Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

BÁC HỒ VỚI THÁI NGUYÊN, THÁI NGUYÊN VỚI BÁC HỒ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: giaotrinhpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:30' 31-01-2024
Dung lượng: 34.4 MB
Số lượt tải: 49
Số lượt thích: 0 người
BÁC HỔ VỚI THÁI NGUYÊN
THÁI NGUYÊN VỚI BÁC Hồ

In lần thứ 2
(Có sửa chữa và bỗ sung)

ĐẢNG CỘNG
SẢN V Ệ•T NAM
*
BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN

NHÀ XUẤT BẢN THỜI ĐẠI

Hội
đông
chỉ đạo
biên soạn
»
o
•
•
1.

Đồng

chí

Nguyễnủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,

Đình Phách
2. Đ ồng

Bí thư Tỉnh ủy: Chủ tịch.

chí

NguyễnPhó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy: Phó Chủ tịch.

Văn Kim
3. TS Lê Quang Dựcủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên
giáo Tỉnh ủy: ủy viên Thường trực
4. KS Bùi Khánh Thái

Tỉnh ủy viên, Chánh Văn phòng Tỉnh

5. ThS Trần Xuân Hựu Phó Trưởng ban TT Tuyên giáo Tỉnh ủy: ủy
viên
6. CN Vũ Thanh Khôi

Trưởng phòng Lịch sử Đảng: Thư ký

Ban Biên soạn
1. Phạm Tất Quynh: Chủ biên
2. TS Nguyễn Xuân Minh: Đồng chủ biên
3. Nguyễn Văn Thắng
4. Vũ Thanh Khôi

Biên tập
TS Nguyễn Xuân Minh.

Biên soạn phần Biên niên
TS Trần Minh Trưởng
ThS Lý Việt Quang

Ảnh tư liệu
Phòng Lịch sử Đảng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

Trình bày, bìa
Nguyễn Minh Hải

4

Từ lể đài cuộc mít tình tại sân vận động thành p h ô ,
Bác Hồ vây chào đồng bào tỉnh Thái Nguyên nẹà\ 1-1-1964

LỜ I CỦA ĐẠI TƯỚNG VỎ NGUYÊN GIÁP

Nhân ki niệm 60 năm ngày Bác Hô cùng với Trung ương
Đảng về ATK Thái Nguyên lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực
dần Pháp xâm lược (20-5-1947 - 20-5-2007), tỉnh Thái Nguyên
được Đảng và Nhà nước giao cho tổ chức Năm du lịch Quốc gia
2007. Đây là một sự kiện chính tri, kinh tế, văn hóa quan trọng cùa
Đảng bộ và nhân dân các dần tộc tinh Thái Nguyên.
Tôi còn nhớ khi Bác Hồ về nước, trong thời gian hoạt động ở
Cao Bằng, tại một cuộc họp, Bác nói: “Hôm nay, ta có hai chỗ
đứng chân là căn cứ Cao Bằng và căn cứ Bắc Sơn (Lạng Sơn), ta
phải cùng cố cả hai căn cứ đó, mờ rộng thành căn cứ Cao - Bắc Lạng, Cao Bằng có truyền thống cách mạng, thuận tiện cho việc
liên lạc với quốc tế, nhưng vị trí ở xa Trung ương quá; vì vậy, cần
thiết phải chọn một nơi để xây dựng thành trung tâm của căn cứ
địa Việt Bắc. Nơi ấy phải có nhân dân tốt, cơ sở chính trị tốt và ở
đó “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ” (tiến có thể đánh, lùi có thể
giữ)”. Cuối cùng Bác đã quyết định chọn tinh Thái Nguyên và mở
rộng căn cứ địa Việt Bắc bao gồm 6 tinh Cao - Bắc - Lạng - Hà Tuyên - Thái. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, Bác
quyết định trở lại Việt Bắc và xây dựng ATK kháng chiến của
Trung ương trên địa bàn các huyện Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương,
Võ Nhai, Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa và Chợ Đồn thuộc ba
tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Kạn. Đó là “Thủ đô kháng
chiến”. Trong đó các khu ATK Thái Nguyên có vai trò rất quan
trọng cùa Thủ đô kháng chiến. Vì ở đó, Bác Hồ, đồng chí Tổng Bí

7

thư Trường - Chinh, Thường vụ Trung ương Đảng, Bộ Tổng Tư
lệnh và các cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, Tổng Cục Chính trị,
Tổng Cục Hậu cần và nhiều cơ quan trọng yếu cùa Trung ưcmg đã
ở, làm việc. Ở đó cũng là nơi ra đòi nhiều quyết định quan trọng
của Trung ương, Chính phủ, Bộ Tổng Tư lệnh trong suốt cuộc
kháng chiến chổng thực dân Pháp.
Nhân dịp ki niệm 60 năm Bác Hồ và Trung ương Đảng về
ATK Thái Nguyên lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược, tinh Thái Nguyên tồ chức biên soạn và xuất bản
cuốn sách ' Bác Hồ với Thái Nguyên - Thái Nguyên với B ác Hồ" ,
ghi lại những hoạt động chù yếu cùa Bác tại Thái Nguyên, cũng
như những tình cảm hết sức sâu đậm cùa Đảng bộ và đồng bào các
dân tộc Thái Nguyên với Bác Hồ.
Cuốn sách là tài liệu quý góp phần giáo dục cán bộ, chiến sĩ,
đảng viên, đoàn viên và đồng bào các dân tộc Thái Nguyên phát
huy truyền thống vè vang cùa chiến khu Việt Bắc, cùa Thù đô
kháng chiến, ra sức phấn đấu đẩy mạnh công cuộc đổi mới xây
dựng Thái Nguyên trở thành một tinh giàu mạnh, “sớm tiến kịp
miền xuôi1' như Bác Hồ hằng mong muốn.

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2007

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

8

LỜI GIỚI THIỆU
t

Nhân dân các dân tộc Thái Nguyên có truyên thông yêu
nước và cách mạng từ lâu đời. Thái Nguyên lại ở vào vị trí hết
sức thuận lợi, “tiến có thể đánh, lui có thể giữ”, nên trong suốt
chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, nhân dân
Thái Nguyên đã có những đóng góp rất to lớn. Chính vì vậy, Thái
Nguyên đã nhận được sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ
rất sớm. Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925),
Người đã lên án chế độ thống trị hà khắc cùa Nhà nước bảo hộ
Pháp và bày tò niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi thống khổ cùa
nhân dân các dân tộc cũng như thần phận tủi nhục cùa những
người lính bản xứ trong quân đội Pháp ở Thái Nguyên.
Ngay từ năm 1940, khi chuẩn bị về nước để trực tiếp lãnh đạo

từ

phong trào cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ: “

Cao Bằng cỏn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa
mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối được phong trào
với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đẩu tranh vũ
trang, lúc thuận lợi có thể tiến công , lúc khó khăn có thề g iữ

.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Thái Nguyên cùng
Tuyên Quang, Bắc Kạn vinh dự được Trung uơng Đảng, Chính
phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm ATK - Thù đô kháng
chiến cùa cả nước.
10 Võ Nguyên Giáp: Shũrtg chặng đường lịch sứ. Nxb. Văn học. H. 1977. tr. 38-39.

9

Từ nửa cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến
những năm đầu thực hiện cách mạng xã hội chù nghĩa trên miền
Bắc, Thái Nguyên được chọn làm nơi thí điểm nhiều chính sách
lớn cùa Đảng và Nhà nước.
Nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình, Đảng bộ và nhân
dần các dân tộc Thái Nguyên đã đoàn kết, kiên trì phấn đấu vượt
qua mọi khó khăn gian khổ, hi sinh để hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ lịch sử vẻ vang mà Trung ương Đảng, Chính phủ và Chù tịch
Hồ Chí Minh giao phó.
Thành tựu to lớn mà Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Thái
Nguyên đã giành được trước hết nhờ có đường lối đúng đắn và
sự lãnh đạo sáng suốt cùa Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là
nhờ sự quan tâm sâu sắc, chỉ bảo ân cần, thiết thực, cụ thể của
Chủ tịch Hồ Chí Minh.
*

Để ghi nhớ công lao to lớn cùa Chù tịch Hồ Chí Minh đối
với Thái Nguyên và những thành tựu mà nhân dân Thái Nguyên
đã giành được trong quá trình thực hiện lời dạy cùa Người, Ban
Thường vụ Tinh ủy Thái Nguyên giao cho Ban Tuyên giáo Tinh
ủy tổ chức nghiên cứu, biên soạn, xuất bản tập sách “Z?ác Hồ với

Thái Nguyên - Thái Nguyên với Bác Hồ” làm tài liệu học tập,
giáo dục truyền thống, giáo dục tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh
cho cán bộ, đàng viên và nhân dân các dân tộc trong tinh, đặc
biệt là thế hệ trẻ; động viên các tầng lóp nhân dân tiếp tục giữ
vững và phát huy những thành tựu đã đạt được, biến chủ nghĩa
anh hùng cách mạng trong các cuộc đấu tranh vệ quốc thành tinh
thần cách mạng tiến công trong sự nghiệp công nghiệp hóa. hiện
đại hóa đất nước; xây dụng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt

10

Nam xã hội chù nghĩa; xây dựng Thái Nguyên trở thành tinh giàu
có và phồn vinh.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ,
những ý kiến đóng góp quý báu của các đồng chí lãnh đạo chủ
chốt cùa tinh qua các thời kì, các đồng chí lão thành cách mạng,
các nhà khoa học, các cơ quan hữu quan; đặc biệt là những ý kiến
có tính chất chi đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và sự giúp
đỡ về tư liệu của Viện Lịch sử Đảng, Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ cùa Đảng thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh trong quá trinh nghiên cứu, biên soạn tập sách này.
Công lao và những tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành
cho Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Thái Nguyên là hết sức to
lớn. Song, do khó khăn về công tác lưu trữ tài liệu và những hạn
chế trong quá trình biên soạn nên tập sách không tránh khỏi thiếu
sót. Mong bạn đọc đóng góp ỷ kiến để chinh lí, bổ sung cho lần
tái bản sau.
Nhân dịp ki niệm 50 năm, lần thứ 7, cũng là lần cuối cùng
Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm tinh Thái Nguyên (01/01/1964 01/01/2014) và chào mừng 60 năm (07/5/1954 - 07/5/2014) chiến
thắng lịch sử Điện Biên Phù, Ban Thường vụ Tinh ủy quyết định
tái bản cuốn sách “B ác Hồ với Thái Nguyên - Thái Nguyên với

B ác H ồ ”, chúng tôi xin trần trọng giới thiệu với đồng chí, đồng
bào trong và ngoài tinh.
Thay mặt Ban Thường vụ Tỉnh ủy

Bi thư
Nguyễn Đình Phách

11

Chương thứ nhầ

BÁC HỒ VỚI VIỆC LỤA CHỌN THÁI NGUYÊN
Ù M N0I XÂY DỰNG AN TOÀN KHU
•

•

I. THÁI NGUYÊN TRONG TẨM NHÌN CHIẾN

m

Lược CỦA BÁC Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19-5-1890 tại làng Hoàng
Trù, xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tinh Nghệ
An (nay là làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn). Thời
niên thiếu, tên của Người là Nguyễn Sinh Cung, sau lấy tên là
Nguyễn Tất Thành. Trong nhiều năm hoạt động cách mạng,
Người lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và từ năm 1942 lấy tên là Hồ
Chí Minh.
Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc, ra đi tìm
đường cứu nước. Từ đó đến năm 1918, Người đi qua nhiều nước
và sống ở một số nước trên thế giới để tìm hiểu con đường đi đến
tự do, bình đẳng, ấm no, hạnh phúc. Đi tới đâu, Người cũng đều
hòa nhập với giai cấp vô sản và những người lao động, chứng
kiến bao cảnh tàn sát dã man của bọn đế quốc thực dân đối với
những người dân thuộc địa.

13

Khoảng cuối năm 1918, Người sống ở Pari, tại ngôi nhà số 6
phố Vila đề Gôbơlanh (Villa des Gobelins). Ngày 14-7-1921,
Người chuyển đến ở ngôi nhà số 9, ngõ Côngpoăng (Compoint).
Trong thời gian ở nước Pháp, Người đã viết hàng loạt bài báo
đăng trên các báo Nhãn đạo , Người cùng khổ, Đời sổng công

nhân..., tập trung mũi nhọn vào bọn thực dân Pháp - kẻ thù trực
tiếp và trước mắt của nhân dân các nước Đông Dương nói chung
và Việt Nam nói riêng.
Dưới thời thuộc Pháp, Việt Nam bị chia cắt thành ba kì với
ba chế độ cai trị khác nhau: Bắc Kì là xứ nừa bảo hộ, Trung Kì là
xứ bảo hộ vẫn còn giữ lại chính quyền phong kiến về hình thức
và Nam Kì là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm giữ. Ba xứ ờ
Việt Nam cùng với Lào và Campuchia hợp thành Liên bang
Đông Dương.
Đứng đầu Liên bang Đông Dương có Toàn quyền là người
thay mặt Chính phủ Pháp cai trị Đông Dương về mọi mặt. Dưới
Toàn quyền là Thống đốc Nam Kì, Thống sứ Bắc K.Ì và Khâm
sứ ở Trung Kì, Lào, Campuchia. Đứng đầu tinh là Công sứ
người Pháp.
Thái Nguyên - một tinh miền núi và trung du Bắc Bộ, là quê
hương cùa Lý Bí (vua Lý Nam Đế) - người đầu tiên xưng đế
hiệu, người đầu tiên đặt niên hiệu Thiên Đức và cũng là người
đầu tiên nhận thấy vị tri địa lí trung tâm đất nước cùa vùng đất
Hà Nội xưa. Vùng đất này sớm được sự quan tâm chú ý của lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc.
Trong lịch sử đấu tranh dụng nước và giữ nước của dân tộc.
Thái Nguyên vừa đóng vai trò như một bức tường ngăn quân giặc

14

từ phương Bắc tràn xuống cướp phá miền đồng bằng, vừa là
điểm xuất phát để quân và dân ta triển khai lực lượng chong quân
giặc xâm phạm ở miền biên giới.
Chính từ vị trí chiến lược đặc biệt và địa bàn dụng võ mà
lịch sử đã dành cho Thái Nguyên, người dần nơi đây sớm có
truyền thống yêu nước và cách mạng, một lòng trung kiên, quyết
tâm xả thân vì nước khi có giặc ngoại xâm.
Theo sử cũ, cuối thế ki thứ II trước Công nguyên, lợi dụng
thời cơ nhà Hán tiến đánh quân Nam Việt của Triệu Đà, nhân dân
Thái Nguyên đã theo Tây Vu Vương nổi dậy nhàm khôi phục
nền độc lập cho đất nước. Năm 40 sau Công nguyên, cùng với
nhân dân cả nước, nhân dân Thái Nguyên đã tập hợp dưới bóng
cờ đại nghĩa cùa hai chị em Trưng Trắc và Trung Nhị nổi dậy
khởi nghĩa ờ 65 huyện, thành, giải phóng toàn bộ lãnh thổ, khôi
phục chủ quyền cùa dân tộc trong 3 năm (từ năm 40 đến năm 43).
Trong hơn 1.000 năm dưới ách thong trị của phong kiến
phương Bắc, nhân dân Thái Nguyên đã nhiều lần nổi lên chống
ách cai trị hà khắc và chính sách đồng hóa dân tộc tàn bạo của
quân xâm lược để giành độc lập, tự do.
Thế ki thứ X, nhân dân Thái Nguyên sát cánh cùng với nhân
dân cả nước dưới sự lãnh đạo của Lê Hoàn đánh tan quân xâm
lược Tống ờ Bạch Đằng, Chi Lăng ngay sau khi chúng mới xâm
nhập vào bờ cõi nước ta.
Cuối thế ki XI, con em nhân dân các dân tộc Thái Nguyên
đã tham gia vào đội quân cùa Lý Thường Kiệt tập kích táo bạo
sang đất quân Tống, tiêu diệt các càn cứ xâm lược cùa kẻ thù mà
trung tâm là thành Ung Châu (nay thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung

15

Quốc); sau đó lại trực tiếp tham gia chiến đấu, góp phần đánh tan
quân xâm lược Tống trên phòng tuyến sông cầu.
Trong thế kỉ

xu, Dương Tự

Minh, quê xã Quan Triêu (nay

là phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên), phủ phú Lựơng
(nay là vùng đất các tinh Thái Nguyên, B ắc Kạn, Cao Băng),
theo chiếu của vua Lý Anh Tông đã đưa quân đi đánh quân xâm
lược Tống ờ Quảng Nguyên (Cao Bằng ngày nay), đem lại bình
yên cho dân chúng miền biên ải. Mùa thu năm 1145, giặc Tống
do Đàm Hữu Lượng cầm đầu sang cướp phá, chiếm châu Quảng
Nguyên. Vâng lệnh triều đình nhà Lý, Dương Tự Minh làm
Chánh tướng đem quân đi đánh giặc ở vùng biên giới phía Bắc.
Chì sau một thời gian ngắn, với tài thao lược của mình, Dương
Tự Minh đã chi huy đánh tan quần giặc, đem lại thanh bình, thịnh
trị cho đất nước.
Do tài năng và nhũng đóng góp to lớn vào sự nghiệp bảo vệ
Tổ quốc, Dương Tự Minh đã được vua Lý Nhân Tông và Lý Anh
Tông gả cho hai công chúa Diên Bình và Thiều Dung, được
phong chức Phò mã lang, trông coi toàn bộ việc quân, dân suốt
một vùng khe động dọc biên giới phía Bắc. Dương Tự Minh
được sắc phong là Thượng đẳng thần và được nhân dân lập đền
thờ cúng ờ chân núi Đuổm (xã Động Đạt, huyện Phú Lương ngày
nay) để đời đời tường nhớ công ơn.
Sau hơn 5 thế ki giành và giữ nền độc lập, thất bại của cuộc
kháng chiến chống quân Minh xâm lược dưới triều Hồ đã đưa
dân tộc ta đên thảm họa mất nước.
Đầu thế ki X V , không cam chịu kiếp sống nô lệ, cùng với
nhân dân cả nước Đại Việt lúc bấy giờ, nhân dân Thái Nguyên đã

16

thổi bùng lên phong trào nổi dậy chống quân xâm lược Minh. Mở
đầu phong trào này là cuộc khởi nghĩa của Trần Nguyên Kháng
và Nguyễn Đa Bí (năm 1408). Tiếp đó là hàng loạt cuộc nổi dậy
lẻ tẻ cùa Chu Sư Nhan, Bùi Quý Thăng, Nguyễn Khắc Chẩn,
Nguyễn Trà, Dương Khắc Chung, Dương Thế Chân... Đặc biệt,
nghĩa quần Ông Lão đã xây dựng căn cứ ở vùng Đồng Hỷ rồi lan
nhanh xuống Bắc Phổ Yên, được đông đảo nhân dân hường ứng.
Nghĩa quân Ông Lão đã mở rộng địa bàn hoạt động, tập kích
đánh địch ở các huyện c ổ Lũng, Tư Nông (nay là huyện Phú
Bình) và huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên).
Tiêu biểu cho tinh thần chiến đấu ngoan cường cùa nhân dân
các dân tộc Thái Nguyên trong thời kì này là những hoạt động
cùa nghĩa quần Áo Đỏ ở Đại Từ vào cuối năm 1410, buộc nhà
Minh phải điều quân từ nhiều nơi về ứng cứu. Nghĩa quân Áo Đỏ
đã phát triển phong trào ra khắp vùng Việt Bắc, gây cho giặc
Minh nhiều tổn thất nặng nề, làm cho chúng không thể đặt được
chính quyền đô hộ trên vùng rừng núi bao la của ta một cách
vững chắc.
Đầu năm 1418, tại Lam Sơn (Thanh Hóa), Lê Lợi phất cờ
khởi nghĩa chống giặc Minh. Từ Thái Nguyên, hai cha con Lưu
Trung và Lưu Nhân Chú đã vào vùng Lam Sơn tụ nghĩa cùng Lê
Lợi. Đầu năm 1428, khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, kết thúc 20
năm đô hộ tàn bạo cùa phong kiến nhà Minh, mở ra một thời kì
phát triển mới của đất nước Đại Việt. Do những đóng góp to lớn
vào thắng lợi cùa dân tộc, nên trong đợt ban thường đầu tiên sau
khi đất nước sạch bóng quân xâm lược, hai cha con Lưu Trung,
Lưu Nhân Chú đã được vua Lê Thái Tổ ban Quốc tính, cho đổi

17

từ họ Lưu sang họ Lê và xếp vào bậc công thần khai quốc. Lưu
Trung được phong tước Quốc công; Lưu Nhân Chú được phong
tước Đình Thượng hầu. Sau đó, cả hai cha con Lưu Trung và Lưu
Nhân Chú đều trở thành những vị quan thanh liêm, góp phần to
lớn cùng nhân dân xây dụng đất nước.
Trong các thế ki XVI, XVII, X V III, đất nước ta rơi vào tình
trạng phân liệt kéo dài. Hết chiến tranh Nam - Bấc triều lại đến
chiến tranh Trịnh - Nguyễn, gây nên bao cảnh khổ cực, lầm than
cho nhân dân.
ở Đàng Ngoài, nông dân các nơi liên tiếp nổi dậy khởi nghĩa
chống lại triều đình Lê - Trịnh, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do
Nguyễn Danh Phương lãnh đạo, bắt đầu từ năm 1740. Sau một
thời gian hoạt động, lực lượng nghĩa quân tăng lên đến vài vạn
người, làm chủ một vùng đất rộng lớn ở các tinh Vĩnh Phúc. Phú
Thọ, Thái Nguyên, lấy núi Ngọc Bội (Vĩnh Phúc) làm trung tâm.
Nghĩa quân lập nhiều đồn lũy ở các nơi, cày ruộng, lập kho chứa
thóc, tính kế lâu dài. Đầu năm 1751, sau khi dẹp được một vài
cuộc khởi nghĩa, chúa Trịnh tập trung lực lượng, đánh lên vùng
Hương Canh, Ngọc Bội. Nghĩa quân chiến đấu rất quvết liệt,
nhưng cuối cùng bị thất bại.
Vào nửa sau thế ki XVIII, phong trào nông dân tiếp tục diễn
ra, tiêu biểu nhất là phong trào nông dân Tây Sơn. Chi sau 15
năm đánh Nam, dẹp Bắc, phong trào nông dân Tầy Sơn đã hoàn
thành được một sự nghiệp chưa từng có trong lịch sử dân tộc:
Đánh đổ ba tập đoàn phong kiến đang thống trị, bước đầu thống
nhất hai miền đất nước sau gần 200 năm chia cắt; tiếp đó lại đập
tan quân xâm lược Mãn Thanh.

18

Năm 1802, sau khi đánh thắng Tây Sơn, Nguyễn Ánh lập ra
vương triều Nguyễn. Đẻ duy trì sự thống trị của mình, triều
Nguyễn đã thi hành nhiều chính sách phản động, đời sống nhân
dân vô cùng cực khổ. Ở nhiều nơi, nhân dân ta nổi dậy khởi
nghĩa chống lại triều đình. Năm 1833, cuộc khởi nghĩa Nông Văn
Vân bùng nổ, kéo dài đến năm 1835. Thái Nguyên vừa là địa bàn
hoạt động cùa nghĩa quân, vừa là lá chấn ờ phía Nam để bảo vệ
cho căn cứ của cuộc khởi nghĩa. Nhân dân Thái Nguyên tích cực
tham gia cùng với nghĩa quân, chiến đấu với quân cùa triều đình
tại các vùng Định Hóa, Đại Từ, Võ Nhai...
Ngày 1-9-1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta.
Sau khi chiếm được các tinh Nam Kì và các tinh đồng bằng ở
Bắc Kì, từ tháng 3-1884, chúng bắt đầu cho quân đánh chiếm
Thái Nguyên.
Cũng như các tỉnh khác, trùm lên bộ máy cai trị nhân dân
Thái Nguyên là một hệ thống chính quyền thuộc địa do một viên
Công sứ người Pháp đứng đầu. Nhưng điều khác biệt của bộ máy
cai trị Thái Nguyên là viên Công sứ Đáclơ (Darles), một tên gian
ác nổi tiếng nhất trong bọn thực dân Pháp. Người đương thời đã
có câu: Nhất Đác (Darles), nhì Ke (Ecker), tam Be (De
Galambert), tứ Bít (Bride) là “tứ hung” thời đó.
Đáclơ làm Công sứ Thái Nguyên từ tháng 4-1913 đến tháng
9-1917. Lúc còn ở Pháp, Đáclơ chi là một anh bán cháo ở xóm
dân nghèo Latinh thuộc thành phố Pari. Khi sang Việt Nam đứng
vào bộ máy cai trị, do có “công lao” đàn áp tàn bạo nhân dân ta,
Đáclơ được cất nhắc lên giữ chức quan cai trị đứng đầu một tinh
quan trọng và dân cư nổi tiếng “cứng đầu, cứng cổ”.

19

Băng ngòi bút săc sảo, Nguyên Ai Quôc tô cáo tội ác cũa tên
Công sứ Đáclơ ở tinh Thái Nguyên:
“Chễm chệ đứng đầu một tinh có hàng vạn dân, và được
giao cho quyền hành tuyệt đối, ông ta vừa là tinh trường, vừa là
thị trường, vừa là quan tòa, vừa là mõ tòa, vừa là người đốc thuế;
tóm lại, ông ta nắm trong tay tất cả mọi quyền hành: tòa án, thuế
khóa, điền thổ, tính mạng và tài sản của nguời bản xứ, quyền lợi
của viên chức, việc bầu cừ lí trưởng và chánh tổng, tức là vận
mạng của cả một tinh được đặt vào tay cái anh hàng cháo ngày
xưa ấy.
Ở Pari, không làm giàu nổi bằng cách bóc lột khách hàng,
sang Bắc Kì ông ta tìm cách gỡ gạc lại bằng cách bắt bớ, giam
cầm, xử tội người An Nam một cách độc đoán, để bòn rút họ”

.

Dựa trên những tư liệu chính xác, Nguyễn Ái Quốc vạch
trần hành động ngược đãi hết sức vô nhân đạo cùa Công sứ
Đáclơ đối với những người lính bản xứ - một công cụ của thục
dân Pháp dùng để đàn áp phong trào yêu nước cùa nhân dân ta:
“Một số lính tình nguyện (!) bản xứ bị điệu về để sung vào
làm lính khố đò và vì thế họ phải đi khám sức khỏe. Đó là những
người mù chữ, nhút nhát, khi hỏi thì trả lời chậm chạp, nên quan
công sứ đã chửi bới, đấm đá và lấy gậy phang họ túi bụi.
Ba người lính khố xanh để xồng một người tù, đã bị ông
Đác lơ đánh đập một cách rất tàn nhẫn, nắm tóc kéo lê dưới đất và
đập đầu họ vào tường toà sứ...”

.

"Một hôm, nhà khai hóa của chúng ta vừa quở trách một
1,1 ':i Hồ Chi Minh: Toàn lặp. Nxb. Chính trị quốc gia. H. 2000. t. 2. tr. 49.

20

nhân viên người Âu xong, không biết trút cơn giận lên đầu ai
được, bèn vớ cái thước sắt trên bàn giấy đập nát hai ngón tay cùa
một viên thư kí người An Nam chẳng liên can gì đến việc kia cả.
Một hôm khác, ông ta vụt roi gân bò vào mặt một viên đội
người bản xứ trước những người lính dưới quyền anh ta.
Lại một lần khác, có mấy người lính khố xanh làm trái ý ông
ta, ông ta bèn đem chôn họ đến tận cổ, mãi đến khi họ ngắc ngoải
mới cho moi lên” (1).
Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân ta, từ
năm 1903-1904, thực dân Pháp xây dựng một nhà tù tại thị xã
Thái Nguyên để giam giữ những người yêu nước. Khu vực nhà
tù có 3 trạm gác và được bao quanh bằng bức tường cao 3 mét.
Trong những năm 1916-1918, nhà tù thị xã Thái Nguyên đuợc
thực dân Pháp tu bổ thêm. Nhà tù thường giam giữ từ 250 đến
300 tù nhân, tập trung nhũng tù chính trị bị Pháp bắt trong các
phong trào khởi nghĩa nông dân Yên Thế, Duy Tân, Đông Du...
Tình cảnh của những người yêu nước bị giam giữ tại nhà tù
thị xã Thái Nguyên, cùng với bộ mặt dã man, tàn bạo của tên
quan đứng đầu tinh đã được Nguyễn Ái Quốc tố cáo:
“Một đoàn tù khốn khổ, gầy đói, quần áo tả tơi, bị lôi dậy từ
tờ mờ sáng, cổ mang gông, chân buộc xiềng, người nọ bị xích
vào người kia, cùng kéo một chiếc xe lu to tướng trên những lớp
sòi dày. Hoàn toàn kiệt sức, họ ì ạch kéo chiếc xe lu nặng nề dưới
ánh nắng nhu thiêu như đốt. Bỗng quan công sứ đến. Như thường

(l) Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2000, t. 2, tr. 50.

21

lệ, quan cầm theo một cái gậy to tướng, rồi bồng dung vô cớ,
quan xông vào đám người khốn khổ ấy, như con thú dữ, đánh túi
bụi. tàn nhẫn không tưởng tượng được, vừa đánh vừa chửi họ là
đồ lười..." n); “Khi hỏi cung phạm nhân, quan công sứ lấy thanh
gươm đâm vào đùi họ. Có người khi về đến nhà lao thì ngã lăn ra
bất tinh” (2).
Đối với dân phu bị bắt đi làm đường

thì số chân người bị

đánh què bằng lưỡi xẻng, cán cuốc, phải tính bằng đom vị nửa tá.
Những người dân phu làm đưcmg ấy đều là những người bị ông
ta bắt ép đi làm với tiền công mỗi ngày một, hai xu, sau khi họ đã
phải nộp tiền chuộc phần tạp dịch của họ với giá mười lăm xu
?•

'

môi ngay

(3)

\

Ách cai trị tàn bạo cùa chính quyền thực dân, đứng đầu là
Công sứ Đáclơ là một trong nhũng nguyên nhân trực tiếp dẫn đến
sự bùng nổ cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên do ông Đội c ấ n (Trịnh
Văn Cấn) chi huy vào đêm 30-8-1917, một cuộc khởi nghĩa lớn
nhất, kéo dài nhất và có tiếng vang lớn nhất trong thời kì Chiến
tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918).

II. BÁC HỔ VỚI VIỆC CHỌN THẢI NGUYÊN LÀM NƠI XÂY DỰNG
AN TOÀN KHU
Sau một thời gian dài hoạt động ở nhiều nước, cuối năm
1938, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô đi Trung Quốc để tìm cách
về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Đầu năm 1940.

(1) 12) 13 )

49. 50.

22

(;■h j V1inh: Toàn táp. Nxb. Chinh trị quốc gia. H. 2000. L 2. tr. 49-50.

Người đến Côn Minh (thù phủ tỉnh Vân Nam) và đến tháng 8
năm ấy, trở lại Quế Lâm cùng với một số cán bộ, chuân bị điêu
kiện và chờ cơ hội trờ về Tổ quốc. Tại đây, với tầm nhìn chiến
lược, Người đã nhận định: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mờ ra triển
vọng lớn cho cách mạng nước ta... Nhưng từ Cao Bằng còn phái

phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp
xúc với toàn quốc được. Có nối được phong trào với Thái
Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc
thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khản có thể g iữ ' Như vậy, ngay từ khi còn ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc đã có sự quan tâm đặc biệt đến phong trào cách mạng ở
Thái Nguyên, thấy rõ vị trí chiến lược của vùng đất Thái Nguyên.
“Thời kì tiền khởi nghĩa khi Bác về Pác Bó đã có ý định phát
triển cơ sở xuống Thái Nguyên, vì Thái Nguyên là một địa bàn
quan trọng “tiến có thể đánh, lui có thể giữ” và nhân dần ở đây có
truyền thống cách mạng...” (2).
Chính từ tầm nhìn chiến lược trên, sau Hội nghị Trung
ương Đảng lần thứ 8 (5-1941), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã phái
hai cán bộ (Nông Văn Quang và Trương Văn Thiết) về Định
Hóa (tinh Thái Nguyên) tim bất liên lạc và chuyển thư của
Người đến đồng chí Vũ Hưng(3). Nhung vào lúc này, thực dân
(l) Võ Nguyên Giáp: Nhũng chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, H. 1977. tr. 38-39.
Võ Nguyên Giáp: ATK Định Hóa trung tâm của Thú đô kháng chiến chống thực

dán Pháp. Xem Ki yếu Hội thào khoa học: Hồ Chí Minh với việc xáỵ dựng ATK
Dịnh Hóa trong căn cứ địa 1'iệt B ắc , tr. 8-9.
<3) Đồng chí Vũ Hưng (còn có tên là Vũ Văn Uyển, Đỗ Vân Đoài. Hai Cao), năm
1931-1932 là ủy viên Ban Tinh úy Hà Nam. Cuối năm 1932 lên hoạt động, gây
dụng cơ sờ cách mạng ở huyện Định Hóa. Xem Lịch sư Đàng bộ tinh Hà Nam. t. 1

23

Pháp đang ráo riết lùng bắt đồng chí Vũ Hung, nên việc chắp
nối liên lạc không thành.
Từ sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, việc liên lạc
giữa Cao Bằng với vùng xuôi trở nên đặc biệt quan trọng. Bác
thường nói: “Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong
công tác cách mệnh, vì chính nó quyết định sự thống nhất chi
huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi” (l).
Trước tình hình phát triển cùa phong trào cách mạng trong
cả nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thấy ngoài lối liên lạc thường
dùng bàng giao thông bí mật, phải cấp tốc tổ chức những con
đường quần chúng từ Cao Bằng đi về miền xuôi. Có thế, khi địch
khủng bổ mới giữ được liên lạc, những hoạt động vũ trang cùa
các đội
• du kích mới có thể tiến hành thuận lợi * và •nhất là mới
tranh thù kịp thời cơ biến chuyển tốt, cách mạng có thể tiến lên
Tổng khởi nghĩa. Một số cán bộ được phần công nhiệm vụ đánh
thông con đường từ Đông Khê về Đình Cả (Võ Nhai, Thái
Nguyên); các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Lê Thiết Hùng phụ
trách Ban xung phong Nam tiến, có nhiệm vụ mở con đường từ
Nguyên Bình qua Ngân Sơn, Chợ Rã để nối liền với Chợ Chu,
Đại Từ (Thái Nguyên). Đến tháng 10-1943, hai đội quân "Nam

tiếrí' và “Bắc tiến' đã gặp nhau tại xã Nghĩa Tá - nơi giáp giới ba
tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Hai trung tâm căn cứ
địa Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai đã được đánh thông với
nhau, tạo thành một dải liên hoàn vững chắc.
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), dưới ánh sáng
bản Chi thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động cùa chúng ta.
(l> Võ Nguvén Giáp: Xhững chặng đường lịch sứ. Nxb. Vãn học, H. 1977. tr 88

24

cao trào kháng Nhật cứu nước dâng lên khắp toàn quốc. Thời cơ
cho nhân dân ta nổi dậy Tổng khởi nghĩa nhanh chóng chín muồi.
Huyện Định Hóa nằm trong dự định của lãnh tụ Hồ Chí Minh
chọn làm nơi Người “dừng chân ờ đây một thời gian để cơ mưu

việc lớrí". về sự kiện này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại:
“Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), tôi đã cùng Đội Việt
Nam tuyên truyền giải phóng quân tiến về Chợ Chu (Định Hóa Thái Nguyên) và thống nhất hai đội quân Việt Nam tuyên truyền
giải phóng quần với đội Quân cứu quốc thành Việt Nam Quân
giải phóng tại Định Biên Thượng (Định Hóa). Tiếp đó, tôi nhận
đươc chỉ thi cùa Bác Hồ bố trí cho Bác về làm viêc ở Chơ Chu.
Tôi bàn với hai anh Tân và Song Hào đê nghị Bác chọn Tân
Trào, vì Chợ Chu tuy cơ sờ chính trị, kinh tế đều tốt nhưng có
đường thông thương với Thái Nguyên dễ bị uy hiếp; còn Tân
Trào, dân cư có thưa thớt, kinh tế có khó khăn nhưng địa thế
hiểm trở hơn. Châu Sơn Dương còn cách tinh lị Tuyên Quang bời
con sông Lô, tiện bảo vệ” (l). Vi vậy, Tân Trào được chọn là nơi
Bác ờ và làm việc, trở thành Thù đô Khu Giải phóng.
Ngày 14-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh
vô điều kiện. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh quyết định
phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Từ
Tân Trào, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn Đảng, toàn dân:
“Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc
đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giãi phóng cho la”

.

(1) Xem Kỉ yếu hội thào khoa học: Hồ Chí Minh với việc xây dựng ATK Dịnh Hóa

trong càn cứ địa ỉ iệỉ Bắc, tr. 9.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2000, t. 3, tr. 554.

25

Hường ứng chủ trương của Trung ương Đảng và lời kêu gọi
cùa Chù tịch Hồ Chí Minh, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân
các dân tộc tinh Thái Nguyên phối hợp với Quân giải phóng đã
nổi dậy giành chính quyền từ trong tay phát xít Nhật.
Chiều ngày 20-8-1945, tại cuộc mít tinh lớn được tồ chức ở
sân vận động thị xã Thái Nguyên, đồng chí Võ Nguyên Giáp thay
mặt ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc tuyên bố xóa bỏ chính quyền
của Nhật và tay sai, thành lập ủy ban Nhân dân cách mạne lâm
thời tinh Thái Nguyên do đồng chí Lê Trung Đình làm Chú tịch.
Khoảng 21 giờ ngày 22-8-1945, Chù tịch Hồ Chí Minh từ
Tản Trào về đến thị xã Thái Nguyên. Dù rất mệt vì mới trải qua
trận ốm nặng, lại vượt một quãng đường dài, nhung ngay tối hôm
đó, Người vẫn gặp gỡ các đồng chí cán bộ lãnh đạo tinh để nắm
tình hình địa phương và căn dặn những việc cần làm đối với một
chính quyền cách mạng còn non trẻ.
Đúng như Trung ương Đàng và Chù tịch Hồ Chí Minh dự
đoán, sau khi kí Hiệp định sơ bộ (6-3) và Tạm ước Việt - Pháp
(14-9-1946), thực dân Pháp đã ngang nhiên bội ước, liên tiếp gâv
ra các hoạt động khiêu khích, xâm lược ngày càng trắng trợn.
Trong hoàn cảnh ấy, nhân dân la phái cầm vũ khí tiến hành cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược để bào vệ nhữne
thành quả cùa Cách mạng tháng Tám 1945.
Cuộc kháng chiến của nhân dân ta bùng nổ trong khi tiềm
lực kinh tế và quân sự còn vếu, sức dự trữ kháng chiến rất móng
manh. Ngược lại. thực dân Pháp có một đội quân viễn chinh nhà
nghề giàu kinh nghiệm đi xâm lược, được trang bị vũ khí hiện

26

đại. Nước Pháp là một cường quốc tư bản, có nền công nghiệp
phát triển, nên tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh hơn ta gấp
nhiều lần.
Trong điều kiện so sánh lực lượng vật chất giữa ta và địch
hết sức chênh lệch, muốn đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi,
chúng ta không thể ''"đem toàn lực dốc vào một vài trận hỏng

phân thắng bạC\ mà phải có thời gian để chuyển hóa lực lượng,
tức là phải kháng chiến lâu dài.
Điều kiện cơ bản để kháng chiến lâu dài là phải bảo tồn và
phát triển lực lượng kháng chiến, đồng thời phải xây dựng được
những khu căn cứ vũng chắc, an toàn, không chi có địa hình thuận
lợi, mà phải có cơ sở và phong trào quần chúng vững mạnh.
Với tầm nhìn xa trông rộng, ngay sau khi Cách mạng tháng
Tám thành công, Chù tịch Hồ Chí Minh đã phân công đồng chí
Phạm Văn Đồng cùng một số cán bộ ở lại Việt Bắc một thời gian
để củng cố căn cứ địa.
Cuối tháng 10-1946, Trưởng ban Tài chính Trung ương
Đảng Nguyễn Lương Bằng được giao nhiệm vụ trở lại Việt Bắc
để chuẩn bị địa điểm xây dựng căn cứ địa kháng chiến. Một số
địa điểm thuộc huyện Định Hóa (Thái Nguyên), Nam Chợ Đồn
(Bắc Kạn) được chọn làm nơi ờ và làm việc của các cơ quan
Trung ương...
 
Gửi ý kiến