402 “một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ dạy môn địa lý nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh lớp 4” ctst.docx

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Quế (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:02' 20-02-2024
Dung lượng: 398.2 KB
Số lượt tải: 141
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Quế (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:02' 20-02-2024
Dung lượng: 398.2 KB
Số lượt tải: 141
Số lượt thích:
0 người
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …
TRƯỜNG THCS ….
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIỜ DẠY
MÔN ĐỊA LÝ NHẰM GÂY HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC
SINH LỚP 4”
(Bộ sách CHÂN TRỜI SÁNG TẠO)
Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:
Năm học 2022-2023
1
MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU.............................................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu.......................................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................................3
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.............................................................................3
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.........................................................................3
2. Thực trạng việc dạy học Địa Lý lớp 4 ở Trường tiểu học ................................................4
3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề..............................................................6
3.1. Biện pháp 1: Nghiên cứu nội dung, chương trình, xác định mục tiêu bài học môn
Địa lý lớp 4....................................................................................................................... 6
3.2. Biện pháp 2: Nâng cao chất lượng giờ học địa lí thông qua hoạt động thao tác trên
bản đồ, lược đồ................................................................................................................ 7
3.3. Biện pháp 3: Hình thành khái niệm, biểu tượng địa lí thông qua khai thác tranh ảnh,
video.............................................................................................................................. 11
2
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng, mục tiêu và yêu cầu về nội dung, phương
pháp giáo dục được chỉ rõ trong điều 2, Luật Giáo dục năm 2005: “Mục tiêu
giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri
thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng
lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI)
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập quốc tế nêu rõ mục tiêu tổng quát của giáo dục và đào tạo là giáo
dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả
năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống
tốt và làm việc hiệu quả
Cùng với môn Tiếng việt và Toán, môn Địa lý là môn học quan trọng trong
chương trình tiểu học góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh. Mục tiêu dạy
học Địa lý lớp 4 là hình thành cho học sinh một số biểu tượng, khái niệm, mối
quan hệ địa lý đơn giản và bước đầu hình thành, rèn luyện một số kĩ năng địa lý.
Chương trình Địa lý lớp 4 giúp học sinh lĩnh hội được một số tri thức ban đầu về
địa lý Việt Nam, về một số nét tiêu biểu của từng vùng, miền, biển, đảo và các
dãy núi, giúp học sinh hiểu biết về môi trường xung quanh từ đó tạo điều kiện
cho học sinh dễ dàng hoà nhập, thích ứng với cuộc sống xã hội, với môi trường
xung quanh.
Chương trình GDPT 2018 đã nêu rõ mục tiêu của Địa lí ở cấp tiểu học là
hình thành, phát triển ở học sinh năng lực lịch sử và địa lí với các thành phần:
nhận thức khoa học lịch sử và địa lí; tìm hiểu lịch sử và địa lí; vận dụng kiến
thức, kĩ năng đã học; đồng thời góp phần hình thành và phát triển các năng lực
chung: tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo. Kéo
theo đó, bộ sách Chân trời sáng tạo đã có sự thay đổi sách giáo khoa môn Địa lí
1
4. Chính vì vậy, bản thân là giáo viên giảng dạy trực tiếp môn Địa lí 4, tôi cần
phải nghiên cứu các phương pháp mới để giảng dạy cho học sinh phù hợp hơn.
Thực tế trong trường Tiểu học hiện nay đa số các em học sinh ít quan tâm
đến môn địa lí vì các em nghĩ đây là môn học phụ, thuộc lĩnh vực khoa học xã
hội mà chủ yếu các em tập trung vào môn học Toán và Tiếng việt. Còn đối với
giáo viên cũng chưa coi trọng môn học này. Mới chỉ là điểm qua cho xong bài.
Chưa tập trung đầu tư nghiên cứu để tìm tòi những phương pháp, hình thức tổ
chức dạy học phong phú nhằm thu hút hứng thú học tập của học sinh trong môn
học. Vì thế dẫn đến học sinh ngại học, không có hứng thú trong học tập, ngại
trau dồi kiến thức về địa lí, ít tìm hiểu các hiện tượng địa lý trong thực tế. Việc
học chỉ là đối phó, miễn cưỡng học sinh chỉ tiếp thu được lượng kiến thức rất ít,
không bản chất, vì thế dễ quên. Kết quả là hiệu quả học tập chưa cao.
Vậy làm thế nào để lựa chọn được những phương pháp dạy học hay, đặc
trưng thực hiện để các tiết dạy mang lại hiệu quả cao là một vấn đề mà mỗi giáo
viên chúng ta cần phải quan tâm, trăn trở. Đó không chỉ là vấn đề của riêng bản
thân tôi quan tâm mà là vấn đề quan tâm của hầu hết các giáo viên Tiểu học.
Xuất phát từ thực tế và yêu cầu cần thiết của xã hội hiện nay, là giáo viên
đang trực tiếp giảng dạy lớp 4, tôi muốn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
trong nhà trường, tìm lại sự yêu thích môn học, đáp ứng được mục của tiêu Giáo
dục & Đào tạo bản thân tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nâng
cao chất lượng giờ dạy môn Địa lý nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh
lớp 4” qua bộ sách Chân trời sáng tạo với mong muốn mỗi tiết học địa lý đều vui
vẻ, thoải mái và có chất lượng.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp nâng
cao chất lượng giờ học Địa lý lớp 4 nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh .
3. Đối tượng nghiên cứu
- Lý luận về dạy học phân môn địa lý.
- Thực tiễn áp dụng các biện pháp nâng cao chất lượng giờ học nói chung
và dạy học phân môn Địa lý nói riêng ở trường Tiểu học …
2
- Học sinh lớp 4 trường Tiểu học …
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi đã tiến hành các phương pháp sau :
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và nghiên cứu một số tài liệu về
phương pháp dạy học phân môn Địa Lý.
- Phương pháp khảo sát thực tiễn Khảo sát bằng bài kiểm tra và thông qua
các tiết học Địa Lý.
- Phương pháp thống kê: Thống kê, phân loại học sinh theo mức đạt được.
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp: Phân tích lý luận và thực tiễn
ứng dụng các biện pháp nâng cao chất lượng giờ học Địa Lý.
- Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm một số biện pháp nâng cao chất
lượng giờ học Địa Lý để đúc rút kinh nghiệm.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Luật giáo dục năm 2005, điều 28.2 đã ghi ''Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho HS''.
Yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học nên GV cần vận dụng các
phương pháp soạn giảng cho phù hợp để đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho
HS, từ đó có thể phát huy tính tự giác tích cực của học sinh.
Việc dạy học Địa lí nói chung cần đảm bảo các nguyên tắc giáo dục, đây là
các luận điểm có tính chất chỉ đạo, những quy định, yêu cầu cơ bản mà người
giáo viên cần phải tuân thủ để mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình dạy
học. Việc sử dụng tranh ảnh, băng hình, áp dụng các câu ca dao tục ngữ phù hợp
với từng phần nội dung kiến thức, tổ chức các trò chơi học tập trong môn học
Địa lý đã căn cứ vào các nguyên tắc giáo dục (môn Địa lí).
Trong quá trình dạy học các yếu tố chủ yếu có tác động trực tiếp đến việc
nâng cao chất lượng dạy- học môn Địa lý trong nhà trường như:
3
- Năng lực giảng dạy của giáo viên:
Giáo viên phải có tâm huyết với môn địa lý, có kiến thức sâu rộng về địa lý
Việt Nam và thế giới. Biết lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp để kích thích
sự hứng thú của học sinh.
- Sự ham hiểu biết của học sinh:
Học sinh ham hiểu biết, thích khám phá cái mới, thích tìm hiểu các yếu tố
tự nhiên, các hiện tượng thiên nhiên kì thú. Đồng thời các em phải có ý thức học
tập nghiêm túc.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.
Nhà trường phải có đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học như máy
chiếu, máy in. Có đủ các loại bản đồ và các dụng cụ thực hành cần thiết trong
các tiết học, các tài liệu tham khảo về địa lý Việt Nam và thế giới.
2. Thực trạng việc dạy học Địa Lý lớp 4 ở Trường tiểu học ...
* Về phía giáo viên:
- Hầu hết các giáo viên đều có ý thức trong đổi mới phương pháp dạy học
nói chung và môn Địa lý nói riêng để phát huy được tính chủ động tích cực, sáng
tạo của học sinh làm cho tiết học địa lý nhẹ nhàng nhưng hiệu quả. Song vẫn còn
một số giáo viên vẫn chưa coi trọng phân môn địa lý. Chưa chịu khó tìm tòi
những phương pháp dạy hay, những hình thức tổ chức phong phú phù hợp với
nội dung trong từng tiết học. Do đó tiết học Địa lý còn khô cứng, buồn tẻ dẫn
đến chất lượng thấp.
- Khả năng dạy phân hóa đối tượng, tạo hứng thú cho học sinh của một số
giáo viên còn hạn chế. Việc đầu tư cho đồ dùng dạy học như tranh ảnh của các
giáo viên còn ít.
* Về phía học sinh
- Học sinh là con em nông thôn, nhiều học sinh có cuộc sống khó khăn, cha
mẹ đi làm ăn xa nên học sinh thiếu sự định hướng, kèm cặp.
- Học sinh còn quen với cách học đơn giản theo sách giáo khoa, khả năng
tư duy, suy luận để hình thành biểu tượng, khái niệm chưa nhiều nên chưa có
được thói quen suy nghĩ, động não một cách có hệ thống.
4
- Học sinh và phụ huynh còn coi nhẹ môn học Địa lí cho đây là môn phụ
nên chưa quan tâm, đầu tư cho môn học.
Tôi đã tổ chức cho học sinh làm bài kiểm tra môn Địa lí để kiểm tra năng
lực học tập của học sinh trước khi áp dụng sáng kiến. Qua khảo sát chất lượng
học sinh môn địa lý vào thời điểm tháng… của học sinh lớp 4…, có kết quả như
sau:
Sĩ số
Điểm 9 – 10
Điểm 7 – 8
Điểm 5 - 6
Điểm dưới 5
Học sinh
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
27 em
4
15
7
26
12
44
4
15
Từ kết quả thực trạng và bảng số liệu trên cho thấy: Chất lượng học sinh đạt
điểm 9, 10 còn thấp. Số lượng học sinh đạt điểm 5, 6 và dưới 5 còn cao. Cụ thể,
cả lớp chỉ có 4 học sinh đạt điểm 9 - 10, chiếm 15%, có 7 học sinh đạt điểm 7 8, chiếm 26%. Đặc biệt có 12 học sinh đạt điểm 5 - 6, chiếm đến 44% và có ca 4
học sinh đạt điểm dưới 5. Học sinh hầu hết chưa biết cách chỉ bản đồ, chưa nắm
được các biểu tượng địa lý. Tham gia học tập một cách thụ động. Qua tìm hiểu,
tôi thấy nổi lên một số nguyên nhân sau:
Một là: Giáo viên chưa đầu tư nghiên cứu nội dung chương trình, chưa hệ
thống kiến thức môn Địa lý lớp 4. Khi dạy trên lớp còn dạy tràn lan theo từng
bài, chưa có sự logic từ mạch kiến thức cũ sang mạch kiến thức mới.
Hai là: Giáo viên mới chỉ tổ chức cho học sinh thực hiện các câu hỏi, các
bài tập trong sách giáo khoa một cách đơn thuần theo hình thức hỏi đáp, chưa
phát triển chúng thành nhiều các hình thức tổ chức dạy học phong phú như tổ
chức trò chơi, ca dao, tục ngữ…, để phát triển tư duy sáng tạo của học sinh.
Ba là: Chưa khai thác triệt để tranh ảnh và các bảng số liệu. Đặc biệt, chưa
chú trọng đến việc sưu tầm tranh ảnh, băng hình để khắc sâu kiến thức cho học
sinh.
Bốn là: Tổ chức tiết học còn nặng nề, chưa linh hoạt trong quá trình tổ chức
nên chưa có tác dụng thúc đẩy học sinh trong quá trình hợp tác.
5
3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Để nâng cao chất lượng tiết học phân môn địa lý lớp 4 góp phần tích cực
trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, tôi xin đề xuất
một số giải pháp sau:
3.1. Biện pháp 1: Nghiên cứu nội dung, chương trình, xác định mục tiêu
bài học môn Địa lý lớp 4.
Chương trình Địa lý lớp 4 giúp học sinh lĩnh hội được một số tri thức ban
đầu về địa lý Việt Nam, về một số nét tiêu biểu của từng vùng, miền, biển, đảo
và các dãy núi, giúp học sinh hiểu biết về môi trường xung quanh từ đó tạo điều
kiện cho học sinh dễ dàng hòa nhập, thích ứng với cuộc sống xã hội, với môi
trường. Vì thế để thực hiện tốt chương trình Địa lý lớp 4, giáo viên cần phải
nghiên cứu kỹ để hiểu nội dung chương trình, hiểu rõ mục tiêu của từng phần,
từng bài học, từng nội dung kiến thức. Từ đó có các phương án dạy học phù hợp
với từng bài cụ thể.
Chương trình môn Địa lý lớp 4 gồm có phần Mở đầu và 6 chủ đề, chứa 27
bài học.
Chủ đề 1: Địa phương em (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương)
Chủ đề 2: Trung du và miền núi Bắc Bộ
Chủ đề 3: Đồng bằng Bắc Bộ
Chủ đề 4: Duyên hải miền Trung
Chủ đề 5: Tây Nguyên
Chủ đề 6: Nam Bộ
Qua hệ thống nội dung chương trình ta thấy: Những khái niệm, biểu tượng
mà học sinh tiếp xúc là từ dễ đến khó; khối lượng kiến thức vừa phải, dễ tiếp thu,
dễ nắm các kiến thức cơ bản của bài.
Kênh hình vừa là sự minh hoạ cho kênh chữ vừa là nguồn cung cấp kiến
thức và rèn luyện kỹ năng tìm thông tin cho học sinh. Các câu hỏi, bài tập của
bài giúp cho học sinh dễ dàng nắm bắt các kiến thức. Đồng thời giúp các em tư
duy, phân tích, so sánh rồi rút ra nhận xét nhằm khắc sâu bài học. Ngoài ra, còn
6
giúp giáo viên dễ dàng thiết kế các hình thức học tập đa dạng và phong phú như:
thao tác trên bản đồ, lược đồ bằng giáo án điện tử, tổ chức các trò chơi học tập,
đưa các câu ca dao tục ngữ vào bài học một cách hợp lý để khai thác thông tin
kiến thức, khắc sâu kiến thức cho học sinh, rèn luyện kỹ năng hoặc bồi dưỡng
nhận thức cho các em.
Vì thế để dạy tốt được phân môn Địa lý lớp 4 giáo viên cần nắm vững nội
dung chương trình, mục tiêu bài học từ đó làm chủ kiến thức trong quá trình dạy
và có những phương pháp và hình thức tổ chức phù hợp tạo được hứng thú cho
học sinh.
3.2. Biện pháp 2: Nâng cao chất lượng giờ học địa lí thông qua hoạt
động thao tác trên bản đồ, lược đồ.
3.2.1. Làm sống động các bản đồ, lược đồ trong SGK bằng giáo án điện
tử:
Trong chương trình Địa lý lớp 4 có các bản đồ, lược đồ này đều có màu sắc
đẹp, phong phú về chủng loại. Tuy nhiên các bản đồ và lược đồ đó đều là các
tranh tĩnh. Nếu để học sinh khai thác một cách bình thường trong SGK thì các
em đều thấy rất khó và trừu tượng, không cụ thể và tiếp thu kiến thức không sâu,
hời hợt. Đặc biệt không tạo được hứng thú cho học sinh trong quá trình khai thác
kiến thức. Nhưng nếu các bản đồ và lược đồ này được thiết kế bằng giáo án điện
tử, lập các hiệu ứng phù hợp với trình tự tìm hiểu nội dung kiến thức sẽ trở thành
các bản đồ, lược đồ sống động. Điều đó sẽ tạo được sự hứng thú, hấp dẫn cho
học sinh, khi đó học sinh sẽ tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng, tự nhiên và nhớ kiến
thức lâu hơn.
Ví dụ 1: Bài 2: Thiên nhiên và con người địa phương – trang 11 SGK Lịch
sử và địa lý 4 - bộ sách Chân trời sáng tạo - tập 1
- Khi học sinh thực hiện yêu cầu: Quan sát hình 1: Bản đồ hành chính Việt
Nam. Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm 4: Quan sát lược đồ trên máy
chiếu và lược đồ trong SGK.
+ Vị trí địa lý: Xác định vị trí của tỉnh, thành phố em đang sinh sống
+ Địa hình: Có những dạng địa hình nào?
7
+ Khí hậu: Có những mùa nào
+ Sông hồ: Có những sông, hồ nào?
- Học sinh báo cáo kết quả bằng cách chỉ lược đồ trên máy chiếu.
- Giáo viên cho chạy các hiệu ứng và chốt kiến thức
Ví dụ 2: Bài 26: Thành phố Hồ Chí Minh – trang 104 SGK Lịch sử và địa lí
4 - tập 1
Khi học sinh tìm hiểu vị trí giới hạn của thành phố Hồ Chí Minh và thực
hiện yêu cầu:
- Quan sát hình 2 và hãy cho biết:
+ Chỉ vị trí của thành phố Hồ Chí Minh trên lược đồ và cho biết thành phố
tiếp giáp những tỉnh nào?
+ Từ thành phố có thể đi tới các tỉnh khác bằng những loại đường giao
thông nào?
- Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm 4: Quan sát lược đồ trên máy
chiếu và lược đồ trong SGK.
- Học sinh báo cáo kết quả bằng cách chỉ lược đồ trên máy chiếu
8
- Giáo viên cho chạy các hiệu ứng và chốt: Thành phố Hồ Chí Minh nằm
bên sông Sài Gòn, có lịch sử trên 300 năm. Trải qua nhiều tên gọi khác nhau, từ
năm 1976, thành phố được mang tên Thành phố Hồ Chí Minh.
- Từ thành phố có thể đi tới các tỉnh khác bằng những loại phương tiện như:
Máy bay, tàu hoả, ô tô, …
Như vậy, khi giáo viên thao tác kết hợp chạy hiệu ứng với kiến thức cần
chốt cho học sinh trên giáo án điện tử sẽ là biện pháp vô cùng hiệu quả. Bởi vì ở
đây hình ảnh sống động, cụ thể hóa. Ngoài ra học sinh được tìm hiểu kiến thức
qua những hình ảnh sống động này không những các em sẽ nhớ rất lâu kiến thức
mà còn nâng cao kỹ năng sử dụng bản đồ, giúp các em tự tin hơn, kích thích
hứng thú học tập cho học sinh và trong lớp ai ai cũng muốn thể hiện khả năng
học tập của mình.
3.2.2. Rèn kỹ năng đọc và chỉ bản đồ, lược đồ.
Trong mỗi tiết học của môn Địa Lý các em đều phải sử dụng bản đồ, lược
đồ. Bản đồ, lược đồ được sử dụng như là nguồn cung cấp kiến thức, là đối tượng
để học sinh chủ động, tự lực khai thác kiến thức Địa Lý. Vì thế học sinh phải
biết đọc các ký hiệu trên bản đồ, lược đồ, hiểu được ý nghĩa màu sắc được biểu
thị trên bản đồ, lược đồ, xác định được các yếu tố Địa Lý trên bản đồ.
9
Để học sinh có kỹ năng đọc và chỉ bản đồ tốt, ngay từ đầu năm học, trong
mỗi tiết học Địa lý có sử dụng bản đồ, sơ đồ, yêu cầu các em nêu ký hiệu trên
bản đồ, lược đồ, nêu ý nghĩa màu sắc được biểu thị trên bản đồ, lược đồ, xác
định hướng của bản đồ. Sau đó mới thực hiện chỉ bản đồ theo nội dung yêu cầu
bài học. Khi thao tác với bản đồ các em cần nắm được:
Bước 1: Nắm được mục đích làm việc với bản đồ.
Tức là đọc tên bản đồ, để biết nội dung sử dụng cung cấp kiến thức gì cho
bài học. Bước này không khó, giáo viên cần lưu ý khi tự vẽ thêm bản đồ thì phải
có tên bản đồ (có thể viết trên hoặc viết ở dưới)
Bước 2: Xem bảng chú giải để có biểu tượng địa lí cần tìm trên bản đồ.
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách đọc bảng chú giải, những kí hiệu ứng
với các thông tin gì .
Ví dụ: Đường đứt khúc chỉ ranh giới giữa các tỉnh, cây dù chỉ bãi biển,
chấm tròn chỉ thành phố …..
Bước 3 : Tìm vị trí Địa lý của đối tượng trên bản đồ.
Đây chính là bước kĩ năng chỉ bản đồ. Ở bước này giáo viên cũng như học
sinh thường chỉ không chính xác do không thường xuyên chỉ bản đồ nên dễ lúng
túng. Chỉ bản đồ có các cách chỉ sau :
- Chỉ điểm (thành phố , khoáng sản, …)
- Chỉ đường (sông, dãy núi, …)
- Chỉ vùng (chỉ vị trí giới hạn của tỉnh, thành phố, …)
Khi hướng dẫn học sinh chỉ bản đồ giáo viên cần lưu ý học sinh cách chỉ
như sau:
- Chỉ về một địa danh, một thành phố, một tỉnh… Nếu là bản đồ hành chính
thì sẽ có ranh giới giữa các nước, các thành phố, tỉnh. GV chỉ theo đường ranh
giới, bắt đầu ở điểm nào thì kết thúc ở điểm đó của một châu lục, một nước, một
thành phố, một tỉnh muốn chỉ. Nếu là bản đồ tự nhiên thì thường một thành phố
được kí hiệu bằng dấu chấm tròn, GV chỉ ngay vào chấm tròn là thành phố, hoặc
chỉ các phương tiện đi lại của các vùng miền (Xem chú giải trên bản đồ, lược đồ)
- Chỉ về biển, sông ngòi, Đại dương khi chỉ kéo rộng trong giới hạn của nó
10
không lấn vào đất liền. Biển, sông, dãy núi chỉ theo hướng từ thượng lưu đổ
xuống hạ lưu, từ nơi cao (độ cao của địa hình) xuống nơi thấp.
Bước 4: Quan sát đối tượng trên bản đồ, nhận xét và nêu đặc điểm đơn
giản của đối tượng (khai thác một phần kiến thức mới ).
Ví dụ: Khi chỉ vị trí của nước Việt Nam, nhận xét vị trí nước ta kéo dài từ
Bắc xuống Nam, nằm phía cực Nam.
- Bài Đồng bằng Nam Bộ, quan sát và chỉ lược đồ xong, học sinh có thể
nhận xét ngay là hệ thống sông ngòi nhiều, chằng chịt.
- Bài địa hình nước ta, dựa vào màu sắc học sinh nhận xét được ngay đồi
núi nhiều hơn đồng bằng.
- Bài Người dân ở đồng bằng Nam Bộ, quan sát, nhận xét trang phục của
người dân ở đồng bằng Nam Bộ…
Bước 5: Xác lập mối quan hệ địa lí đơn giản giữa các yếu tố tự nhiên
Ví dụ: Khi học sinh chỉ được vị trí nước ta, phía Đông giáp biển Đông,
đường bờ biển kéo dài như thế thì sẽ thuận lợi để phát triển ngành nào? (đánh bắt
thủy hải sản). Đó chính là mối quan hệ giữa vị trí địa lí và hoạt động sản xuất.
Như vậy, nếu chúng ta rèn cho học sinh được kỹ năng đọc và chỉ bản đồ
một cách thành thạo thì các em sẽ rất thích học tiết địa lý. Các tiết học trở nên
nhẹ nhàng không căng thẳng. Dưa trên những thông tin trên bản đồ, lược đồ các
em xác định được chính xác kiến thức cần cung cấp. Với những kiến thức này sẽ
khắc sâu đối với các em.
3.3. Biện pháp 3: Hình thành khái niệm, biểu tượng địa lí thông qua
khai thác tranh ảnh, video.
3.3.1. Hình thành khái niệm, biểu tượng địa lí thông qua khai thác tranh
ảnh có sẵn trong SGK.
Hình thành khái niệm, biểu tượng địa lí là một trong những mục đích của
việc dạy Địa Lý. Vì thế bước này rất quan trọng. Vậy muốn hình thành biểu
tượng, khái niệm Địa Lý cho học sinh, yêu cầu các em phải nắm được các dấu
hiệu của đối tượng Địa Lý mà các em quan sát được từ thực tế, từ băng hình,
tranh ảnh để các em tìm ra những dấu hiệu, bản chất của đối tượng Địa Lý nhằm
11
đưa ra khái niệm đúng về đối tượng.
Ví dụ 1: Bài Thiên nhiên vùng Đồng bằng Bắc Bộ - trang 32 SGK Lịch sử
và Địa lý 4 - bộ sách Chân trời sáng tạo - tập 1
Để hình thành khái niệm Sông ngòi và hệ thống đê ngăn lũ điều đầu tiên
cho học sinh xác định Sông Hồng, Sông Thái Bình và một số sông khác của
đồng Bằng Bắc Bộ trên lược đồ .
Sau đó cho học sinh quan sát hệ thống đồng bằng, đê, mương qua tranh ảnh
và băng hình.
Cảnh đồng bằng Bắc Bộ
Một đoạn đê Sông Hồng
Mương dẫn nước ở ĐBBB
Tiếp đến yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi:
- Em hãy cho biết đê có tác dụng gì?
- Để phục vụ tưới tiêu nhân dân Đồng Bằng Bắc Bộ đã làm gì?
12
Người viết
Đỗ Văn Hiếu
Liên hệ Zalo: 0985598499
13
TRƯỜNG THCS ….
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIỜ DẠY
MÔN ĐỊA LÝ NHẰM GÂY HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC
SINH LỚP 4”
(Bộ sách CHÂN TRỜI SÁNG TẠO)
Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:
Năm học 2022-2023
1
MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU.............................................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu.......................................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................................3
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.............................................................................3
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.........................................................................3
2. Thực trạng việc dạy học Địa Lý lớp 4 ở Trường tiểu học ................................................4
3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề..............................................................6
3.1. Biện pháp 1: Nghiên cứu nội dung, chương trình, xác định mục tiêu bài học môn
Địa lý lớp 4....................................................................................................................... 6
3.2. Biện pháp 2: Nâng cao chất lượng giờ học địa lí thông qua hoạt động thao tác trên
bản đồ, lược đồ................................................................................................................ 7
3.3. Biện pháp 3: Hình thành khái niệm, biểu tượng địa lí thông qua khai thác tranh ảnh,
video.............................................................................................................................. 11
2
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng, mục tiêu và yêu cầu về nội dung, phương
pháp giáo dục được chỉ rõ trong điều 2, Luật Giáo dục năm 2005: “Mục tiêu
giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri
thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng
lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI)
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập quốc tế nêu rõ mục tiêu tổng quát của giáo dục và đào tạo là giáo
dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả
năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống
tốt và làm việc hiệu quả
Cùng với môn Tiếng việt và Toán, môn Địa lý là môn học quan trọng trong
chương trình tiểu học góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh. Mục tiêu dạy
học Địa lý lớp 4 là hình thành cho học sinh một số biểu tượng, khái niệm, mối
quan hệ địa lý đơn giản và bước đầu hình thành, rèn luyện một số kĩ năng địa lý.
Chương trình Địa lý lớp 4 giúp học sinh lĩnh hội được một số tri thức ban đầu về
địa lý Việt Nam, về một số nét tiêu biểu của từng vùng, miền, biển, đảo và các
dãy núi, giúp học sinh hiểu biết về môi trường xung quanh từ đó tạo điều kiện
cho học sinh dễ dàng hoà nhập, thích ứng với cuộc sống xã hội, với môi trường
xung quanh.
Chương trình GDPT 2018 đã nêu rõ mục tiêu của Địa lí ở cấp tiểu học là
hình thành, phát triển ở học sinh năng lực lịch sử và địa lí với các thành phần:
nhận thức khoa học lịch sử và địa lí; tìm hiểu lịch sử và địa lí; vận dụng kiến
thức, kĩ năng đã học; đồng thời góp phần hình thành và phát triển các năng lực
chung: tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo. Kéo
theo đó, bộ sách Chân trời sáng tạo đã có sự thay đổi sách giáo khoa môn Địa lí
1
4. Chính vì vậy, bản thân là giáo viên giảng dạy trực tiếp môn Địa lí 4, tôi cần
phải nghiên cứu các phương pháp mới để giảng dạy cho học sinh phù hợp hơn.
Thực tế trong trường Tiểu học hiện nay đa số các em học sinh ít quan tâm
đến môn địa lí vì các em nghĩ đây là môn học phụ, thuộc lĩnh vực khoa học xã
hội mà chủ yếu các em tập trung vào môn học Toán và Tiếng việt. Còn đối với
giáo viên cũng chưa coi trọng môn học này. Mới chỉ là điểm qua cho xong bài.
Chưa tập trung đầu tư nghiên cứu để tìm tòi những phương pháp, hình thức tổ
chức dạy học phong phú nhằm thu hút hứng thú học tập của học sinh trong môn
học. Vì thế dẫn đến học sinh ngại học, không có hứng thú trong học tập, ngại
trau dồi kiến thức về địa lí, ít tìm hiểu các hiện tượng địa lý trong thực tế. Việc
học chỉ là đối phó, miễn cưỡng học sinh chỉ tiếp thu được lượng kiến thức rất ít,
không bản chất, vì thế dễ quên. Kết quả là hiệu quả học tập chưa cao.
Vậy làm thế nào để lựa chọn được những phương pháp dạy học hay, đặc
trưng thực hiện để các tiết dạy mang lại hiệu quả cao là một vấn đề mà mỗi giáo
viên chúng ta cần phải quan tâm, trăn trở. Đó không chỉ là vấn đề của riêng bản
thân tôi quan tâm mà là vấn đề quan tâm của hầu hết các giáo viên Tiểu học.
Xuất phát từ thực tế và yêu cầu cần thiết của xã hội hiện nay, là giáo viên
đang trực tiếp giảng dạy lớp 4, tôi muốn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
trong nhà trường, tìm lại sự yêu thích môn học, đáp ứng được mục của tiêu Giáo
dục & Đào tạo bản thân tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nâng
cao chất lượng giờ dạy môn Địa lý nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh
lớp 4” qua bộ sách Chân trời sáng tạo với mong muốn mỗi tiết học địa lý đều vui
vẻ, thoải mái và có chất lượng.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp nâng
cao chất lượng giờ học Địa lý lớp 4 nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh .
3. Đối tượng nghiên cứu
- Lý luận về dạy học phân môn địa lý.
- Thực tiễn áp dụng các biện pháp nâng cao chất lượng giờ học nói chung
và dạy học phân môn Địa lý nói riêng ở trường Tiểu học …
2
- Học sinh lớp 4 trường Tiểu học …
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi đã tiến hành các phương pháp sau :
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và nghiên cứu một số tài liệu về
phương pháp dạy học phân môn Địa Lý.
- Phương pháp khảo sát thực tiễn Khảo sát bằng bài kiểm tra và thông qua
các tiết học Địa Lý.
- Phương pháp thống kê: Thống kê, phân loại học sinh theo mức đạt được.
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp: Phân tích lý luận và thực tiễn
ứng dụng các biện pháp nâng cao chất lượng giờ học Địa Lý.
- Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm một số biện pháp nâng cao chất
lượng giờ học Địa Lý để đúc rút kinh nghiệm.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Luật giáo dục năm 2005, điều 28.2 đã ghi ''Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho HS''.
Yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học nên GV cần vận dụng các
phương pháp soạn giảng cho phù hợp để đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho
HS, từ đó có thể phát huy tính tự giác tích cực của học sinh.
Việc dạy học Địa lí nói chung cần đảm bảo các nguyên tắc giáo dục, đây là
các luận điểm có tính chất chỉ đạo, những quy định, yêu cầu cơ bản mà người
giáo viên cần phải tuân thủ để mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình dạy
học. Việc sử dụng tranh ảnh, băng hình, áp dụng các câu ca dao tục ngữ phù hợp
với từng phần nội dung kiến thức, tổ chức các trò chơi học tập trong môn học
Địa lý đã căn cứ vào các nguyên tắc giáo dục (môn Địa lí).
Trong quá trình dạy học các yếu tố chủ yếu có tác động trực tiếp đến việc
nâng cao chất lượng dạy- học môn Địa lý trong nhà trường như:
3
- Năng lực giảng dạy của giáo viên:
Giáo viên phải có tâm huyết với môn địa lý, có kiến thức sâu rộng về địa lý
Việt Nam và thế giới. Biết lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp để kích thích
sự hứng thú của học sinh.
- Sự ham hiểu biết của học sinh:
Học sinh ham hiểu biết, thích khám phá cái mới, thích tìm hiểu các yếu tố
tự nhiên, các hiện tượng thiên nhiên kì thú. Đồng thời các em phải có ý thức học
tập nghiêm túc.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.
Nhà trường phải có đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học như máy
chiếu, máy in. Có đủ các loại bản đồ và các dụng cụ thực hành cần thiết trong
các tiết học, các tài liệu tham khảo về địa lý Việt Nam và thế giới.
2. Thực trạng việc dạy học Địa Lý lớp 4 ở Trường tiểu học ...
* Về phía giáo viên:
- Hầu hết các giáo viên đều có ý thức trong đổi mới phương pháp dạy học
nói chung và môn Địa lý nói riêng để phát huy được tính chủ động tích cực, sáng
tạo của học sinh làm cho tiết học địa lý nhẹ nhàng nhưng hiệu quả. Song vẫn còn
một số giáo viên vẫn chưa coi trọng phân môn địa lý. Chưa chịu khó tìm tòi
những phương pháp dạy hay, những hình thức tổ chức phong phú phù hợp với
nội dung trong từng tiết học. Do đó tiết học Địa lý còn khô cứng, buồn tẻ dẫn
đến chất lượng thấp.
- Khả năng dạy phân hóa đối tượng, tạo hứng thú cho học sinh của một số
giáo viên còn hạn chế. Việc đầu tư cho đồ dùng dạy học như tranh ảnh của các
giáo viên còn ít.
* Về phía học sinh
- Học sinh là con em nông thôn, nhiều học sinh có cuộc sống khó khăn, cha
mẹ đi làm ăn xa nên học sinh thiếu sự định hướng, kèm cặp.
- Học sinh còn quen với cách học đơn giản theo sách giáo khoa, khả năng
tư duy, suy luận để hình thành biểu tượng, khái niệm chưa nhiều nên chưa có
được thói quen suy nghĩ, động não một cách có hệ thống.
4
- Học sinh và phụ huynh còn coi nhẹ môn học Địa lí cho đây là môn phụ
nên chưa quan tâm, đầu tư cho môn học.
Tôi đã tổ chức cho học sinh làm bài kiểm tra môn Địa lí để kiểm tra năng
lực học tập của học sinh trước khi áp dụng sáng kiến. Qua khảo sát chất lượng
học sinh môn địa lý vào thời điểm tháng… của học sinh lớp 4…, có kết quả như
sau:
Sĩ số
Điểm 9 – 10
Điểm 7 – 8
Điểm 5 - 6
Điểm dưới 5
Học sinh
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
27 em
4
15
7
26
12
44
4
15
Từ kết quả thực trạng và bảng số liệu trên cho thấy: Chất lượng học sinh đạt
điểm 9, 10 còn thấp. Số lượng học sinh đạt điểm 5, 6 và dưới 5 còn cao. Cụ thể,
cả lớp chỉ có 4 học sinh đạt điểm 9 - 10, chiếm 15%, có 7 học sinh đạt điểm 7 8, chiếm 26%. Đặc biệt có 12 học sinh đạt điểm 5 - 6, chiếm đến 44% và có ca 4
học sinh đạt điểm dưới 5. Học sinh hầu hết chưa biết cách chỉ bản đồ, chưa nắm
được các biểu tượng địa lý. Tham gia học tập một cách thụ động. Qua tìm hiểu,
tôi thấy nổi lên một số nguyên nhân sau:
Một là: Giáo viên chưa đầu tư nghiên cứu nội dung chương trình, chưa hệ
thống kiến thức môn Địa lý lớp 4. Khi dạy trên lớp còn dạy tràn lan theo từng
bài, chưa có sự logic từ mạch kiến thức cũ sang mạch kiến thức mới.
Hai là: Giáo viên mới chỉ tổ chức cho học sinh thực hiện các câu hỏi, các
bài tập trong sách giáo khoa một cách đơn thuần theo hình thức hỏi đáp, chưa
phát triển chúng thành nhiều các hình thức tổ chức dạy học phong phú như tổ
chức trò chơi, ca dao, tục ngữ…, để phát triển tư duy sáng tạo của học sinh.
Ba là: Chưa khai thác triệt để tranh ảnh và các bảng số liệu. Đặc biệt, chưa
chú trọng đến việc sưu tầm tranh ảnh, băng hình để khắc sâu kiến thức cho học
sinh.
Bốn là: Tổ chức tiết học còn nặng nề, chưa linh hoạt trong quá trình tổ chức
nên chưa có tác dụng thúc đẩy học sinh trong quá trình hợp tác.
5
3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Để nâng cao chất lượng tiết học phân môn địa lý lớp 4 góp phần tích cực
trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, tôi xin đề xuất
một số giải pháp sau:
3.1. Biện pháp 1: Nghiên cứu nội dung, chương trình, xác định mục tiêu
bài học môn Địa lý lớp 4.
Chương trình Địa lý lớp 4 giúp học sinh lĩnh hội được một số tri thức ban
đầu về địa lý Việt Nam, về một số nét tiêu biểu của từng vùng, miền, biển, đảo
và các dãy núi, giúp học sinh hiểu biết về môi trường xung quanh từ đó tạo điều
kiện cho học sinh dễ dàng hòa nhập, thích ứng với cuộc sống xã hội, với môi
trường. Vì thế để thực hiện tốt chương trình Địa lý lớp 4, giáo viên cần phải
nghiên cứu kỹ để hiểu nội dung chương trình, hiểu rõ mục tiêu của từng phần,
từng bài học, từng nội dung kiến thức. Từ đó có các phương án dạy học phù hợp
với từng bài cụ thể.
Chương trình môn Địa lý lớp 4 gồm có phần Mở đầu và 6 chủ đề, chứa 27
bài học.
Chủ đề 1: Địa phương em (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương)
Chủ đề 2: Trung du và miền núi Bắc Bộ
Chủ đề 3: Đồng bằng Bắc Bộ
Chủ đề 4: Duyên hải miền Trung
Chủ đề 5: Tây Nguyên
Chủ đề 6: Nam Bộ
Qua hệ thống nội dung chương trình ta thấy: Những khái niệm, biểu tượng
mà học sinh tiếp xúc là từ dễ đến khó; khối lượng kiến thức vừa phải, dễ tiếp thu,
dễ nắm các kiến thức cơ bản của bài.
Kênh hình vừa là sự minh hoạ cho kênh chữ vừa là nguồn cung cấp kiến
thức và rèn luyện kỹ năng tìm thông tin cho học sinh. Các câu hỏi, bài tập của
bài giúp cho học sinh dễ dàng nắm bắt các kiến thức. Đồng thời giúp các em tư
duy, phân tích, so sánh rồi rút ra nhận xét nhằm khắc sâu bài học. Ngoài ra, còn
6
giúp giáo viên dễ dàng thiết kế các hình thức học tập đa dạng và phong phú như:
thao tác trên bản đồ, lược đồ bằng giáo án điện tử, tổ chức các trò chơi học tập,
đưa các câu ca dao tục ngữ vào bài học một cách hợp lý để khai thác thông tin
kiến thức, khắc sâu kiến thức cho học sinh, rèn luyện kỹ năng hoặc bồi dưỡng
nhận thức cho các em.
Vì thế để dạy tốt được phân môn Địa lý lớp 4 giáo viên cần nắm vững nội
dung chương trình, mục tiêu bài học từ đó làm chủ kiến thức trong quá trình dạy
và có những phương pháp và hình thức tổ chức phù hợp tạo được hứng thú cho
học sinh.
3.2. Biện pháp 2: Nâng cao chất lượng giờ học địa lí thông qua hoạt
động thao tác trên bản đồ, lược đồ.
3.2.1. Làm sống động các bản đồ, lược đồ trong SGK bằng giáo án điện
tử:
Trong chương trình Địa lý lớp 4 có các bản đồ, lược đồ này đều có màu sắc
đẹp, phong phú về chủng loại. Tuy nhiên các bản đồ và lược đồ đó đều là các
tranh tĩnh. Nếu để học sinh khai thác một cách bình thường trong SGK thì các
em đều thấy rất khó và trừu tượng, không cụ thể và tiếp thu kiến thức không sâu,
hời hợt. Đặc biệt không tạo được hứng thú cho học sinh trong quá trình khai thác
kiến thức. Nhưng nếu các bản đồ và lược đồ này được thiết kế bằng giáo án điện
tử, lập các hiệu ứng phù hợp với trình tự tìm hiểu nội dung kiến thức sẽ trở thành
các bản đồ, lược đồ sống động. Điều đó sẽ tạo được sự hứng thú, hấp dẫn cho
học sinh, khi đó học sinh sẽ tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng, tự nhiên và nhớ kiến
thức lâu hơn.
Ví dụ 1: Bài 2: Thiên nhiên và con người địa phương – trang 11 SGK Lịch
sử và địa lý 4 - bộ sách Chân trời sáng tạo - tập 1
- Khi học sinh thực hiện yêu cầu: Quan sát hình 1: Bản đồ hành chính Việt
Nam. Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm 4: Quan sát lược đồ trên máy
chiếu và lược đồ trong SGK.
+ Vị trí địa lý: Xác định vị trí của tỉnh, thành phố em đang sinh sống
+ Địa hình: Có những dạng địa hình nào?
7
+ Khí hậu: Có những mùa nào
+ Sông hồ: Có những sông, hồ nào?
- Học sinh báo cáo kết quả bằng cách chỉ lược đồ trên máy chiếu.
- Giáo viên cho chạy các hiệu ứng và chốt kiến thức
Ví dụ 2: Bài 26: Thành phố Hồ Chí Minh – trang 104 SGK Lịch sử và địa lí
4 - tập 1
Khi học sinh tìm hiểu vị trí giới hạn của thành phố Hồ Chí Minh và thực
hiện yêu cầu:
- Quan sát hình 2 và hãy cho biết:
+ Chỉ vị trí của thành phố Hồ Chí Minh trên lược đồ và cho biết thành phố
tiếp giáp những tỉnh nào?
+ Từ thành phố có thể đi tới các tỉnh khác bằng những loại đường giao
thông nào?
- Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm 4: Quan sát lược đồ trên máy
chiếu và lược đồ trong SGK.
- Học sinh báo cáo kết quả bằng cách chỉ lược đồ trên máy chiếu
8
- Giáo viên cho chạy các hiệu ứng và chốt: Thành phố Hồ Chí Minh nằm
bên sông Sài Gòn, có lịch sử trên 300 năm. Trải qua nhiều tên gọi khác nhau, từ
năm 1976, thành phố được mang tên Thành phố Hồ Chí Minh.
- Từ thành phố có thể đi tới các tỉnh khác bằng những loại phương tiện như:
Máy bay, tàu hoả, ô tô, …
Như vậy, khi giáo viên thao tác kết hợp chạy hiệu ứng với kiến thức cần
chốt cho học sinh trên giáo án điện tử sẽ là biện pháp vô cùng hiệu quả. Bởi vì ở
đây hình ảnh sống động, cụ thể hóa. Ngoài ra học sinh được tìm hiểu kiến thức
qua những hình ảnh sống động này không những các em sẽ nhớ rất lâu kiến thức
mà còn nâng cao kỹ năng sử dụng bản đồ, giúp các em tự tin hơn, kích thích
hứng thú học tập cho học sinh và trong lớp ai ai cũng muốn thể hiện khả năng
học tập của mình.
3.2.2. Rèn kỹ năng đọc và chỉ bản đồ, lược đồ.
Trong mỗi tiết học của môn Địa Lý các em đều phải sử dụng bản đồ, lược
đồ. Bản đồ, lược đồ được sử dụng như là nguồn cung cấp kiến thức, là đối tượng
để học sinh chủ động, tự lực khai thác kiến thức Địa Lý. Vì thế học sinh phải
biết đọc các ký hiệu trên bản đồ, lược đồ, hiểu được ý nghĩa màu sắc được biểu
thị trên bản đồ, lược đồ, xác định được các yếu tố Địa Lý trên bản đồ.
9
Để học sinh có kỹ năng đọc và chỉ bản đồ tốt, ngay từ đầu năm học, trong
mỗi tiết học Địa lý có sử dụng bản đồ, sơ đồ, yêu cầu các em nêu ký hiệu trên
bản đồ, lược đồ, nêu ý nghĩa màu sắc được biểu thị trên bản đồ, lược đồ, xác
định hướng của bản đồ. Sau đó mới thực hiện chỉ bản đồ theo nội dung yêu cầu
bài học. Khi thao tác với bản đồ các em cần nắm được:
Bước 1: Nắm được mục đích làm việc với bản đồ.
Tức là đọc tên bản đồ, để biết nội dung sử dụng cung cấp kiến thức gì cho
bài học. Bước này không khó, giáo viên cần lưu ý khi tự vẽ thêm bản đồ thì phải
có tên bản đồ (có thể viết trên hoặc viết ở dưới)
Bước 2: Xem bảng chú giải để có biểu tượng địa lí cần tìm trên bản đồ.
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách đọc bảng chú giải, những kí hiệu ứng
với các thông tin gì .
Ví dụ: Đường đứt khúc chỉ ranh giới giữa các tỉnh, cây dù chỉ bãi biển,
chấm tròn chỉ thành phố …..
Bước 3 : Tìm vị trí Địa lý của đối tượng trên bản đồ.
Đây chính là bước kĩ năng chỉ bản đồ. Ở bước này giáo viên cũng như học
sinh thường chỉ không chính xác do không thường xuyên chỉ bản đồ nên dễ lúng
túng. Chỉ bản đồ có các cách chỉ sau :
- Chỉ điểm (thành phố , khoáng sản, …)
- Chỉ đường (sông, dãy núi, …)
- Chỉ vùng (chỉ vị trí giới hạn của tỉnh, thành phố, …)
Khi hướng dẫn học sinh chỉ bản đồ giáo viên cần lưu ý học sinh cách chỉ
như sau:
- Chỉ về một địa danh, một thành phố, một tỉnh… Nếu là bản đồ hành chính
thì sẽ có ranh giới giữa các nước, các thành phố, tỉnh. GV chỉ theo đường ranh
giới, bắt đầu ở điểm nào thì kết thúc ở điểm đó của một châu lục, một nước, một
thành phố, một tỉnh muốn chỉ. Nếu là bản đồ tự nhiên thì thường một thành phố
được kí hiệu bằng dấu chấm tròn, GV chỉ ngay vào chấm tròn là thành phố, hoặc
chỉ các phương tiện đi lại của các vùng miền (Xem chú giải trên bản đồ, lược đồ)
- Chỉ về biển, sông ngòi, Đại dương khi chỉ kéo rộng trong giới hạn của nó
10
không lấn vào đất liền. Biển, sông, dãy núi chỉ theo hướng từ thượng lưu đổ
xuống hạ lưu, từ nơi cao (độ cao của địa hình) xuống nơi thấp.
Bước 4: Quan sát đối tượng trên bản đồ, nhận xét và nêu đặc điểm đơn
giản của đối tượng (khai thác một phần kiến thức mới ).
Ví dụ: Khi chỉ vị trí của nước Việt Nam, nhận xét vị trí nước ta kéo dài từ
Bắc xuống Nam, nằm phía cực Nam.
- Bài Đồng bằng Nam Bộ, quan sát và chỉ lược đồ xong, học sinh có thể
nhận xét ngay là hệ thống sông ngòi nhiều, chằng chịt.
- Bài địa hình nước ta, dựa vào màu sắc học sinh nhận xét được ngay đồi
núi nhiều hơn đồng bằng.
- Bài Người dân ở đồng bằng Nam Bộ, quan sát, nhận xét trang phục của
người dân ở đồng bằng Nam Bộ…
Bước 5: Xác lập mối quan hệ địa lí đơn giản giữa các yếu tố tự nhiên
Ví dụ: Khi học sinh chỉ được vị trí nước ta, phía Đông giáp biển Đông,
đường bờ biển kéo dài như thế thì sẽ thuận lợi để phát triển ngành nào? (đánh bắt
thủy hải sản). Đó chính là mối quan hệ giữa vị trí địa lí và hoạt động sản xuất.
Như vậy, nếu chúng ta rèn cho học sinh được kỹ năng đọc và chỉ bản đồ
một cách thành thạo thì các em sẽ rất thích học tiết địa lý. Các tiết học trở nên
nhẹ nhàng không căng thẳng. Dưa trên những thông tin trên bản đồ, lược đồ các
em xác định được chính xác kiến thức cần cung cấp. Với những kiến thức này sẽ
khắc sâu đối với các em.
3.3. Biện pháp 3: Hình thành khái niệm, biểu tượng địa lí thông qua
khai thác tranh ảnh, video.
3.3.1. Hình thành khái niệm, biểu tượng địa lí thông qua khai thác tranh
ảnh có sẵn trong SGK.
Hình thành khái niệm, biểu tượng địa lí là một trong những mục đích của
việc dạy Địa Lý. Vì thế bước này rất quan trọng. Vậy muốn hình thành biểu
tượng, khái niệm Địa Lý cho học sinh, yêu cầu các em phải nắm được các dấu
hiệu của đối tượng Địa Lý mà các em quan sát được từ thực tế, từ băng hình,
tranh ảnh để các em tìm ra những dấu hiệu, bản chất của đối tượng Địa Lý nhằm
11
đưa ra khái niệm đúng về đối tượng.
Ví dụ 1: Bài Thiên nhiên vùng Đồng bằng Bắc Bộ - trang 32 SGK Lịch sử
và Địa lý 4 - bộ sách Chân trời sáng tạo - tập 1
Để hình thành khái niệm Sông ngòi và hệ thống đê ngăn lũ điều đầu tiên
cho học sinh xác định Sông Hồng, Sông Thái Bình và một số sông khác của
đồng Bằng Bắc Bộ trên lược đồ .
Sau đó cho học sinh quan sát hệ thống đồng bằng, đê, mương qua tranh ảnh
và băng hình.
Cảnh đồng bằng Bắc Bộ
Một đoạn đê Sông Hồng
Mương dẫn nước ở ĐBBB
Tiếp đến yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi:
- Em hãy cho biết đê có tác dụng gì?
- Để phục vụ tưới tiêu nhân dân Đồng Bằng Bắc Bộ đã làm gì?
12
Người viết
Đỗ Văn Hiếu
Liên hệ Zalo: 0985598499
13
 








Các ý kiến mới nhất