Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

CHỨC DANH NN HẠNG II

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Ánh Ngọc
Ngày gửi: 08h:52' 01-04-2026
Dung lượng: 29.9 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
1

BÀI THI KẾT THÚC PHẦN 2
Phần II: Kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành và đạo đức
nghề nghiệp
Họ và tên: PHẠM ÁNH NGỌC – STT: 57

Câu 1: Anh/chị hãy nêu các yêu cầu cơ bản đối với đội ngũ giáo viên
tiểu học trước yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.
Các yêu cầu cơ bản đối với đội ngũ giáo viên tiểu học trước yêu cầu
đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
* Các yêu cầu cơ bản: Tham gia biên tập, biên soạn, phát triển chương
trình, tài liệu bồi dưỡng giáo viên, học sinh Tiểu học. Chủ trì các nội dung bồi
dưỡng, sinh hoạt chuyên đề của nhà trường hoặc tham gia các đề tài nguyên cứu
khoa học, sáng kiến kinh nghiệm cấp huyện trở lên. Tham gia hướng dẫn, đánh
giá, xét duyệt sáng kiến kinh nghiệm, đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng
dụng của đồng nghiệp từ cấp huyện trở lên. Tham gia công tác kiểm tra chuyên
môn, nghiệp vụ cho giáo viên Tiểu học cấp huyện trở lên. Tham gia Ban giám
khảo hội thi giáo viên dạy giỏi hoặc giáo viên chủ nhiệm giỏi hoặc tổng phụ
trách đội giỏi cấp huyện trở lên. Tham gia tổ chức, đánh giá các hội thi của học
sinh Tiểu học từ cấp huyện trở lên.
* Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng của giáo viên Tiểu học hạng I:
Có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm trở lên hoặc đại học các chuyên ngành phù
hợp với bộ môn giảng dạy trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
đối với giáo viên Tiểu học; có trình độ ngoại ngữ bậc 3 theo quy định tại Thông
tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24 tháng 01 năm 2014 của Bộ Giáo dục và Đào
tạo ban hành khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc có chứng
chỉ tiếng dân tộc đối với những vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân tộc; có
trình độ tin học đạt chuẩn kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy
định tại Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11 tháng 3 năm 2014 của Bộ
Thông tin và Truyền thông quy định Chuẩn kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin;
có chứng chỉ bồi dưỡng giáo viên Tiểu học hạng I.
* Tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm: Chủ động
tuyên truyền và vận động đồng nghiệp thực hiện chủ trương, đường lối, chính
sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; quy định và yêu cầu của ngành, địa phương
về giáo dục Tiểu học. Hướng dẫn được đồng nghiệp thực hiện kế hoạch, chương
trình giáo dục Tiểu học. Vận dụng sáng tạo và đánh giá được việc áp dụng những
kiến thức về giáo dục học và tâm sinh lí lứa tuổi và thực tiễn giáo dục học sinh
Tiểu học của đồng nghiệp. Vận dụng linh hoạt những kiến thức về kinh tế, văn
hóa, xã hội trong nước và quốc tế để định hướng nghề nghiệp học sinh Tiểu học.
Tích cực và chủ động phối hợp với đồng nghiệp, phụ huynh học sinh và cộng
đồng để nâng cao hiệu quả giáo dục cho học sinh Tiểu học. Có khả năng vận
dụng sáng tạo và phổ biến sáng kiến kinh nghiệm hoặc sản phẩm nghiên cứu

2

khoa học sư phạm ứng dụng từ cấp huyện trở lên. Có khả năng hướng dẫn, đánh
giá sản phẩm nghiên cứu khoa học kĩ thuật của học sinh Tiểu học. Được công
nhận là chiến sĩ thi đua cấp cơ sở hoặc giáo viên dạy giỏi hoặc giáo viên chủ
nhiệm giỏi hoặc tổng phụ trách đội giỏi cấp huyện trở lên. Viên chức thăng hạng
từ chức danh giáo viên Tiểu học hạng II lên chức danh giáo viên Tiểu học hạng I
phải có thời gian giữ chức danh giáo viên Tiểu học hạng II hoặc tương đương từ
đủ 06 (sáu) năm trở lên, trong đó thời gian giữ chức danh nghề nghiệp giáo viên
Tiểu học hạng II từ đủ 01 (một) năm trở lên.
Những nhiệm vụ và tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ nêu trên đã thể hiện
đẳng cấp cao nhất của giáo viên Tiểu học hạng I đối với cấp học Tiểu học. Đó
chính là vị trí và chức năng của một người giáo viên cao cấp nhất trong cấp học,
ngoài nhiệm vụ của một người giáo viên Tiểu học thông thường thì giáo viên
Tiểu học hạng I còn là một nhà giáo dục, một chuyên gia tư vấn cho nhà trường,
cho Phòng Giáo dục và Đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ.
1.4. Khung năng lực của giáo viên Tiểu học
Ngày nay năng lực cần được hiểu là hệ thống chức năng cơ động đối với
vai trò hoạt động nhất định; là sự tương tác, sự huy động, vận dụng, sử dụng các
yếu tố tâm - sinh lí của cá nhân vào việc thực hiện một vai trò hoạt động nhất
định, đảm bảo mang lại hiệu quả cao trong các tình huống khác nhau. Năng lực
vận hành theo nguyên lí tảng băng trôi. Trong đó, các yếu tố bề nổi (nhìn thấy) có
thể lượng hóa, đo đạc và đào tạo được trong thời gian hữu hạn: kiến thức; kĩ
năng; thái độ của cá nhân đối với vai trò hoạt động nhất định. Các yếu tố ngầm
ẩn (không nhìn thấy) là những phẩm chất tâm - sinh lí cá nhân liên quan trực tiếp
tới vai trò hoạt động, bao gồm: các giá trị, thói quen hoạt động... Các yếu tố
ngầm ẩn cũng bao gồm cả sự tương tác giữ các yếu tố hiện có của cá nhân. Tầng
ngầm ẩn đóng vai trò vừa là định hướng, vừa là động lực thúc đẩy hoạt động. Tuy
nhiên, vì là tầng sâu, ngầm ẩn nên khó xác định và chúng chỉ được hình thành,
phát triển qua quá trình lâu dài.
* Khung năng lực (hồ sơ năng lực): Khung năng lực là bản mô tả các năng
lực cần thiết và đầy đủ để thực thi thành công công việc ở một vị trí, của một cá
nhân hoặc cả tổ chức (Dubois, Rothwell, 2004). Khung năng lực thực chất là một
danh mục năng lực được phân loại theo các tiêu chí khác nhau, với các mức độ
yêu cầu khác nhau tùy theo mục tiêu của người (tổ chức) thiết lập và sử dụng nó.
* Cấu trúc khung năng lực:
- Các năng lực vai trò: Là những năng lực tương ứng với các vai trò, vị trí
của cá nhân trong tổ chức cũng như trong hệ thống hoạt động.
- Các năng lực cốt lõi: Gồm các năng lực cần thiết cho nhiều hoạt động
trong cùng một lĩnh vực hoặc cho nhiều lĩnh vực. Những năng lực cốt lõi còn
được gọi là năng lực nền tảng, năng lực chung.
- Các năng lực chuyên môn: Gồm những kiến thức, thái độ và kĩ năng gắn
với hoạt động chuyên môn nhất định.

3

1.5. Xây dựng khung năng lực sư phạm của giáo viên Tiểu học
* Vai trò của giáo viên là giáo dục người học, tổ chức sự phát triển nhân
cách người học và tham gia giáo dục xã hội. Trong giáo dục, giáo viên phải thực
hiện đồng thời cả hai mặt. Một mặt, phải triển khai các hoạt động giáo dục (hoạt
động chuyên môn). Mặt khác, phải gây ảnh hưởng tích cực đến học sinh bằng
nhân cách và hành vi của mình (mặt gây ảnh hưởng). Để thực hiện được vai trò
giáo dục, giáo viên cần có cả năng lực chuyên môn và cả năng lực nhân cách,
năng lực hành vi nhà giáo. Trong đó, năng lực nhân cách, năng lực hành vi nhà
giáo là phần chìm của tảng băng năng lực sư phạm.
* Các năng lực cốt lõi trong hoạt động sư phạm của người giáo viên Tiểu
học:
Những năng lực cần hình thành và phát triển cho người học được thể hiện
trong mục tiêu giáo dục hướng đến phát triển năng lực người học, trước hết phải
có ở người giáo viên. Trên cơ sở phân tích 8 khung năng lực nổi tiếng trên thế
giới, Mai Văn Tỉnh (2015) đã xác định năng lực sau là những năng lực cốt lõi
trong các khung năng lực thế kỉ XXI: Năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác; năng
lực liên quan bao gồm kĩ năng thông tin, kĩ năng công nghệ thông tin và kĩ năng
công nghệ; năng lực tư duy phê phán, sáng tạo; năng lực giải quyết vấn đề. Ngoài
những năng lực trên, để các hoạt động sư phạm có hiệu quả, người giáo viên cần
có những năng lực cơ sở sau: Năng lực lãnh đạo, tổ chức, quản lí; Năng lực ngôn
ngữ, diễn đạt, thuyết trình; Năng lực thuyết phục, thuyết trình; Năng lực nêu
gương; Năng lực quản lý cảm xúc.
* Các năng lực chuyên môn của người giáo viên Tiểu học:
- Tình yêu học sinh; Niềm tin vào tính giáo dục được của trẻ em; Tin vào
sự tiến bộ của học sinh; Cam kết nuôi dưỡng và phát triển tiềm năng của từng
học sinh; Tôn trọng sự đa dạng của người học.
- Yêu nghề, say mê, tận tâm với nghề; Tin tưởng về khả năng tác động của
bản thân đến người học bằng tài năng và nghệ thuật sự phạm; Lương tâm, đạo
đức và trách nhiệm nghề; Cam kết chất lượng dạy học và giáo dục.
- Các giá trị và phẩm chất mang bản sắc cá nhân của người giáo viên
- Các năng lực khoa học chuyên ngành
Như vậy, hồ sơ năng lực sư phạm của giáo viên Tiểu học gồm 7 nhóm
năng lực với 43 năng lực thành phần liên quan với vai trò giáo dục và với các
hoạt động sư phạm của người giáo viên phổ thông.

4

Câu 2: Anh/chị hãy trình bày quan điểm của mình về mẫu người giáo
viên của thế kỷ 21, để từ đó đưa ra định hướng cùng các giải pháp cụ thể về
việc phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên tiểu học trong giai đoạn hiện
nay ở trường anh/chị đang công tác.
Bên cạnh những phẩm chất, năng lực truyền thống gói gọn trong 3 chữ
“T” quen thuộc vẫn được xã hội thường xuyên nhắc đến: “Tâm – Tầm –Tài” thì
người giáo viên thế kỉ XXI cần hình thành những phẩm chất năng lực mới phù
hợp với thời đại.
Thứ nhất, người GV không chỉ còn đóng vai trò là người truyền đạt tri thức
mà phải là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở, cố vấn, trọng tài cho các
hoạt động tìm tòi, khám phá, sáng tạo của HS, giúp HS tự lực chiếm lĩnh tri thức
của nhân loại, dân tộc, hình thành kĩ năng và các phẩm chất chính trị, đạo đức.
Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển nhanh, tạo ra sự chuyển dịch về
định hướng giá trị, GV phải là nhà giáo dục có năng lực phát triển ở HS về cảm
xúc, hành vi, thái độ, đảm bảo người học làm chủ được việc học và biết ứng dụng
hợp lý tri thức học được vào cuộc sống của bản thân, gia đình, cộng đồng.
Thứ hai, GV phải là một công dân gương mẫu, có ý thức trách nhiệm xã
hội, hăng hái tham gia vào sự phát triển của cộng đồng. GV là người đóng vai trò
quan trọng trong việc hình thành bầu không khí dân chủ, thiết lập các quan hệ xã
hội công bằng, tốt đẹp, … trong lớp học, trong nhà trường, từ đó góp phần vào
việc xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Thứ ba, GV phải có lòng yêu mến, tôn trọng và có khả năng tương tác với
HS. GV phải hiểu được sự khác nhau giữa các học sinh trong cách chúng tiếp cận
với học hành, đồng thời tạo ra được những cơ hội giảng dạy khác nhau cho phù
hợp với các đối tượng học sinh khác nhau.
 Thứ tư, GV phải có năng lực đổi mới PPDH, chuyển từ kiểu dạy học tập
trung vào vai trò của GV và hoạt động dạy sang kiểu dạy tập trung vào vai trò
của HS và hoạt động học; từ cách dạy thông báo – giải thích sang cách dạy hoạt
động tìm tòi, khám phá. Trong năng lực đổi mới PPDH, GV phải có khả năng cập
nhật và nghiên cứu, vận dụng những PPDH mới, tích cực; biết phối hợp các
PPDH truyền thống, hiện đại để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học.
Thứ năm, GV phải có năng lực tự học, tự nghiên cứu, tự bồi dưỡng chuyên
môn nghiệp vụ, không ngừng cập nhật tri thức khoa học và chuyên ngành hiện
đại. Thế giới đang ở trong quá trình của cuộc cách mạng khoa học công nghệ
hiện đại với những tác động sâu sắc đến toàn bộ các mặt kinh tế và đời sống xã

5

hội. Khối lượng tri thức nhân loại như một dòng thác khổng lồ đang cuồn cuộn
chảy trên xa lộ thông tin.
Những kiến thức nhà trường chuyển giao chỉ là những cơ sở ban đầu cho một quá
trình tự học, tự bồi dưỡng. Học là công việc suốt đời của bất kì ai. Đối với người
đi dạy, điều đó lại càng quan trọng hơn. Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng
của máy vi tính và công nghệ thông tin, cơ hội tiếp cận tri thức của mỗi người
đều bình đẳng với nhau.
Điểm khác nhau cơ bản là khả năng tiếp cận, phát hiện và giải quyết vấn đề.
Những kĩ năng đó một phần được bồi dưỡng tiếp tục nhờ vào quá trình tự học sau
khi ra trường. Tuy nhiên, tự học không phải là một năng lực có sẵn. Những kĩ
năng tự học cần phải được hình thành và bồi dưỡng trong suốt quá trình học tập ở
các cấp học, bậc học và quá trình công tác thực tiễn. Trong tương lai, cùng với sự
phát triển của công nghệ thông tin, việc học có thể được phân tán theo từng cá
nhân ở các địa điểm khác nhau, không nhất thiết người học phải giáp mặt thầy
trực tiếp. Nội dung dạy học ở thể được chuyển tải trên tất cả các phương tiện
công nghệ thông tin. Người học có thể tiếp cận thông tin ở bất kì mọi nơi, mọi
lúc. Khi ấy, kĩ năng tự học càng trở nên quan trọng.
Thứ sáu, GV phải có trình độ tin học và có khả năng sử dụng các phần
mềm dạy học cũng như biết cách khai thác mạng Internet phục vụ cho công việc
giảng dạy của mình. Trong thời đại công nghệ hiện nay, việc học của học sinh
cũng đã có nhiều thay đổi. Thói quen học thuộc một cách thụ động nhường chỗ
cho việc tự tìm tòi, khám phá.
Những băn khoăn học sinh gặp phải khi các em tiếp xúc với các nguồn thông tin
khác nhau khiến cho các em tìm cách giải đáp. Việc học và chơi ngày càng được
gắn với máy vi tính nhiều hơn, thu hút các em nhiều hơn vào sự tìm tòi, khám
phá. GV không thể bằng lòng với những thông tin có sẵn trên các trang sách giáo
khoa và tài liệu tham khảo. Internet là nguồn thông tin không thể thiếu của những
người làm nghề dạy học.
Khai thác thông tin từ Internet phải trở thành thói quen không thể từ bỏ được của
mỗi GV. Rõ ràng, kĩ năng làm việc với máy tính trở thành kĩ năng tối thiểu của
tất cả mọi người, trong đó có cả GV. Phải để cho máy vi tính và việc sử dụng nó
trong tự học và dạy học trở thành nhu cầu thiết yếu, thói quen văn hoá đối với
mỗi GV.
Thứ bảy, GV phải có kĩ năng hợp tác. Một trong 4 trụ cột của giáo dục thế
kỉ XXI do UNESCO đề xướng là “học để cùng chung sống”. Trên tầm vĩ mô, thế

6

giới ngày càng thu hẹp khoảng cách không gian nhờ vào công nghệ thông tin,
nhiều giá trị nhân bản phổ biến đã đã trở thành nét chung của các dân tộc.
Thế giới đòi hỏi sự liên kết toàn cầu trong nhiều lĩnh vực. Khó có thể chấp nhận
một quốc gia hay một cá nhân nào trong thời đại ngày nay đứng ngoài quỹ đạo
của việc bảo vệ môi trường, chống khủng bố… Trong phạm vi cụ thể, sự hợp tác
tạo nên nhiều thành tựu quan trọng đối với mỗi cá nhân. Kĩ năng hợp tác, do đó,
cần được bồi dưỡng ở từng GV để đến lượt mình, chính họ sẽ truyền dạy cho HS
của mình cách hợp tác trong học tập và cuộc sống.
Thứ tám, GV phải có năng lực giải quyết vấn đề. Cuộc sống của con người,
suy đến cùng, là một chuỗi liên tục giải quyết vấn đề. Càng giải quyết tốt các vấn
đề bao nhiêu, chất lượng cuộc sống của con người càng có nhiều cơ hội được
nâng cao bấy nhiêu. Không nên xem nhà trường như một “ốc đảo” mà nên xem
nhà trường chính là cuộc sống.
Các vấn đề thực tế cuộc sống được phản ánh vào nhà trường dưới một lăng
kính đủ để cho người học tiếp cận theo cách phù hợp với lứa tuổi của mình. Giải
quyết các vấn đề trong các bài học ở nhà trường cũng nên xem như giải quyết các
vấn đề của cuộc sống. Có như vậy HS mới khỏi bỡ ngỡ khi bước vào đời sống
thực tế phong phú. Để làm được điều đó, chính GV là những người phải có khả
năng giải quyết vấn đề tốt.
Định hướng cùng các giải pháp cụ thể về phát triển đội ngũ giáo viên
Tiểu học hạng II ở trường Tiểu học:
Căn cứ để xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học hạng
II: Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo được ban
hành năm 2009; chuẩn người giáo viên Tiểu học hạng II được quy định trong
Thông tư số: 22/2015/TTLT-BGDĐT-BNV, ngày 16 tháng 9 năm 2015; yêu cầu
về phẩm chất và năng lực sư phạm của người giáo viên cốt cán Tiểu học; yêu cầu
về phẩm chất và năng lực giáo viên Tiểu học đáp ứng yêu cầu của chương trình
và sách giáo khoa trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể…
- Nội dung kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học hạng II: Phát
triển các phẩm chất và năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên Tiểu học hạng II;
Phát triển năng lực quản lí nhân sự, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường đội ngũ
giáo viên Tiểu học hạng II; Nâng cao trình độ nhận thức chính trị, lập trường, tư
tưởng đội ngũ giáo viên Tiểu học hạng II; Phát triển năng lực tổ chức bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên hạng III và hạng IV; làm nòng cốt xây dựng
và phát triển trường Tiểu học; Hình thành và phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán
Tiểu học.
Tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học hạng
II theo yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông

7

- Chỉ đạo thực hiện tốt các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên hạng II ở
trường Tiểu học.
- Hợp tác phát triển và sử dụng đội ngũ giáo viên hạng II giữa các trường
và các cơ sở giáo dục trong triển khai đổi mới giáo dục phổ thông.
- Hợp tác bồi dưỡng đội ngũ và chia sẻ kinh nghiệm giáo dục giữa các
trường Tiểu học.
- Chỉ đạo và hỗ trợ liên kết các trường của các cơ quan quản lý giáo dục
trong hoạt động giáo dục .
2. Liên hệ:
Công tác bồi dưỡng theo chuẩn chức danh nghề nghiệp GVTH các hạng
hiện nay đang được thực hiện tại địa phương. Hàng năm, trường Bồi dưỡng Cán
bộ Giáo dục Hà Nội thường xuyên mở các lớp hạng I, II, III cho các thầy cô có
nhu cầu học. Công tác triển khai bồi dưỡng phát triển đội ngũ được ngành, của
nhà trường khá quan tâm, triển khai kịp thời, tạo điều kiện để anh chị em được đi
bồi dưỡng và thi thăng hạng theo nhu cầu khi đủ tiêu chuẩn.
Học viên

Phạm Ánh Ngọc
 
Gửi ý kiến