Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

AESOP BẤT HỦ TẬP 1

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 13h:27' 16-01-2024
Dung lượng: 3.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
AESOP BẤT HỦ 1
First News
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Giám đốc - Tổng Biên tập
ĐINH THỊ THANH THỦY
Biên tập: Hồ Công Hoài Dũng
Trình bày & Bìa: Dương Mai
Sửa bản in: Vịnh Nghi
Tác giả: Aesop
Minh họa: Val Biro
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
62 Nguyễn Thị Minh Khai - Q.1 - TP.HCM
ĐT: 38225340 - 38296764 - 38247225 - Fax: 84.8.38222726
Email: tonghop@nxbhcm.com.vn
Sách online: www.nxbhcm.com.vn / Ebook: www.sachweb.vn
NHÀ SÁCH TỔNG HỢP 1
62 Nguyễn Thị Minh Khai, Q.1, TP.HCM - ĐT: 38 256 804
NHÀ SÁCH TỔNG HỢP 2
86 - 88 Nguyễn Tất Thành, Q.4, TP.HCM - ĐT: 39 433 868
Thực hiện liên kết
Công ty TNHH Văn hóa Sáng tạo Trí Việt (First News)
11H Nguyễn Thị Minh Khai, P. Bến Nghé, Q.1, TP. HCM
In 3.000 cuốn, khổ 19 x 26 cm tại Công ty TNHH In Thương
mại Trần Châu Phúc (509 Tân Hòa Đông, P. Bình Trị Đông, Q.
Bình Tân, TP. HCM). Xác nhận đăng ký xuất bản số: 4316-2019/
CXBIPH/01-337/THTPHCM ngày 29/10/2019 - QĐXB số: 1253/
QĐ-THTPHCM-2019 cấp ngày 07/11/2019. ISBN:
978-604-58-9922-9. In xong và nộp lưu chiểu quý IV/2019. 

THE LION AND THE MOUSE - SƯ
TỬ VÀ CHUỘT

Once a lion caught a mouse. He wanted to eat it.
“This mouse is so small it will never make me a meal,” said the lion.
“But I might as well gobble it up.”
Một con sư tử bắt được một con chuột. Nó muốn ăn con chuột.
“Con chuột này quá nhỏ, nó chẳng thể là một bữa ăn cho mình”,
sư tử nói. “Nhưng có lẽ mình cũng sẽ nuốt nó vậy.”

“Please let me go!” cried the mouse. “Be kind to me and one day I will
help you”.
That was a funny thing to say because how could a tiny mouse ever
help a big strong lion? It sounded ridiculous!
“Làm ơn thả tôi đi!”, con chuột kêu khóc. “Hãy tử tế với tôi và một
ngày nào đó tôi sẽ giúp đỡ anh.”
Chuyện đó nói ra nghe hết sức buồn cười, bởi vì một con chuột bé
tí thì có thể giúp cho một con sư tử to lớn mạnh mẽ như thế nào
được chứ? Nghe thật lố bịch!

The lion laughed. “How could a little mouse ever help me?” But he let
the mouse go because the mouse was brave enough to speak to him.
Besides, the lion wasn't very hungry anyway.
The mouse squeaked his thanks and scampered away.
Sư tử bật cười. “Một con chuột nhỏ xíu thì giúp ích được gì cho ta
chứ?”. Nhưng nó vẫn thả con chuột đi, bởi vì con chuột đã dũng
cảm nói chuyện với nó. Hơn nữa, dù sao sư tử cũng không thấy
đói lắm.
Chuột rúc rích nói lời cảm ơn và phóng đi.

Soon after, the lion was caught in a net. He had been hunting in the
forest because by then he really was hungry. He did not know that
some men, who were also out hunting, had set a trap for him. He
roared with anger. It was a frightening sound. All the animals in the
forest ran away from the terrible noise, except one.
Không lâu sau đó, con sư tử bị mắc kẹt trong một tấm lưới. Nó
đang đi săn trong rừng bởi lúc đó nó thực sự rất đói. Nó không biết
rằng có mấy người đàn ông cũng đang đi săn đã gài sẵn cái bẫy
cho nó. Nó gầm lên giận dữ. Đó là một thứ âm thanh khủng khiếp.
Muôn loài trong rừng đều bỏ chạy trước thứ thanh âm đáng sợ đó,
ngoại trừ một con vật.

The mouse heard the lion's roar and ran to help.
He knew that the lion was in trouble, and he remembered the promise
he had made when the lion had let him go.
Chuột nghe thấy tiếng gầm của sư tử và chạy đến giúp.
Nó biết sư tử đang gặp rắc rối, và nó nhớ lời hứa mình đã hứa khi
sư tử thả nó đi.
The mouse saw that the lion was caught in a net made of strong
ropes. With his sharp little teeth the mouse bit through the net. It was
hard work and took a long time but the mouse went on nibbling until
at last he made a big hole in the net.
Chuột nhìn thấy sư tử bị kẹt trong một tấm lưới được bện từ
những sợi thừng chắc chắn. Với những cái răng nhỏ sắc nhọn của
mình, con chuột cắn thủng tấm lưới. Việc đó khá nhọc nhằn và
tốn thời gian nhưng chuột vẫn tiếp tục gặm nhấm cho đến khi nó
tạo được một cái lỗ to trên tấm lưới.

The lion was free! He climbed out of the trap and smiled his thanks at
the mouse. The mouse sat down and smiled back at the lion. You see,
a mouse can help a lion! And from that day on the mouse and the lion
were the best of friends.
Sư tử được tự do! Nó trèo ra khỏi cái bẫy và mỉm cười cảm ơn
chuột. Chuột ngồi xuống và mỉm cười đáp lại sư tử. Bạn thấy đấy,
một con chuột có thể giúp đỡ một con sư tử! Và kể từ hôm đó,
chuột và sư tử đã trở thành bạn thân của nhau.

THE FOX AND THE STORK - CÁO
VÀ CÒ

Fox and stork were good friends and they often spent their days
together. There was only one problem fox was always playing tricks
on stork.
One day fox asked stork to dinner. He wanted to play a trick on her.
“This will be one of my best,” he thought.
Cáo và cò là bạn thân của nhau và chúng thường ở bên nhau cả
ngày. Có một rắc rối duy nhất là cáo thường hay chơi khăm cò.
Một hôm, cáo mời cò đến ăn tối. Nó muốn chơi khăm cò. “Đây sẽ là
một trong những trò chơi khăm đỉnh nhất của mình”, nó nghĩ.
When stork arrived, he politely showed her into the house. The
steaming hot soup was already served, and it smelled delicious. But
fox had played a trick! He put the soup in two dishes but did not lay
out any spoons, and he knew stork would be too polite to ask for one.
Khi cò đến, cáo lịch sự dẫn cò vào nhà. Món súp nóng hổi đang bốc
khói kia đã sẵn sàng, và mùi thơm của nó có vẻ ngon lành. Nhưng
cáo đã giở trò! Nó múc súp vào hai cái dĩa nhưng lại không bày ra
cái muỗng nào, và nó biết cò vốn quá lịch sự nên sẽ không hỏi
mượn muỗng.

When they sat down, fox began to eat straight away, lapping up the
soup with his long tongue. He cleaned his dish in no time. But stork
could not drink the soup because of her long beak. How fox laughed!
Poor stork went home hungry, while fox lapped up her soup as well.
Khi cả hai ngồi xuống, cáo bắt đầu ăn ngay tức thì, nó liếm món
súp với cái lưỡi dài của mình. Nó nhanh chóng vét sạch cái dĩa.
Nhưng cò không thể dùng món súp vì cái mỏ dài của mình. Cáo
cười nắc nẻ! Cô cò tội nghiệp về nhà với chiếc bụng đói meo, trong
khi cáo liếm luôn phần súp của cò.

Now stork was angry. The time had come for sly fox to be taught a
lesson. She sat down to work out a plan.
"Aha!" she nally said with glee, "I know how to pay him back!" and
she went about making her preparations.
Soon after she asked Fox if he would come to dinner.
Giờ thì cò đã tức giận rồi. Đã đến lúc con cáo ranh mãnh phải được
dạy cho một bài học. Cò ngồi xuống để lên kế hoạch. À ha! Cuối
cùng cò reo lên vui sướng: “Mình biết phải trả đũa cậu ta thế nào
rồi!”. Và cò bắt đầu chuẩn bị kế hoạch. Không lâu sau, cò mời cáo
đến nhà ăn tối.
Fox arrived at the arranged time. There was the most delicious smell
of meat in the air and he could hardly wait. Stork put the meat in
two jugs with long necks. When fox sat down, he stared at the table in
dismay. There in front of him was stork's trick.

Cáo đến đúng giờ hẹn. Mùi thức ăn ngon lành tỏa trong không khí
và nó gần như không đợi được. Cò múc thức ăn vào hai cái bình
cao cổ. Khi cáo ngồi xuống, nó nhìn chằm chằm bàn ăn với cảm
giác khó chịu. Trước mặt nó đang là màn chơi khăm của cò.

Clever stork! She knew perfectly well that fox would never get his big
nose down the neck of the narrow jug, and he would be too polite to
pick it up and tip the meat into his mouth. Now it was fox who could
not eat!
Ả cò này thông minh thật! Cò biết chính xác là cáo không bao giờ
đưa được chiếc mũi to của nó xuống cái cổ hẹp của cái bình, và cáo
quá lịch sự nên sẽ không bê cái bình lên và đổ thức ăn vào miệng.
Giờ thì đến lượt cáo không thể ăn được!

Fox just sat there, glaring at Stork as she delicately picked out the
meat with her long beak. Soon she had nished her own meal, and
then she pulled her guest's jug towards her and ate his as well. So
stork nished both dinners, and fox went home hungry.
Cáo ngồi đó, trừng mắt nhìn cò gắp thức ăn bằng cái mỏ dài của
mình một cách điệu nghệ. Chẳng mấy chốc cò đã ăn xong bữa ăn
của mình, rồi cô nàng kéo cái bình của vị khách về phía mình và
ăn luôn phần của cáo. Vậy là cò đã ăn hết bữa tối của cả hai, còn
cáo thì trở về nhà với cái bụng đói.
And since then, fox has always thought twice before playing tricks on
stork.
Và kể từ đó, cáo luôn luôn cân nhắc kỹ càng trước khi muốn chơi
khăm cò.

THE ASS IN THE POND - CON
LỪA TRONG AO NƯỚC

An ass had a big load of salt on his back. He was walking home from
market behind the farmer who carried nothing but a stick and
whistled happily as he walked.
Một con lừa thồ một bao muối lớn trên lưng. Nó đi từ chợ về nhà,
theo sau người nông dân không mang một thứ gì ngoài một cây
gậy và vừa bước đi vừa huýt sáo vui vẻ.

The ass was miserable. He was hot and thirsty and it was di cult to
walk because his load was so heavy. But he plodded on, groaning
under the weight and slipping and tripping on the rough and dusty
road.
Con lừa khổ sở lắm. Nó vừa nóng vừa khát và bước đi khó khăn do
phải tải nặng. Nhưng nó vẫn lê bước, rên rỉ dưới sức nặng và trượt
tới vấp lui trên con đường mấp mô bụi bặm.

The road was getting rougher and dustier and the ass kept slipping
more and more until, suddenly, there was a disaster. He slipped and
fell into the pond. Splash!
Con đường trở nên gập ghềnh và bụi bặm hơn, con lừa tiếp tục
trượt tới trượt lui cho đến khi, bất thình lình, tai họa ập xuống. Nó
trượt chân và ngã vào một cái ao. Tõm!
“My salt! My salt!” cried the farmer in alarm, knowing what would
happen to his precious salt if it got wet. He tried to pull it out but the
water washed away all the salt.
"Muối của ta! Muối của ta!", người nông dân hoảng hốt kêu lên,
ông ta biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu số muối quý giá của mình bị
ướt. Ông ta cố gắng lôi nó ra khỏi ao nhưng nước đã làm tan hết số
muối.

The ass wasn't worried at all. He enjoyed the nice cool water. When
the ass got out his load was much lighter because now the sacks on his
back were almost empty.
Con lừa chẳng bận tâm chút nào. Nó thích thú tận hưởng làn nước
mát lành. Khi con lừa ra khỏi cái ao, gánh nặng trên lưng nó nhẹ
đi bởi vì giờ đây bao tải trên lưng nó gần như chẳng còn gì.
Now it was the ass who felt cool and light and happy, and the farmer,
who had lost all his salt, felt hot and bothered and miserable.
Giờ thì con lừa cảm thấy mát mẻ, nhẹ nhõm và vui sướng, còn
người nông dân vừa mất hết số muối của mình cảm thấy nóng
nực, khó chịu và khổ sở.

The next day the ass had a big load of sponges on his back. The
farmer had taken him to market again and they were walking back
along the same road. It was even hotter and the ass felt most
unhappy under his load.
Ngày hôm sau, con lừa chở một đống bọt biển rất lớn trên lưng.
Người nông dân đưa nó đi chợ lần nữa và họ trở về nhà trên con
đường cũ. Hôm đó thậm chí còn nóng hơn và con lừa cảm thấy
khổ sở với gánh nặng trên lưng.
He saw the pond a little way ahead and remembered how much
cooler he had felt the day before, after he had fallen in, and how
much lighter his load had become.
“I shall try it again,” he said to himself.
Nó nhìn thấy một cái ao không xa phía trước và nhớ lại hôm trước
nó đã cảm thấy mát mẻ hơn thế nào sau khi ngã xuống ao, và
gánh nặng trên lưng nhẹ đi thế nào nữa.
“Mình sẽ thử lại lần nữa”, nó tự nhủ.

So he fell into the pond on purpose to make the load lighter. But this
time the farmer was no alarmed at all.
“Oh, my friend! I know what you're up to!” he said with a grin. “So
you thought that the sponges would be washed away like the salt?
Well, climb out and see!”
Vậy là nó ngã vào ao nước lần nữa với mục đích là làm nhẹ gánh
nặng trên lưng. Nhưng lần này người nông dân chẳng hề hoảng
hốt. “Ô, anh bạn! Ta biết mi định làm gì!”, ông ta nói với nụ cười
nhăn nhở. “Mi nghĩ mớ bọt biển này sẽ bị tan đi như muối hả?
Chà, leo lên đi rồi thấy!”

The ass had no idea what the farmer was talking about. He felt much
cooler after his soaking, and when he climbed out he expected that
his load would be much lighter, too. But the sponges lled up with
water and the load was much heavier.
No wonder the farmer had a broad grin on his face, and the ass was
scowling miserably.
Silly ass!
Con lừa hoàn toàn không biết người nông dân đang ám chỉ điều
gì. Nó cảm thấy mát mẻ hơn sau khi ngâm nước; và khi leo lên, nó
hy vọng gánh nặng trên lưng cũng sẽ vơi bớt. Nhưng mớ bọt biển
đã ngậm đầy nước và gánh trên lưng con lừa nặng hơn rất nhiều.
Chẳng lạ gì khi người nông dân nở một nụ cười toe toét trên mặt,
còn con lừa thì nhăn nhó một cách khổ sở.
Con lừa khờ dại!

THE HARE AND THE TORTOISE
- THỎ VÀ RÙA

Once there was a hare who could run very fast and a tortoise who
could only go very slowly – plod, plod, plod...
One day they met in a meadow.
“I can run much faster than you,” said the hare to the tortoise.
Xưa kia có một con thỏ chạy rất nhanh và một con rùa di chuyển
rất chậm - nó lê bước, lê bước, lê bước...
Một hôm, chúng gặp nhau trên một đồng cỏ. “Tôi có thể chạy
nhanh hơn cậu rất nhiều”, thỏ nói với rùa.

“Maybe you can,” said the tortoise. He was tired of being teased
about being slow, but he knew one day he would teach the boastful
hare a lesson. “Let's have a race and see,” he said.
“How could a plodding tortoise win a race against me?” said the hare,
laughing.
“Có lẽ cậu có thể”, rùa nói. Nó đã quá mệt mỏi với chuyện bị chòng
ghẹo về sự chậm chạp, nhưng nó biết một ngày nào đó nó sẽ dạy
cho con thỏ huênh hoang này một bài học. “Hãy cùng đua một
chuyến xem nào”, nó nói.
“Một con rùa ì ạch thì làm thế nào có thể thắng một cuộc đua với
tôi cơ chứ?”, thỏ vừa nói vừa cười.
All the animals came to watch the race. They put up a starting line
and a nishing post and told the hare and the tortoise to stand side
by side on the starting line.
The fox called out, “Ready, steady, go!”
Tất cả loài vật khác cũng đến xem cuộc đua. Chúng đặt một vạch
xuất phát và một điểm đích, bảo thỏ và rùa đứng cạnh nhau trên
vạch xuất phát.
Cáo hét lớn: “Sẵn sàng, đứng vững, chạy!”.

The hare ran fast – hop, hop, hop – for he was the fastest animal in
the forest. He ran so fast that he was soon out of sight.
The tortoise crawled slowly – plod, plod, plod – for he was the slowest
animal in the forest.
Thỏ chạy rất nhanh - nó phóng, phóng, phóng - bởi vì nó là loài
vật chạy nhanh nhất trong rừng. Nó chạy nhanh đến nỗi chẳng
mấy chốc đã khuất tầm mắt. Rùa bò rất chậm - nó lê bước, lê bước,
lê bước - bởi vì nó là con vật chậm chạp nhất trong rừng.
The hare was so far ahead that when he looked round he could not see
the tortoise at all.
“He will never catch up with me,” he thought.
It was a hot day and the hare came to a big shady tree. “I have lots of
time,” said the hare. He stopped for a rest and lay down to sleep –
snore, snore, snore.
Thỏ đã chạy quá xa về phía trước đến nỗi khi quay lại nó không
nhìn thấy rùa đâu cả.
“Cậu ta sẽ chẳng bao giờ bắt kịp mình”, nó nghĩ. Đó là một ngày
nóng nực và thỏ đi đến một bóng cây lớn. “Mình có khối thời
gian”, thỏ nói. Nó dừng lại nghỉ ngơi và nằm xuống ngủ - khò, khò,
khò.

Meanwhile, the tortoise plodded on steadily. When he came to the big
shady tree he saw the hare fast asleep.
“I must keep going,” said the tortoise and on he crawled – plod, plod,
plod. He didn't stop or look round and soon he saw the nishing post
ahead.
Cùng lúc đó, rùa vẫn chậm chạp lê bước một cách kiên định. Khi
nó đi đến bóng râm lớn, nó nhìn thấy thỏ đã ngủ say. "Mình phải
tiếp tục thôi", rùa nói, và nó bò đi - lê bước, lê bước, lê bước. Nó
không dừng lại hay nhìn ngó xung quanh và không lâu sau nó đã
nhìn thấy điểm đích trước mặt.

At last the hare woke up, but it was too late. He jumped up and ran as
fast as he could to the nishing post. When he got there he saw the
tortoise crawling past the post with a big smile on his face.
The tortoise had won the race. All the animals were cheering.
“I hope you've learned a lesson,” said the tortoise to the hare. “Slow
and steady wins the race.”
Cuối cùng thỏ cũng thức dậy, nhưng đã quá muộn. Nó vừa nhảy
vừa chạy nhanh nhất có thể về phía điểm đích. Khi đến nơi, nó
nhìn thấy rùa đang bò qua vạch đích với một nụ cười rạng rỡ trên
mặt.
Rùa đã thắng cuộc đua. Tất cả con vật khác đều hoan hô nó.
“Tôi hy vọng cậu đã học được một bài học”, rùa nói với thỏ. “Chậm
mà chắc sẽ thắng cuộc đua”.

THE BEAR AND THE
TRAVELLERS - CON GẤU VÀ HAI
NGƯỜI LỮ KHÁCH

One day, two friends were travelling together on a lonely road. The
road led into a big, dark wood near the tall mountains in India. The
two friends were completely alone in the silent wood. They were
silent, too, as they walked along.
Một ngày nọ, có hai người bạn đi du ngoạn cùng nhau trên một
con đường vắng vẻ. Con đường dẫn vào một khu rừng tăm tối
rộng lớn nằm cạnh một ngọn núi cao ở Ấn Độ. Hai người bạn hoàn
toàn bơ vơ trong khu rừng tĩnh mịch. Họ cũng giữ im lặng khi
bước đi cùng nhau.
One of them was young and the other was old. At last the young man
spoke.
“I don't like this place. It feels dangerous. But never mind. We are
good friends and if we stick close together, nothing can hurt us.”
Hai người họ một già, một trẻ. Cuối cùng người trẻ lên tiếng. “Tôi
không thích nơi này. Nó có vẻ nguy hiểm. Nhưng đừng lo lắng.
Chúng ta là bạn tốt và nếu chúng ta luôn ở cạnh nhau thì không gì
có thể hại chúng ta được.”
The old man agreed with his friend and they continued on their
journey.
Suddenly a brown bear came out of the woods. He was huge and
erce. He looked straight at the two travellers, with a wicked grin on
his face.
Người già hơn đồng ý với bạn mình và họ tiếp tục hành trình. Đột
nhiên một con gấu nâu xuất hiện từ trong rừng. Nó to lớn và hung
tợn. Nó nhìn thẳng vào hai lữ khách, với một nụ cười quỷ quyệt
trên mặt.

“Ah-ha!” he growled. “Here comes my dinner!”
He grinned even more, showing his big, sharp teeth and began
lumbering towards the two travellers.
“À ha!”, nó gầm lên. “Bữa tối của ta đây rồi!”
Nó mở rộng miệng cười hơn nữa, khoe ra hàm răng lớn sắc nhọn
của mình và bắt đầu lao về phía hai lữ khách.

The men were afraid and ran away. They had no guns and the old
man was too weak to ght the bear with his stick.
The young man was stronger, but he was so frightened that he ran for
his life.
Hai người hoảng sợ và bỏ chạy. Họ không có súng và người lữ
khách già thì quá yếu để có thể đánh con gấu bằng cây gậy của
mình.
Người trẻ thì mạnh hơn, nhưng anh ta quá hoảng loạn đến nỗi bỏ

chạy thục mạng.
The bear chased after them. His big paws churned up the dust and as
he drew nearer and nearer.
The old man knew that he could not run fast enough to get away
from the bear, so he called out to his young friend, “Take my stick and
ght the bear!”
Con gấu đuổi theo sau bọn họ. Bàn chân to lớn của nó khuấy tung
bụi mù và nó đuổi đến ngày một gần hơn, gần hơn.
Người lữ khách già biết ông ta không đủ nhanh để thoát khỏi con
gấu, nên ông bảo bạn mình: “Cầm cây gậy của tôi và đánh con gấu
đi!”.
But the young man ran fast and climbed up a tall tree to hide. He was
safe.
Nhưng người trẻ kia chạy rất nhanh và đã leo lên một cái cây cao
để trốn. Anh ta đã an toàn.
The old man was slow and could not climb. Then the old man
suddenly remembered that people said a bear will not touch someone
who is dead.
Người lữ khách già quá chậm và không thể leo cây. Khi đó, ông
chợt nhớ ra người ta vẫn nói gấu thường không động đến người
chết.

So he lay down and pretended to be dead. He hoped that what people
had said about bears was right, because he knew his friend was not

going to help him.
Vì vậy ông ta nằm xuống giả chết. Ông hy vọng những gì mọi
người nói về loài gấu là đúng, bởi vì ông biết bạn mình sẽ không
giúp mình.
The big brown bear came up and walked all around him. “At least I
have half my dinner!” The bear said.
Con gấu nâu to lớn đi đến và nó bước vòng quanh người lữ khách
già. "Ít nhất ta cũng còn nửa bữa tối!", con gấu nói.

The bear sni ed the old man's feet, then his legs and then his back.
The old man stayed very, very still. He shut his eyes tight and held his
breath.
The bear thought that there was something wrong, so he went on
sni ng. He sni ed the old man's hands, his head and his nose.
Con gấu ngửi bàn chân ông ta, rồi đến chân, đến lưng. Ông vẫn
nằm bất động. Ông nhắm mắt thật chặt và nín thở. Con gấu cho
rằng có gì đó không ổn, nên nó tiếp tục ngửi. Nó ngửi tay, rồi đến
đầu và mũi ông ta.

Then the bear sni ed at his ear.
Rồi con gấu ngửi cả tai ông ta nữa.
“He must be dead,” the bear growled. “I never eat dead people.” The
bear was very cross. Half his dinner was up in a tree where he could
not reach it, and the other half lay dead front of him.
“Ông ta hẳn đã chết rồi”, con gấu gầm lên. “Ta không bao giờ ăn
thịt người chết.” Con gấu rất bực mình. Một nửa bữa tối của nó
đang ở trên cây, chỗ mà nó không với tới, còn nửa kia thì nằm chết
trước mặt nó.

So the bear went away without his dinner. “I am certainly out of luck
today,” he thought. The old man opened his eyes and saw the bear
into the big dark wood, but he lay very still until it was gone.
Thế là con gấu bỏ đi mà không có bữa tối nào cả. “Chắc hôm nay
mình không gặp may rồi”, nó nghĩ. Người lữ khách già mở mắt ra
và nhìn thấy con gấu đã đi về phía khu rừng tăm tối, nhưng ông
vẫn tiếp tục nằm im cho đến khi nó đi khỏi hẳn.
When it was safe, the young man in the tree came down. He had seen
everything from his hiding place and he wanted to know why the bear
had gone away without eating his friend.
He had also seen the bear mutter something before it went away.
Khi đã an toàn, người lữ khách trẻ trên cây leo xuống. Anh ta đã
chứng kiến mọi thứ từ nơi ẩn nấp của mình và anh ta muốn biết
tại sao con gấu bỏ đi mà không ăn thịt bạn mình.
Anh ta cũng thấy con gấu đã lẩm bẩm điều gì đó trước khi bỏ đi.

“What did the bear say when he sni ed at your ear?” the young man
asked his friend. The old man sat up and got to his feet. He looked
sternly at the young man.
“Con gấu đã nói gì khi nó ngửi tai của ông vậy?”, người lữ khách
trẻ hỏi bạn mình. Người lữ khách già ngồi dậy, rồi đứng lên. Ông
nghiêm nghị nhìn người bạn kia.

“That I should never again travel with a friend who leaves me in
danger!” said the old man.
Then he turned, and as he walked away he said, “Remember, a true

friend will never let you down.”
“Rằng tôi không bao giờ nên đồng hành cùng một người bạn bỏ
rơi tôi trong lúc nguy hiểm thêm lần nào nữa!”, người lữ khách già
đáp.
Sau đó ông quay người đi, và khi bỏ đi ông nói: “Nhớ lấy, một
người bạn đích thực sẽ không bao giờ khiến ta thất vọng”.

THE DUCKS AND THE
TORTOISE - VỊT TRỜI VÀ RÙA

A tortoise was tired of crawling. All he ever seemed to do -was crawl.
The house on his back was big and heavy and his four stumpy legs
were short and weak.
Walking made him very tired and running was quite impossible, so
he crawled everywhere very slowly.
Có một con rùa nọ đã quá mệt mỏi với việc phải bò. Tất cả những
gì nó làm trong đời dường như chỉ có bò. Cái mai trên lưng nó lớn
và nặng, còn bốn cái chân mập của nó thì lại ngắn và yếu. Việc
bước đi khiến nó mệt mỏi và chạy thì gần như không thể, vậy nên
nó bò đi đâu cũng thật chậm chạp.

He could swim, but that became a little boring after a while, being
underwater when what he really wanted was to see the great big
world above.
“I wish I could y like the ducks!” he said. When the ducks landed
nearby he crawled over to them. “Will you teach me to y?” he asked.
Nó có thể bơi, nhưng sau một thời gian thì chuyện đó cũng trở
nên nhàm chán, phải ở dưới nước trong khi tất cả những gì nó
muốn là được nhìn thấy thế giới rộng lớn tuyệt vời trên cạn.
“Ước gì mình có thể bay như lũ vịt trời!”, nó nói. Khi có mấy con
vịt trời đáp xuống gần nó, nó liền bò lại gần họ. “Các bạn có thể
dạy tôi bay được không?”, nó hỏi.

“You can't y without wings,” said the ducks. “Anyway, you are quite
the wrong shape with that big round house on your back and those
short stubby legs. You would look ridiculous.”
But the tortoise begged and pleaded with the ducks.

“Bạn không thể bay khi không có cánh”, lũ vịt trời nói. “Dù sao đi
nữa, bạn không có hình dáng thích hợp để bay, với cái mai lớn
trên lưng và với mấy cái chân mập lùn kia. Bạn mà bay trông sẽ
buồn cười lắm.”
Nhưng con rùa vẫn nài nỉ van xin lũ vịt trời.
After a while the ducks got tired of this silly, pestering tortoise and
decided to teach him a lesson.
“You can't y up into the sky just like that,” said one of them. “But
we can take you up on this stick. Hold it in your mouth.”
Sau một hồi, lũ vịt bắt đầu mệt mỏi với con rùa phiền phức cứng
đầu này và quyết định dạy cho nó một bài học.
“Bạn không thể cứ thế mà bay lên trời được đâu”, một con vịt
trong đàn lên tiếng. “Nhưng chúng tôi có thể đưa bạn bay lên với
cây gậy này. Ngậm chặt cây gậy này đi”.
The ducks took hold of the stick at each end and the tortoise grabbed
it in the middle. Then the ducks spread their wings and up they all
ew.
They ew over a village. The people were amazed to see a tortoise in
the air. Who had ever seen such a thing?
Vịt trời giữ chặt hai đầu của cây gậy và con rùa thì ngoạm lấy
đoạn giữa. Sau đó, lũ vịt sải cánh và đưa tất cả bay lên.
Chúng bay qua một ngôi làng. Dân làng kinh ngạc khi thấy con
rùa trên không. Có ai từng thấy cảnh tượng như thế này chưa?

It was such a strange sight that they stared and waved their arms.

The tortoise saw the people waving and it made him very proud.
“They must think that I am a very clever tortoise,” he thought. Yes, he
was the only tortoise in the world who could y, and he had to tell
them.
Thật là một cảnh tượng lạ lùng, họ chăm chú nhìn và còn vẫy vẫy
tay. Con rùa nhìn thấy mọi người vẫy tay và điều đó khiến nó rất
tự hào.
“Hẳn họ nghĩ rằng mình là một con rùa rất tài ba”, nó nghĩ. Đúng
vậy, nó là con rùa duy nhất trên thế giới có thể bay, và nó phải nói
với họ điều đó.
“Look, I can y!” the tortoise shouted, opening his mouth – which
was not a very clever thing to do!
“Nhìn này, tôi có thể bay!”, con rùa hét lên, miệng mở ra, vốn
không phải là một việc khôn ngoan cho lắm!

When the tortoise opened his mouth, he let go of the stick and down
he fell. Thump!

That's the end of the story, except that the tortoise decided that
ying wasn't such a good thing after all, at least not for tortoises!
Khi con rùa mở miệng, nó đã buông cây gậy ra và rơi xuống.
Thịch!
Câu chuyện đến đó là hết, trừ chuyện con rùa đã quyết định rằng
rốt cuộc thì bay không hẳn là một trò hay ho lắm, ít nhất là với
một con rùa.

THE BOY WHO CRIED WOLF CẬU BÉ CHĂN CỪU

A boy lay in a eld all day, looking after his sheep. He lay -in the hot
sun and the sheep grazed around him in peace. There was nothing
much to do until nightfall, when he would take his ock down to the
village, except to keep a look-out for any hungry wolves.
Có một cậu bé nằm dài cả ngày trên đồng để chăn dắt đàn cừu của
mình. Cậu nằm dưới mặt trời nóng rực và đàn cừu thì yên bình
vây quanh cậu. Chẳng có gì nhiều để làm cho đến khi đêm xuống,
lúc mà cậu phải dẫn đàn cừu về làng, đề phòng có bất cứ con sói
đói nào xuất hiện.
He was very bored, so he decided to play a trick on the villagers. If he
shouted for help, as they had told him to do if he ever saw a wolf, they
would soon come running to help him chase it away.
Cậu ta rất buồn chán, vậy là cậu quyết định chơi một trò bịp bợm
với dân làng. Nếu cậu hét lên cầu cứu, như người ta đã dặn cậu
làm vậy nếu cậu nhìn thấy sói, họ sẽ nhanh chóng chạy đến giúp
cậu đánh đuổi con sói đi.
He jumped up and ran to the edge of the
Wolf!”

eld, shouting: “Wolf!

The men in the village below came running to help chase the wolf
away.
Cậu bé nhảy lên và chạy về phía rìa cánh đồng, hét to: “Sói! Sói!”.
Những người đàn ông trong ngôi làng dưới đồi liền chạy đến giúp
đuổi con sói đi.

The boy thought it was very funny to see the old men come racing to
help him, banging their shields and waving their hoes and ails, and
shouting to frighten the wolf away.
Cậu bé nghĩ rằng thật tức cười khi nhìn những người lớn kia
phóng nhanh đến giúp mình, khua khiên, vẫy cuốc, vẫy chày và
hét vang để dọa con sói bỏ đi.
The men looked everywhere, but there was no wolf. They went home
after counting the sheep to make sure none were missing.
Những người đàn ông nhìn ngó khắp nơi nhưng chẳng thấy có
con sói nào. Họ trở về nhà sau khi đã đếm lại số con cừu và đảm
bảo không con nào bị mất.

They decided they must have frightened the wolf away with all their
noise.

The boy laughed. He thought he was very clever to play such a trick
on the villagers.
Họ dứt khoát cho rằng mình đã dọa con sói bỏ chạy vì những
tiếng ồn.
Cậu bé cười to. Cậu nghĩ mình rất thông minh khi chơi trò bịp này
với dân làng.
The next day the boy played the same trick. “Wolf! Help! The wolf is
eating my sheep,” he cried as he ran down the hill towards the village.
Ngày hôm sau, cậu bé cũng lại giở trò bịp ấy. “Sói! Cứu với! Sói
đang ăn cừu của con”, cậu hét lên khi chạy xuống đồi hướng về
phía ngôi làng.

Again the men came running to help chase the wolf away. They
thought he would be very hungry by now, so they ran even faster and
made even more noise.
Một lần nữa, những người đàn ông lại chạy đến giúp đuổi sói đi.
Họ nghĩ con sói hẳn đang rất đói, nên họ chạy còn nhanh hơn và
tạo những tiếng ồn lớn hơn.
The boy laughed and laughed as he watched the men rush up, pu ng
and panting, shouting and yelling to frighten away the wolf. But
there was no wolf!
Cậu bé cười nắc nẻ khi chứng kiến những người đàn ông cuống
cuồng, hồng hộc, hổn hển, la hét, gào thét để đuổi con sói đi.
Nhưng chẳng có con sói nào cả!

When the men saw the boy laughing, they realised he had tricked
them. “Be careful, boy,” they said to him. “You will cry “Wolf!” once
too often.” But the boy just laughed at them.
Khi những người đàn ông nhìn thấy cậu bé cười, họ nhận ra cậu
đang chơi khăm họ. “Coi chừng đấy, cậu bé”, họ nói với cậu. “Cậu
báo động giả quá nhiều rồi.” Nhưng cậu bé chỉ cười nhạo họ.
One day a real wolf came into the eld – a real, live, hungry wolf,
who hadn't eaten for days. He saw the sheep grazing nearby and
sprang at them. Up jumped the boy.
Một ngày nọ, một con sói thực thụ mò đến cánh đồng - một con
sói thật, còn sống, đang đói vì đã nhiều ngày chưa ăn gì. Nó nhìn
thấy lũ cừu tập trung gần đó và nó nhảy bổ vào chúng. Cậu bé
nhảy dựng lên.

“Wolf! Wolf!” he cried as he ran ...
 
Gửi ý kiến