10 ĐẠI MỸ NHÂN TRUNG QUỐC

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 13h:58' 20-02-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 13h:58' 20-02-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
1. Bao Tự - Nụ Cười Làm Mất Giang Sơn (P1)
Bao Tự - Nụ Cười Làm Mất Giang Sơn (P2)
Bao Tự - Nụ Cười Làm Mất Giang Sơn (P3)
Bao Tự - Nụ Cười Làm Mất Giang Sơn (P4)
Bao Tự - Nụ Cười Làm Mất Giang Sơn (End)
2. Tây Thi - Mỹ Nhân Nổi Tiếng Cổ Kim (P1)
Tây Thi - Mỹ Nhân Nổi Tiếng Cổ Kim (P2)
Tây Thi - Mỹ Nhân Nổi Tiếng Cổ Kim (P3)
Tây Thi - Mỹ Nhân Nổi Tiếng Cổ Kim (P4)
Tây Thi - Mỹ Nhân Nổi Tiếng Cổ Kim (End)
3. Vương Chiêu Quân - Hồng Nhan Bạc Mệnh Xứ Người (P1)
Vương Chiêu Quân - Hồng Nhan Bạc Mệnh Xứ Người (P2)
Vương Chiêu Quân - Hồng Nhan Bạc Mệnh Xứ Người (P3)
Vương Chiêu Quân - Hồng Nhan Bạc Mệnh Xứ Người (P4)
Vương Chiêu Quân - Hồng Nhan Bạc Mệnh Xứ Người (End)
4.Triệu Phi Yến - Mỹ Nhân Loạn Cung Đình (P1)
Triệu Phi Yến - Mỹ Nhân Loạn Cung Đình (P2)
Triệu Phi Yến - Mỹ Nhân Loạn Cung Đình (P3)
Triệu Phi Yến - Mỹ Nhân Loạn Cung Đình (P4)
Triệu Phi Yến - Mỹ Nhân Loạn Cung Đình (P5)
Triệu Phi Yến - Mỹ Nhân Loạn Cung Đình (End)
5. Điêu Thuyền - Mỹ Nhân Vì Nước Diệt Gian Thần (P1)
Điêu Thuyền - Mỹ Nhân Vì Nước Diệt Gian Thần (P2)
Điêu Thuyền - Mỹ Nhân Vì Nước Diệt Gian Thần (P3)
Điêu Thuyền - Mỹ Nhân Vì Nước Diệt Gian Thần (P4)
Điêu Thuyền - Mỹ Nhân Vì Nước Diệt Gian Thần (End)
6. Võ Tắc Thiên - Mỹ Nhân Tham Vọng Điên Cuồng (P1)
Võ Tắc Thiên - Mỹ Nhân Tham Vọng Điên Cuồng (P2)
Võ Tắc Thiên - Mỹ Nhân Tham Vọng Điên Cuồng (P3)
Võ Tắc Thiên - Mỹ Nhân Tham Vọng Điên Cuồng (P4)
Võ Tắc Thiên - Mỹ Nhân Tham Vọng Điên Cuồng (P5)
Võ Tắc Thiên - Mỹ Nhân Tham Vọng Điên Cuồng (P6)
Võ Tắc Thiên - Mỹ Nhân Tham Vọng Điên Cuồng (P7)
Võ Tắc Thiên - Mỹ Nhân Tham Vọng Điên Cuồng (End)
7. Dương Quỳnh Chi - Họa Mỹ Nhân Thời Tây Tấn (P1)
Dương Quỳnh Chi - Họa Mỹ Nhân Thời Tây Tấn (P2)
Dương Quỳnh Chi - Họa Mỹ Nhân Thời Tây Tấn (End)
8. Trương Lệ Hoa - Mỹ Nhân Hát Khúc Hậu Đình Hoa (P1)
Trương Lệ Hoa - Mỹ Nhân Hát Khúc Hậu Đình Hoa (P2)
Trương Lệ Hoa - Mỹ Nhân Hát Khúc Hậu Đình Hoa (End)
9. Dương Ngọc Hoàn - Mỹ Nhân Thiên Cổ Hận Tình (P1)
Dương Ngọc Hoàn - Mỹ Nhân Thiên Cổ Hận Tình (P2)
Dương Ngọc Hoàn - Mỹ Nhân Thiên Cổ Hận Tình (P3)
Dương Ngọc Hoàn - Mỹ Nhân Thiên Cổ Hận Tình (P4)
Dương Ngọc Hoàn - Mỹ Nhân Thiên Cổ Hận Tình (P5)
Dương Ngọc Hoàn - Mỹ Nhân Thiên Cổ Hận Tình (P6)
Dương Ngọc Hoàn - Mỹ Nhân Thiên Cổ Hận Tình (P7)
Dương Ngọc Hoàn - Mỹ Nhân Thiên Cổ Hận Tình (End)
10. Trần Viên Viên - Mỹ Nhân Để Lụy Anh Hùng (P1)
Trần Viên Viên - Mỹ Nhân Để Lụy Anh Hùng (P2)
Trần Viên Viên - Mỹ Nhân Để Lụy Anh Hùng (P3)
Trần Viên Viên - Mỹ Nhân Để Lụy Anh Hùng (P4)
Trần Viên Viên - Mỹ Nhân Để Lụy Anh Hùng (P5)
Trần Viên Viên - Mỹ Nhân Để Lụy Anh Hùng (End)
10 ĐẠI MỸ NHÂN TRUNG QUỐC
Huyền Cơ
dtv-ebook.com
1. Bao Tự - Nụ Cười Làm Mất Giang Sơn (P1)
Sau khi Chu Vũ Vương khởi binh tiêu diệt Trụ Vương, kiến lập
nên chế độ mới với nhiều chính sách hướng về lợi ích nhân dân. Sở
dĩ nhà Tây Chu đạt được những thành tựu ấy, là nhờ sự phò tá đắc
lực của Chu Công, và cái gương nữ họa Đắc Kỷ còn rõ ràng trước
mắt, trở thành 1 triều đại an thịnh và phồn vinh, nhân dân ấm no
hạnh phúc. Trải qua mấy đời, từ Thành Vương cho đến Lệ Vương,
thế nước dần dần suy đồi, hầu như không có 1 nhân tài nào kiệt
xuất đứng ra phò tá cho các vua nhà Chu. Vì vậy, bá quan văn võ
chỉ toàn bọn vô tài bất tướng, thi nhau theo gương nhà vua hưởng
lạc. Tiếp đến đời Tuyên Vương lại càng hủ bại, bởi vì Tuyên Vương
không những ham mê chơi bời, mà còn chẳng màng gì đến chính
sự, mặc cho bọn quần thần dưới quyền lộng hành, hà hiếp dân đen.
Tuy các chư hầu vẫn nhớ đến ân nghĩa phong hầu, cấp đất của nhà
Chu; theo lệ cũ hàng năm vẫn tiến cống, nhưng đa số đều ngấm
ngầm phẫn uất, bởi vì nhà Chu mỗi năm lại đòi hỏi tăng thêm để có
đủ chi dụng cho việc hưởng lạc vô cùng xa hoa tổn phí. Dù là hôn
quân mê ám, nhưng Tuyên Vương cũng biết lòng người không
phục, nên trong lòng cũng rất lo lắng. Tuy không ngừng ăn chơi xa
xỉ, song đồng thời lại cho tiến hành việc tăng cường binh lực để trấn
áp mọi sự chống đối. Nhà vua hy vọng với quyền lực của mình, sẽ
không có một chư hầu nào dám có ý nghĩ sẽ xâm phạm đến nhà
Chu. Thế nhưng, nước Khuyển Nhung lại nghĩ khác, cho rằng đây là
cơ hội tốt nhất để thống nhất Trung Nguyên, nên ồ ạt kéo quân xâm
phạm biên giới. Quân tướng nhà Chu tuy đông chẳng kém Khuyển
Nhung, nhưng liên tiếp mấy trận đều đại bại, bởi vì quân sĩ không
hết lòng vì nước, tướng soái thì bất tài, chỉ giỏi ăn chơi hơn là thao
lược.
Nghe tin dữ, Tuyên Vương vội triệu bá quan đến thương thảo kế
sách. Đa số đại thần từ trước đến nay, nhờ vào nịnh bợ mà tiến
thân, không hề có thực tài, nên đồng thanh tâu: "Sở dĩ Khuyển
Nhung thắng trận là vì bọn chúng dồn hết lực lượng tấn công, trong
khi đó chúng ta lại phải bảo vệ suốt một miền biên giới quá dài. Nay
bệ hạ chỉ cần ban lệnh trưng dụng thêm quan binh, là thừa đủ tiêu
diệt Khuyển Nhung như như trở bàn tay".
Tuyên Vương nghe vậy rất hài lòng, lập tức xuống chiếu tuần du
đất Thái Nguyên để kiểm điểm trai tráng trước khi quyết định số
lượng quân binh sẽ được tăng cường. Khi việc đã xong, trở về gần
đến Cảo Kinh thì trời đã sụp tối. Đoàn xa giá vừa vượt qua phố chợ
để vào cổng kinh thành, thì chợt nghe văng vẳng có tiếng con trẻ vỗ
tay, cùng nhau hát đồng dao:
"Thỏ mọc thì ác phải tà
Giang hồ ki phúc ấy là mất Chu"
Trong lòng đang sẵn mối lo, Tuyên Vương nghe câu đồng dao ấy
hết sức giận dữ, lập tức truyền lệnh truy bắt những đứa trẻ con đã
hát đồng dao. Bọn trẻ con sợ hãi bỏ chạy tán loạn, rốt cuộc quân
binh chỉ bắt được 2 đứa, dẫn đến trước mặt nhà vua. Tuyên Vương
giận dữ phán hỏi: "Người nào đã bày cho bọn ngươi câu đồng dao
đó, các ngươi nói thật thì ta tha cho, bằng không sẽ bị chém đầu!".
Hai đứa trẻ hết sức sợ hãi, không dám giấu giếm, giương giọng
trả lời: "Tâu Đại vương, ba ngày trước đây có một đứa trẻ mặc áo
đỏ, chẳng biết từ đâu đến, dạy câu hát này cho tất cả chúng con,
không riêng một đứa nào. Sau khi dạy xong, đứa trẻ mặc áo đỏ ấy đi
đâu mất, không ai gặp lại nữa. Chúng con trẻ người non dạ, không
ai hiểu ý nghĩa ra sao, nên vô tình phạm tội. Xin Đại vương tha chết
cho."
Tuyên Vương biết là bọn trẻ nói thật, lo lắng im lặng hồi lâu, rồi
truyền tha cho bọn chúng. Sau khi về triều, nhà vua vẫn bị ám ảnh
bởi câu hát này, hạ lệnh cho quan Tư vụ, nếu còn nghe ai hát, lập
tức sẽ khép vào tội phản nghịch, chém đầu cả cha mẹ. Thật ra nhà
vua không hiểu rõ lắm ý nghĩa sâu xa của câu đồng dao, nên mấy
hôm sau, triệu 2 đại thần trụ cột, có học vấn rộng rãi, là Đại tông Bá
Chiêu Hổ, Thái sử Bá Dương Phụ vào cung hỏi cho rõ. Đại tông Bá
Chiêu Hổ suy nghĩ rồi tâu: "Thần được biết, "giang" là tên cây dâu
mọc trên núi, "giang hồ" tức là lấy cây dâu ấy làm thành cánh cung,
"ki"là tên một loại cỏ có tính chất dai, bền, "phúc" là cái bao đựng
tên. Như vậy "ki phúc" là lấy cỏ ki làm bao đựng tên. Cả hai câu này
ngầm ý nói đến cung tên, tức là báo trước nước ta sắp có họa đao
binh".
Tuyên Vương càng lo sợ hỏi: "Câu đồng dao là do đứa trẻ mặc
áo đỏ bày ra, vậy đứa trẻ ấy ý nghĩa ra sao?".
Thái sử Bá Dương Phụ đáp: "Sắc đỏ thuộc hỏa tinh, vì vậy theo
thần suy đoán thì đứa trẻ mặc áo đỏ tức là sao Huỳnh Hoặc hay
Hỏa tinh".
Tuyên Vương hết sức kinh sợ, bởi vì thông thường sao Hỏa tinh
xuất hiện thì chắc chắn không thoát khỏi nạn binh đao, vội vàng nói:
"Nếu vậy, trẫm không tính đến việc trừng trị Khuyển Nhung nữa, cho
quân án binh bất động và đốt bỏ toàn bộ cung tên, thì có thể tránh
được tai nạn hay không?".
Bá Dương Phụ lắc đầu, tâu: "Theo thần thì họa lớn không phải
bắt nguồn từ cung tên, bởi câu "thỏ mọc thì ác phải tà" có nghĩa âm
thịnh dương suy; nếu là âm thịnh dương suy, tất cả họa phát sinh từ
trong cung cấm hoặc là nữ họa, khiến đất nước nghiêng ngả".
Thấy Tuyên Vương có vẻ không vui, Bá Dương Phụ cúi đầu tâu
tiếp: "Họa là do nữ nhân gây ra, cung tên binh đao từ đó mà ra, vì
vậy có thể tránh được. Chỉ cần bệ hạ tu nhân tích đức, làm điều
lành, giúp dân no ấm, thì họa sẽ tự tiêu tan".
Thực ra Bá Dương Phụ không dám nói thẳng, là nhà vua nên dẹp
bỏ ăn chơi hưởng lạc, đừng xa hoa dâm sĩ thì sẽ chẳng còn lo đến
tai họa nữ nhân nữa. Riêng Tuyên Vương có chút mừng rỡ, cho 2
người lui ra, rồi vào trong triệu Khương hậu đến bàn bạc mọi việc,
đề phòng. Chẳng ngờ khi vừa gặp mặt, Khương hậu đã vội tâu
ngay: "Trong cung bất ngờ có việc rất quái dị, thần thiếp đang định
diện kiến hoàng thượng để tâu bày. Thật đúng việc dị".
Tuyên Vương thất sắc hỏi dồn: "Trong cung kín cổng cao tường,
hàng ngàn cấm binh canh giữ, vả lại từ trước đến nay hậu cai quản
cấm cung rất nghiêm minh, làm sao có việc gì quái lạ xảy ra được?".
Khương hậu tâu: "Trong cung có một lão cung nhân của Tiên đế
ngày trước, nay đã 50 tuổi, mang thai hơn 38 năm mà không thấy
dấu hiệu gì sắp sinh nở. Chẳng biết vì sao hôm qua chợt chuyển dạ,
sinh được 1 đứa con gái, chẳng là điều quái dị, không thể tưởng
tượng ra được hay sao?".
Tuyên Vương càng thêm kinh hoảng, vội hỏi: "Đứa con gái ấy
hình dạng ra sao, còn sống hay đã chết?".
Khương hậu đáp: "Đứa bé ấy bình thường như mọi đứa trẻ khác,
tuy thần thiếp thấy nó có vẻ xinh đẹp, nhưng vì là vật quái lạ nên lập
tức sai người mang ra Thanh Thủy vứt đi rồi".
Tuyên Vương thở phào, trong lòng bớt lo lắng. Muốn biết sự thật,
Tuyên Vương truyền cung nữ già ấy vào hỏi han thêm. Lão cung nữ
cứ thật sự tâu bày: "Tâu bệ hạ, vào đời nhà Hạ vua Kiệt, một ngày
kia chợt có 1 con rồng bay xuống sân cấm, miệng nhỏ nước dãi, Hạ
Kiệt vội triệu quan Thái sử đến hỏi ý kiến; Thái sử bói được 1 quẻ
rất tốt, cho rằng rồng giáng hạ là điềm lành, bệ hạ nên thì giữ lấy
nước dãi của nó để làm vật quốc bảo thì hay hơn. Hạ Kiệt nghe
theo, truyền lấy 1 cái hộp bằng vàng, đựng nước dãi rồng ấy, cất
vào kho. Sau khi lấy xong, chợt trời nổi lên sấm chớp, mưa to, rồi
con rồng theo gió bay mất. Trải qua mấy đời Hạ, Thương rồi Chu,
chưa hề có ai mở chiếc hộp vàng đựng nước dãi rồng ra lần nào.
Đến đời Tiên vương (tức Lệ Vương), bất chợt 1 hôm, chiếc hộp phát
ra ánh hào quang chói lọi, khiến quan nội khố rất kinh ngạc, tâu lên
Tiên vương. Tiên vương liền sai mang hộp vàng đến, tò mò mở ra
xem thử rồi lỡ tay đánh rơi hộp vàng xuống đất, nước dãi rồng chảy
xuống sân cung cấm, biến thành con dãi nhỏ chạy thẳng vào hậu
cung, khi ấy thần thiếp mới 12 tuổi, thấy nhốn nháo liền chạy ra, vô
tình đúng hướng con dãi chạy tới, đến chân thần thiếp thì chợt biến
mất. Do vậy, thần thiếp hoài thai nhưng trải qua 38 năm vẫn không
động tĩnh gì, chẳng biết nguyên nhân vì sao đến hôm qua mới
chuyển dạ. tuy là việc quái lạ nhưng không phải do thần thiếp gây
nên, vả chăng đứa bé đó đã bị hoàng hậu đem vứt bỏ rồi thì không
còn gì lo lắng nữa. Xin hoàng thượng tha tội cho".
Tuyên Vương nghe xong, truyền cho lão cung nữ lui ra, rồi hạ
lệnh cho quân binh đi dọc theo sông Thanh Thủy, tìm xem có thật
đứa bé gái đã chết chưa. Sau mấy ngày mệt nhọc, bọn quân sĩ về
tâu báo: "Tuy chúng tôi không tìm thấy xác, nhưng có lẽ đứa baes
gái ấy đã chìm xuống lòng sông hoặc đã bị cá ăn thịt mất rồi".
Tuyên Vương không sao hết lo lắng, truyền Thái sử Bá Dương
Phụ vào bàn soạn. Bá Dương Phụ theo lệnh, bói được 1 quẻ có lời
hào:
"Nước biếc chảy về đông, khí hồng ở phía tây
Giang hồ ki phúc vẫn còn, nên cẩn trọng".
Bá Dương Phụ giải thích: "Theo lời quẻ, thì yêu khí tuy đã ra khỏi
cung nhưng chưa bị tiêu diệt, cũng theo lời hào, thì bệ hạ chỉ cần
cẩn trọng trong việc cung tên thì có thể tránh được đại nạn".
Tuyên Vương không sao yên tâm được, lập tức xuống lệnh:
"Trong phạm vi nội ngoại kinh đô, bất cứ ai tìm được 1 đứa trẻ gái
sơ sinh, dù sống hay chết đều trọng thưởng. Ai nuôi trẻ sơ sinh gái
không có nguồn gốc thì bị tội chém đầu toàn gia". Đồng thời Tuyên
Vương cũng triệu Thượng đại phu Đỗ Bá và Hạ đại phu Tả Nho vào
ra lệnh, truyền 2 người đốc thúc các quan, cấm tuyệt đối không cho
ai chế tạo hay buôn bán cung làm bằng gỗ dâu núi hoặc bao đựng
tên làm bằng cỏ ki, trái lệnh chém đầu không cần xét xử.
Tả Nho phụ trách việc khám xét nội ngoại thành, còn Đỗ Bá dẫn
quân dọc theo sông Thanh Thủy, phải tìm bằng được đứa bé gái sơ
sinh, dù chết hay sống cũng đều trọng thưởng. Các quan cấp dưới
biết đây là việc hệ trọng nên không dám chần chừ, mau chóng dán
cáo thị khắp nơi và ngày đêm tuần tra xét hỏi. Tiếc rằng lệnh ra quá
gấp, chỉ những người trong thành biết rõ, đa số dân chúng ở ngoại
thành không hề biết đến lệnh cấm này. Vì vậy hôm sau có đôi vợ
chồng ở gần chân núi, chưa biết lệnh cấm, cùng nhau gùi 1 số cung
làm bằng gỗ dâu núi và 1 ít bao tên bằng cỏ ki vào thành, định bán
đổi lấy gạo ăn. Vừa đến cửa thành, quan quân đã phát hiện ra, lập
tức xông vào bắt trói. Vì là người miền núi, giỏi săn bắn luồn lách,
nên người chồng tuy hốt hoảng, vẫn mau chân chạy thoát được;
quân sĩ chỉ bắt được người vợ và tất cả số cung tên họ mang theo,
giải về trình lên cho Tả Nho xét xử. Hạ đại phu Tả Nho thầm nghĩ:
"Theo lời đồng dao thì vừa có cung tên bằng gỗ dâu núi vừa có nữ
họa. Nay ta đã bắt được mụ đàn bà cùng số cung và bao tên thì tức
là chẳng còn gì phải lo lắng nữa. Chắc chắn hoàng thượng sẽ hài
lòng, nếu đừng nhắc đến việc tên chồng đã chạy thoát, cũng đừng
cho Đỗ Bá biết để tranh công với ta".
Vì vậy Tả Nho mau chóng vào cung tâu báo với Tuyên Vương,
không hề nhắc đến sai sót của mình. Tuyên Vương cả mừng, ngay
lập tức truyền lệnh đốt bỏ số cung và bao tên, đồng thời chém đầu
người đàn bà; trong lòng hoàn toàn yên tâm là nữ họa đã bị tiêu diệt
tận gốc.
Thế nhưng việc đời không đơn giản như suy nghĩ thiển cận của
nhà vua hôn ám. Khi thấy vợ bị bắt , tuy chẳng biết nguyên do tại
sao, nhưng người đàn ông quen với việc săn bắn phản ứng rất mau
lẹ, ngay đêm đó chạy thật xa kinh thành, chờ tới trời sáng mới dò ra
hỏi dân cư tin tức. Người đàn ông nghe được tin vợ mình chết oan
ức vì 1 đứa con gái sơ sinh vứt bỏ nào đó thì khóc lóc thảm thiết.
Hai người vốn chưa có con cái, bao nhiêu năm nay sống gắn bó với
nhau nơi chân núi biết mấy ân tình. Cơn hoảng loạn này chưa hết,
đã tiếp đến nỗi đau thương khó tả, người đàn ông nhất thời không
cầm được cảm xúc, đi thẳng tới dòng sông Thanh Thủy với ý định
cùng chết với vợ cho trọn nghĩa tình. Chẳng ngờ, đến bờ sông, hắn
chợt nghe có tiếng con nít khóc, liền chạy đến nhìn xem; hóa ra
tiếng khóc từ trong 1 cái chiếu cuốn tròn vọng ra. Vốn đã được nghe
người ta kể lại, sở dĩ Tuyên Vương ra cáo thị giết chóc bừa bãi dân
lành, chẳng qua là vì 1 bé gái sơ sinh nào đó. Người đàn ông động
tâm cơ suy nghĩ: "Có khi đây chính là đứa bé mà hôn quân tìm giết,
chi bằng ta cứu nó, vừa làm phúc vừa trả mối hận cho người vợ
hiền phần nào".
Nhờ vậy, trong lòng ông ta nguôi xúc động, tìm 1 cây sào dài,
khều cái chiếu vào bờ mở ra xem. Quả nhiên trong cái chiếu là 1
đứa bé gái rất xinh xắn, được quấn bằng cái khăn sang trọng, chắc
chắn là vật từ hoàng cung. Thấy đứa bé vẫn tiếp tục khóc mặc dù
âm thanh khô khốc và nhỏ như sắp đứt hơi thở, người đàn ông đau
khổ, vội vàng bụm ít nước mớm cho nó, hồi lâu đứa bé mới im tiếng,
ngủ thiếp đi. Hiện tại ông ta biết có lệnh cấm nuôi bé gái không
nguồn gốc nên quyết định rời bỏ quê hương, nhắm đường sang
nước Bao, tìm người chị họ xin cứu giúp. Tiếc rằng người chị họ
cũng quá nghèo lại già lão nên không có sữa cho đứa bé. Người
đàn ông phải ngậm ngùi mang cho 1 người trong làng tên là Bao
Tiều. Bao Tiều lấy vợ đã lâu nhưng chưa có con, nay được đứa bé
gái đẹp như thiên thần thì mừng lắm, đặt tên là Bao Tự. Câu chuyện
dần dần phai nhạt, chẳng ai còn nghĩ tới việc nhỏ nhặt ấy nữa, riêng
Chi Tuyên Vương đã yên tâm, tiếp tục ăn chơi sa đọa.
Mấy năm sau nhân đến ngày tế lễ ở Thái miếu, Tuyên Vương
theo lệ cũ thân hành ra miếu chay tịnh. Vào đêm khuya, nhà vua
chợt nhìn thấy 1 nữ nhân, từ hướng tây chạy thẳng vào trong miếu.
Thái miếu là chốn trang nghiêm, từ trước đến nay cấm tuyệt phụ nữ
lai vãng. Vì vậy Tuyên Vương rất giận, lớn tiếng truyền cho quân sĩ
bắt nữ nhân ấy lại. Thế nhưng, mặc cho nhà vua kêu gọi mấy lần,
chẳng hề có tên quân nào xuất hiện. Người con gái huyền bí này
tiến tới trước linh vị tiên vương nhà Chu, cười 3 tiếng, khóc 3 tiếng
rồi gom toàn bộ thần chủ trong Thái miếu mang đi. Tuyên Vương vô
cùng kinh sợ, nhỏm dậy định đuổi theo thì chợt giật mình tỉnh dậy,
mới biết mình vừa nằm mơ. Trong lòng vẫn chưa hết hồi hộp, Tuyên
Vương lập tức triệu Thái sử Bá Dương Phụ vào bói 1 quẻ xem tốt
xấu ra sao. Sau khi gieo quẻ, Bá Dương Phụ trầm ngâm tâu: "Mộng
thấy nữ nhân, thật hợp với điềm báo nữ họa trước kia. Nữ nhân từ
hướng tây chạy đến, gom hết thần chủ, rồi chạy về hướng đông,
đúng với câu đồng dao "nước biết chảy về đông, khí hồng ở phía
tây"".
Tuyên Vương kinh hãi nói: "Trước đây mấy năm, trẫm đã giết
người đàn bà bán cung gỗ dâu và đốt hết bao tên bằng cỏ ki rồi.
Chẳng phải đã trừ được nữ họa hay sao?".
Bá Dương Phụ lắc đầu tâu: "Theo hạ thần, thì người đàn đàn bà
quê mùa ấy không liên can gì đến câu đồng dao cả, một người như
vậy chắc chắn không thể làm nghiêng ngả nước nhà. Khi ấy bệ hạ
quá mừng, nên quên mất việc Thượng đại phu Đỗ Bá có tìm thấy
tung tích đứa bé gái sơ sinh hay không. Hạ thần đã toan nói, nhưng
sợ như vậy phật lòng Hạ đại phu Tả Nho nên lại thôi".
Tuyên Vương ngẩn người ra 1 lúc, lập tức hạ lệnh triệu Đỗ Bá
vào hỏi. Đỗ Bá tâu rằng: "Hạ thần cùng quan binh truy tìm dọc theo
dòng sông Thanh Thủy, trải dài mấy chục dặm mà không tìm thấy
vật gì khác lạ. Sau lại nghe Tả Nho đã bắt được yêu nhân, nên yên
lòng cho quân rút về, sợ kéo dài sẽ làm cho lòng dân chúng không
tốt".
Tuyên Vương nghe xong, nổi trận lôi đình, lập tức xuống lệnh
mang Đỗ Bá ra chém đầu. Lúc đó Tả Nho cũng đã nghe tin, chạy
đến hết lời cầu xin, nhận tội về phần mình, nhưng chỉ làm cho Tuyên
Vương thêm tức tối: "Đỗ Bá không làm tròn quân lệnh, chết là đáng
lắm, còn bênh vực nỗi gì! Ngươi cũng có phần tội trong đó, nay xem
trọng bạn hữu, khinh khi quân vương, thì còn đáng chết trăm lần".
Tả Nho nghe vậy, biết không thể làm gì khác hơn, trước sau gì
cũng phải chết, nên khi Đỗ Bá bị chém đầu, Tả Nho về phủ trăn trối
với vợ con, rồi tự vẫn chết theo. Trong 1 ngày, 2 vị đại thần cùng lìa
đời là 1 chấn động lớn, vì vậy trong lòng Tuyên Vương cũng có đôi
chút hối hận; từ đó thường hay mơ thấy Đỗ Bá và Tả Nho về đòi
mạng, tinh thần và thể xác sa sút thấy rõ. Một đêm kia, Tuyên
Vương không còn chịu nổi nữa, thấy Đỗ Bá và Tả Nho xuất hiện,
liền rút bảo kiếm trấn quốc ra mắng lớn: "Ta là thiên tử, dù có giết
trăm ngàn người vẫn là theo mệnh trời. Các ngươi chưa biết tội hay
sao mà còn đeo đẳng ám ảnh ta".
Hai oan hồn cũng mắng lại: "Hôn quân giết người vô tội, nay còn
muốn giết chúng ta lần nữa sao?". Quát xong, Đỗ Bá lấy cung ra
bắn 1 phát, trúng vào bụng Tuyên Vương. Nhà vua đau quá, gào lên
1 tiếng rồi giật mình thức dậy, vẫn còn đau nhức không sao chịu nổi,
nên ngã ra bất tỉnh. Từ đó Tuyên Vương nằm liệt giường, dù thuốc
thang hết mức, bệnh tình vẫn không thuyên giảm, chẳng bao lâu thì
băng hà. Đó là năm 784 TCN. Thái tử Cung Niết lên nối ngôi nhà
vua, xưng hiệu là Chu U Vương.
Quả thật cha nào con nấy, U Vương còn ăn chơi phóng túng u
mê dâm loạn, bạo ngược hơn cả cha. Trong cung không bao giờ
ngớt xướng ca đàn địch, gái đẹp hàng ngàn. Thoạt đầu, U Vương
còn có chút nể nang Doãn Cát Phủ và Chiêu Hổ. Nhà vua không
màng gì đến triều chính, chỉ trọng dụng các gian thần biết chiều theo
ý thích của mình nên quốc gia ngày 1 suy tàn. Lúc ấy, Khương hậu
và các đại thần chính trực như Doãn Cát Phủ, Chiêu Hổ đều đã qua
đời, không còn ai dám đứng ra can gián, nên U Vương càng thêm
tha hồ tự tung tự tác. Đã vậy, 2 vị đại thần trụ cột là con của Doãn
Cát Phủ và Chiêu Hổ là Doãn Cầu và Oắt Công, tính nết trái ngược
hẳn với những người đã sinh thành ra mình, đều là những tên gian
tà nịnh bợ. Do được U Vương tin cậy, nắm quyền thế ngất trời ở
trong triều đình, 2 tên này ra sức diệt trừ những quan lại chống đối,
trù dập người có lòng trung trinh, ngày đêm tìm mưu kế giúp cho U
Vương ăn chơi thỏa mãn. Vì quá hoang phí, chẳng bao lâu quốc khố
nhà Chu đã cạn kiệt, ngay cả đến loại rượu ngon nhất, nấu từ lúa
mạch đen, xuất xứ từ nước Bao cũng phải hạn chế. U Vương hết
sức tức giận, gọi Doãn Cầu và Oắt Công vào hỏi: "Trẫm nghe quan
nội khố trình báo là quốc khố rất cạn kiệt, không đủ cho hoàng thất
chi dùng. Tại sao lại như vậy?".
Doãn Cầu vội đáp: "Trước kia các bậc tiên đế có lòng trung hậu,
quy định số phẩm vật tiến cống quá ít; thêm vào đó, các chư hầu
đều ngại cớ mất mùa, thiên tai để rút bớt một ít nữa; thành ra càng
ngày càng thiếu hụt trầm trọng".
U Vương sầm mặt hỏi: "Theo các ngươi, thì phải đối phó ra
sao?".
Oắt Công bước ra tâu: "Theo thần thì rất đơn giản, chỉ cần bệ hạ
xuống chiếu tăng số lượng tiến cống lên gấp 3 thì mới đủ chi dùng.
Các chư hầu đã chịu nhiều công ơn của nhà Chu, vả chăng e sợ
binh lực hùng mạnh của nước ta, thì chẳng ai dám trái lệnh đâu!".
Doãn Cầu gật đầu bàn thêm: "Quả đúng là đơn giản như Oắt
Công tâu bày. Tuy nhiên, theo thần thì trước khi hạ chiếu tăng thêm
phẩm vật tiến cống, bệ hạ nên có động thái uy hiếp chư hầu để bọn
chúng khiếp sợ mà răm rắp tuân theo, không dám phản kháng.
Nhân cơ hội trong cung đang thiếu rượu ngon, bệ hạ có thể viện cớ
này mà hạch tội nước Bao trước, đòi hỏi phải tiến nộp ngay loại lúa
mạch đen thượng hảo hạng. Nếu nước Bao chống lệnh, lập tức đem
quân thảo phạt, thu góp của cải đem về nước. Bằng như nước Bao
phục tùng, thì các chư hầu kia chẳng còn lí do gì mà chống đối được
cả".
U Vương nghe bàn rất mừng, lập tức hạ chiếu gọi Bao Hướng là vua nước Bao về kinh thành hạch tội. Bao Hướng nghe tin sét
đánh, hết sức lo sợ, vội họp quần thần lại thương nghị; 1 vị đại thần
bước ra tâu: "Tuy nhà Chu là thiên tử, nhưng ngày càng u tối sa
đọa, các chư hầu đều không phục. Nay họ ỷ vào binh lực hùng
mạnh, lấy cớ nhỏ nhen xâm chiếm nước ta, thì chưa chắc các chư
hầu ngôi yên. Vả chăng, ngay từ đầu lập quốc đến nay, nước Bao
chúng ta đồng lòng một dạ, nên tuy quân số ít ỏi, vẫn có thể thừa
sức chống trả một thời gian..."
Chưa dứt lời, 1 đại phu bước ra ngăn cản: "Không nên! Không
nên! Quân tướng nhà Chu đông gấp 10 lần chúng ta, lại lấy danh
nghĩa thiên tử trừng phạt chư hầu, sẽ chẳng nước nào dại đột vì
chúng ta mà đắc tội với thiên triều. Theo hạ thần, sở dĩ U Vương chỉ
vì chuyện nhỏ mà hạch sách, là vì quốc khố không kham nổi sự xa
hoa quá mức. Nay chỉ cần Đại vương chấp nhận tiến cống thêm
châu ngọc là xong. Lúa mạch đen chỉ là cái cớ, bởi vì nhà Chu biết
chắc chắn, mùa này chúng ta không thể thu hoạch được".
Bao Hướng gật đầu khen phải, truyền quan nhưng vị đại thần
quản lý quốc khố vội bước ra thưa: "Tâu Đại vương, thực sự quốc
khố nước Bao hiện nay cũng trống rỗng, bao nhiêu vàng ngọc vừa
rồi đã đem cứu tế nhân dân mất mùa cả rồi".
Nghe vậy Bao Hướng mới giật mình, nhíu mày nhớ lại chính
mình vài tháng trước kia đã hạ lệnh xuất hết châu ngọc cùng số thóc
lúa dự trữ để cứu tế toàn dân, nay lấy đâu ra để tiến cống. Bao
Hướng thở dài u uất, nói với quần thần: "Chống không xong, lùi
không được. Bây giờ chỉ còn mỗi cách, ta phải thân hành sang Cảo
Kinh nói sự thật, may ra thiên tử có động lòng chút nào hay chăng?".
Đại phu ngự sử vội bước ra, cúi đầu thưa: "Theo hạ thần, thì Đại
vương không nên làm vậy, hạ thần vốn nghe U Vương là người bạo
ngược, nay lại tửu sắc quá độ, chắc chắn tính tình càng thêm nóng
nảy. Đại vương đến Cảo Kinh thì có khác chi đưa thân vào miệng
cọp".
Bao Hướng lại thở dài, trầm ngâm nói: "Ta cũng biết như vậy,
nhưng nước nhà đang lâm nguy, không phải ta đứng ra gánh vác thì
là ai đây? Chuyến đi này quả thật lành ít dữ nhiều, nhưng ý ta đã
quyết; nếu có bất trắc thì tất cả chính sự sẽ giao cho Hồng Đức đảm
đương. Các ngươi đừng ngăn trở nữa."
Quần thần nghe vậy đều rơi lệ, đồng loạt cúi đầu nghe lệnh. Vốn
phong cách giản dị, không sử dụng nghi tiết xa hoa, chỉ trong vài
ngày đã sửa soạn xong. Bao Hướng cùng đoàn tùy tùng đem 1 số
vàng ngọc ít ỏi, nhắm hướng Cảo Kinh thẳng tiến, hy vọng việc mình
tự thân đến kinh đô cầu xin sẽ có tác dụng. Chẳng ngờ khi ấy ở đất
Chu, núi Kỳ Sơn đột ngột bị sạt lở, U Vương đang có tâm trạng
không vui, cho đây là điềm trời báo trước việc mình phải trải qua
chiến tranh nên kiên quyết bỏ qua những lời trần tình của Bao
Hướng.Tuy Bao Hướng hết sức biện minh, đến lúa kê, lúa nước
nhân dân còn không đủ ăn, thì làm sao đủ số lúa mạch đen để tiến
cống. Nhưng U Vương đã rắp tâm sẵn, không nghe lọt tai lời nào,
lập tức truyền giam Bao Hướng vào đại lao, đuổi hết tùy tùng về
nước, bao giờ có đủ số lúa mạch đen thì mới tha người.
Doãn Cầu là người dâng kế sách, nếu nhà vua mềm lòng thì có
thể thất bại, mang họa vào mình, càng ra sức gièm pha nói xấu Bao
Hướng: "Theo hạ thần thì nước Bao mới trải qua một cơn hạn hán
ngắn ngày, không thể nào kiệt quệ đến như vậy được! Chắc chắn
Bao Hướng cố tình lừa gạt bệ hạ mà thôi. Thói đời người ta chỉ thích
nặng chứ không thích nhẹ, bệ hạ chỉ cần giam giữ Bao Hướng vài
tháng là nước Bao có phẩm vật ngay!".
U Vương rất tin dùng Doãn Cầu, nghe vậy càng thêm tức giận.
10 ĐẠI MỸ NHÂN TRUNG QUỐC
Huyền Cơ
dtv-ebook.com
Bao Tự - Nụ Cười Làm Mất Giang Sơn (P2)
Đại thần Thái Thúc Đái vốn là người chính trực, tan triều về phủ
mà trong lòng không yên, tự nghĩ: "Trời đất vốn rộng lượng, tuy thấy
nhà Chu sa đọa, không xứng đáng thay mặt Trời chăn dắt muôn
dân, nhưng vẫn cho Hỏa tinh xuống trần đưa lời cảnh báo. Nay
hoàng thượng lại làm việc mất hết lương tâm, thì nhà Chu còn đứng
vững sao được? Ta đã già rồi, dù có mệnh hệ nào cũng không thể
khoanh tay ngồi yên nhìn cảnh mất nước trước mắt".
Nghĩ xong, Thái Thúc Đái ngồi viết 1 bản biểu can gián, ngay
sáng hôm sau dâng vào triều. U Vương chưa hết cơn giận hôm
trước, đọc bài biểu của Thái Thúc Đái thì không sao dằn được, nổi
trận lôi đình, ra lệnh trừng trị. Vì Thái Thúc Đái là hoàng thân quốc
thích, U Vương không thể giết chết được, đành phải hạ chiếu cắt hết
chức tước, đuổi về làm thường dân. Do vậy, dù trong triều vẫn còn 1
số quan lại công minh chính trực, nhưng hầu như chẳng ai dám mở
miệng để rước họa vào thân.
Ở nước Bao nghe tin sét đánh, thái tử Bao Hồng Đức vội hội
quần thần lại thương nghị. Triều thần bàn cả ngày trời vẫn không
sao tìm ra kế sách nào vẹn toàn, đành phải chia tay về nghỉ ngơi,
hầu như không ai ngủ được. Trong số các đại thần ấy, có 1 vị tên là
Bao Quýnh, ngày thường hay phàn nàn về thói xa hoa, dâm dật của
U Vương; nay chợt nghĩ ra: "Thiên tử nhà Chu là người ham mê sắc
đẹp, sao chúng ta không lấy độc trị độc trị độc bằng cách tiến cống
mỹ nữ cho hắn. Đây có lẽ là kế sách vẹn toàn nhất, vừa cứu được
Đại vương về, vừa làm suy nhà Chu. Nước Bao tất sẽ không lo lắng
bị xâm phạm nữa!".
Sáng hôm sau, Bao Quýnh tất tả vào triều dâng lên kế sách của
mình. Hồng Đức nghe xong, như người vượt qua mây mù, mừng rỡ,
chấp nhận và hạ lệnh cho các đại thần chia nhau đi khắp nước Bao
tuyển chọn mỹ nữ, đồng thời gom góp thêm 1 số vật thực, vàng
ngọc để tiến cống. Nước Bao vốn nhỏ bé, các đại thần lại lo lắng
cho nước nhà, cật lực thi hành theo lệnh nhà vua, nên chẳng mấy
ngày tuyển chọn được 10 mỹ nhân. Trong số 10 mỹ nhân ấy, có 1 cô
gái con của Bao Tiều có nhan sắc nổi trội, tên là Bao Tự, chính là
người con gái ngày trước đã bị Khương hậu cho thả trôi sông. Bao
Tự tuy là dân dã, nhưng nét ngọc mày ngài, sắc nước khuynh thành,
dáng điệu thanh thoát uyển chuyển, tự nhiên khiến ai ai nhìn thấy
cũng ngẩn ngơ không chớp mắt. Tâm trí của thái tử Hồng Đức đang
ngổn ngang trăm mối, thế mà gặp Bao Tự cũng nhen nhóm chút
rung động. Hồng Đức tự nghĩ: "Ta vẫn tự phụ là người quân tử,
không bao giờ bị nữ sắc mê hoặc, thế mà hôm nay cũng cảm thấy
thật lạ lùng. Chắc chắn U Vương sẽ rất hài lòng và hy vọng nhờ đó
sẽ cứu được hoàng phụ khỏi chốn giam cầm".
Đây là việc chung của quốc gia, gia đình nào có con gái được
tuyển chọn đều vui mừng hãnh diện, hoàn toàn không đòi hỏi gì tiền
bạc. Riêng Bao Tiều đã có công lao nuôi dưỡng Bao Tự, được Hồng
Đức ban thưởng 300 lượng vàng và 300 xấp lụa. Số mỹ nhân được
tuyển chọn ấy cấp tốc được quan lại cung đình huấn luyện các nghi
tiết cung đình, từ lời ăn tiếng nói cho tới những bước đi, cả những
mánh khóe liếc mắt, làm sao để chiều chuộng bậc quân vương.
Trong 1 tuần lễ, 10 mỹ nữ đều được chăm sóc chu đáo, tắm bằng
nước thơm, trang điểm lộng lẫy, nhan sắc càng tăng thêm bội phần.
Riêng Bao Tự đặc biệt hơn, nàng được chính Bao Quýnh dặn dò
những thủ thuật làm cho U Vương say mê, không còn nghĩ gì tới
triều chính, thì mới khuynh đảo được nhà Chu đến chỗ mất nước.
Vốn là người thông minh, Bao Tự càng ra sức học tập những ngón
nghề có thể làm mê muội lòng dạ U Vương như đàn địch, múa hát,
chiều chuộng. Hồng Đức cũng biết triều đình nhà Chu thối nát, tất cả
đề do bàn tay lộng quyền của bọn nịnh thần; vì vậy khi đưa mỹ nhân
đến Cảo Kinh, trước hết dùng vàng bạc mua chuộc Oắt Công. Tên
này lập tức vào cung cấm, gặp riêng U Vương, ỏn thót: "Theo hạ
thần bí mật điều tra, thì nước Bao vừa rồi bị thiên tai rất nặng nề.
Tuy nhiên, Bao Hướng bị bệ hạ giam cầm, họ vẫn một mực trung
trinh, không hề ca thán nửa lời. Họ còn muốn tỏ lòng trung thành với
bậc thiên tử, nên ngày hôm nay, sai sứ thần đến Cảo Kinh xin được
tiến dâng một số mỹ nữ và phẩm vật thay cho số lúa mạch đen phải
tiến cống".
Thấy U Vương không phản ứng gì, Oắt Công tiếp tục thuyết
phục: "Hạ thần thấy rằng, nếu chúng ta cứ cố chấp, quyết phải lấy
được số lúa mạch đen ấy, thì rốt cuộc đẩy họ vào đường bế tắc, dù
có muốn cũng chẳng đào đâu ra được. Chi bằng nhân cơ hội này,
bệ hạ tỏ lượng khoan dung, càng khiến cho nước Bao và các chư
hầu nể phục. Trong cung còn thiếu gì loại rượu ngon, nay được
thêm mỹ nhân và xuống ơn mưa móc cho chư hầu, thì chẳng phải là
lợi đôi bề hay sao?".
U Vương vốn tính háo sắc, vừa nghe 2 tiếng "mỹ nhân", trong
lòng đã có chút vừa ý, nên mặt rồng tươi tỉnh, truyền ngày mai cho
sứ thần nước Bao vào cấm cung bệ kiến. Sắc đẹp của Bao Tự quả
là có sức mạnh kinh người. Ngay khi vừa mới thấy mặt, U Vương
như bị hớp hồn, chẳng còn để ý gì đến các mỹ nữ cùng đi theo. Qua
vài phút sững sờ, U Vương hớn hở, truyền lệnh ban 9 mỹ nữ kia cho
các đại thần; đồng thời lập tức tha Bao Hướng về nước. Doãn Cầu
thấy Oắt Công chỉ dùng 3 tấc lưỡi đã được lòng U Vương, thì không
sao chịu nổi, bước ra tâu: "Xin chúc mừng bệ hạ được diễm phúc
thần tiên. Tuy nhiên bệ hạ đã có Thân hậu danh chính ngôn thuận
cai quản lục cung, nay Bao mỹ nhân chưa có danh phận gì mà lập
tức đưa vào cung thì e rằng..."
U Vương mất cả hứng thú, sầm mặt quá...
1. Bao Tự - Nụ Cười Làm Mất Giang Sơn (P1)
Bao Tự - Nụ Cười Làm Mất Giang Sơn (P2)
Bao Tự - Nụ Cười Làm Mất Giang Sơn (P3)
Bao Tự - Nụ Cười Làm Mất Giang Sơn (P4)
Bao Tự - Nụ Cười Làm Mất Giang Sơn (End)
2. Tây Thi - Mỹ Nhân Nổi Tiếng Cổ Kim (P1)
Tây Thi - Mỹ Nhân Nổi Tiếng Cổ Kim (P2)
Tây Thi - Mỹ Nhân Nổi Tiếng Cổ Kim (P3)
Tây Thi - Mỹ Nhân Nổi Tiếng Cổ Kim (P4)
Tây Thi - Mỹ Nhân Nổi Tiếng Cổ Kim (End)
3. Vương Chiêu Quân - Hồng Nhan Bạc Mệnh Xứ Người (P1)
Vương Chiêu Quân - Hồng Nhan Bạc Mệnh Xứ Người (P2)
Vương Chiêu Quân - Hồng Nhan Bạc Mệnh Xứ Người (P3)
Vương Chiêu Quân - Hồng Nhan Bạc Mệnh Xứ Người (P4)
Vương Chiêu Quân - Hồng Nhan Bạc Mệnh Xứ Người (End)
4.Triệu Phi Yến - Mỹ Nhân Loạn Cung Đình (P1)
Triệu Phi Yến - Mỹ Nhân Loạn Cung Đình (P2)
Triệu Phi Yến - Mỹ Nhân Loạn Cung Đình (P3)
Triệu Phi Yến - Mỹ Nhân Loạn Cung Đình (P4)
Triệu Phi Yến - Mỹ Nhân Loạn Cung Đình (P5)
Triệu Phi Yến - Mỹ Nhân Loạn Cung Đình (End)
5. Điêu Thuyền - Mỹ Nhân Vì Nước Diệt Gian Thần (P1)
Điêu Thuyền - Mỹ Nhân Vì Nước Diệt Gian Thần (P2)
Điêu Thuyền - Mỹ Nhân Vì Nước Diệt Gian Thần (P3)
Điêu Thuyền - Mỹ Nhân Vì Nước Diệt Gian Thần (P4)
Điêu Thuyền - Mỹ Nhân Vì Nước Diệt Gian Thần (End)
6. Võ Tắc Thiên - Mỹ Nhân Tham Vọng Điên Cuồng (P1)
Võ Tắc Thiên - Mỹ Nhân Tham Vọng Điên Cuồng (P2)
Võ Tắc Thiên - Mỹ Nhân Tham Vọng Điên Cuồng (P3)
Võ Tắc Thiên - Mỹ Nhân Tham Vọng Điên Cuồng (P4)
Võ Tắc Thiên - Mỹ Nhân Tham Vọng Điên Cuồng (P5)
Võ Tắc Thiên - Mỹ Nhân Tham Vọng Điên Cuồng (P6)
Võ Tắc Thiên - Mỹ Nhân Tham Vọng Điên Cuồng (P7)
Võ Tắc Thiên - Mỹ Nhân Tham Vọng Điên Cuồng (End)
7. Dương Quỳnh Chi - Họa Mỹ Nhân Thời Tây Tấn (P1)
Dương Quỳnh Chi - Họa Mỹ Nhân Thời Tây Tấn (P2)
Dương Quỳnh Chi - Họa Mỹ Nhân Thời Tây Tấn (End)
8. Trương Lệ Hoa - Mỹ Nhân Hát Khúc Hậu Đình Hoa (P1)
Trương Lệ Hoa - Mỹ Nhân Hát Khúc Hậu Đình Hoa (P2)
Trương Lệ Hoa - Mỹ Nhân Hát Khúc Hậu Đình Hoa (End)
9. Dương Ngọc Hoàn - Mỹ Nhân Thiên Cổ Hận Tình (P1)
Dương Ngọc Hoàn - Mỹ Nhân Thiên Cổ Hận Tình (P2)
Dương Ngọc Hoàn - Mỹ Nhân Thiên Cổ Hận Tình (P3)
Dương Ngọc Hoàn - Mỹ Nhân Thiên Cổ Hận Tình (P4)
Dương Ngọc Hoàn - Mỹ Nhân Thiên Cổ Hận Tình (P5)
Dương Ngọc Hoàn - Mỹ Nhân Thiên Cổ Hận Tình (P6)
Dương Ngọc Hoàn - Mỹ Nhân Thiên Cổ Hận Tình (P7)
Dương Ngọc Hoàn - Mỹ Nhân Thiên Cổ Hận Tình (End)
10. Trần Viên Viên - Mỹ Nhân Để Lụy Anh Hùng (P1)
Trần Viên Viên - Mỹ Nhân Để Lụy Anh Hùng (P2)
Trần Viên Viên - Mỹ Nhân Để Lụy Anh Hùng (P3)
Trần Viên Viên - Mỹ Nhân Để Lụy Anh Hùng (P4)
Trần Viên Viên - Mỹ Nhân Để Lụy Anh Hùng (P5)
Trần Viên Viên - Mỹ Nhân Để Lụy Anh Hùng (End)
10 ĐẠI MỸ NHÂN TRUNG QUỐC
Huyền Cơ
dtv-ebook.com
1. Bao Tự - Nụ Cười Làm Mất Giang Sơn (P1)
Sau khi Chu Vũ Vương khởi binh tiêu diệt Trụ Vương, kiến lập
nên chế độ mới với nhiều chính sách hướng về lợi ích nhân dân. Sở
dĩ nhà Tây Chu đạt được những thành tựu ấy, là nhờ sự phò tá đắc
lực của Chu Công, và cái gương nữ họa Đắc Kỷ còn rõ ràng trước
mắt, trở thành 1 triều đại an thịnh và phồn vinh, nhân dân ấm no
hạnh phúc. Trải qua mấy đời, từ Thành Vương cho đến Lệ Vương,
thế nước dần dần suy đồi, hầu như không có 1 nhân tài nào kiệt
xuất đứng ra phò tá cho các vua nhà Chu. Vì vậy, bá quan văn võ
chỉ toàn bọn vô tài bất tướng, thi nhau theo gương nhà vua hưởng
lạc. Tiếp đến đời Tuyên Vương lại càng hủ bại, bởi vì Tuyên Vương
không những ham mê chơi bời, mà còn chẳng màng gì đến chính
sự, mặc cho bọn quần thần dưới quyền lộng hành, hà hiếp dân đen.
Tuy các chư hầu vẫn nhớ đến ân nghĩa phong hầu, cấp đất của nhà
Chu; theo lệ cũ hàng năm vẫn tiến cống, nhưng đa số đều ngấm
ngầm phẫn uất, bởi vì nhà Chu mỗi năm lại đòi hỏi tăng thêm để có
đủ chi dụng cho việc hưởng lạc vô cùng xa hoa tổn phí. Dù là hôn
quân mê ám, nhưng Tuyên Vương cũng biết lòng người không
phục, nên trong lòng cũng rất lo lắng. Tuy không ngừng ăn chơi xa
xỉ, song đồng thời lại cho tiến hành việc tăng cường binh lực để trấn
áp mọi sự chống đối. Nhà vua hy vọng với quyền lực của mình, sẽ
không có một chư hầu nào dám có ý nghĩ sẽ xâm phạm đến nhà
Chu. Thế nhưng, nước Khuyển Nhung lại nghĩ khác, cho rằng đây là
cơ hội tốt nhất để thống nhất Trung Nguyên, nên ồ ạt kéo quân xâm
phạm biên giới. Quân tướng nhà Chu tuy đông chẳng kém Khuyển
Nhung, nhưng liên tiếp mấy trận đều đại bại, bởi vì quân sĩ không
hết lòng vì nước, tướng soái thì bất tài, chỉ giỏi ăn chơi hơn là thao
lược.
Nghe tin dữ, Tuyên Vương vội triệu bá quan đến thương thảo kế
sách. Đa số đại thần từ trước đến nay, nhờ vào nịnh bợ mà tiến
thân, không hề có thực tài, nên đồng thanh tâu: "Sở dĩ Khuyển
Nhung thắng trận là vì bọn chúng dồn hết lực lượng tấn công, trong
khi đó chúng ta lại phải bảo vệ suốt một miền biên giới quá dài. Nay
bệ hạ chỉ cần ban lệnh trưng dụng thêm quan binh, là thừa đủ tiêu
diệt Khuyển Nhung như như trở bàn tay".
Tuyên Vương nghe vậy rất hài lòng, lập tức xuống chiếu tuần du
đất Thái Nguyên để kiểm điểm trai tráng trước khi quyết định số
lượng quân binh sẽ được tăng cường. Khi việc đã xong, trở về gần
đến Cảo Kinh thì trời đã sụp tối. Đoàn xa giá vừa vượt qua phố chợ
để vào cổng kinh thành, thì chợt nghe văng vẳng có tiếng con trẻ vỗ
tay, cùng nhau hát đồng dao:
"Thỏ mọc thì ác phải tà
Giang hồ ki phúc ấy là mất Chu"
Trong lòng đang sẵn mối lo, Tuyên Vương nghe câu đồng dao ấy
hết sức giận dữ, lập tức truyền lệnh truy bắt những đứa trẻ con đã
hát đồng dao. Bọn trẻ con sợ hãi bỏ chạy tán loạn, rốt cuộc quân
binh chỉ bắt được 2 đứa, dẫn đến trước mặt nhà vua. Tuyên Vương
giận dữ phán hỏi: "Người nào đã bày cho bọn ngươi câu đồng dao
đó, các ngươi nói thật thì ta tha cho, bằng không sẽ bị chém đầu!".
Hai đứa trẻ hết sức sợ hãi, không dám giấu giếm, giương giọng
trả lời: "Tâu Đại vương, ba ngày trước đây có một đứa trẻ mặc áo
đỏ, chẳng biết từ đâu đến, dạy câu hát này cho tất cả chúng con,
không riêng một đứa nào. Sau khi dạy xong, đứa trẻ mặc áo đỏ ấy đi
đâu mất, không ai gặp lại nữa. Chúng con trẻ người non dạ, không
ai hiểu ý nghĩa ra sao, nên vô tình phạm tội. Xin Đại vương tha chết
cho."
Tuyên Vương biết là bọn trẻ nói thật, lo lắng im lặng hồi lâu, rồi
truyền tha cho bọn chúng. Sau khi về triều, nhà vua vẫn bị ám ảnh
bởi câu hát này, hạ lệnh cho quan Tư vụ, nếu còn nghe ai hát, lập
tức sẽ khép vào tội phản nghịch, chém đầu cả cha mẹ. Thật ra nhà
vua không hiểu rõ lắm ý nghĩa sâu xa của câu đồng dao, nên mấy
hôm sau, triệu 2 đại thần trụ cột, có học vấn rộng rãi, là Đại tông Bá
Chiêu Hổ, Thái sử Bá Dương Phụ vào cung hỏi cho rõ. Đại tông Bá
Chiêu Hổ suy nghĩ rồi tâu: "Thần được biết, "giang" là tên cây dâu
mọc trên núi, "giang hồ" tức là lấy cây dâu ấy làm thành cánh cung,
"ki"là tên một loại cỏ có tính chất dai, bền, "phúc" là cái bao đựng
tên. Như vậy "ki phúc" là lấy cỏ ki làm bao đựng tên. Cả hai câu này
ngầm ý nói đến cung tên, tức là báo trước nước ta sắp có họa đao
binh".
Tuyên Vương càng lo sợ hỏi: "Câu đồng dao là do đứa trẻ mặc
áo đỏ bày ra, vậy đứa trẻ ấy ý nghĩa ra sao?".
Thái sử Bá Dương Phụ đáp: "Sắc đỏ thuộc hỏa tinh, vì vậy theo
thần suy đoán thì đứa trẻ mặc áo đỏ tức là sao Huỳnh Hoặc hay
Hỏa tinh".
Tuyên Vương hết sức kinh sợ, bởi vì thông thường sao Hỏa tinh
xuất hiện thì chắc chắn không thoát khỏi nạn binh đao, vội vàng nói:
"Nếu vậy, trẫm không tính đến việc trừng trị Khuyển Nhung nữa, cho
quân án binh bất động và đốt bỏ toàn bộ cung tên, thì có thể tránh
được tai nạn hay không?".
Bá Dương Phụ lắc đầu, tâu: "Theo thần thì họa lớn không phải
bắt nguồn từ cung tên, bởi câu "thỏ mọc thì ác phải tà" có nghĩa âm
thịnh dương suy; nếu là âm thịnh dương suy, tất cả họa phát sinh từ
trong cung cấm hoặc là nữ họa, khiến đất nước nghiêng ngả".
Thấy Tuyên Vương có vẻ không vui, Bá Dương Phụ cúi đầu tâu
tiếp: "Họa là do nữ nhân gây ra, cung tên binh đao từ đó mà ra, vì
vậy có thể tránh được. Chỉ cần bệ hạ tu nhân tích đức, làm điều
lành, giúp dân no ấm, thì họa sẽ tự tiêu tan".
Thực ra Bá Dương Phụ không dám nói thẳng, là nhà vua nên dẹp
bỏ ăn chơi hưởng lạc, đừng xa hoa dâm sĩ thì sẽ chẳng còn lo đến
tai họa nữ nhân nữa. Riêng Tuyên Vương có chút mừng rỡ, cho 2
người lui ra, rồi vào trong triệu Khương hậu đến bàn bạc mọi việc,
đề phòng. Chẳng ngờ khi vừa gặp mặt, Khương hậu đã vội tâu
ngay: "Trong cung bất ngờ có việc rất quái dị, thần thiếp đang định
diện kiến hoàng thượng để tâu bày. Thật đúng việc dị".
Tuyên Vương thất sắc hỏi dồn: "Trong cung kín cổng cao tường,
hàng ngàn cấm binh canh giữ, vả lại từ trước đến nay hậu cai quản
cấm cung rất nghiêm minh, làm sao có việc gì quái lạ xảy ra được?".
Khương hậu tâu: "Trong cung có một lão cung nhân của Tiên đế
ngày trước, nay đã 50 tuổi, mang thai hơn 38 năm mà không thấy
dấu hiệu gì sắp sinh nở. Chẳng biết vì sao hôm qua chợt chuyển dạ,
sinh được 1 đứa con gái, chẳng là điều quái dị, không thể tưởng
tượng ra được hay sao?".
Tuyên Vương càng thêm kinh hoảng, vội hỏi: "Đứa con gái ấy
hình dạng ra sao, còn sống hay đã chết?".
Khương hậu đáp: "Đứa bé ấy bình thường như mọi đứa trẻ khác,
tuy thần thiếp thấy nó có vẻ xinh đẹp, nhưng vì là vật quái lạ nên lập
tức sai người mang ra Thanh Thủy vứt đi rồi".
Tuyên Vương thở phào, trong lòng bớt lo lắng. Muốn biết sự thật,
Tuyên Vương truyền cung nữ già ấy vào hỏi han thêm. Lão cung nữ
cứ thật sự tâu bày: "Tâu bệ hạ, vào đời nhà Hạ vua Kiệt, một ngày
kia chợt có 1 con rồng bay xuống sân cấm, miệng nhỏ nước dãi, Hạ
Kiệt vội triệu quan Thái sử đến hỏi ý kiến; Thái sử bói được 1 quẻ
rất tốt, cho rằng rồng giáng hạ là điềm lành, bệ hạ nên thì giữ lấy
nước dãi của nó để làm vật quốc bảo thì hay hơn. Hạ Kiệt nghe
theo, truyền lấy 1 cái hộp bằng vàng, đựng nước dãi rồng ấy, cất
vào kho. Sau khi lấy xong, chợt trời nổi lên sấm chớp, mưa to, rồi
con rồng theo gió bay mất. Trải qua mấy đời Hạ, Thương rồi Chu,
chưa hề có ai mở chiếc hộp vàng đựng nước dãi rồng ra lần nào.
Đến đời Tiên vương (tức Lệ Vương), bất chợt 1 hôm, chiếc hộp phát
ra ánh hào quang chói lọi, khiến quan nội khố rất kinh ngạc, tâu lên
Tiên vương. Tiên vương liền sai mang hộp vàng đến, tò mò mở ra
xem thử rồi lỡ tay đánh rơi hộp vàng xuống đất, nước dãi rồng chảy
xuống sân cung cấm, biến thành con dãi nhỏ chạy thẳng vào hậu
cung, khi ấy thần thiếp mới 12 tuổi, thấy nhốn nháo liền chạy ra, vô
tình đúng hướng con dãi chạy tới, đến chân thần thiếp thì chợt biến
mất. Do vậy, thần thiếp hoài thai nhưng trải qua 38 năm vẫn không
động tĩnh gì, chẳng biết nguyên nhân vì sao đến hôm qua mới
chuyển dạ. tuy là việc quái lạ nhưng không phải do thần thiếp gây
nên, vả chăng đứa bé đó đã bị hoàng hậu đem vứt bỏ rồi thì không
còn gì lo lắng nữa. Xin hoàng thượng tha tội cho".
Tuyên Vương nghe xong, truyền cho lão cung nữ lui ra, rồi hạ
lệnh cho quân binh đi dọc theo sông Thanh Thủy, tìm xem có thật
đứa bé gái đã chết chưa. Sau mấy ngày mệt nhọc, bọn quân sĩ về
tâu báo: "Tuy chúng tôi không tìm thấy xác, nhưng có lẽ đứa baes
gái ấy đã chìm xuống lòng sông hoặc đã bị cá ăn thịt mất rồi".
Tuyên Vương không sao hết lo lắng, truyền Thái sử Bá Dương
Phụ vào bàn soạn. Bá Dương Phụ theo lệnh, bói được 1 quẻ có lời
hào:
"Nước biếc chảy về đông, khí hồng ở phía tây
Giang hồ ki phúc vẫn còn, nên cẩn trọng".
Bá Dương Phụ giải thích: "Theo lời quẻ, thì yêu khí tuy đã ra khỏi
cung nhưng chưa bị tiêu diệt, cũng theo lời hào, thì bệ hạ chỉ cần
cẩn trọng trong việc cung tên thì có thể tránh được đại nạn".
Tuyên Vương không sao yên tâm được, lập tức xuống lệnh:
"Trong phạm vi nội ngoại kinh đô, bất cứ ai tìm được 1 đứa trẻ gái
sơ sinh, dù sống hay chết đều trọng thưởng. Ai nuôi trẻ sơ sinh gái
không có nguồn gốc thì bị tội chém đầu toàn gia". Đồng thời Tuyên
Vương cũng triệu Thượng đại phu Đỗ Bá và Hạ đại phu Tả Nho vào
ra lệnh, truyền 2 người đốc thúc các quan, cấm tuyệt đối không cho
ai chế tạo hay buôn bán cung làm bằng gỗ dâu núi hoặc bao đựng
tên làm bằng cỏ ki, trái lệnh chém đầu không cần xét xử.
Tả Nho phụ trách việc khám xét nội ngoại thành, còn Đỗ Bá dẫn
quân dọc theo sông Thanh Thủy, phải tìm bằng được đứa bé gái sơ
sinh, dù chết hay sống cũng đều trọng thưởng. Các quan cấp dưới
biết đây là việc hệ trọng nên không dám chần chừ, mau chóng dán
cáo thị khắp nơi và ngày đêm tuần tra xét hỏi. Tiếc rằng lệnh ra quá
gấp, chỉ những người trong thành biết rõ, đa số dân chúng ở ngoại
thành không hề biết đến lệnh cấm này. Vì vậy hôm sau có đôi vợ
chồng ở gần chân núi, chưa biết lệnh cấm, cùng nhau gùi 1 số cung
làm bằng gỗ dâu núi và 1 ít bao tên bằng cỏ ki vào thành, định bán
đổi lấy gạo ăn. Vừa đến cửa thành, quan quân đã phát hiện ra, lập
tức xông vào bắt trói. Vì là người miền núi, giỏi săn bắn luồn lách,
nên người chồng tuy hốt hoảng, vẫn mau chân chạy thoát được;
quân sĩ chỉ bắt được người vợ và tất cả số cung tên họ mang theo,
giải về trình lên cho Tả Nho xét xử. Hạ đại phu Tả Nho thầm nghĩ:
"Theo lời đồng dao thì vừa có cung tên bằng gỗ dâu núi vừa có nữ
họa. Nay ta đã bắt được mụ đàn bà cùng số cung và bao tên thì tức
là chẳng còn gì phải lo lắng nữa. Chắc chắn hoàng thượng sẽ hài
lòng, nếu đừng nhắc đến việc tên chồng đã chạy thoát, cũng đừng
cho Đỗ Bá biết để tranh công với ta".
Vì vậy Tả Nho mau chóng vào cung tâu báo với Tuyên Vương,
không hề nhắc đến sai sót của mình. Tuyên Vương cả mừng, ngay
lập tức truyền lệnh đốt bỏ số cung và bao tên, đồng thời chém đầu
người đàn bà; trong lòng hoàn toàn yên tâm là nữ họa đã bị tiêu diệt
tận gốc.
Thế nhưng việc đời không đơn giản như suy nghĩ thiển cận của
nhà vua hôn ám. Khi thấy vợ bị bắt , tuy chẳng biết nguyên do tại
sao, nhưng người đàn ông quen với việc săn bắn phản ứng rất mau
lẹ, ngay đêm đó chạy thật xa kinh thành, chờ tới trời sáng mới dò ra
hỏi dân cư tin tức. Người đàn ông nghe được tin vợ mình chết oan
ức vì 1 đứa con gái sơ sinh vứt bỏ nào đó thì khóc lóc thảm thiết.
Hai người vốn chưa có con cái, bao nhiêu năm nay sống gắn bó với
nhau nơi chân núi biết mấy ân tình. Cơn hoảng loạn này chưa hết,
đã tiếp đến nỗi đau thương khó tả, người đàn ông nhất thời không
cầm được cảm xúc, đi thẳng tới dòng sông Thanh Thủy với ý định
cùng chết với vợ cho trọn nghĩa tình. Chẳng ngờ, đến bờ sông, hắn
chợt nghe có tiếng con nít khóc, liền chạy đến nhìn xem; hóa ra
tiếng khóc từ trong 1 cái chiếu cuốn tròn vọng ra. Vốn đã được nghe
người ta kể lại, sở dĩ Tuyên Vương ra cáo thị giết chóc bừa bãi dân
lành, chẳng qua là vì 1 bé gái sơ sinh nào đó. Người đàn ông động
tâm cơ suy nghĩ: "Có khi đây chính là đứa bé mà hôn quân tìm giết,
chi bằng ta cứu nó, vừa làm phúc vừa trả mối hận cho người vợ
hiền phần nào".
Nhờ vậy, trong lòng ông ta nguôi xúc động, tìm 1 cây sào dài,
khều cái chiếu vào bờ mở ra xem. Quả nhiên trong cái chiếu là 1
đứa bé gái rất xinh xắn, được quấn bằng cái khăn sang trọng, chắc
chắn là vật từ hoàng cung. Thấy đứa bé vẫn tiếp tục khóc mặc dù
âm thanh khô khốc và nhỏ như sắp đứt hơi thở, người đàn ông đau
khổ, vội vàng bụm ít nước mớm cho nó, hồi lâu đứa bé mới im tiếng,
ngủ thiếp đi. Hiện tại ông ta biết có lệnh cấm nuôi bé gái không
nguồn gốc nên quyết định rời bỏ quê hương, nhắm đường sang
nước Bao, tìm người chị họ xin cứu giúp. Tiếc rằng người chị họ
cũng quá nghèo lại già lão nên không có sữa cho đứa bé. Người
đàn ông phải ngậm ngùi mang cho 1 người trong làng tên là Bao
Tiều. Bao Tiều lấy vợ đã lâu nhưng chưa có con, nay được đứa bé
gái đẹp như thiên thần thì mừng lắm, đặt tên là Bao Tự. Câu chuyện
dần dần phai nhạt, chẳng ai còn nghĩ tới việc nhỏ nhặt ấy nữa, riêng
Chi Tuyên Vương đã yên tâm, tiếp tục ăn chơi sa đọa.
Mấy năm sau nhân đến ngày tế lễ ở Thái miếu, Tuyên Vương
theo lệ cũ thân hành ra miếu chay tịnh. Vào đêm khuya, nhà vua
chợt nhìn thấy 1 nữ nhân, từ hướng tây chạy thẳng vào trong miếu.
Thái miếu là chốn trang nghiêm, từ trước đến nay cấm tuyệt phụ nữ
lai vãng. Vì vậy Tuyên Vương rất giận, lớn tiếng truyền cho quân sĩ
bắt nữ nhân ấy lại. Thế nhưng, mặc cho nhà vua kêu gọi mấy lần,
chẳng hề có tên quân nào xuất hiện. Người con gái huyền bí này
tiến tới trước linh vị tiên vương nhà Chu, cười 3 tiếng, khóc 3 tiếng
rồi gom toàn bộ thần chủ trong Thái miếu mang đi. Tuyên Vương vô
cùng kinh sợ, nhỏm dậy định đuổi theo thì chợt giật mình tỉnh dậy,
mới biết mình vừa nằm mơ. Trong lòng vẫn chưa hết hồi hộp, Tuyên
Vương lập tức triệu Thái sử Bá Dương Phụ vào bói 1 quẻ xem tốt
xấu ra sao. Sau khi gieo quẻ, Bá Dương Phụ trầm ngâm tâu: "Mộng
thấy nữ nhân, thật hợp với điềm báo nữ họa trước kia. Nữ nhân từ
hướng tây chạy đến, gom hết thần chủ, rồi chạy về hướng đông,
đúng với câu đồng dao "nước biết chảy về đông, khí hồng ở phía
tây"".
Tuyên Vương kinh hãi nói: "Trước đây mấy năm, trẫm đã giết
người đàn bà bán cung gỗ dâu và đốt hết bao tên bằng cỏ ki rồi.
Chẳng phải đã trừ được nữ họa hay sao?".
Bá Dương Phụ lắc đầu tâu: "Theo hạ thần, thì người đàn đàn bà
quê mùa ấy không liên can gì đến câu đồng dao cả, một người như
vậy chắc chắn không thể làm nghiêng ngả nước nhà. Khi ấy bệ hạ
quá mừng, nên quên mất việc Thượng đại phu Đỗ Bá có tìm thấy
tung tích đứa bé gái sơ sinh hay không. Hạ thần đã toan nói, nhưng
sợ như vậy phật lòng Hạ đại phu Tả Nho nên lại thôi".
Tuyên Vương ngẩn người ra 1 lúc, lập tức hạ lệnh triệu Đỗ Bá
vào hỏi. Đỗ Bá tâu rằng: "Hạ thần cùng quan binh truy tìm dọc theo
dòng sông Thanh Thủy, trải dài mấy chục dặm mà không tìm thấy
vật gì khác lạ. Sau lại nghe Tả Nho đã bắt được yêu nhân, nên yên
lòng cho quân rút về, sợ kéo dài sẽ làm cho lòng dân chúng không
tốt".
Tuyên Vương nghe xong, nổi trận lôi đình, lập tức xuống lệnh
mang Đỗ Bá ra chém đầu. Lúc đó Tả Nho cũng đã nghe tin, chạy
đến hết lời cầu xin, nhận tội về phần mình, nhưng chỉ làm cho Tuyên
Vương thêm tức tối: "Đỗ Bá không làm tròn quân lệnh, chết là đáng
lắm, còn bênh vực nỗi gì! Ngươi cũng có phần tội trong đó, nay xem
trọng bạn hữu, khinh khi quân vương, thì còn đáng chết trăm lần".
Tả Nho nghe vậy, biết không thể làm gì khác hơn, trước sau gì
cũng phải chết, nên khi Đỗ Bá bị chém đầu, Tả Nho về phủ trăn trối
với vợ con, rồi tự vẫn chết theo. Trong 1 ngày, 2 vị đại thần cùng lìa
đời là 1 chấn động lớn, vì vậy trong lòng Tuyên Vương cũng có đôi
chút hối hận; từ đó thường hay mơ thấy Đỗ Bá và Tả Nho về đòi
mạng, tinh thần và thể xác sa sút thấy rõ. Một đêm kia, Tuyên
Vương không còn chịu nổi nữa, thấy Đỗ Bá và Tả Nho xuất hiện,
liền rút bảo kiếm trấn quốc ra mắng lớn: "Ta là thiên tử, dù có giết
trăm ngàn người vẫn là theo mệnh trời. Các ngươi chưa biết tội hay
sao mà còn đeo đẳng ám ảnh ta".
Hai oan hồn cũng mắng lại: "Hôn quân giết người vô tội, nay còn
muốn giết chúng ta lần nữa sao?". Quát xong, Đỗ Bá lấy cung ra
bắn 1 phát, trúng vào bụng Tuyên Vương. Nhà vua đau quá, gào lên
1 tiếng rồi giật mình thức dậy, vẫn còn đau nhức không sao chịu nổi,
nên ngã ra bất tỉnh. Từ đó Tuyên Vương nằm liệt giường, dù thuốc
thang hết mức, bệnh tình vẫn không thuyên giảm, chẳng bao lâu thì
băng hà. Đó là năm 784 TCN. Thái tử Cung Niết lên nối ngôi nhà
vua, xưng hiệu là Chu U Vương.
Quả thật cha nào con nấy, U Vương còn ăn chơi phóng túng u
mê dâm loạn, bạo ngược hơn cả cha. Trong cung không bao giờ
ngớt xướng ca đàn địch, gái đẹp hàng ngàn. Thoạt đầu, U Vương
còn có chút nể nang Doãn Cát Phủ và Chiêu Hổ. Nhà vua không
màng gì đến triều chính, chỉ trọng dụng các gian thần biết chiều theo
ý thích của mình nên quốc gia ngày 1 suy tàn. Lúc ấy, Khương hậu
và các đại thần chính trực như Doãn Cát Phủ, Chiêu Hổ đều đã qua
đời, không còn ai dám đứng ra can gián, nên U Vương càng thêm
tha hồ tự tung tự tác. Đã vậy, 2 vị đại thần trụ cột là con của Doãn
Cát Phủ và Chiêu Hổ là Doãn Cầu và Oắt Công, tính nết trái ngược
hẳn với những người đã sinh thành ra mình, đều là những tên gian
tà nịnh bợ. Do được U Vương tin cậy, nắm quyền thế ngất trời ở
trong triều đình, 2 tên này ra sức diệt trừ những quan lại chống đối,
trù dập người có lòng trung trinh, ngày đêm tìm mưu kế giúp cho U
Vương ăn chơi thỏa mãn. Vì quá hoang phí, chẳng bao lâu quốc khố
nhà Chu đã cạn kiệt, ngay cả đến loại rượu ngon nhất, nấu từ lúa
mạch đen, xuất xứ từ nước Bao cũng phải hạn chế. U Vương hết
sức tức giận, gọi Doãn Cầu và Oắt Công vào hỏi: "Trẫm nghe quan
nội khố trình báo là quốc khố rất cạn kiệt, không đủ cho hoàng thất
chi dùng. Tại sao lại như vậy?".
Doãn Cầu vội đáp: "Trước kia các bậc tiên đế có lòng trung hậu,
quy định số phẩm vật tiến cống quá ít; thêm vào đó, các chư hầu
đều ngại cớ mất mùa, thiên tai để rút bớt một ít nữa; thành ra càng
ngày càng thiếu hụt trầm trọng".
U Vương sầm mặt hỏi: "Theo các ngươi, thì phải đối phó ra
sao?".
Oắt Công bước ra tâu: "Theo thần thì rất đơn giản, chỉ cần bệ hạ
xuống chiếu tăng số lượng tiến cống lên gấp 3 thì mới đủ chi dùng.
Các chư hầu đã chịu nhiều công ơn của nhà Chu, vả chăng e sợ
binh lực hùng mạnh của nước ta, thì chẳng ai dám trái lệnh đâu!".
Doãn Cầu gật đầu bàn thêm: "Quả đúng là đơn giản như Oắt
Công tâu bày. Tuy nhiên, theo thần thì trước khi hạ chiếu tăng thêm
phẩm vật tiến cống, bệ hạ nên có động thái uy hiếp chư hầu để bọn
chúng khiếp sợ mà răm rắp tuân theo, không dám phản kháng.
Nhân cơ hội trong cung đang thiếu rượu ngon, bệ hạ có thể viện cớ
này mà hạch tội nước Bao trước, đòi hỏi phải tiến nộp ngay loại lúa
mạch đen thượng hảo hạng. Nếu nước Bao chống lệnh, lập tức đem
quân thảo phạt, thu góp của cải đem về nước. Bằng như nước Bao
phục tùng, thì các chư hầu kia chẳng còn lí do gì mà chống đối được
cả".
U Vương nghe bàn rất mừng, lập tức hạ chiếu gọi Bao Hướng là vua nước Bao về kinh thành hạch tội. Bao Hướng nghe tin sét
đánh, hết sức lo sợ, vội họp quần thần lại thương nghị; 1 vị đại thần
bước ra tâu: "Tuy nhà Chu là thiên tử, nhưng ngày càng u tối sa
đọa, các chư hầu đều không phục. Nay họ ỷ vào binh lực hùng
mạnh, lấy cớ nhỏ nhen xâm chiếm nước ta, thì chưa chắc các chư
hầu ngôi yên. Vả chăng, ngay từ đầu lập quốc đến nay, nước Bao
chúng ta đồng lòng một dạ, nên tuy quân số ít ỏi, vẫn có thể thừa
sức chống trả một thời gian..."
Chưa dứt lời, 1 đại phu bước ra ngăn cản: "Không nên! Không
nên! Quân tướng nhà Chu đông gấp 10 lần chúng ta, lại lấy danh
nghĩa thiên tử trừng phạt chư hầu, sẽ chẳng nước nào dại đột vì
chúng ta mà đắc tội với thiên triều. Theo hạ thần, sở dĩ U Vương chỉ
vì chuyện nhỏ mà hạch sách, là vì quốc khố không kham nổi sự xa
hoa quá mức. Nay chỉ cần Đại vương chấp nhận tiến cống thêm
châu ngọc là xong. Lúa mạch đen chỉ là cái cớ, bởi vì nhà Chu biết
chắc chắn, mùa này chúng ta không thể thu hoạch được".
Bao Hướng gật đầu khen phải, truyền quan nhưng vị đại thần
quản lý quốc khố vội bước ra thưa: "Tâu Đại vương, thực sự quốc
khố nước Bao hiện nay cũng trống rỗng, bao nhiêu vàng ngọc vừa
rồi đã đem cứu tế nhân dân mất mùa cả rồi".
Nghe vậy Bao Hướng mới giật mình, nhíu mày nhớ lại chính
mình vài tháng trước kia đã hạ lệnh xuất hết châu ngọc cùng số thóc
lúa dự trữ để cứu tế toàn dân, nay lấy đâu ra để tiến cống. Bao
Hướng thở dài u uất, nói với quần thần: "Chống không xong, lùi
không được. Bây giờ chỉ còn mỗi cách, ta phải thân hành sang Cảo
Kinh nói sự thật, may ra thiên tử có động lòng chút nào hay chăng?".
Đại phu ngự sử vội bước ra, cúi đầu thưa: "Theo hạ thần, thì Đại
vương không nên làm vậy, hạ thần vốn nghe U Vương là người bạo
ngược, nay lại tửu sắc quá độ, chắc chắn tính tình càng thêm nóng
nảy. Đại vương đến Cảo Kinh thì có khác chi đưa thân vào miệng
cọp".
Bao Hướng lại thở dài, trầm ngâm nói: "Ta cũng biết như vậy,
nhưng nước nhà đang lâm nguy, không phải ta đứng ra gánh vác thì
là ai đây? Chuyến đi này quả thật lành ít dữ nhiều, nhưng ý ta đã
quyết; nếu có bất trắc thì tất cả chính sự sẽ giao cho Hồng Đức đảm
đương. Các ngươi đừng ngăn trở nữa."
Quần thần nghe vậy đều rơi lệ, đồng loạt cúi đầu nghe lệnh. Vốn
phong cách giản dị, không sử dụng nghi tiết xa hoa, chỉ trong vài
ngày đã sửa soạn xong. Bao Hướng cùng đoàn tùy tùng đem 1 số
vàng ngọc ít ỏi, nhắm hướng Cảo Kinh thẳng tiến, hy vọng việc mình
tự thân đến kinh đô cầu xin sẽ có tác dụng. Chẳng ngờ khi ấy ở đất
Chu, núi Kỳ Sơn đột ngột bị sạt lở, U Vương đang có tâm trạng
không vui, cho đây là điềm trời báo trước việc mình phải trải qua
chiến tranh nên kiên quyết bỏ qua những lời trần tình của Bao
Hướng.Tuy Bao Hướng hết sức biện minh, đến lúa kê, lúa nước
nhân dân còn không đủ ăn, thì làm sao đủ số lúa mạch đen để tiến
cống. Nhưng U Vương đã rắp tâm sẵn, không nghe lọt tai lời nào,
lập tức truyền giam Bao Hướng vào đại lao, đuổi hết tùy tùng về
nước, bao giờ có đủ số lúa mạch đen thì mới tha người.
Doãn Cầu là người dâng kế sách, nếu nhà vua mềm lòng thì có
thể thất bại, mang họa vào mình, càng ra sức gièm pha nói xấu Bao
Hướng: "Theo hạ thần thì nước Bao mới trải qua một cơn hạn hán
ngắn ngày, không thể nào kiệt quệ đến như vậy được! Chắc chắn
Bao Hướng cố tình lừa gạt bệ hạ mà thôi. Thói đời người ta chỉ thích
nặng chứ không thích nhẹ, bệ hạ chỉ cần giam giữ Bao Hướng vài
tháng là nước Bao có phẩm vật ngay!".
U Vương rất tin dùng Doãn Cầu, nghe vậy càng thêm tức giận.
10 ĐẠI MỸ NHÂN TRUNG QUỐC
Huyền Cơ
dtv-ebook.com
Bao Tự - Nụ Cười Làm Mất Giang Sơn (P2)
Đại thần Thái Thúc Đái vốn là người chính trực, tan triều về phủ
mà trong lòng không yên, tự nghĩ: "Trời đất vốn rộng lượng, tuy thấy
nhà Chu sa đọa, không xứng đáng thay mặt Trời chăn dắt muôn
dân, nhưng vẫn cho Hỏa tinh xuống trần đưa lời cảnh báo. Nay
hoàng thượng lại làm việc mất hết lương tâm, thì nhà Chu còn đứng
vững sao được? Ta đã già rồi, dù có mệnh hệ nào cũng không thể
khoanh tay ngồi yên nhìn cảnh mất nước trước mắt".
Nghĩ xong, Thái Thúc Đái ngồi viết 1 bản biểu can gián, ngay
sáng hôm sau dâng vào triều. U Vương chưa hết cơn giận hôm
trước, đọc bài biểu của Thái Thúc Đái thì không sao dằn được, nổi
trận lôi đình, ra lệnh trừng trị. Vì Thái Thúc Đái là hoàng thân quốc
thích, U Vương không thể giết chết được, đành phải hạ chiếu cắt hết
chức tước, đuổi về làm thường dân. Do vậy, dù trong triều vẫn còn 1
số quan lại công minh chính trực, nhưng hầu như chẳng ai dám mở
miệng để rước họa vào thân.
Ở nước Bao nghe tin sét đánh, thái tử Bao Hồng Đức vội hội
quần thần lại thương nghị. Triều thần bàn cả ngày trời vẫn không
sao tìm ra kế sách nào vẹn toàn, đành phải chia tay về nghỉ ngơi,
hầu như không ai ngủ được. Trong số các đại thần ấy, có 1 vị tên là
Bao Quýnh, ngày thường hay phàn nàn về thói xa hoa, dâm dật của
U Vương; nay chợt nghĩ ra: "Thiên tử nhà Chu là người ham mê sắc
đẹp, sao chúng ta không lấy độc trị độc trị độc bằng cách tiến cống
mỹ nữ cho hắn. Đây có lẽ là kế sách vẹn toàn nhất, vừa cứu được
Đại vương về, vừa làm suy nhà Chu. Nước Bao tất sẽ không lo lắng
bị xâm phạm nữa!".
Sáng hôm sau, Bao Quýnh tất tả vào triều dâng lên kế sách của
mình. Hồng Đức nghe xong, như người vượt qua mây mù, mừng rỡ,
chấp nhận và hạ lệnh cho các đại thần chia nhau đi khắp nước Bao
tuyển chọn mỹ nữ, đồng thời gom góp thêm 1 số vật thực, vàng
ngọc để tiến cống. Nước Bao vốn nhỏ bé, các đại thần lại lo lắng
cho nước nhà, cật lực thi hành theo lệnh nhà vua, nên chẳng mấy
ngày tuyển chọn được 10 mỹ nhân. Trong số 10 mỹ nhân ấy, có 1 cô
gái con của Bao Tiều có nhan sắc nổi trội, tên là Bao Tự, chính là
người con gái ngày trước đã bị Khương hậu cho thả trôi sông. Bao
Tự tuy là dân dã, nhưng nét ngọc mày ngài, sắc nước khuynh thành,
dáng điệu thanh thoát uyển chuyển, tự nhiên khiến ai ai nhìn thấy
cũng ngẩn ngơ không chớp mắt. Tâm trí của thái tử Hồng Đức đang
ngổn ngang trăm mối, thế mà gặp Bao Tự cũng nhen nhóm chút
rung động. Hồng Đức tự nghĩ: "Ta vẫn tự phụ là người quân tử,
không bao giờ bị nữ sắc mê hoặc, thế mà hôm nay cũng cảm thấy
thật lạ lùng. Chắc chắn U Vương sẽ rất hài lòng và hy vọng nhờ đó
sẽ cứu được hoàng phụ khỏi chốn giam cầm".
Đây là việc chung của quốc gia, gia đình nào có con gái được
tuyển chọn đều vui mừng hãnh diện, hoàn toàn không đòi hỏi gì tiền
bạc. Riêng Bao Tiều đã có công lao nuôi dưỡng Bao Tự, được Hồng
Đức ban thưởng 300 lượng vàng và 300 xấp lụa. Số mỹ nhân được
tuyển chọn ấy cấp tốc được quan lại cung đình huấn luyện các nghi
tiết cung đình, từ lời ăn tiếng nói cho tới những bước đi, cả những
mánh khóe liếc mắt, làm sao để chiều chuộng bậc quân vương.
Trong 1 tuần lễ, 10 mỹ nữ đều được chăm sóc chu đáo, tắm bằng
nước thơm, trang điểm lộng lẫy, nhan sắc càng tăng thêm bội phần.
Riêng Bao Tự đặc biệt hơn, nàng được chính Bao Quýnh dặn dò
những thủ thuật làm cho U Vương say mê, không còn nghĩ gì tới
triều chính, thì mới khuynh đảo được nhà Chu đến chỗ mất nước.
Vốn là người thông minh, Bao Tự càng ra sức học tập những ngón
nghề có thể làm mê muội lòng dạ U Vương như đàn địch, múa hát,
chiều chuộng. Hồng Đức cũng biết triều đình nhà Chu thối nát, tất cả
đề do bàn tay lộng quyền của bọn nịnh thần; vì vậy khi đưa mỹ nhân
đến Cảo Kinh, trước hết dùng vàng bạc mua chuộc Oắt Công. Tên
này lập tức vào cung cấm, gặp riêng U Vương, ỏn thót: "Theo hạ
thần bí mật điều tra, thì nước Bao vừa rồi bị thiên tai rất nặng nề.
Tuy nhiên, Bao Hướng bị bệ hạ giam cầm, họ vẫn một mực trung
trinh, không hề ca thán nửa lời. Họ còn muốn tỏ lòng trung thành với
bậc thiên tử, nên ngày hôm nay, sai sứ thần đến Cảo Kinh xin được
tiến dâng một số mỹ nữ và phẩm vật thay cho số lúa mạch đen phải
tiến cống".
Thấy U Vương không phản ứng gì, Oắt Công tiếp tục thuyết
phục: "Hạ thần thấy rằng, nếu chúng ta cứ cố chấp, quyết phải lấy
được số lúa mạch đen ấy, thì rốt cuộc đẩy họ vào đường bế tắc, dù
có muốn cũng chẳng đào đâu ra được. Chi bằng nhân cơ hội này,
bệ hạ tỏ lượng khoan dung, càng khiến cho nước Bao và các chư
hầu nể phục. Trong cung còn thiếu gì loại rượu ngon, nay được
thêm mỹ nhân và xuống ơn mưa móc cho chư hầu, thì chẳng phải là
lợi đôi bề hay sao?".
U Vương vốn tính háo sắc, vừa nghe 2 tiếng "mỹ nhân", trong
lòng đã có chút vừa ý, nên mặt rồng tươi tỉnh, truyền ngày mai cho
sứ thần nước Bao vào cấm cung bệ kiến. Sắc đẹp của Bao Tự quả
là có sức mạnh kinh người. Ngay khi vừa mới thấy mặt, U Vương
như bị hớp hồn, chẳng còn để ý gì đến các mỹ nữ cùng đi theo. Qua
vài phút sững sờ, U Vương hớn hở, truyền lệnh ban 9 mỹ nữ kia cho
các đại thần; đồng thời lập tức tha Bao Hướng về nước. Doãn Cầu
thấy Oắt Công chỉ dùng 3 tấc lưỡi đã được lòng U Vương, thì không
sao chịu nổi, bước ra tâu: "Xin chúc mừng bệ hạ được diễm phúc
thần tiên. Tuy nhiên bệ hạ đã có Thân hậu danh chính ngôn thuận
cai quản lục cung, nay Bao mỹ nhân chưa có danh phận gì mà lập
tức đưa vào cung thì e rằng..."
U Vương mất cả hứng thú, sầm mặt quá...
 








Các ý kiến mới nhất