Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

ALBERT EINSTEIN CON NGƯỜI VĨ ĐẠI

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 13h:39' 29-02-2024
Dung lượng: 2.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
ALBERT EINSTEIN
Nguồn: vietsciences.free.fr
Tác giả: nhiều tác giả
Mục lục:
Tiểu sử Einstein
Einstein, nhà bác học đam mê và chân thật
Thuyết Tương Ðối
Thuyết Tương Ðối Thu Hẹp và Tổng quát của Einstein
Sự co rút thời gian
Sách báo viết về Einstein
Albert einstein (1879 - 1955 ), vĩ nhân thứ tám
- Phạm Văn Tuấn

17/04/2005

Thủ bút bằng tiếng Ðức của một bài báo đăng bằng tiếng Anh về E = mc² tựa
đề: "The Most Urgent Problem of Our Time". Ðăng trong tờ Science Illustrated,
1946.
Sau khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, có một nhà đại bác học được toàn thế
giới ca ngợi về một phương trình lừng danh nhất của Khoa Học, đó là phương trình
cho biết năng lượng của vật chất: E=mc2. Trong hàng chục năm trời, E = mc2 vẫn

chỉ là đề tài của các cuộc tranh luận về mặt lý thuyết, nhưng sự san bằng thành phố
Hiroshima vào năm 1945 do quả bom nguyên tử đã chứng minh sự thật của
phương trình đó.
Trước lời ca tụng, trước vinh quang rực rỡ, Albert Einstein, tác giả của phương
trình lừng danh kể trên lại, giữ một bộ mặt thẹn thùng, xa lạ. Sự quảng cáo thanh
danh đã quấy nhiễu ông suốt đời nhưng tất cả đều bị ông coi thường, lãnh đạm.
Einstein chỉ khao khát độc nhất sự trầm lặng để có thể suy nghĩ và làm việc.

1- Thời niên thiếu.

Albert Einstein sinh ngày 14-3-1879 tại Ulm, miền Wurtemberg, nước Đức.
Cái tỉnh nhỏ bé này không mang lại cho Albert một kỷ niệm nào cả vì năm sau, gia
đình Einstein đã di chuyển tới Munich. Sống tại nơi đây được một năm, một người
em gái của Einstein ra chào đời và từ đó không có thêm tiếng trẻ thơ nữa. Chủ gia
đình, ông Hermann Einstein là người lạc quan, tính tình vui vẻ. Còn bà mẹ, bà
Pauline Koch, đã tỏ ra có óc thẩm mỹ ngoài bản tính cần cù, tế nhị. Bà hay khôi hài
và yêu thích âm nhạc.
Vốn dòng dõi Do Thái nhưng gia đình Einstein lại sinh sống như người Đức vì tổ
tiên của họ đã sinh cơ lập nghiệp tại nước Đức lâu đời. Các phong tục Do Thái cũ
đều còn lại rất ít, trong khi tôn giáo bao giờ cũng là thứ mà họ giữ gìn. Vào các
ngày lễ riêng của đạo Do Thái, nhóm dân này thường cử hành các buổi lễ theo nghi
thức cổ truyền. Ngoài ra, cứ vào ngày thứ năm, gia đình Einstein thường mời một
sinh viên Do Thái nghèo túng đến dùng cơm rồi cùng nhau nhắc nhở lại các điều
răn trong Thánh Kinh

Cha Hermann Einstein
Mẹ Pauline Koch
Munich, thành phố mà Albert Einstein đã sống trong thời thơ ấu, là trung tâm
chính trị và văn hóa của nước Đức tại miền nam. Ông Hermann đã mở tại thành
phố này một cái xưởng nhỏ về điện cơ. Ông có một người em là kỹ sư điện nhiều
kinh nghiệm, hai anh em cùng góp sức vào việc khai thác nguồn lợi: anh trông nom
về mặt giao dịch buôn bán còn em cai quản phần kỹ thuật chuyên môn.
Từ ngày lọt lòng mẹ, cậu Albert chẳng có gì khác hơn những đứa trẻ thông thường.
Cậu chậm biết nói đến nỗi lên 3 tuổi mà còn bập bẹ tiếng một khiến cho cha mẹ
tưởng cậu bị câm. Hai ba năm sau, Albert vẫn còn là đứa trẻ ít nói, rút rát, thường
lánh xa mọi đứa trẻ cùng phố. Cậu ít bạn và không ưa thích đồ chơi. Đoàn lính
bằng chì của cha tặng cho cũng không làm cậu vui thích, điều này quả là khác
thường bởi vì xứ sở này phải gọi là quê hương của những đoàn quân thiện chiến,
của các tướng lãnh lừng danh như Bismarck, như Von Moltke. Cách giải trí mà cậu
ưa thích là hát khe khẽ các bài thánh ca khi dạo mát một mình ngoài cánh đồng.
Einstein đã sống trong tình thương của cha mẹ và bên cạnh người chú tài ba. Chính
nhờ ông này mà Einstein có được các khái niệm đầu tiên về Toán Học.

Hình lớp học tại Munich năm 1889. Einstein đứng thứ hai, bên phải, hàng đầu.
Câu chỉ giỏi toán và la tinh (Hình của Stadtarchiv, Ulm )
Thời bấy giờ tại nước Đức, các trường tiểu học không phải do chính phủ mở ra mà
được các giáo hội phụ trách. Tuy theo đạo Do Thái nhưng ông Hermann lại cho
con theo học một trường tiểu học Thiên Chúa giáo, có lẽ ông muốn con mình về
sau này sinh sống như một đứa trẻ Đức. Einstein đã theo dần các lớp tiểu học mà
không hề cảm thấy mình là một đứa trẻ khác đạo. Tại trường học, Albert Einstein
không tỏ ra xuất sắc. Bản tính rút rát và ưa tư lự của cậu khiến cho các bạn thường
chế riễu cậu là người mơ mộng.
Năm lên 10 tuổi, Albert Einstein rời trường tiểu học vào Gymnasium tức là
trường trung học Đức. Việc học của các thiếu niên Đức từ 10 tới 18 tuổi đều do
Gymnasium quyết định và cho phép lên Đại Học hay bước sang các ngành kỹ
thuật. Tại bậc trung học, học sinh phải học rất nhiều về tiếng La-Tinh và Hy Lạp.
Kỷ luật nhà trường rất nghiêm khắc, các giáo sư thường độc đoán và xa cách học
sinh. Sống tại một nơi có nhiều điều bó buộc như vậy, Albert Einstein cảm thấy
khó chịu. Có lần cậu nói: “Tại bậc tiểu học, các thầy giáo đối với tôi như các ông
Thượng Sĩ, còn tại bậc trung học, giáo sư là các ông Thiếu Úy”. Sự so sánh này
làm nhiều người liên tưởng tới đội quân của Vua Wilhelm II, với các ông Thượng
Sĩ là những người thô tục và tàn bạo còn sĩ quan thường ưa thích uy quyền, lại tỏ ra
bí mật và quan trọng.
Từ thuở nhỏ, Albert Einstein đã yêu thích học hỏi về Vật Lý. Cậu còn nhớ khi lên
5 tuổi, cha cậu cho cậu một chiếc địa bàn. Chiếc kim lúc nào cũng chỉ về một
hướng làm cho cậu bé này thắc mắc, suy nghĩ. Lớn lên, Einstein ưa thích đọc các
loại sách Khoa Học. Chàng sinh viên Do Thái tới ăn cơm vào ngày thứ năm đã
khuyên Einstein đọc bộ sách “Khoa Học Phổ Thông” của Aaron Bernstein. Nhờ
cuốn này mà Einstein hiểu biết thêm về Sinh Vật, Thực Vật, Vũ Trụ, Thời Tiết,
Động Đất, Núi Lửa cùng nhiều hiện tượng thiên nhiên khác.
Về Toán Học, không phải nhà trường cho cậu các khái niệm đầu tiên mà là gia

đình và ông chú ruột đã chỉ dạy cho cậu rõ ràng hơn các giáo sư tại Gymnasium.
Nhà trường đã dùng phương pháp cổ điển, cứng rắn và khó hiểu bao nhiêu thì tại
nhà, chú của cậu lại làm cho cách giải các bài toán trở nên vui thích, dễ dàng, nhờ
cách dùng các thí dụ đơn giản và các ý tưởng mới lạ.

Năm 12 tuổi, Albert Einstein
được tặng một cuốn sách về Hình Học. Cậu nghiền ngẫm cuốn sách đó và lấy làm
thích thú về sự rõ ràng cùng các thí dụ cụ thể trong sách. Nhờ cuốn này, cậu học
được cách lý luận phân minh và cách trình bày thứ tự của một bài tính. Do đó, cậu
hơn hẳn các bạn về môn Toán. Vì được cha mẹ cho học đàn vĩ cầm từ khi lên 6
tuổi nên càng về sau, Einstein càng yêu thích âm nhạc và cảm thông được vẻ trong
sáng và bay bướm trong các nhạc phẩm của Mozart. Năm 14 tuổi, Albert Einstein
đã được dự vào các buổi trình diễn âm nhạc và nhờ vậy, cậu thấy mình còn kém về
kỹ thuật vĩ cầm.
Đời sống tại nước Đức càng ngày càng khó khăn. Vào năm 1894, ông Hermann
đành phải bán cửa hàng của mình rồi sang Milan, nước Ý, mở một cơ xưởng tương
tự. Ông để con trai ở lại nước Đức theo nốt bậc trung học, vì chính nơi đây sẽ cho
phép con ông bước lên bậc Đại Học. Vốn bản tính ưa thích Tự Do, Albert Einstein
cảm thấy ngạt thở khi phải sống tại Gymnasium. Rồi quang cảnh ngoài đường phố
nữa: vào mỗi buổi chiều, khi đoàn lính đi qua, tiếng trống quân hành đã kéo theo
hàng trăm đứa trẻ. Các bà mẹ Đức thường bế con đứng xem đoàn thanh niên trong
bộ quân phục diễn qua, và ước mơ của các thiếu nhi Đức là một ngày kia, chúng sẽ
được đi đứng hiên ngang như các bậc đàn anh của chúng. Trái với sở thích chung
kể trên, Albert Einstein lại rất ghét Quân Đội, rất ghét Chiến Tranh. Về sau này, có
lần Einstein đã nói: “Tôi hết sức kinh rẻ kẻ nào có thể vui sướng mà đi theo nhịp
quân hành, nếu họ có một khối óc thì quả là nhầm lẫn rồi, một cái tủy xương sống
là đủ cho họ”.
Nền kỹ nghệ phát triển rất nhanh tại nước Đức đã khiến cho con người hầu như
quên lãng thiên nhiên. Trái lại tại nước Ý, cảnh thiên nhiên rực rỡ và bầu trời trong
sáng của miền Địa Trung Hải đã khiến cho Einstein tin tưởng đó là thiên đường nơi

hạ giới. Vì sống trong cảnh cô đơn quá đau khổ nên nhiều lần Albert Einstein đã
định bỏ trường học mà sang nước Ý sống với cha mẹ. Cuối cùng cậu tìm đến một y
sĩ và xin giấy chứng nhận mình bị suy yếu thần kinh, cần phải tĩnh dưỡng tại nước
Ý trong 6 tháng. Ông Hermann rất bực mình khi biết con bỏ dở việc học mà theo
sang Milan. Albert lại cho cha biết ý định từ bỏ quốc tịch Đức bởi vì cậu đã chán
ghét sự bó buộc của xứ sở đó. Nhưng cuộc sống tại Milan không phải dễ dàng.
Ông Hermann cũng không quyết định cư ngụ tại nơi đây và việc xin cho Albert
nhập quốc tịch Ý chưa chắc đã thành công trong một thời gian ngắn, như vậy
Albert sẽ là một người không có tổ quốc. Ông Hermann khuyên con trai nên chờ
đợi.
Thời gian sống tại nước Ý đối với Einstein thật là sung sướng. Cậu lang thang khắp
các đường phố, đâu đâu cũng vang lên tiếng hát của người dân yêu thích âm nhạc.
Cậu đi thăm rất nhiều viện bảo tàng, và các lâu đài tráng lệ với các tác phẩm nghệ
thuật đã làm cho mọi người phải say sưa, lưu luyến. Phong cảnh của nước Ý thực
là hữu tình nên đã khiến cho con người yêu mến thiên nhiên. Người dân tại nơi đây
không làm việc như một cái máy, không sợ quyền hành, không bị ràng buộc vào
các điều lệ nhân tạo gò bó mà trái lại, tất cả mọi người đều cởi mở, vui vẻ và hồn
nhiên.
Tại Milan, nghề điện đã không giúp được cho gia đình Einstein sung túc. Ông
Hermann phải bảo con trai đi kiếm một việc làm nuôi thân. Albert tính rằng để có
thể tiếp tục sự học, điều hay nhất là cậu xin vào một trường nào cấp học bổng. Vì
không tốt nghiệp từ Gymnasium, Albert không thể nào xin lên đại học được, vả lại
cậu khá về toán học nên một trường kỹ thuật sẽ hợp với cậu hơn.

2- Lúc trưởng thành.

Tại châu Âu vào thời kỳ đó, ngoài các trường kỹ thuật của nước Đức ra, trường
Bách Khoa tại Zurich là nơi danh tiếng. Trường này thuộc Liên Bang Thụy Sĩ là
một nước có nền chính trị trung lập ở châu Âu. Các sinh viên ngoại quốc nào
không thể theo đuổi sự học tại nước mình vì lý do chính trị, có thể tiếp tục sự học
tại nơi đây. Vì vậy trong trường Bách Khoa, số sinh viên nước ngoài cũng khá
đông. Muốn vào trường, sinh viên phải qua một kỳ thi tuyển. Einstein cũng nộp
đơn dự thi nhưng chàng bị rớt: chàng thiếu điểm về môn sinh ngữ và vạn vật, tuy
rằng bài toán của chàng thừa điểm. Thực vậy, sự hiểu biết của Einstein về Toán đã
vượt hơn các bạn.
Sau khi thi rớt, Einstein bắt đầu lo ngại. Cái viễn ảnh đen tối hiện lên trong trí óc
chàng. Cuộc mưu sinh của cha chàng tại nước Ý cũng gặp nhiều trắc trở. Einstein
tự trách đã nông nổi bỏ sang nước Ý và hối tiếc sự học tại Gymnasium khi trước,
tuy bó buộc thực nhưng đủ bảo đảm cho tương lai. Nhưng may mắn cho Albert, bài
làm xuất sắc về Toán của chàng đã khiến cho viên giám đốc trường Bách Khoa chú
ý. Ông ta khuyên chàng nên theo học tại một trường khá nổi danh thuộc tỉnh
Aarau. Einstein tự hỏi liệu nơi mình sẽ tới học có giống như các trường tại nước
Đức không? Cái hình ảnh cũ của ký túc xá hồi còn nhỏ khiến cho chàng sợ hãi lối
sống cũ và phân vân trước khi bước vào một nơi học mới. Bất đắc dĩ, Einstein đành
phải nhận lời.

Khi tới Aarau, Einstein đã ngạc nhiên hết sức: tất cả các điều ước đoán của chàng
khi trước đều sai hết. Nơi đây không có điều gì giống Gymnasium của nước Đức.
Tinh thần của thầy trò nơi đây khác hẳn: kỷ luật sắt không có, giáo sư cố công
hướng dẫn học sinh biết cách suy nghĩ và tự làm việc. Các bậc thầy đều là những
người cởi mở, luôn luôn tiếp xúc với học sinh, bàn bạc cùng cho họ những lới
khuyên bảo chân thành. Tinh thần học hành tại nơi đây đã theo đường lối dân chủ
thì phương pháp học tập cũng được canh tân theo đà tiến bộ. Học sinh được làm
lấy các thí nghiệm về Vật Lý và Hóa Học, được xem tận mắt các máy móc, các
dụng cụ khoa học. Còn các môn học khác cũng được giảng dạy bằng cách căn cứ
vào các dẫn chứng cụ thể, rõ ràng.
Sau một năm theo học tại Aarau, Einstein tốt nghiệp trung học và được nhận vào
trường Bách Khoa Zurich mà không phải qua một kỳ thi nào khác. Trường kỹ thuật
này đã cho chàng các sự hiểu biết căn bản về Vật Lý và Toán Học. Ngoài ra, vào
các thời giờ nhàn rỗi, Einstein thường nghiền ngẫm các tác phẩm khoa học của
Helmholtz, Kirchhoff, Boltzmann, Maxwell và Hertz.
Càng chú tâm đọc sách Vật Lý , Einstein lại càng cảm thấy cần phải có trình độ
hiểu biết rất cao về Toán Học. Tuy nhiên, vài giờ Toán tại trường đã không khiến
cho chàng chú ý, phải chăng do giáo sư toán thiếu khoa sư phạm? Thực vậy, ông
Hermann Minkowski, Giáo Sư Toán, đã không hấp dẫn được sinh viên vào các con
số tuy rằng ông là một nhà toán học trẻ tuổi nhưng xuất sắc. Dù sao, những ý tưởng
về các định luật Toán Học do ông Minskowski đề cập cũng đã thấm nhập ít nhiều
vào trí óc của Einstein và giúp cho chàng phát triển về môn Vật Lý sau này.

Tại nước Ý, cơ xưởng của ông
Hermann chỉ mang lại một nguồn lợi nhỏ nên Albert Einstein sống nhờ vào tiền trợ
cấp của một người trong họ. Hàng tháng chàng nhận được 100 quan Thụy Sĩ. Tuy
món tiền này quá nhỏ nhưng Einstein phải để dành 20 quan, hy vọng sau này sau
khi tốt nghiệp, chàng có đủ tiền xin được quốc tịch Thụy Sĩ. Vì cách tiết kiệm này,
chàng phải chịu cảnh thiếu thốn và không hề biết tới sự xa hoa.

Từ thuở nhỏ, Einstein đã ít chơi đùa cùng các đứa trẻ trong xóm thì ngày nay khi
sống tại trường đại học, chàng cũng vẫn là một sinh viên dè dặt. Tuy vậy, không
phải Einstein không có bạn thân. Chàng hay tiếp xúc với Friedrich Adler. Anh
chàng này là người Áo, con một nhà lãnh tụ phe Dân Chủ Xã Hội thuộc thành phố
Vienna và ông này không muốn con trai của mình dính dáng tới chính trị nên đã
gửi Adler tới Zurich theo học. Einstein còn có một cô bạn gái rất thân: cô Mileva
Maritsch, người Hung. Cô này thường trao đổi bài vở với Einstein.

Vào năm 1901, Albert Einstein tốt nghiệp
trường Bách Khoa và cũng trở nên công dân Thụy Sĩ. Đối với những sinh viên mới
ra trường và có năng khiếu về Khoa Học thì ước mơ của họ là làm thế nào có thể
xin được một chân giúp việc cho một giáo sư đại học nhiều kinh nghiệm rồi nhờ
vậy có thể học hỏi thêm những phương pháp khảo cứu khoa học của ông ta.
Einstein cũng mong ước như thế nhưng các đơn xin đều bị khước từ. Không xin
được việc tại trường đại học, Einstein quay sang việc nạp đơn vào một trường
trung học, nhưng mặc dù có nhiều thư giới thiệu nồng nàn, mặc dù xuất thân từ
trường Bách Khoa và có quốc tịch Thụy Sĩ, Einstein vẫn không xin được việc làm.
Phải chăng người ta đã không coi chàng như một người dân chính gốc mà chỉ là
một công dân trên giấy tờ?
Chờ mãi thì phải có việc: một người bạn của Einstein giới thiệu chàng với ông
Haller, giám đốc Phòng Văn Bằng ở Berne. Văn Phòng này đang thiếu một người
thạo về các phát minh khoa học trong khi Einstein lại chưa có một kinh nghiệm gì
về kỹ thuật cả. Nhưng sau một thời gian thử việc, Einstein được chấp nhận. Bổn
phận của chàng là phải xem xét các bằng sáng chế: công việc này không phải là dễ
vì các nhà phát minh thường là các tài tử, không biết diễn tả những điều khám phá
theo thứ tự, rõ ràng.

Nhờ làm việc tại Phòng Văn
Bằng, Einstein được lãnh lương 3 ngàn quan. Cuộc sống tương đối dễ chịu khiến
chàng nghĩ đến việc hôn nhân. Einstein cưới cô bạn gái cũ là Mileva Maritsch tuy
nàng hơn chàng vài tuổi. Mileva là người có tư tưởng hơi tiến bộ lại không biết
cách sống hòa mình với các người chung quanh, vì vậy gia đình Einstein không
được hạnh phúc lắm. Ít lâu sau, hai người con trai ra đời, đứa con cả cũng mang tên
Albert như cha. Einstein đã tìm được hạnh phúc bên hai đứa con kháu khỉnh.
3- Thời kỳ khảo cứu Khoa Học.
Sau nhiều tháng sống tại Berne, Albert Einstein thấy rằng các công việc tại Phòng
Văn Bằng càng ngày càng trở nên dễ dàng hơn, vì vậy ông có đủ thời giờ để tâm
tới môn Vật Lý Toán Học.
Tuy Einstein ưa thích lối sống cô đơn nhưng không phải là ông không có cảm tình
với các người chung quanh. Tư tưởng cởi mở của ông khiến cho ông có nhiều bạn.
Sự vui đùa và cách châm biếm khiến ông luôn luôn vui nhộn và đầy nhựa sống. Nụ
cười hiện ra trên môi làm cho mọi người phải chú ý đến ông. Người nào đã sống
gần Einstein đều nhận thấy rằng sự cười đùa của ông là một nguồn vui, song đôi
khi nó còn là sự chỉ trích. Hình như Einstein có cảm tình với bất cứ ai, nhưng ông
lại không thích đi tới sự quá thân mật khiến cho ông thiếu tự do. Phải chăng sự ưa
thích sống cô đơn để hy sinh hoàn toàn cho Khoa Học đã làm cho Einstein xa cách
các bạn bè trong khi nội tâm của ông lại có tình cảm với tất cả mọi người. Mãi về
sau, vào năm 1930, Einstein đã phân tích cái trạng thái tình cảm đó như sau: “vì tôi
say mê sự công bằng và nhiệm vụ xã hội nên tôi đã phạm phải một điều tương
phản kỳ lạ khá quan trọng là tôi thiếu sự hợp tác trực tiếp với mọi người. Tôi là
một con ngựa tự thắng lấy yên cương".
Tại Berne, ngoài thời giờ khảo cứu về Toán và Vật Lý Học, Einstein còn để tâm
đến Triết Học. Vài triết gia đã giúp ông học được các nguyên tắc đại cương của
phương pháp luận lý. Chính phương pháp này cho phép các nhà bác học diễn tả
những điều nhận xét trực tiếp thành các định luật rõ ràng. David Hume, Ernest
Mach, Henri Poincaré và Emmanuel Kant thuộc vào hạng các triết gia kể trên. Còn
Schopenhauer và Nietzsche khiến Einstein chú ý vì các vị này đã phát biểu các tư

tưởng đôi khi không cần thiết, đôi khi tối nghĩa bằng các câu văn đẹp đẽ, gợi lên
cho người đọc những cảm xúc, khiến cho người ta phải mơ màng, suy nghĩ, chẳng
khác gì một người biết nhạc được thưởng thức vài khúc tiết tấu nhịp nhàng. Tuy
nhiên, David Hume (1711-1776, người Anh) vẫn là người được Einstein ưa thích
nhất. Nhiều người biết rằng triết gia gốc Anh này là người khởi xướng phương
pháp luận lý thực nghiệm và cách trình bày suy luận của ông ta thực là sáng sủa,
phân minh.
Suốt trong 5 năm trường, từ 1901 tới 1905, các cố gắng tư tưởng của Einstein đã
mang lại kết quả: ông đã nghiên cứu và lập ra định luật liên kết thời gian và không
gian. Vào một buổi sáng tháng 6 năm 1905, viên chủ nhiệm tạp chí Annalen der
Physik tại Munich tiếp một thanh niên tóc đen không chải, quần áo cũ kỹ. Thanh
niên đó đưa viên chủ nhiệm một cuộn giấy 30 trang và yêu cầu đăng trên tạp chí
khoa học.
Albert Einstein đã trình bày “Thuyết Tương Đối” của mình trên tờ báo vật lý
Annalen der Physik. Ông đã đề cập đến sự tương quan của năng lượng và khối
lượng bằng một phương trình lừng danh nhất của Khoa Học: E = MC2. Nói một
cách đại cương, phương trình trên có nghĩa là năng lượng của vật chất thì bằng
khối lượng nhân với bình phương tốc độ của ánh sáng. Theo lý thuyết này, nếu
người ta biết một phương pháp kỹ thuật, thì với một ký than gỗ, hay một ký đá sỏi,
hay một ký mỡ heo, người ta có thể rút ra một năng lượng tương đương với 25
ngàn triệu (tỷ) kilowatt-giờ điện lực [1], nghĩa là số điện lực sản xuất thời bấy giờ
của tất cả các nhà máy phát điện tại Hoa Kỳ chạy suốt trong một tháng mà không
nghỉ.
Sau khi bài khảo cứu của Albert Einstein được phổ biến tại châu Âu, thì Henri
Poincaré ở Pháp, Hendrik Lorentz ở Hòa Lan, Max Planck ở Đức, cùng tất cả các
đầu óc khoa học vĩ đại thời bấy giờ đều sửng sốt và đã viết thư hỏi tòa báo : - “Ai
đã viết bài báo đó ? Có phải là một giáo sư đại học không? ". Tòa báo đã trả lời : “Một thanh niên Do Thái, quốc tịch Đức, 26 tuổi, giúp việc tại Phòng Văn Bằng tại
Berne”.
Bài khảo cứu của Einstein đã làm cho nhiều người thắc mắc, nghi ngờ. Vào thời kỳ
đó, ít người đo lường nổi sự quan trọng lớn lao của học thuyết Einstein nhưng dù
sao, lý thuyết đó đã cách mạng hóa quan niệm của con người về Vũ Trụ. Henri
Poincaré khi đó đã viết về Albert Einstein như sau: “Ông Einstein là một trong các
đầu óc khoa học phi thường mà tôi chưa từng thấy. Đứng trước một bài tính vật lý,
ông Einstein đã không bằng lòng với các nguyên tắc cổ điển sẵn có, mà còn nghiên
cứu tất cả các trường hợp có thể nhận được”.
Thật là kỳ lạ khi công trình khảo cứu có giá trị lớn lao đó lại do một nhân viên
xoàng của Phòng Văn Bằng phổ biến. Người ta vội mời ông giảng dạy tại trường
Đại Học Zurich. Mọi người đều biết rằng tại các trường Đại Học, trước khi trở
thành một giáo sư thực thụ, ai cũng phải trải qua thời kỳ của một giảng sư. Einstein

nhận giữ chân này theo lời khuyên của Giáo Sư Kleiner.
Chân Giáo Sư môn Vật Lý Lý Thuyết tại trường Đại Học Zurich bị trống. Vì vấn
đề chính trị, hội đồng quản trị đại học mời Friedrich Adler, giảng sư, lên phụ trách,
nhưng Adler đã từ chối và nói: - “Nếu có thể có một người như Einstein vào Đại
Học của chúng ta thì việc gọi đến tôi thật là vô lý. Tôi thú nhận rằng trình độ hiểu
biết của tôi không thấm vào đâu với Einstein. Chúng ta không nên vì vấn đề chính
trị mà không mời một người có thể làm cho mức hiểu biết tại bậc đại học được cao
hơn". Vì vậy vào năm 1909, Einstein được bổ nhiệm làm “Giáo Sư Đặc Cách” của
trường Đại Học Zurich.
Tuy bước lên một địa vị cao hơn trong xã hội, nhưng lúc nào Einstein cũng thản
nhiên, bình dị. Cuộc sống mới này tuy khá hơn trước về mặt tài chính, nhưng bà vợ
ông vẫn phải chứa trọ các sinh viên để kiếm thêm tiền. Trước tình trạng vật chất
còn eo hẹp đó, Einstein đã có lần nói đùa như sau: “Trong Thuyết Tương Đối của
tôi, tôi đã đặt rất nhiều đồng hồ tại khắp nơi trong Vũ Trụ nhưng thực ra, tôi thấy
không có đủ tiền mua nổi một chiếc để đặt ngay trong phòng của chính mình”.
Thời gian sinh sống tại Zurich thật là phẳng lặng, hai ông bà Einstein cùng hồi
tưởng thời sinh viên và coi cái tỉnh này như một tổ quốc nhỏ bé, nhưng yêu dấu.
Năm 1910, Đại Học Đường thuộc Đức tại Prague, Tiệp Khắc, thiếu một chân giáo
sư vật lý lý thuyết. Đây là trường đại học cổ nhất của miền Trung Âu. Trong hậu
bán thế kỷ 19, các giáo sư Tiệp và Đức cùng nhau giảng dạy, nhưng rồi cuộc tranh
chấp chính trị đã khiến cho nhà cầm quyền quyết định rằng từ năm 1888, trường
đại học này được phân ra làm hai, một đại học Đức, một đại học Tiệp. Sự phân
chia đó đã làm cho các giáo sư và sinh viên của hai đại học đường không liên lạc gì
với nhau và còn hiềm khích nhau nữa.
Theo nguyên tắc, trường đại học đề nghị các giáo sư vào các ghế trống, còn ông Bộ
Trưởng Giáo Dục chỉ định vị được tuyển dụng nhưng thực ra vào thời kỳ đó, quyền
chọn lựa thuộc về nhà vật lý học Anton Lampa, một người đã có công trong việc
canh tân phương pháp giáo dục. Lúc bấy giờ có 2 người đủ khả năng: Gustave
Jaumann, giáo sư thuộc Viện Kỹ Thuật Brno và Albert Einstein là người thứ hai.
Theo quy luật, thứ tự các người được chọn lựa phải căn cứ vào công cuộc khảo cứu
khoa học của họ, và vì lý thuyết của Einstein được nhiều người biết tới, Einstein
được xếp lên trên Jaumann. Nhưng cuối cùng, ông Bộ Trưởng Giáo Dục lại trao
chức vụ cho Jaumann, vì ông ta không muốn bổ nhiệm một người ngoại quốc.
Jaumann từ chối. Chức vụ về tay Einstein.
Phải rời bỏ Zurich để đến một nơi xa lạ là một điều gia đình Einstein không muốn,
ông do dự nhưng cuối cùng nhận lời. Sống tại Prague, Einstein thường gặp gỡ
Ernest Mach, Viện Trưởng Đại Học và cũng là một nhân vật nổi danh về một
ngành Triết Học. Trong thời gian giảng dạy tại Prague, ngoài việc xây dựng lý
thuyết về trọng lực, Einstein còn để tâm tới lý thuyết về Quanta ánh sáng của Max

Planck. Thuyết ánh sáng truyền theo làn sóng của Augustin Fresnel và thuyết Điện
Từ của James Maxwell đã không thể cắt nghĩa được hiện tượng Quang Điện
(photoelectric effect). Einstein liền dùng công cuộc khảo cứu của Planck vào các
điều suy đoán của mình.
Vào năm 1911, một hội nghị khoa học nhỏ được tổ chức tại Bruxelles, nước Bỉ.
Người đứng ra tổ chức là nhà triệu phú Ernest Solvay. Ông này là một kỹ nghệ gia
về Hóa Chất và đã thành công lớn. Tuy giàu có nhưng Solvay vẫn yêu thích Khoa
Học và có khảo cứu chút ít về Vật Lý. Solvay muốn được nhiều người chú ý đến
công lao của mình.
Trong số các bạn, nhà triệu phú Solvay thường giao du với Walther Nernst, một
nhà hóa học danh tiếng. Walter Nernst nghĩ đến ý thích của Solvay và đến ích lợi
của Khoa Học, nên đề nghị với nhà triệu phú chịu phí tổn cho một hội nghị gồm
các nhà bác học danh tiếng của châu Âu và các vị này sẽ bàn luận về các trở ngại
của “Nền Vật Lý Mới” rồi nhân dip này, Solvay có thể trình bày lý thuyết của
mình. Ernest Solvay ưng thuận. Hội nghị được tổ chức. Sir Ernest Rutherford đại
diện cho Anh Quốc, Henri Poincaré và Paul Langevin thay mặt cho Pháp Quốc,
Max Planck và Walther Nernst đại diện cho Đức Quốc, H.A. Lorentz là đại biểu
của Hòa Lan, xứ Ba Lan được thay mặt bởi bà Marie Curie khi đó đang làm việc
tại Paris, còn Albert Einstein đại diện cho Áo Quốc cùng với Franz Hasenohrl.
Hội nghị Solvay
Hội nghị lấy tên là Solvay và diễn ra trong vòng thân mật. Không ai chỉ trích lý
thuyết của ông Solvay cả, tất cả đều tránh vì muốn tỏ lòng biết ơn và lịch sự đối
với chủ nhân. Ngoài ra, trong cuộc bàn cãi, mọi người đều kinh ngạc về những ý
tưởng mới lạ của Einstein. Sau hội nghị, Solvay nhận rõ chân giá trị của buổi gặp
gỡ nên về sau, ông ta thường tổ chức các buổi họp khác mà vai chính là Einstein.
Năm 1912, sau một thời gian sống tại Prague, Einstein lại được giấy mời giữ chân
giáo sư môn vật lý lý thuyết tại trường Bách Khoa Zurich. Trường này thuộc quyền
của Liên Bang Thụy Sĩ nên rất lớn, và những kỷ niệm của tuổi trưởng thành làm
cho Einstein cũng muốn quay về nơi chốn cũ. Hơn nữa, bà Mileva vợ ông, lại cảm
thấy khó chịu khi sống tại Prague và mong muốn trở lại Zurich, tổ quốc nhỏ bé của
bà. Vì vậy Einstein cùng gia đình rời Prague.
Sự ra đi khỏi thành phố Prague của Einstein làm cho nhiều người xao động. Ai
cũng muốn lưu giữ danh tiếng của nhà bác học cho địa phương của mình. Các báo
chí cho rằng các bạn của ông đã ngược đãi Einstein và bắt ông xin đổi đi. Có người
lại nói vì ông gốc Do Thái, nhà cầm quyền không đối xử tử tế với ông khiến cho
Einstein phải từ giã Prague. Đúng ra, các điều kể trên trái với sự thực. Tại Prague,
Einstein cảm thấy dễ chịu và người dân nơi này với tính tình cởi mở, đã làm cho
ông quý mến họ.
Tới cuối năm 1912, Albert Einstein trở thành Giáo Sư Thực Thụ của trường Bách

Khoa Zurich và mang lại danh tiếng cho đại học này. Einstein làm việc không
ngừng. Các lý thuyết mới về Toán của các nhà toán học Ý Đại Lợi Ricci và LeviCivita đã làm cho Einstein chú ý đến. Ông cùng với Marcel Grossmann, một người
bạn cũ, khảo cứu các phương pháp toán học mới ngõ hầu có thể dùng cho lý thuyết
về Trọng Lực.
Vào năm 1913, một hội nghị các nhà bác học Đức được tổ chức tại Vienna. Người
ta mời Einstein tới trình bày lý thuyết về Trọng Lực của ông. Trong buổi thuyết
trình này, ai cũng phải sửng sốt về các ý tưởng mới mẻ, quá kỳ dị của Einstein.
Mọi người trông chờ ở ông một lý thuyết tổng quát, tân kỳ.
Berlin, thủ đô của nước Đức, dần dần trở nên Trung Tâm Chính Trị và Kinh Tế của
châu Âu. Hơn nữa, người Đức còn muốn thành phố này là nơi tập trung Khoa Học
và Nghệ Thuật. Riêng về Khoa Học, muốn cho bộ môn này phát triển, cần phải có
các viện khảo cứu và nhiều nhà bác học danh tiếng. Tại Hoa Kỳ, ngoài các trường
đại học ra, còn có các viện khảo cứu được các nhà tư bản như Rockfeller,
Carnegie, Guggenheim trợ giúp. Hoàng Đế Wilhelm II cũng muốn các công chình
tương tự được thực hiện tại nước mình. Vì thế các kinh tế gia, kỹ nghệ gia và các
thương gia Đức cùng nhau góp công, góp của vào việc thành lập Viện Kaiser
Wilhelm Gesellschaft. Được tuyển làm nhân viên của Viện là một danh dự lớn lao,
lại được danh hiệu Viện Sĩ, được mặc y phục lộng lẫy và đôi khi được tham dự các
buổi yến tiệc với nhà vua.
Người ta đang tìm kiếm các nhà bác học lỗi lạc và sự chọn lựa được căn cứ theo
giá trị khoa học của từng người. Vào thời kỳ đó, Max Planck và Walther Nernst là
hai nhân vật dẫn đầu về Khoa Học của nước Đức. Hai ông này khuyên vị Giám
Đốc Viện Wilhelm, ông Adolphe von Harnack, gửi giấy mời Albert Einstein, một
ngôi sao sáng đang lên của nền trời Vật Lý Mới. Einstein cũng được Planck và
Nernst khuyên nhủ nên nhận lời để sau này có thể trở nên nhân viên của Hàn Lâm
Viện Hoàng Gia Phổ, một danh dự mà các giáo sư Đại Học Đường Berlin đều ao
ước. Einstein được mời vào Viện Hoàng Đế Wilhelm thực.
Công việc của Einstein trong Viện sẽ là nghiên cứu theo ý riêng của mình. Ông lại
được mời làm Giáo Sư Đại Học Đường Berlin, tại nơi này công việc giảng dạy
nhiều hay ít tùy ý. Việc quản trị đại học đường cùng với việc trông coi các kỳ thi,
ông sẽ không phải để tâm tới. Einstein được hoàn toàn tự do khảo cứu.

Riêng đối với Einstein, ông cũng
phân vân trước việc trở lại Berlin. Cái xã hội đó không hợp với thâm tâm của ông
thực, nhưng địa vị cao sang sẽ giúp cho cuộc sống hàng ngày của ông dễ chịu hơn.
Nhà bác học bị giằng co giữa hai ý tưởng: quan niệm sống cho Khoa Học, cho bản
thân và ý tưởng về một chủ nghĩa xã hội hợp đạo lý. Ngoài ra tại Berlin, Einstein
còn có cô em họ, cô Elsa. Ông có gặp cô này vài lần và thấy có cảm tình với nàng.
Cuộc ly dị cách đây vài năm với cô Mileva vì bất đồng ý kiến ở vài điểm, đã khiến
Einstein nghĩ tới việc lập lại một gia đình mới. Chính điều này cũng góp đôi phần
vào quyết định của Einstein trở lại thành phố Berlin. Einstein từ bỏ Zurich vào cuối
năm 1913.
Đúng vào năm 34 tuổi, Albert Einstein là nhân viên của Viện Hàn Lâm Berlin
và tượng trưng cho một thanh niên sống giữa các đồng viện hầu hết đều cao tuổi
hơn, đều là những bậc lão thành trong cuộc sống đại học. Những vị này thường tự
cho là quan trọng, trong khi cách cư xử của Einstein lại dễ dàng, bình dị. Tại
Berlin, vài vật lý gia thường họp với nhau để bàn luận các vấn đề Khoa Học. Trong
các buổi thảo luận đó, ngoài Einstein, Planck và Nernst ra, người ta còn thấy Max
Von Laue, Jacques Franck, Gustave Hertz, cô Lise Meitner và sau này có Erwin
Schrödinger, người đã có công về Thuyết Lượng Tử (theorie quantique).
Einstein sống tại Berlin chưa được một năm thì Thế Chiến Thứ Nhất bùng nổ. Một
số các nhà bác học thấy rằng mình cũng phải góp phần với các chiến sĩ ngoài mặt
trận. Họ liền hoạt động trong phạm vi của họ, tức là nghiên cứu và chế tạo các
dụng cụ chiến tranh. Walther Nernst chế tạo hơi ngạt, Fritz Haber, người bạn thân
của Einstein, nghiên cứu việc điều chế ammoniac bằng cách dùng khí nitrogen rút
ra từ không khí.
Trong thời gian sống tại Berlin này, Einstein đã gặp cô Elsa, một người em họ, một
người bạn từ thuở nhỏ. Cô này lúc bấy giờ góa chồng và có 2 đứa con riêng, song
cô là người tính tình vui vẻ, lại đảm đang. Hai người thành hôn với nhau và sống
một cuộc đời tương đối đầy đủ, nhưng hạnh phúc.

4- Hoạt động chính trị.
Từ trước, Albert Einstein vẫn ghét chiến tranh. Ông cho phổ biến các ý tưởng của
mình. Einstein đã diễn thuyết tại nhiều nơi như Hòa Lan, Tiệp Khắc, Áo, vừa giảng
giải về lý thuyết vật lý, vừa biện họ cho ý tưởng hòa bìn...
 
Gửi ý kiến