 tiết như nhau. Ở bài 6 tiết có 2 tiết cho Nghe –
viết chính tả, Viết đoạn văn ngắn và Đọc mở rộng. Trong tiết 5 và 6 của các bài 6
tiết, Tiếng Việt 2 thiết kế các nội dung dạy học khá mở để GV có điều kiện triển
khai các nội dung dạy học một cách linh hoạt. Gv có thể sử dụng tiết 6 để cho HS
được kể chuyện, đọc thơ, chia sẻ ý tưởng từ bài đọc mở rộng và cho HS chỉnh
sửa bài viết, tạo ra các sản phẩm theo cách sáng tạo riêng.
- Các bài học môn Tiếng Việt nói chung, phần Đọc nói riêng được sách giáo
khoa trình bày rõ ràng, chính xác, khoa học, các tranh minh họa màu sắc đẹp, bắt
mắt.
3. Nội dung chương trình phần Đọc trong SGK – Tiếng Việt 2:
a, Nội dung dạy học
- Phần Đọc của Tiếng Việt lớp 2 cũng được bố trí theo các chủ điểm nói
trên.
- Đối với bài 4 tiết có 2 tiết đọc văn bản; với bài 6 tiết có 2 tiết đọc văn bản
và 1 tiết đọc mở rộng.
- Theo yêu cầu của Chương trình 2018, Tiếng Việt 2 chú ý dành nhiều thời
gian cho hoạt động Đọc mở rộng. Qua hoạt động này, HS có cơ hội được tự chọn
ngữ liệu (truyện, thơ, văn bản thông tin,...) để đọc ở nhà hoặc ở lớp và nói, trình
bày với các bạn trong nhóm hoặc trước lớp. Nhờ đó, HS từng bước hình thành
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
3
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
thói quen và hứng thú đọc sách. Đây không phải nét đặc sắc riêng của bộ sách,
nhưng là một đổi mới đáng kể của SGK lần này.
b, Các hình thức luyện tập: (3 hình thức)
* Luyện đọc từng từ, từng câu, từng đoạn hay cả bài:
- Từng HS đọc.
- Cả nhóm hoặc cả lớp đồng thanh. (Đối với bài học thuộc lòng)
* Trả lời câu hỏi:
- Câu hỏi tái hiện nhằm tái hiện các chi tiết trong bài.
- Câu hỏi suy luận nhằm phân tích hoặc khái quát vấn đề trong bài.
* Đọc mở rộng: (1tiết/tuần đối với bài 6 tiết)
- HS tìm đọc một bài thơ hoặc câu chuyện viết về các chủ điểm trong các
tuần học. Nói với các bạn tên bài thơ, câu chuyện và tên tác giả.
- HS khá, giỏi đọc một số câu thơ hay mình sưu tầm được cho các bạn
nghe.
IV. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT:
Trong dạy học Tiếng Việt, GV có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy học
khác nhau để tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, hình thành kiến thức
và kĩ năng. Sau đây là một số phương pháp dạy học thường dùng:
1. Phương pháp phân tích ngôn ngữ:
Đây là phương pháp được sử dụng một cách có hệ thống trong việc xem
xét tất cả các mặt của ngôn ngữ: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, cấu tạo từ, chính tả,
phong cách với mục đích làm rõ cấu trúc các kiểu đơn vị ngôn ngữ, hình thức và
cách thức cấu tạo, ý nghĩa của chúng trong nói năng. Các dạng phân tích ngôn
ngữ: quan sát ngôn ngữ (là giai đoạn đầu trong quá trình phân tích ngôn ngữ
nhằm tìm ra điểm giống và khác nhau và sắp xếp chúng theo một trật tự nhất
định), phân tích ngữ âm, phân tích ngữ pháp, phân tích ngữ nghĩa, phân tích ngôn
ngữ các tác phẩm văn chương... Tất cả các dạng phân tích ngôn ngữ đều là bộ
phận cấu thành của nhiều bài tập khác nhau: bài tập đọc, bài viết, bài luyện tập,
bài trong tiết đọc mở rộng.
2. Phương pháp luyện theo mẫu:
Phương pháp luyện theo mẫu là phương pháp mà HS tạo ra các đơn vị
ngôn ngữ, lời nói bằng mô phỏng lời thầy giáo, bằng làm theo bài tập mẫu trong
tài liệu học... phương pháp này gồm nhiều dạng bài tập như đặt câu theo mẫu cho
trước, phát âm hoặc đọc diễn cảm theo thầy giáo. Phương pháp này thường được
sử dụng trong giờ đọc, viết, nói và nghe.
3. Phương pháp giao tiếp:
Phương pháp giao tiếp là phương pháp dạy tiếng dựa vào lời nói, vào
những thông báo sinh động, vào giao tiếp bằng ngôn ngữ. Phương pháp này gắn
liền với phương pháp luyện theo mẫu. Cơ sở của phương pháp giao tiếp là chức
năng giao tiếp của ngôn ngữ. Nếu ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp thì
lời nói được coi là bản thân sự giao tiếp bằng ngôn ngữ. Dạy Tiếng Việt theo
hướng giao tiếp tức là dạy phát triển lời nói cho từng cá nhân học sinh. Phương
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
4
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
pháp giao tiếp coi trọng sự phát triển lời nói còn những kiến thức lý thuyết thì
được nghiên cứu trên cơ sở phân tích các hiện tượng đưa ra trong bài khoá. Để
thực hiện phương pháp giao tiếp cần có môi trường giao tiếp, các phương tiện
ngôn ngữ và các thao tác giao tiếp.
4. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề:
Giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học trong đó GV tạo ra những tình
huống sư phạm có chứa vấn đề; tổ chức, hướng dẫn HS phát hiện vấn đề; thông
qua đó HS chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học
tập khác. Đặc trưng của phương pháp dạy học này là “HS được đặt vào tình
huống có vấn đề”. Tình huống có vấn đề là tình huống khó khăn mà HS thấy cần
và có khả năng vượt qua, nhưng không thể vượt qua ngay lập tức mà phải trải qua
quá trình tích cực suy nghĩ bằng sự nỗ lực về trí tuệ.
Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề có nhiều ưu điểm. Giải quyết vấn
đề không chỉ giúp phát triển tư duy và nâng cao tính tự lực, tích cực của HS; tạo
hứng thú học tập cho HS mà còn giúp HS được lĩnh hội tri thức, kĩ năng và cả
phương pháp nhận thức thông qua việc giải quyết vấn đề. Hoạt động học tập này
dần hình thành và phát triển ở HS năng lực giải quyết vấn đề, một năng lực hết
sức cần thiết để con người thích ứng với sự phát triển của xã hội.
Việc tách ra từng phương pháp là để giải thích rõ nội dung của chúng.
Trong thực tế dạy học, các phương pháp được sử dụng phối hợp chặt chẽ, không
có phương pháp vạn năng. Điều quan trọng là phải nắm vững các điều kiện cụ thể
của dạy học để lựa chọn phương pháp cho phù hợp. Các yếu tố liên quan trực tiếp
tới lựa chọn phương pháp là nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học, khả năng của
HS, trình độ GV, điều kiện vật chất.
Ngoài ra, dạy Tiếng Việt còn phải sử dụng một số phương pháp dạy học
khác như: trò chơi, trực quan, vấn đáp...
V. VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT TRONG
DẠY HỌC PHẦN ĐỌC.
Năng lực đọc được cụ thể hoá thành các kĩ năng đọc chỉ được hình thành
khi HS thực hiện hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm. Khi nào HS đọc
thành thạo hai hình thức này mới được xem là biết đọc. Vì vậy, tổ chức dạy phần
đọc cho HS chính là quá trình làm việc của thầy và trò để thực hiện hai hình thức
đọc này. Đọc thành tiếng là hình thức không thể thiếu được của dạy đọc.
Chất lượng của đọc thành tiếng bao gồm bốn phẩm chất đọc: đọc đúng, đọc
nhanh (lưu loát), đọc có ý thức (thông hiểu nội dung văn bản) và tập đọc diễn
cảm (Chỉ yêu cầu học sinh có giọng đọc phù hợp với nội dung của bài). Chất
lượng của đọc thầm cũng tập trung vào ba phẩm chất đầu.
Dạy đọc nhằm giúp HS hình thành và phát triển kĩ năng đọc thành tiếng và
đọc hiểu. Khác với lớp 1, ở lớp 2, yêu cầu phát triển kĩ năng đọc thành tiếng và
đọc hiểu đều quan trọng như nhau. HS được đọc các văn bản có độ dài và độ khó
cao hơn so với lớp 1 và phù hợp với yêu cầu của chương trình.
Tiếp nối lớp 1, đối với đọc thành tiếng, phương pháp dạy học chủ yếu là
GV đọc mẫu và HS thực hành theo mẫu. Đọc phân vai dựa theo một truyện kể
cũng cần được chú ý khai thác nhiều hơn. Đối với đọc hiểu, phương pháp dạy học
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
5
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
chủ yếu vẫn là GV huy động trải nghiệm, hiểu biết của HS có liên quan đến nội
dung của văn bản đọc, cho HS so sánh, liên hệ mở rộng; đặt câu hỏi và tổ chức
đàm thoại giữa GV và HS, cho HS thảo luận nhóm. Trước khi đọc văn bản, GV
có thể cho HS dựa vào nhan đề và tranh minh họa để suy đoán nội dung văn bản.
Ở lớp 1, hoạt động này chỉ nên áp dụng với một số văn bản và những đối tượng
phù hợp, nhưng lên lớp 2, GV nên áp dụng với nhiều đối tượng HS hơn. Phương
châm là dạy đọc hiểu phải kích hoạt được việc đọc tích cực, sáng tạo ở chủ thể
đọc.
1. Tổ chức dạy đọc văn bản thành tiếng:
Để chuẩn bị cho việc đọc GV hướng dẫn HS chuẩn bị tâm thế đọc. Khi
ngồi đọc cần ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách khoảng 30-35cm, cổ
và đầu thẳng, phải thở sâu và thở ra chậm để lấy hơi. Tư thế đọc phải đàng hoàng,
thoải mái, sách phải được mở rộng và cầm bằng hai tay. GV phải nói rõ cho HS
khi đọc thành tiếng, tức là không phải chỉ đọc cho mình nghe mà phải đọc đủ to
để cho tất cả mọi người trong lớp nghe rõ. Như vậy cũng không có nghĩa là đọc
quá to hoặc gào lên.
Đọc đúng: Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách
chính xác, không có lỗi. Đọc đúng là không đọc thừa, không sót tiếng, từ. Đọc
đúng phải thể hiện đúng hệ thống ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói
cách khác là không đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn. Đọc đúng bao
gồm việc đọc đúng các âm, thanh (đúng các âm vị), nghỉ ngắt hơi đúng chỗ (đọc
đúng ngữ điệu). Rèn cho HS thể hiện chính xác các âm vị tiếng Việt: Đọc đúng
các phụ âm đầu, các âm chính, các âm cuối, các thanh. Đọc đúng còn bao gồm
đúng tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điệu câu.
Đọc nhanh: Mức độ thấp nhất của đọc nhanh là đọc trơn (nhiệm vụ này
phần đọc của học vần phải đảm nhiệm) đọc nhanh là đọc không ê a ngắc ngứ,
không vừa đọc vừa đánh vần. Tốc độ đọc nhanh là phải để người nghe kịp hiểu
được. Đọc nhanh không phải là đọc liến thoắng, tốc độ đọc nhanh phù hợp khi
đọc thành tiếng là trùng với tốc độ của lời nói. Khi đọc thầm thì tốc độ đọc sẽ
nhanh hơn nhiều.
2. Các phương pháp dạy phần Đọc:
- Phương pháp phân tích mẫu: Dưới sự hướng dẫn của GV, HS phân tích
các vật liệu mẫu (văn bản) để hình thành các kiến thức văn học, các kỹ năng sử
dụng ngôn ngữ. Từ những hiện tượng chứa đựng trong các văn bản, GV giúp HS
phân tích theo các nhiệm vụ đã nêu trong SGK để HS hiểu bài. Để HS phân tích
mẫu được dễ dàng, GV có thể tách các câu hỏi, các công việc nêu trong SGK ra
thành những câu hỏi, nhiệm vụ nhỏ hơn. Về hình thức tổ chức, tuỳ từng bài, từng
nhiệm vụ cụ thể, GV có thể cho HS làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, sau đó
trình bày kết quả phân tích trước lớp.
- Phương pháp trực quan: GV hướng dẫn HS quan sát các tranh minh
hoạ trong các bài Tập đọc giúp HS hiểu thêm một số chi tiết, tình huống và nhân
vật trong bài.
- Phương pháp thực hành giao tiếp: GV tổ chức các hoạt động trong giờ
học sao cho mỗi HS trong lớp đều được đọc (đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc đồng
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
6
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
thanh, đọc cá nhân, đọc theo nhóm...) được trao đổi nhận thức riêng của mình với
GV, bạn bè.
- Ngoài ra, giáo viên có thể sử dụng thêm một số phương pháp học tập
khác như thảo luận nhóm (khi tổ chức cho học sinh tìm hiểu trả lời các câu hỏi
khó, khi rút ra nội dung chính của bài…) hoặc phương pháp trò chơi nhằm tạo
hứng thú trong học tập cho học sinh.
Mỗi phương pháp và hình thức dạy – học phân môn Tập đọc đều có mặt
mạnh và mặt hạn chế riêng, phù hợp với từng loại bài riêng, từng khâu riêng của
tiết học. Vì vậy không quá lạm dụng hoặc phủ định hoàn toàn một phương pháp
và hình thức dạy học nào. Điều quan trọng là căn cứ vào nội dung, tính chất từng
bài; căn cứ vào trình độ học sinh và năng lực, sở trường của giáo viên; căn cứ vào
điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng học sinh mà lựa chọn, sử dụng kết
hợp các phương pháp và hình thức dạy học một cách hợp lý và đúng mức.
VI. CÁC NỘI DUNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ CỦA PHẦN
ĐỌC – TIẾNG VIỆT LỚP 2
Trong giờ Đọc, để tích cực hoá hoạt động của người học, làm cho mỗi HS đều
được bộc lộ mình và được phát triển, cần tổ chức hoạt động của HS thông qua các
biện pháp và hình thức luyện tập chủ yếu sau:
1. Đọc văn bản:
* Luyện đọc:
- GV đọc toàn bài: nhằm giới thiệu, gây xúc cảm, tạo hứng thú và tâm thế
học đọc cho HS. GV căn cứ vào trình độ của HS lớp mình, có thể đọc 1 hoặc 2
lần tuỳ mục đích đề ra.
- Đọc câu, đoạn: nhằm minh họa, hướng dẫn, gợi ý hoặc “tạo tình huống”
để HS nhận xét giải thích tự tìm ra cách đọc... (có thể đọc một vài lần trong quá
trình dạy đọc).
- Đọc từ, cụm từ: nhằm sửa lỗi phát âm và rèn cách đọc đúng cho HS
* Hướng dẫn tìm hiểu nghĩa của từ ngữ trong bài:
- Những từ ngữ cần tìm hiểu nghĩa: Từ ngữ khó đối với HS được chú giải ở
sau bài đọc, từ ngữ phổ thông mà HS địa phương chưa quen, từ ngữ đóng vai trò
chìa khoá để hiểu nội dung bài đọc. Với các từ ngữ còn lại, nếu có HS nào chưa
hiểu, GV giải thích riêng cho HS đó hoặc tạo điều kiện để HS khác giải thích
giúp, không nhất thiết phải đưa ra giảng chung cho cả lớp.
- Một số cách hướng dẫn HS tìm hiểu nghĩa:
+ Đọc phần từ ngữ trong sách giáo khoa.
+ Sử dụng đồ dùng dạy học (hiện vật, tranh vẽ, mô hình...)
+ Tìm từ đồng nghĩa hoặc từ trái nghĩa với từ cần giải nghĩa.
+ Miêu tả sự vật, đặc điểm được biểu thị ở từ cần giải nghĩa (có thể phối hợp
với động tác, cử chỉ).
+ Đặt câu với từ cần giải nghĩa.
(*Chú ý: Dù giải nghĩa từ theo cách nào cũng chỉ nên giới hạn trong phạm
vi nghĩa cụ thể ở bài đọc, không mở rộng ra những nghĩa khác, nhất là những từ
và nghĩa xa lạ với HS lớp 2, không nên bày ra những biện pháp giải nghĩa cồng
kềnh gây quá tải, làm mất thời gian luyện đọc của HS.)
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
7
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
2. Trả lời câu hỏi:
* Phạm vi nội dung cần tìm hiểu:
- Với văn bản văn chương:
+ Nhân vật (số lượng, tên, đặc điểm), tình tiết của câu chuyện; nghĩa đen,
nghĩa bóng dễ nhận ra của các câu văn, câu thơ.
+ Ý nghĩa của câu chuyện, của bài văn, bài thơ.
- Với các văn bản khác (khoa học, hành chính, báo chí...): Tìm hiểu các
đoạn của văn bản, hình thức và bố cục, nội dung và ý nghĩa văn bản, tác dụng...
* Cách tìm hiểu nội dung bài đọc:
- Phương hướng và trình tự tìm hiểu nội dung bài đọc thể hiện ở những
câu hỏi đặt sau mỗi bài. Đối với HS lớp 2, trước hết SGK nêu các câu hỏi giúp
học sinh tái hiện nội dung bài đọc (câu hỏi tái hiện), sau đó mới đặt ra những câu
hỏi giúp các em nắm được những vấn đề thuộc tầng sâu hơn như ý nghĩa của bài,
tính cách nhân vật, thái độ của tác giả (câu hỏi suy luận).
- Dựa vào hệ thống câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa, GV có thể tổ
chức cho HS trả lời câu hỏi, trao đổi, thảo luận, báo cáo kết quả... sao cho mỗi HS
đều được làm việc để tự mình nắm được bài.
- Tuy nhiên, do yêu cầu hạn chế số chữ ở mỗi câu hỏi cho phù hợp với khả
năng đọc của HS lớp 2, SGK chỉ có thể nêu những vấn đề chính cần thảo luận. Để
giúp HS hiểu bài, GV cần có thêm câu hỏi phụ, những yêu cầu, những lời giảng
bổ sung để giúp học sinh hiểu rõ hơn về bài học.
- Sau khi HS nêu ý kiến, GV tổng kết, nhấn mạnh ý chính và ghi bảng (nếu
cần).
- Trong quá trình tìm hiểu bài, GV cần chú ý rèn cho HS cách trả lời câu
hỏi, cách diễn đạt ý bằng câu văn ngắn gọn, rõ ràng.
* Luyện đọc thuộc lòng:
Với những bài dạy có yêu cầu học thuộc lòng (HTL), GV cần cho HS
luyện đọc kỹ hơn. Có thể ghi bảng một số “từ chốt” làm “điểm tựa” cho HS dễ
nhớ và đọc thuộc, sau đó xoá dần “từ chốt” để HS tự nhớ và đọc thuộc toàn bộ;
hoặc tổ chức cuộc thi hay trò chơi luyện HTL nhẹ nhàng, hứng thú cho HS...
3. Luyện đọc lại:
- Các hình thức: Từng HS đọc, từng cặp HS đọc, một nhóm HS đọc theo
cách phân vai.
- GV cần lắng nghe HS đọc để phát hiện khả năng đọc của mỗi HS, từ đó
có cách rèn luyện thích hợp với từng HS; khuyến khích HS trong lớp trao đổi,
nhận xét về chỗ “được” hay “chưa được” của bạn, nhằm giúp HS biết rút kinh
nghiệm để đọc tốt hơn...
4. Luyện tập theo văn bản đọc:
- GV cho HS trả lời các câu hỏi luyện tập dựa vào bài tập đọc tương ứng
từ đó giúp các em HS biết cách vận dụng kiến thức của bài để giải quyết các bài
tập có liên quan đến bài đọc.
VII. QUY TRÌNH GIẢNG DẠY PHẦN ĐỌC TIẾNG VIỆT LỚP 2 :
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
8
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
Mẫu kế hoạch bài dạy (Giáo án)
Mỗi bài soạn cần ngắn gọn nhưng thể hiện rõ các phần cơ bản như sau:
I/ YÊU CẦU CẦN ĐẠT:
1. Kiến thức
2. Kĩ năng
3. Thái độ
* Góp phần hình thành và phát triển:
- Năng lực:
- Phẩm chất:
II/ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC:
- Giáo viên:
- Học sinh:
III/ CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU:
1. Hoạt động mở đầu:
- Ổn định tổ chức:
- Cho HS khởi động:
- Kiểm tra bài cũ:
+ Đối với bài tập đọc hoặc tập đọc kể chuyện: Kiểm tra HS đọc từng đoạn,
hoặc kể nối tiếp mỗi em một đoạn và TLCH hoặc hỏi thêm về nội dung đoạn, bài
để củng cố tiết học trước.
+ Đối với bài HTL: Kiểm tra HS đọc thuộc lòng đoạn hoặc cả bài và TLCH
hoặc hỏi thêm về nội dung của đoạn, bài để củng cố tiết học trước.
- Giới thiệu bài: (Bằng lời hoặc bằng tranh):
+ Cần ngắn gọn, gây hứng thú cho học sinh khi tiếp xúc với văn bản sẽ
học. Riêng bài tập đọc thuộc chủ điểm mới, giáo viên giới thiệu thêm cho học
sinh biết vài nét chính về nội dung chủ điểm sắp học.
+ Giáo viên chọn các biện pháp và hình thức dẫn dắt học sinh vào bài mới
sao cho nhẹ nhàng, hấp dẫn nhưng không cầu kỳ, kéo dài thời gian.
2. Khám phá:
a. Đọc văn bản:
- GV đọc diễn cảm toàn bài.
- Hướng dẫn học sinh luyện đọc, kết hợp giải nghĩa từ
- Đọc từng câu: HS nối tiếp nhau đọc từng câu (một hoặc 2 lượt). GV sửa
lỗi phát âm (nếu có) cho HS.
- Đọc từng đoạn trước lớp: Một vài HS đọc nối tiếp từng đoạn trong bài
(một, hai lượt). GV giúp HS đọc đúng.
- GV giúp HS nắm nghĩa các từ mới
+ Luyện đọc câu dài
+ HS đọc từng đoạn trong nhóm.
Từng cặp HS đọc và góp ý cho nhau về cách đọc.
GV theo dõi, hướng dẫn các nhóm đọc đúng.
- 1 em đọc cả bài hoặc đại diện các nhóm đọc nối tiếp từng đoạn trong
bài.
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
9
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
b. Trả lời câu hỏi:
- GV hướng dẫn học sinh đọc thầm và tìm hiểu bài dựa theo câu hỏi, bài
tập trong SGK (có thể dẫn dắt, gợi mở, điều chỉnh cho sát với đối tượng HS cụ
thể).
c. Luyện đọc lại/ học thuộc lòng (Nếu SGK yêu cầu)
* Luyện đọc lại được thực hiện ngay sau khi HS đã nắm được nội dung bài
đọc. Hình thức tổ chức luyện đọc lại là thi đọc (giữa cá nhân). Yêu cầu chính của
khâu này là luyện cho HS đọc trôi chảy, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, đúng mức.
Riêng một số lớp, học sinh có trình độ khá, GV có thể giúp HS bước đầu có ý
thức đọc diễn cảm với yêu cầu cụ thể như sau:
- Thể hiện được giọng điệu của từng nhân vật.
- Thể hiện được tình cảm của người viết.
* Khâu luyện đọc lại được thực hiện theo các bước sau:
- GV đọc diễn cảm từng đoạn hoặc cả bài.
- Gv lưu ý HS về từng giọng điệu của từng nhân vật hoặc của toàn bộ
đoạn văn, bài văn, những câu cần chú ý. Đối với HS lớp 2, đọc diễn cảm chưa
phải là yêu cầu bắt buộc. Do đó, tùy thuộc trình độ HS lớp cụ thể, GV có thể xác
định mức độ cho phù hợp.
- Từng HS hoặc nhóm HS thi đọc. GV uốn nắn cho từng HS
- GV hướng dẫn HS học thuộc lòng.
- Hướng dẫn HTL (nếu SGK yêu cầu).
* Khâu luyện đọc HTL được thực hiện theo các bước sau:
- Luyện đọc xóa dần bảng. Xóa từng cụm từ đến khi chỉ còn những từ đầu
câu làm điểm tựa. Luyện đọc theo bàn, tổ, dãy bàn.
- Hs thi đọc thuộc lòng khổ thơ, cả bài thơ
- GV nhận xét, biểu dương những học sinh học thuộc tại lớp.
d. Luyện tập theo văn bản đọc:
- GV cho HS trả lời các câu hỏi luyện tập dựa vào bài tập đọc tương ứng
từ đó giúp các em HS biết cách vận dụng kiến thức của bài để giải quyết các bài
tập có liên quan đến bài đọc.
3. Vận dụng - trải nghiệm:
- Học sinh có thể nêu nội dung (hoặc ý nghĩa của bài), liên hệ thực tế, giáo
dục qua bài học.
- Lưu ý về về cách đọc và cách học bài ở nhà.
- HS có hành động, việc làm tích cực, cụ thể trong cuộc sống hằng ngày
được vận dụng từ kiến thức của bài học.
* Ghi bảng:
Ghi bảng phải ngắn gọn, súc tích, đảm bảo tính khoa học, tính sư phạm, tính thẫm
mĩ.
Trình bày bảng có thể như sau:
*Mô hình ghi bảng tiết đọc:
Tiếng Việt
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
10
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
Tên bài: …………………………
Đọc văn bản
-Từ, cụm từ cần luyện đọc
- Câu, đoạn cần luyện đọc
Trả lời câu hỏi
-Từ ngữ, hình ảnh…
-Ý chính của bài cần ghi nhớ.
* Một số lưu ý:
- Bài Đọc dạy trong 2 tiết, có thể được phân bổ thời gian hợp lí theo cách
như sau:
1 tiết dành cho dạy đọc văn bản và trả lời câu hỏi
1 tiết dành cho dạy luyện đọc lại và luyện tập theo văn bản đọc.
- Các bài tập đọc có thể được dạy theo cách “bổ dọc” hay “bổ ngang”. GV
có thể tùy chọn cách dạy thích hợp.
* Vận dụng : Khi dạy bài đọc- Bài 27:“MẸ” Tuần 15 có thể tiến hành như
sau:
TẬP ĐỌC (TIẾT 1+2)
BÀI 27: MẸ
I. MỤC TIÊU:
*Kiến thức, kĩ năng:
- Đọc đúng các từ khó, biết cách đọc bài thơ Mẹ của Trần Quốc Minh (ngắt nghỉ,
nhấn giọng phù hợp).
- Hiểu nội dung bài đọc: Nhận biết được tình cảm yêu thương, sự quan tâm, săn
sóc của mẹ dành cho con.
*Phát triển năng lực và phẩm chất:
- Phát triển vốn từ chỉ tình cảm của người thân trong gia đình, từ chỉ tính cách.
- Có tình cảm yêu thương, biết ơn đối với bố mẹ và người thân trong gia đình;
phát triển năng lực quan sát (thấy được những công việc bố mẹ thường làm cho
mình khi ở nhà) có tinh thần hợp tác trong làm việc nhóm.
II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC:
- GV: Máy tính, tivi để chiếu hình ảnh của bài học.
- HS: Vở BTTV.
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
11
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
HOẠT ĐỘNG CỦA GV
HOẠT ĐỘNG CỦA HS
1. Kiểm tra:
- HS thực hiện.
- HS đọc một đoạn trích trong bài Em mang về
yêu thương và nêu nội dung của đoạn vừa đọc
đọc hoặc nêu một vài chi tiết thú vị trong bài
đọc.
- GV nhận xét, tuyên dương HS.
- HS lắng nghe.
2. Dạy bài mới:
2.1. Khởi động:
- Giáo viên cho học sinh hát múa bài Bàn tay
mẹ.
- Một số HS trả lời câu hỏi.
- Giáo viên hỏi: Bàn tay mẹ đã làm những gì?
Các HS khác bổ sung.
- GV giới thiệu bài đọc: trong bài hát chúng ta
thấy bàn tay mẹ đã làm rất nhiều việc để chăm
sóc các con.Hôm nay chúng ta sẽ được học một
- HS lắng nghe.
bài thơ cũng nói về sự chăm sóc ân cần của mẹ.
2.2. Khám phá:
* Hoạt động 1: Đọc văn bản.
- GV hướng dẫn cả lớp:
+ Học sinh quan sát tranh minh họa bài đọc và
nêu nội dung tranh.
+ GV giới thiệu bài thơ Mẹ.Về rồi Về rồi
- HS lắng nghe.
+ GV đọc mẫu toàn bài. Chú ý đọc với giọng nhẹ
nhàng, tình cảm. Lưu ý nhấn giọng đúng những - HS đọc thầm bài trong khi
nghe GV đọc mẫu.
từ ngữ được xem là tín hiệu nghệ thuật.
+ GV giải nghĩa từ khó. (ạ ời, kẽo cà, gió mùa
thu,...)
- HS giải nghĩa từ khó.
- Giáo viên hướng dẫn cách đọc chung của bài
thơ (giọng khỏe khoắn vui tươi thể hiện đúng
tình cảm yêu thương, trân trọng của bạn nhỏ khi
kể về mẹ)
- HS thực hiện theo cặp.
Người thực hiện: Cao Khánh Thuận
12
Năm học: 2021-2022
Trường Tiểu học Sơn Đông
Chuyên đề phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 2
- Luyện đọc theo cặp:
Gv yêu cầu từng cặp học sinh trong nhóm đọc
nối tiếp từng khổ thơ và góp ý cho nhau.
Gv giúp đỡ học sinh trong các nhóm gặp khó
khăn khi đọc bài, tuyên dương học sinh đọc tiến
bộ.
- HS đọc bài.
- Đọc cá nhân:
+ Từng em tự luyện đọc toàn bộ bài đọc.
+ GV giúp đỡ HS gặp khó khăn khi đọc bài,
tuyên dương HS đọc tiến bộ.
- HS làm việc nhóm (có thể
đọc to từng câu hỏi), cùng
* Hoạt động 2: Trả lời câu hỏi.
nhau trao đối và tìm câu trả
- GV hướng dẫn HS làm việc nhóm để tìm hiểu lời.
bài và trả lời các câu hỏi.
- GV đọc từng câu hỏi và gọi đại diện một số -HS lần lượt chia sẻ ý kiến:
nhóm trình bày câu trả lời của mình. Các nhóm
khác nhận xét, đánh giá.
+ Câu 1: Trong đêm hè oi
- GV và HS thống nhất câu trả lời:
bức, mẹ đã ngồi đưa võng,
hát ru và quạt cho con để con
+ Câu 1: Trong đêm hè ai bức mẹ đã làm gì để
ngủ ngon.
con ngủ ngon con con con con?
+ Câu 2: Hai dòng thơ:
“Những ngôi sao...thức vì
+ Câu 2: Những dòng thơ nào cho thấy mẹ đã chúng con.
thức rất nhiều vì con?
+ Câu 3: Mẹ là niềm hạnh
...
 








Các ý kiến mới nhất