Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

CÁC ĐẠI CÔNG THẦN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:34' 24-01-2024
Dung lượng: 10.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
NHỎM TRÍ THỨC VlỆr
Biên soạn

VỉậtNanỊl

k Đát nưâc-Con người

Các
ĐẠICÔNGTHẦN
TRONGLỊCHSử

Các Đại công thần
trong lịch sử Việt Nam

TỦ SÁCH 'VIỆT NAM - ĐÁT Nước, CON NGƯỪr

CÁC ĐẠI CÔNG THẦN
TRONG LỊCH

sử VIỆT

NAM

NHÓM TRÍ THỨC VIỆT biên soạn

NHÀ XUẤT BẢN LAO Đ Ộ N G

Lời nói đầu
Đại công thần lá những nhân vật kiệt xuất ở mỗi triều đại,
những người mà thiếu họ, vương triều khó có thể được dựng lên
hoặc được tồn tại, là những người không phải là quân chủ (vua
hay hoàng đế), nhưng lại có công lao to lớn với đất nước và
được lịch sử lưu danh như những gương sáng đã hiến tất cả tài
năng vá sức lực của mình cho sự trường tồn của dân tộc.
Đấy cố thể là văn thần hay võ tướng mà sức ảnh hưởng của
họ lá vổ cùng lớn lao trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Đại
công thổn có thể là người hoạch định đường lối cho triều chính,
có th ể lá người cầm chịch trong những cuộc chiến ừanh cứu
nước hoặc giữ nước, cũng có thể là một anh hùng dám vi trượng
nghĩa xả thăn đ ể cho thắng lợi chung cuộc của sự nghiệp của
vương triều nào đó.
Trong lịch sử 4 nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc
ta đã trải qua bao nhiêu thử thách khốc liệt đ ể đứng vững, bảo
tồn giá trị chủ quyền độc lập của một quốc gia, mà công lao lớn
phái thuộc về các bậc đại công thân.
Xét những giá trị mà chúng tôi đã nêu trên, trong chiều dài
lịch sử của dân tộc Việt, sô' những nhãn vật vĩ đ(Ịi đó không
nhiều, nhưng cũng không phái lá hiếm. Tuy nhiên, theo sự đánh
giá chủ quan của nhóm tuyển chọn, chúng tôi chỉ hạn chế một
số lượng nhất định thực sự xuất chúng có công giúp rập các
vương triều làm nên những trang sử chói ngời trong chiều dài
đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Có thể nhóm biên soạn chưa đủ tầm để chọn lọc đúng nhất
tất cả những bậc đại công thần qua các triều đại, nhưng hí vọng
cuốn sách này cũng giúp độc giả biết thêm về một số vĩ nhân
của đất nước, từ đó càng tăng thêm niềm tự háo về truyền thống
yêu nước của tổ tiên chúng ta, về cách hành xử của mỗi bậc vĩ
nhăn trước mỗi nan đề đối với sự hưng vong của Tổ quốc, và
chugns ta cáng hiểu tại sao những bậc đại công thần lại được
nhãn dân, đất nước tôn sùng, kính ngưỡng đến như vậy.
NHÓM BIÊN SOẠN

R

Các đại công thần trong lịch sứ Việt Nam 1

ÔNG N ỏ CAO LỖ
Cao Lỗ (? - 179 trước Công nguyên) là vị tướng tài giỏi của
An Dương Vương Thục Phán, người đã chế tạo ra cây nỏ được
mệnh danh là “nỏ thần" lừng danh trong lịch sử chế tạo khí tài
quân sự Việt Nam. Bên cạnh đó, Cao Lỗ còn là vị tướng trực
tiếp chỉ huy việc xây dựng Thành ốc tức thành cổ Loa, mà
hiện nay di tích này vẫn còn được bảo tồn tạỉ Hà Nội. Câu
chuyện về An Dương Vương và danh tướng Cao Lỗ cùng
những truyền thuyết về rùa thần, nỏ thần, thành cổ Loa đã tạo
nên những trang sử khó quên trong lòng người dân Việt Nam.
Nhiều đền thờ An Dương Vương Thục Phán và Cao Lỗ đã được
người dân miền Bắc tạo dựng nên, lưu giữ những huyền thoại
về những vị anh hùng dân tộc đã có nhiều công lao to lớn đối
với quốc gia, dân tộc trong buổi đầu dựng nước.

Cao Lỗ còn gọi là Cao Thông, Đô Lỗ, Thạch Thần, hay Đại
Than Đô Lỗ Thạch Thần hay ông Nỏ vì là tác giả của “nỏ thần”
và có tài bắn nỏ. ông là một tướng tài của Thục Phán An
Dương Vương, quê quán tại tại xã Cao Đức, huyện Gia Bình,
Bắc Ninh ngày nay.
Có thuyết cho rằng Cao Lỗ không phải là họ Cao, mà do gắn
vói đá thạch, núi đá, rằng Cao Lỗ là một vị thần địa phương - thần
Đá - đã được thu phục trong quá trình tiến xuống miền đồng
bằng của An Dương Vương, và trở thành một vị tướng của nhà
vua. Khi chết, ông trờ thành thần bảo hộ cho vùng Việt Trì, Bạch
Hạc, nay là phường Bạch Hạc, TP. Việt Trì, tình Phú Thọ. Nhà
Trần đã sắc phong cho ông là “Quả nghị Cương chính Uy huệ
Chính thần Đại vương".

8 Tủ sách 'Việt Nam - đất nước, con người'

Ông là người khuyên Thục An Dương Vương dời đô xuống
đồng bằng, tìm đất đóng đô và là người được An Dưcmg Vương
giao nhiệm vụ thiết kế và chi huy công trình xây thành cổ
Loa. Cao Lỗ là một anh hùng sáng tạo văn hóa, là biểu tượng
của trí tuệ, sức mạnh Việt Nam ngay từ buổi đầu dựng nước.
Truyền thuyết
Tương truyền, ông là người chế ra nỏ liên châu mà còn
được gọi là nỏ thần. Nỏ thần bắn một lần được nhiều phát mà
các mũi tên đều bịt đồng sắc nhọn. Hàng vạn mũi tên đồng
được khai quật ở thành cổ Loa là minh chứng xác thực cứ liệu
lịch sử của truyềng thuyết. Sử sách cũ đã thần thánh hóa gọi
là: “Linh Quang Thần Cơ”. Sách Lĩnh Nam chích quái chép
rằng: Cứ đem nỏ ra chĩa vào quân giặc là chúng không dám
đến gần.
Cao Lỗ huấn luyện cho hàng vạn binh sĩ ngày đêm tập
bẳn nỏ. Vua An Dương Vương thường xem tập bắn trên “Ngự
xa đài”, góc Đông Bắc ngoài thành nội ngày nay còn ghi lại
dấu vết này.
Khi Triệu Đà cho quân xâm lược Âu Lạc, chúng đã bị các
tay nỏ liên châu bắn tên ra như mưa, thây chết đầy nội và phải
lui binh. Đương thời, nỏ liên châu trớ thành thứ vũ khí thần
dũng vô địch của nước Âu Lạc.
Triệu Đà bèn lập xảo kế thông gia cho con trai là Trọng
Thủy lấy con gái An Dương Vương là Mỵ Châu. Cao Lỗ phản
đối, khuyên vua không nên nhận lời cho mối lưong duyên này,
nhưng An Dương Vương không những không nghe ông mà lại
còn nghe lời dèm pha của Lạc hầu. Cao Lỗ dần dần bị vua xa
lánh, vì thế ông đã bỏ đi về quê ở ẩn.
Trọng .Thuỷ sang Âu Lạc ở rể và qua sự cả tin của Mỵ
Châu để dò la về nỏ thần. Khi Trọng Thủy biết được bí mật

Cảc dại công thấn trong lịch sứ Việt Nam 9

phòng thủ của An Dương Vương, y về mách cho vua cha, Triệu
Đà mang quân sang đánh Âu Lạc. An Dương Vương thua chạy,
quân Triệu đuổi theo. Cao Lỗ biết tin, ra đón đường chặn đánh
quân Triệu cho vua và Mỵ Châu chạy thoát và ông đã tử trận.
Các thuyết liên quan tói nguồn gốc, phả hệ Cao Lỗ
Theo GS. Cao Thế Dung*''
“họ Cao ở Nghệ An, theo thế phả, thủy tổ là ông Cao Lỗ, gốc
Ngòi Sdo, Bắc Ninh, người đã chế tạo ra nỏ liễn mà Triệu Đà gọi
lá nỏ thần. Họ Cao di ra Thăng Long rồi từ Thăng Long váo
Nghệ An, sau một hệ trở ra Sơn Nam (Nam Định) định cư tại
đây.
“Thám Hoa Cao Quýnh đậu Tiến sĩ (cập đệ, đệ tam danh)
ữiều Lê Thánh Tông lá hậu duệ của Thủy tổ Cao Lỗ”.
Đền thờ Cao Lỏ
Theo dân gian, khi bị thương nặng ở cổ, tướng quân Cao
Lỗ đã buộc lại và thúc ngựa chạy tới Ái Mộ (xã Bồ Đề,
huyện Gia Lâm) nghỉ một lát rồi lại chạy tiếp về vùng Bình
Than, Lục Đầu được ít lâu sau thì mất.
Tại Ái Mộ (xã BỒ Đề, huyện Gia Lâm, tại xã Quảng An
(huyện Từ Liêm, Hà Nội), Bắc Ninh, Bình Than, Nghệ An và
nhiều vùng khác đều có đển thờ tướng quân Cao Lỗ. Tại thành
phố Hồ Chí Minh cũng có đền thờ Cao Lỗ ở trong chùa Giác Hạnh
tại địa chi số nhà 51 đường ông ích Khiêm Thuộc quận 11.

Mấy nét về cội nguồn - văn minh văn hoá Việt.

\Q Tủ sách "Việt Nam - đắt nước, con nợưà"

THÁI S ư L ưư C ơ
Lun Cơ là một trong những vị khai quốc công thần nhà
Đinh, có công giúp Đỉnh Tiên Hoàng đánh dẹp, chấm dứt loạn
12 sứ quân thế kỷ 10 trong lịch sử Việt Nam, đồng thời là
người cai quản Hoàng thành Thăng Long, có công tu sửa nó
quay về hướng Nam (hướng về kinh đô Hoa Lư thay vì hướng
về phương Bắc như chính quyền đô hộ đã làm) trước khi vua
Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về đây. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh
dẹp xong các sứ quân, lên ngôi Đinh Tiên Hoàng đế. Chính sử
cũng như thơ ca dân gian thường nói đến “Tứ trụ Bặc, Điền,
Cơ, Tú” tức là bốn người trụ cột của triều nhà Đinh, là Nguyễn
Bặc, Đinh Điền, Lun Cơ và Trịnh Tú. Tứ trụ là cốt cán giúp vua
Đinh dẹp sứ quân, thống nhất đất nước.
Tiểu sử
Theo sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Lưu
Cơ người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (Ninh Bình). Từ thuở
nhỏ, ông đã cùng Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú kết bạn
với Đinh Bộ Lĩnh, cùng nhau chơi trò đánh trận cờ lau.
Theo một số thần tích và ghi chép khác thì Lưu Cơ người
quê ờ Bồ Bát, Bạch Liên, Yên Mô, Ninh Bình. Tuy nhiên, theo
cuốn "Nhũng nhân vật lịch sử thòi Đinh Lê"''' thì ông là người
cùng làng và cùng tuổi với Đinh Tiên Hoàng, cha là Lưu Hỷ,
mẹ là Lê Thị Lao. Hai người lấy nhau hơn 10 năm mà không có
con. Sau khi đi cầu tự đền Sơn Thần ở Bạch Bát (nay thuộc
xâ Yên Thành, Yên Mô, Ninh Bình) đến ngày mồng 3 tháng
Đô hộ Phủ sĩ sư Lưu Cơ trang 83 cuốn Những nhản vật lịch sứ thời Đinh Lè,
Trương Đinh Tường, NXB Văn hóa dán tộc 2009.

Các dại công thẩn trong lịch sử Việt Nam 11

giêng năm Giáp Thân 924 sinh ra ông.
Công thẩn nhà Đinh
Lưu Cơ là đồng hương gần với Đinh Bộ Lĩnh, Nguyễn
Bặc, Đinh Điền, Trịnh Tú. Lớn lên theo học Tri Hối tiên sinh
ở Gia Viễn. Sau khi cha mẹ mất, ngoài 20 tuổi ông theo Đinh
Bộ Lĩnh. Cả Đinh Điền, Trịnh Tú và Nguyễn Bặc cũng tham gia
vào lực lượng này.
Khi Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn từ trận (965), các sứ
quân nổi dậy. Lưu Cơ theo Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp. ông đã trực
tiếp dẹp sứ quân Lý Khuê ở Siêu Loại.
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, tức là Đinh Tiên Hoàng.
Nguyễn Bặc được phong làm Định Quốc công, Đinh Điền được
phong làm Ngoại giáp, Lưu Cơ được phong làm Đô hộ phủ sĩ
sư vào năm 971. Theo Đại Việt sử lược thì chức vụ Đô hộ phủ
sĩ sư của Lưu Cơ chính là Thái sư ở Đô hộ phủ Đại La.
Vai trò này của Lưu Cơ được đánh giá là sánh ngang hàng
Phó Vương, giúp Đinh Tiên Hoàng cai quản phần đất trọng
yếu và nhiều tiềm năng kinh tế nhất của nước Đại Cồ Việt
đương thời.
Cuối năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vuxmg Đinh
Liễn bị sát hại. Quan Chi hậu nội nhân là Đỗ Thích bị nghi là
thủ phạm hàng đầu, sợ hãi bỏ trốn rồi bị Nguyễn Bặc bắt và
chém. Người con còn lại của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Toàn
được lập làm vua. Lê Hoàn lộng hành, nắm lấy quyền lớn
trong triều.
“Tứ trụ” Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Trịnh Tú, Lưu Cơ muốn
giữ ngôi nhà Đinh cho ấu chúa, nhưng bị Lê Hoàn đánh thua:
Đinh Điền chết tại trận, Nguyễn Bặc bị bắt sống đem vể chém
tại Hoa Lư. Còn Lun Cơ và Trịnh Tú thì bị phục kích ờ Bãi
Vàng. Hai ông cùng hai bộ tướng chống cự quyết liệt, giết

12 7ừ sách 'Việt Nam - đất nước, con người'

được bốn tướng của Lê Hoàn, nhưng cuối cùng bị quân đông
hon bao vây tiêu diệt. Thế là hai bên có tám tuứng chết ờ trận
đó. Sau, dân làng Hoa Lư xây "Bát long tự” sát phía Đông Bãi
Vàng để thờ giải oan cho tám người.
Chính sử n h ư ỡ ạ/ Việt sử ký toàn thư, Khăm định Việt sử
thông giám cương mục chi xác nhận việc chống Lê Hoàn cùa
Nguyễn Bặc, Đinh Điền và Phạm Hạp, không nhắc tới Lưu Cơ
và Trịnh Tú tham gia việc này. Nguồn tài liệu phản ánh việc
Lưu Cơ tham gia chống Lê Hoàn là thần phả.
Phục vụ nhà Lý và đóng góp vói kinh đô mói
Theo ý kiến khác dựa vào thần phả các di tích thành Đại
La thì ông là Thái sư Đô hộ phủ, cai quản toàn bộ Giao Châu, đóng
đại bản doanh ở Phủ Đô hộ cũ, tức thành Đại La. Khi đó ông chừng
30 tuổi. Theo ý kiến này, Lưu Cơ không chết về tay Lê Hoàn mà
phục vụ cho Lê Hoàn, ông còn sống tới thòi Lý Thái Tổ và tiếp tục
phục vụ nhà Lý, vói vai trò trấn thủ Đại La như trước.
Thành Đại La vốn là trung tâm cai trị của chính quyền đô
hộ phương Bắc thời Bắc thuộc, được thiết kế mặt thành phía
Bắc là mặt chính, mở ba cửa và trên đó đểu có lầu che. Hai mặt
Đông Tây cũng có ba cửa không lầu che. Riêng mặt Nam là
mặt thông với khu dân cư mở tới 5 cửa trên đặt trống, loa; còn
mặt chính mang tính nghi lễ hướng về phía Bắc, với ý nghĩa
“sự hướng Bắc” của thành Đại La gắn liền với bộ máy thần
phục ờ Giao Châu với nhà Đường.
Theo giới chuyên môn, Luxi Cơ là người đầu tiên biến tu
sửa, biến tòa thành Đại La thuộc địa hướng Bắc trớ thành một
tòa thành hướng Nam độc lập tự chủ. Vì khi đó, hoàng đế Đại
Cồ Việt ở Hoa Lư, tức ờ vể phía Nam tòa thành Đại La nên mọi
hướng nhìn của cổng thành và dinh thự đời các Tiết độ sứ cũ
phải đưọrc sửa đổi.

Các dại công tíiần trong lịch sử Việt Nam 13

Tính từ thời nhà Đinh, Lưu Cơ là người đã cai quản
thành Đại La trong vòng gần 40 năm (971-1010). ông đã tu
sửa thành Đại La của An Nam đô hộ phủ nhà Đường trở nên
một tòa thành Đại Cồ Việt và chuẩn bị mọi điều kiện cơ sở hạ
tầng cho cuộc dời đô của Lý Thái Tổ có thể di chuyển từ Hoa
Lư ra Thăng Long chi trong một thời gian rất ngắn.
Chiếu dời đô được ban hành vào tháng 5, tòa thành Đại La
khi trớ thành kinh đô Thăng Long vào tháng 7 năm 1010.
Ngay khi chuyển về kinh đô Thăng Long, triều đình nhà Lý đã
nhanh chóng ổn định. Tòa thành Đại La khi trở thành kinh đô
Thăng Long vào tháng 7 năm 1010 đã là một kinh đô Đại cồ
Việt được chuẩn bị hoàn tất, mà công lao được ghi nhận của
Lưu Cơ. ông bàn giao kinh thành Thăng Long cho Lý Thái Tổ
khi gần 70 tuổi và cáo lão vể hưu trí ở quê nhà, ba năm sau thì
mất, thọ 73 tuổi.
Tưỏng nhớ
Hiện tại trung tâm thành phố Ninh Bình đang xây dựng
khu Quảng trường - tượng đài Đinh Tiên Hoàng đế với 4 góc có
tượng 4 vị quan đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú,
Lưu Cơ cao 5m, có lính canh và ngựa bằng đá.
Hiện đền thờ ông còn ở làng Đại Từ, xã Đại Đồng, Văn
Lâm, Hưng Yên (đất Siêu Loại cũ). Tương truyền là nơi ông
đóng quân dẹp loạn sứ quân Lý Khuê năm xưa.
ở Hoa Lư ngày nay còn truyền khẩu thơ “Bát long tự sự
tích ca” và một thơ khuyết danh khác ca ngợi công lao và lòng
dũng cảm của tứ trụ, trong đó có Lưu Cơ.
Ngày nay ở Ninh Bình còn rất nhiều đền thờ ông và các vị
quan trung thần khác. Theo các nhà nghiên cứu, số đền thờ các
trung thần nhà Đinh nhiều hơn sô' đền thờ Lê Hoàn và Dương hậu
phản ánh tình cảm của dân chúng đối với các ông. Ca ngợi công

14 Tủ sách 'Việt Nam - đất nuớc, con người'

lao của tứ trụ đại thành nhà Đinh, dân gian có câu:
Bặc, Điền, Cơ, Tú hiên ngang
Trịnh, Lưu sau lại Bãi Vàng hy sinh.
Hai người đi trước quang vinh
H ai người sau sáng lung linh cõi bờ.
Điền quân s ự tham m ưu Ngoại giáp,
Bặc đứng đầu đền đáp nghĩa ăn,
Lưu Cơ Đô hộ súv thần,
Trịnh Tú ứng đối xa gân mến danh.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Các đại cáng thẩn trong lịch sử Việt Nam 15

THÁI S ư Á VƯƠNG ĐÀO CAM MỘC SINH VI LÝ TƯỚNG, TỬ VI LÊ THAN
Trong số những người góp công đưa Lý Công uẩn lên ngôi
hoàng đế, nhà sư Vạn Hạnh và Thái sư Á vương Đào Cam Mộc
được xếp ở vị trí đệ nhất khai quốc công thần. Nếu nhà sư Vạn
Hạnh là người nêu ý tưởng thì Thái sư Đào Cam Mộc là người
tổ chức và trực tiếp chỉ huy việc đổi ngôi không đổ máu và
diễn ra nhanh chóng.
Đệ nhất khai quốc công thán
Triều Tiền Lê, vào đời vua Long Đĩnh (1006 - 1009) bắt
đầu mục nát. Vua làm việc càn rở, thích dâm đãng, tàn bạo.
Trong nước lòng dân oán thán, bên ngoài giặc Tống rình rập
xâm lấn. Lúc bấy giờ, uy tín của quan Thân vệ Lý Công uẩn
ngày càng cao cả trong và ngoài triều. Nhà sư Vạn Hạnh có
lẩn nói với Lý Công uẩn: “Mới rồi tôi thấy chữ bùa sấm kỳ lạ,
biết họ Lý cường thịnh, tất dấy lên cơ nghiệp. Nay xem trong
thiên hạ người họ Lý rất nhiéu, nhưng khỏng ai bằng Thân VỆ
là người khoan thứ nhãn từ đuực lòng dẳn lại đang nắm binh
quyền trong tay, đứng dầu muốn dân, chẳng phải Thân vộ thì
ai đương nổi nữa”. Đó là ý tưởng táo bạo và hợp thời của nhà
sư Vạn Hạnh... Tuy nhiên, để thực hiện thành công ý tưởng đó
và góp phần xây dựng triều Lý hưng thịnh cần có sự trợ giúp
đắc lực của quan Chỉ hậu Đào Cam Mộc.
Theo sử sách, Đào Cam Mộc quê ở xă Định Tiến, huyện
Yên Định (Thanh Hóa). Sau khi cha mất, ông được mẹ đưa về
quê ngoại làng Nam Thạch, xã Yên Trung nuôi dưỡng. Từ nhỏ
Cam Mộc tỏ rõ thông minh, khoẻ mạnh. Khi vua Lê Đại Hành

\ 6 Tủ sách 'Việt Nam - đất nuỜL, con ngưàí'

về Thanh Hóa tuần du trên sông Mã (đoạn chảy qua Yên
Trung, nay sông Mã đã đổi dòng) thuyền bị mắc cạn. Đào Cam
Mộc đã dùng sức khoẻ và muti mẹo đưa được đoàn thuyền
vượt qua băi cạn. Từ đó ông được Vua Lê tin dùng và dần
thăng chức Chi hậu...
Tháng 7, ngày Tân Hợi, năm Kỷ Dậu (1009), vua Lê Ngọa
Triều băng hà, thái từ còn bé. Lý Công uẩn cùng với Hữu điện
tiền chỉ huy sứ là Nguyễn Đê mỗi người đem 500 quân Tùy
Long vào làm túc vệ. Theo sác Đại Việt Sử ký toàn thư, khi ấy
Chi hậu Đào Cam Mộc nhân lúc vắng nói với Lý Công uẩn
rằng: "Bấy nay, chúa thượng ngu tối và bạo ngược, làm nhiều
việc bất nghĩa, nên tròi không cho hướng thọ mà con nối thì
thơ ấu, không thể kham nổi việc lớn đầy khó khăn, trăm sự
đều phiền nhiễu, thần linh không ưa, dân chúng nháo nhác
tìm chân chúa. Vậy, sao Thân vệ không nhân cơ hội này mà
nghĩ mưu cao, quyết đoán sáng suốt, xa thì xem dấu cũ của
vua Thang, vua Vũ, gần thì xem việc của họ Đinh, họ Lê... trên
thuận lòng tròi, dưới họp lòng người chứ khư khư giữ chút tiết
hạnh bề tôi nhỏ nhoi hay không?”
Lý Công Uẩn sợ Đào Cam Mộc có mưu khác nên dọa bắt
nạp cho bá quan. Đào Cam Mộc không sợ mà nói tiếp: “Tôi
thấy việc trời và người như thế cho nên mới dám nói ra. Nay
ông muốn tố cáo tôi thì tôi cũng xin thưa rằng tôi đâu sợ
chết!”, Lý Công uẩn nói: "Tôi đâu nở tố cáo ông, chẳng qua vì
sợ lời nói của ông mà tiết lộ ra thì chúng ta đều phải chết nên
mớỉ răn như thế đó thôi”.
Đào Cam Mộc biết rõ việc đã cần kíp lắm rồi, để nữa sợ
sinh biến, liền trình bày với các bậc quan lại trong triều, ai ai
cũng đề bằng lòng cả. Ngay ngày hôm ấy, họ họp lại và dìu Lý
Công Uẩn lên chánh điện lập làm Thiên từ, mờ ra triều đại nhà
Lý kéo dài 21Ó năm (1009- 1225).

Các đại cõng thẩn trong lịch sứ Việt Nam 17

Ngoài công lớn trong việc đưa Lý Công uẩn lên ngôi, Đào
Cam Mộc còn có công giúp Lý Công uẩn xây dựng cơ nghiệp
nhà Lý buổi ban đầu. Vì vậy, ông đã được Lý Thái Tổ phong
tước là Nghĩa Tín hầu, sau này thăng đến chức Thái sư và gả
công chúa đầu là An Quốc cho ông. Khi triều chính tạm ổn
định, tháng 2 năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) nhà vua cùng
phò mã Đào Cam Mộc đi kinh lí các tinh miền ngoài để tìm đất
định đô lâu bền. Và quyết định dời đô về Thăng Long của Lý
Thái Tổ cũng có một phần đóng góp ý tưởng và công sức của
Đào Cam Mộc.
Sớm khôi phục các đền thờ Đào Cam Mộc
Sau 6 năm phò Lý Thái Tổ ổn định triều chính, Thái sư
Đào Cam Mộc đã tạ thế tại tư dinh nay thuộc đất cổ Loa (Đông
Anh - Hà Nội) năm Thuận Thiên thứ 6 (1015). Để ghi nhớ công
ơn vị khai quốc công thần, Lý Thái Tổ đã truy phong cho ông
chức vị cao nhất là Á Vương, cho xây đền thờ Thái sư Á Vương
Đào Cam Mộc ngay tại tư dinh và ban tặng câu đối: “Lý triều
định đô vương tứ phúc/ Đào trạng văn quan Quốc ân thăn”.
Tuy nhiên, ngôi đền thờ ông đã bị thực dân Pháp phá năm
1953. Từ nhiều năm nay, các nhà khoa học kiến nghị UBND
TP Hà Nội sớm khôi phục lại đền thờ Thái sư Á Vương Đào
Cam Mộc trên nền đất cũ tại khu di tích cổ Loa.
Cùng với đền thờ tại tư dinh trên đất cổ Loa, Thái sư Á
Vương Đào Cam Mộc cũng đưọc lập đền thờ tại nhiều nơi. ông
là một trong 3 vị võ quan (Đào Cam Mộc, Lý Thường Kiệt, Lê
Phụng Hiểu) được thờ ở Võ chỉ thuộc đền thờ Lý Bát Đế (Đền
Đô, thuộc xã Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh). Tại quê hương,
huyện Yên Định (Thanh Hóa), ông được dân thờ ở 3 nơi là
chùa Hưng Phúc (xã Đinh Tiến, quê nội), nghè làng Nam
Thạch (xã Yên Trung, nơi có đền thờ chính) và nghè làng Bùi
Hạ (xã Yên Phú). Cả 3 nơi thờ phụng này đều đã bị phá bỏ

18 Ti/ sách 'Việt Nam - đắt nước, con ngưài'

hoặc đổ nát cách đây hon nửa thế kỷ. Đặc biệt, dù bị phá bỏ,
nhưng câu đại tự tại nghè làng Nam Thạch: “Sinh vi Lý tướng,
tử vi Lê thần” (Sinh làm tướng nhả Lý, chết làm thần nhà Lê)
vẫn được dân gian lưu truyền đến ngày nay. Các triều đại sau
này đều đánh giá cao công lao của Đào Cam Mộc đối với đất
nước và phong ông là Thượng thượng đẳng Tối linh Phúc thần.
Điều này được ghi trong một số sắc phong còn lại được lưu giữ
tại xã Yên Trung, huyện Yên Định, Thanh Hóa.
Trích tạp chi Hà Nội mới số xuân Canh Dần 2010

Đào Cam Mộc, vị công thần triều Lý
Để ghi nhớ công lao to lớn của vị công thần triều Lý khi được
vua Lý Thái Tổ trao cho trọng trách dời đô ra Thăng Long, vừa
qua, tại Vàn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội, Hội Khoa học lịch sử
Việt Nam và UBND thành phố Hà Nội tổ chức Hội thảo Khoa học
vể Thái sư Á vưong Đào Cam Mộc, nhân 995 năm (1015-2010)
Ngày mất của vị Thái sư đầu tiên quốc gia Đại Việt.
... Theo hai bản thư tịch Ngọc phd tướng Đào Cam Mộc và
Công chúa Thiềm Hoa - An Quốc tạl phủ Vũ Bị, xã Vũ Bản,
huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam và bản Tự phả chùa Đông Hài chùa Thiên Đô, nay là đền Vệ xã Khánh Phú, huyện Yên
Khánh, tỉnh Ninh Bình, cho ta biết thêm một số tư liệu về cuộc
đòi và sự nghiệp của vị công thần bậc nhất triều Lý.
Ngọc Phả phủ Vũ Bị do Tiến sĩ Phạm Tráng quê ở Dũng
Nhuệ, huyện Giao Thủy, tinh Nam Định, soạn ngày 2-2 niên
hiệu Cảnh Thống thứ 5 (Nhâm Tuất 1502). Minh Mệnh năm
thứ 12 (1831) được Tam giáp Ngô Thế Vinh quê Bái Dưong
huyện Nam Trực (Nam Định) chép. Trong Phả chép rằng, mùa
xuân năm 1010, Lý Thái Tổ về quê Kinh Bắc thăm tổ đường,
trên đường trờ lại Hoa Lư, Lý Thái Tổ ghé thăm đất Hưong
Ngư, huyện Thượng Hiền (nay là thôn Vũ Bị, xã Vũ Bản), các

Các đại công thần trong lịch sứ Việt Nam 19

tuần du có phò mã Đào Cam Mộc hầu giá, coi như chuyến
khảo sát cuối cùng cho công cuộc dờỉ đô.

CUỘC

Thấy đất Vũ Bị thế đẹp, dân làng thuần hậu phò mã xỉn vua
nhận đất để sau này đưa công chúa về ở. Tại đây, vợ chồng ông
khuyên dân tưong thân cư xử, tương trợ cấy cày xây thuần phong
mỹ tục. Công chúa An Quốc xuất tiền riêng mở mang ruộng đất,
xin vua dựng bia thế nghiệp, đến nay phủ Vũ Bị còn giữ hai tấm
đá cổ, các nhà chuyên môn gọi là Thạch Kiệt, hiểu chung là mốc
ruộng đất “Sắc cấp tứ” nhà vua cấp cho người có công. Thạch
Kiệt đuục dựng vào năm Hồng Thuận thứ 5, ngày 25-2 năm
1513, ghi chép trên 140 mẫu ruộng ở các xứ trong vùng, xa nhất
là đồng Ba, thuộc xã Đồn Xá, huyện Bình Lục. Các di tích thờ vợ
chồng Đào Cam Mộc đều có miếu nguy nga, được các vua nhà
Nguyễn ban 10 đạo sắc phong, các nhà khoa bảng đề thơ ca
tụng... hằng năm dân làng thường xuyên mở hội.
Trong Thư tịch cổ cho biết, khi được vua Lý Thái Tổ trao
cho trọng trách dời đô, Đào Cam Mộc chuẩn bị hai đoàn
thuyền gồm 300 chiếc, một ngả đi đường biển qua vùng đất
huyện Hải Hậu, Xuân Thủy mới bồi sau thời Lý vào sông Hồng
lên thành Đại La; một ngả nơi sông Nhị cũng lên thành Đại La.
Khi thuyền đến chân thành, thấy có hai con rồng vàng hiện ra
chào đón, nhà vua mới gọi kinh thành là Thăng Long.
Bản “Tự phả chùa cô' Đông Hải”, do Minh Tuệ thiền sư trụ trì
chùa chép năm Canh Tý (1840), cũng theo Ngọc phá thời Lê do
Quản giám bách thần Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc (1557)
ghi rằng: Chùa này có từ thời Đinh - Tiền Lê, gần biển nên gọi là
chùa Đông Hải. Thời trẻ Đào Cam Mộc từng tu học,.giỏi võ, thông
văn được sư tổ cho đi tìm minh quân, sau đó ông vào Hoa Lư làm
quan cho nhà Tiền Lê, nhà Lý. Tháng 6-1010, Lý Thái Tổ phong
Đào Cam Mộc chức Thiên Đô tiên phong tướng quân chi huy
cuộc dời đô, tại đây triều đình làm Lễ tế cáo trời đất, xuất quân

2ữ Tủ sách 'Việt Nam - đất nước, can người'

nên từ đó đổi tên là chùa Thiên Đô.
Thái sư Á vương Đào Cam Mộc mất ngày 2-2 năm Thuận
Thiên thứ sáu 1015 tại chùa Tề Thánh, ấp Mã Chiên, huyện
Thái Bình (các nhà nghiên cứu cho rằng, đấy là đất phủ Quốc
Oai, Hà Nội ngày nay), hường thọ 73 tuổi, còn công chúa An
Quốc mất vào năm sau (101 ó) tại Vũ Bị.
Những bản thư tịch cổ và di cảo thơ văn của các vị đại
khoa triều Trần, Lê và Nguyễn... là những tư liệu quý mới sưu
tầm được, góp phần tìm hiểu sự kiện lớn của đất nước cách
đây nghìn năm. GS sử học Đinh Xuân Lâm, Phó Chủ tịch Hội
Khoa học lịch sử Việt Nam người đề dẫn, tổng kết hội thảo
khẳng định: “... Các thông tin mới sẽ giúp cho người nghiên
cứu có thêm cơ sở để đẩy sâu hơn nữa công việc nghiên cứu
thời kỳ lịch sử này. Đây cũng mới chỉ là những kết quả bước
đầu, nhưng đầy hứa hẹn, cần được tiếp tục đi sâu đẩy mạnh
hướng tới sự thật lịch sử".
Nhăn Dân

Các đại công thẩn trang lịch sử Việt Nam 21

QUỐC S ư VẠN HẠNH: NHƯ SƯƠNG
TRÊN C ỏ , THỊNH SUY TĨNH LÒNG
Xuất gia vẫn ưu tư quóc sự
Thiền sư Vạn Hạnh (938 - 1025)''' Không ai rõ tên ông là
gì, chi biết ông họ Nguyễn, còn Vạn Hạnh là pháp hiệu của
ông (cũng có nguồn tư liệu cho rằng, ông tên là Nguyễn Văn
Hạnh). Quê ông ở hương cổ Pháp (nay thuộc huyện Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh). Tương truyền, ông sinh ra trong một
gia đình đã mấy đời thờ Phật. Ngay từ thuở ấu thơ, ông đã tỏ
ra là một người cực kỳ dĩnh ngộ, học một hiểu mười.
Sách Thiên uyển tập anh (TUTA) viết về ông: “Thuở nhỏ thõng
minh khác thường, học thông ba giáo, đọc kỹ trăm nhá, nhưng
coi khinh công danh phú quý...".
Năm 21 tuổi, ông xuất gia, tu học với bạn là thiền sư Định
Huệ dưới sự chi dẫn của thiền sư Thiền ông (902-979) tại
chùa Lục Tổ. Thiền ông, theo sách cổ ghi lại, rất tỉnh thông
vạn pháp, chứng ngộ thiên cơ và là người thứ hai được phái
Tỳ-ni-đa-lưu-chi truyền tâm pháp. Đây là phái Thiền bắt nguồn
từ tư tường Bát Nhã, Tam Luận và Hoa Nghiêm, có khuynh
hướng nhập thế giúp dân...
Vạn Hạnh là người rất chăm chỉ đèn sách, “học hỏi không
biết mệt" (TUTA). Sau khi Thiền ông tịch diệt, ông đã chuyên
tâm tu về các loại thiền, đặc biệt là tập kinh Tổng trì tam ma
địa, lấy đó làm sự nghiệp. Và ống đã sớm đạt được độ thượng
thừa trong dòng Thiền của mình. Chính vì thế nên sau này hễ
''' Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.

về năm sinh năm mất của Thiền sư

chưa xác định. Các tư liệu thường ghi (?-1018); (932 - 1025) v.v...

22 Tủ sách "Việt Nam - đất nước, con người'

ông nói lời gì đều được thiên hạ cho là phù sấm...
Mặc dù là người tu hành nhưng Vạn Hạnh không xao lãng
việc nước và mỗi khi cần đều có những cao kiến giúp cho triều
đình. Vua Lê Đại Hành rất tôn kính ông. Mùa thu năm Canh
Thìn 980, Tri Ung châu là Thái thường bác sĩ Hầu Nhân Bảo
của nhà Tống mang quân sang đóng ở gò Từ Cưong, núi Giáp
Lãng định xâm chiếm nước Đại Cồ Việt, vua Lê Đại Hành triệu
ông vào hỏi nếu đánh thì thắng hay bại. Sau khi nghiên cứu
kỹ mọi dữ liệu có thể có được, ông đáp: “Chỉ trong ba, bẩy
ngày giặc tất phải lui...”. Lời nói này về sau đã ứng nghiệm.
Năm Nhâm Ngọ 982, khi vua Lê Đại Hành muốn can thiệp
vào Chiêm Thành để cứu hai sứ giả là Từ Mục và Ngô Tử Mục
bị Chiêm Thành bắt giữ, nhưng còn do dự, thì Vạn Hạnh nói
đây là cơ hội đừng để mất. Sau đó lời này nghiệm, và trận ấy
quân đội của vua Lê Đại Hành đã đại thắng.
Những thao tác siêu dị trong phép đoán định những điều
tuông như bí ẩn còn giúp cho Thiềp sư bảo vệ chính bản thân
mình. Theo TUTA, “bấy giờ có kẻ gian là Đỗ Ngân muốn mưu hại
sư, sư đoán biết được ý đồ, bèn đưa cho hắn một bài kệ rằng:
T hổ m ộc tưong sin h cấn bạn căm,
Vi hà m ư u ngã uấn linh khăm .
Đ ương thời ngũ k h ẩ u th u tăm tuyệt,
Chân ch í vị lai bất hận tám.
(Thổ mộc sinh ra cẩn cạnh căm,
Thù ta toan định sẵn m ưu ngầm,
Tăng này biết chuyện lòng buồn dứt,
Cd đến m ai sau chẳng oán thẩm!).
Trong bài thơ này, ông đâ dùng tên của Ngũ Hành: Thổ, Mộc,
Kim, Cấn trong bài kệ. Nếu chiết tự hai chữ Thổ và Mộc hiệp lại
thành chữ Đỗ; hai chữ Cấn và Kim hiệp lại thành chữ Ngân, túc
là ám chi tên Đỗ Ngân là nguửi đang âm mưu việc ác. Chính vì

Các dại cánợ thắn trang lịch sử Việt Nam 23

thế nên Đỗ Ngân sợ, không dám tiếp tục mưu hại ông nữa...
Dạy vua từ nhỏ
Năm Tân Tị 981, Thiền sư Vạn Hạnh đã được người bạn là
sư Lý Khánh Văn, trụ trì tại chùa cổ Pháp, gửi gắm người con
nuôi lúc đó mói lên 7 tuổi là Lý Công uẩn. Và ông đã sớm nhìn
ra trong đứa trẻ phi thường này mầm mống của một danh
nhân. Theo sách Khăm định Việt sử Thông giám Cuơng mục
(KĐVSTGCM), ông đã từng nhận xét về Lý Công uẩn: “Người
này không phải tầm thường, mai sau tất làm chúa cả nước”.
Chính nhờ sự giúp đỡ của ông mà Lý Công uẩn khi lớn lên đã
vào kinh đô Hoa Lư làm quan cho nhà Tiền Lê, lên tới chức
Điện tiền quân.
Sau khi vua Lê Đại Hành băng hà năm Ất Tỵ 1005, Thái
tử Lê Long Việt lên ngôi được 3 ngày thì bị em cùng mẹ là
Minh Vưong Long Đĩnh giết, thọ 23 tuổi (983-1005). Trong
cảnh tang thưong, đa phần đám bầy tôi đều ai chạy đường
nấy, duy chỉ có Điện tiền quân Lý Công uẩn ôm xác vua mà
khóc. Long Đĩnh chứng kiến cảnh này, cho rằng Lý Công uẩn
là người trung nghĩa nên khi lên ngôi, đã cho Lý Công uẩn
làm Tứ sưong quân Phó chỉ huy sứ...
Vua Long Đĩnh dù tuổi còn rất trẻ (sinh năm 986) nhưng
đã tỏ ra rất bạo nguiợc hoang dâm nên lòng người chán ghét vô
cùng. Cũng đúng giai đoạn đó tại nhiều noi đã xuất hiện
những điềm lạ lùng.
Thiền sư Vạn Hạnh khi ấy mói nói với Thân vệ Lý Công uẩn
rằng: “Gần đây tôi thấy nhiều lời sấm lạ báo hiệu nhà Lê phải
mất mà nhà Lý tất phải lên thay. Người họ Lý rất nhiều, nhưng
không ai khoan từ nhân đức bằng ông, đưcmg nắm binh quyền
trong tay lại được lòng dân chúng. Nguởi đứng đầu muôn dân
chẳng phải Thân vệ còn ai đưoĩig nổi. Tôi đã hơn 70 tuổi rồi,

24 Tủ sách 'Việt Nam - đắt nuác, con nguài'

mong được thư thả hăy chết để xem đức hóa của ông ra thế nào.
Tôi chi ân hận không kịp thấy đời thịnh trị mà thôi...”.
Có lẽ chính câu nói này của Thiền sư đà khiến cho Lý
Công Uẩn nhận thức được rõ hon vai trò đích thực của mình
nên dù đã bảo người anh đem Vạn Hạnh giấu ở Tiêu Son để
khỏi bị lộ thiên cơ nhưng lại chuẩn bị tâm thế để đón nhận
những thay đổi vận mệnh trong tương lai...
Thiển sư Vạn Hạnh rất biết sức mạnh của lòng dân trong
chính sự nên đã đưa ra nhiều câu sấm truyền vận động tâm lý
giúp cho Thân vệ Lý Công uẩn tiến gần hơn tới cơ hội đế
vương của mình. Sách TUTA kể: “Bấy giờ điềm lạ xuất hiện
nhiều ncri, như xoáy lông trên lưng con chó trắng ở Viện Hàm
Toại chùa úng Thái Tâm, châu cổ Pháp có hình chữ Thiên tứ,
cây gạo bị sét đánh để lại vết tích chữ viết, xung quanh mộ
Hiền Khánh đại vương ban đêm nghe tiếng tụng kinh râm ran,
cây đa ở chùa Song Lâm có vết sâu ăn hình chữ "quốc” v.v... sư
đều biện giải được, tất cả đều họp vói điềm Lê suy Lý thành”.
Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư (ĐVSKTT) kể, khi đó, sét đă
đánh lên cây gạo ờ chùa Minh Châu, làng cổ Pháp (do Thiền
Sư La Quy An trồng năm 936) in thành chữ như sau:
Thụ căn diều d iểu - M ộc biểu th a n h th anh
Hòa đao m ộc lạc - Thập b á t tử thành
Đôiìi' .1 n h ậ p đ ịa - M ộc d ị tái sinh
Chấn cung kiến n h ậ t - Đ oái cung ẩn tinh
L ục th ấ t niên gian - Thiên hạ thái binh.
(Gốc cây thăm thẩm - Ngọn cây xanh xanh
Cây hòa đao rụng - Mười tám h ạ t thánh
Cành đông xu ố n g đ ấ t - Cây khác lại sinh
Đông m ặt tròi mọc - Tây sao náu hình
Sáu bảy năm nũu - Thiên hạ thái bình).

Các dại công thần trong lịch sử Việt Nam 25

Và Thiền sư Vạn Hạnh đã đưa ra lòi lý giải như sau: trong
câu “thụ căn diểu diểu” chữ Căn là gốc, gốc tức là vua, chữ
Diểu đổng âm với chữ Yểu, thế là nhà vua (Lê Long Đĩnh) chết
yểu. Trong câu “mộc biểu thanh thanh” chữ Biểu là ngọn,
ngọn là bầy tôi, chữ Thanh đồng âm với chữ Thịnh, thế là một
người trong số quần thần (Lý Công uẩn) sẽ lên nắm chính
quyền. Ba chữ Hòa, Đao, Mộc góp lại (theo Hán tự) là chữ Lê,
Lạc là rụng, tức là nhà Lê rụng. Ba chữ Thập, Bát, Từ góp lại
là chữ Lý. Chữ Lý họp với chữ Thành, là nhà Lý lên. Câu “Đông
A nhập địa” chữ Đông và chữ A họp lại là chữ Trần, nhập địa
là người phưong Bắc vào cưóp. Câu “dị mộc tái sinh” tức là họ
Lê khác lại nổi ...
 
Gửi ý kiến