Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

BAI THU HOACH CHUYEN DE HCM - DAK LAK - NAM 2025

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lương Cao Sơn (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:38' 23-02-2025
Dung lượng: 51.0 KB
Số lượt tải: 18
Số lượt thích: 0 người
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
CHI BỘ TRƯỜNG TIỂU HỌC QUANG TRUNG
Họ và tên: LƯƠNG CAO SƠN
BÀI THU HOẠCH CHUYÊN ĐỀ
NĂM 2025
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VÀ
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ THỰC HIỆN TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ
HỘI, QUAN TÂM CHĂM LO ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT, TINH THẦN CHO
ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC TỈNH ĐẮK LẮK.
1. Kết quả công tác quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần
cho đồng bào các dân tộc tỉnh Đắk Lắk
Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng
về kinh tế, quốc phòng, an ninh; diện tích tự nhiên khoảng hơn 13 nghìn km2; dân
số khoảng trên 1,9 triệu người, trong đó đồng bào đân tộc thiểu số chiếm khoảng
36%, với 49 dân tộc cùng sinh sống. Tỉnh có 15 đơn vị hành chính cấp huyện (thành
phố Buôn Ma Thuột là đô thị loại I trực thuộc tỉnh). Nhằm phát triển toàn diện, bền
vững vùng Tây Nguyên, ngay sau khi thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước luôn
quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành nhiều nghị quyết, chính sách quan trọng để
hướng tới mục tiêu xây dựng Đắk Lắk sớm trở thành tỉnh “thuộc nhóm phát triển khá
của cả nffớc”.
Sau ngày đất nffớc được giải phóng (1975), Đắk Lắk với một vùng đất đai rộng
lớn, nhưng dân cư và lao động thưa thớt, cơ sở kinh tế hầu như chưa có gì. Năm
1976, vốn đầu tưxây dựng cơ bản 16,995 triệu đồng; tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội
44,573 triệu đồng; diện tích lúa nước năm 1976 là 8.653 ha, lúa rẫy 50.979 ha, sản
lượng 117.708 tấn. Diện tích cà phê (1978) 8.768 ha, sản lffợng
18.282 tấn tươi. Ngành công nghiệp ở Đắk Lắk lúc bây giờ cũng chỉ có 1 trạm
Điezel ở thị xã Buôn Ma Thuột (công suất trên 1000 KW) và 2 trạm thủy điện: Đray
H'Linh 450 KW và Ea Nao 280 KW, chủ yếu phục vụ thắp sáng sinh hoạt; 01 nhà
máy cấp nước thị xã Buôn Ma Thuột công suất 5.000m3/ngày đêm cùng một số cơ sở
chế biến gỗ. Giao thông đường bộ chủ yếu là 2 trục Quốc lộ 14 và 26 đã bị hư hỏng
nặng. Đời sống Nhân dân rất khó khăn.
Về y tế, sau giải phóng, đội ngũ y bác sỹ toàn tỉnh chỉ có 155 người, với 12 cơ sở
khám chữa bệnh (gồm 03 bệnh
viện, 07 bệnh xá, 01 nhà điều dưỡng, 01 trại phong), với 932 giường; Về giáo dục,
chỉ có trường 137 trường (115 trường cấp I, 21 trường cấp II, 01 trường cấp III),
với
1.260 giáo viên, với 1.409 lớp, 65.000 học sinh; Về thông tin liên lạc, có 25km
đường dây điện thoại, 250 máy điện thoại; Về thiết chế văn hóa có 01 thư viện, 01
nhà văn hóa, 10 đội chiếu bóng.
Về hệ thống chính trị, năm 1975, Đảng bộ tỉnh chỉ có 216 tổ chức cơ sở đảng với
hơn 2.400 đảng viên. Về quốc phòng - an ninh, sau ngày giải phóng, bên cạnh việc
khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, tỉnh vừa tập trung chăm lo phát

triển kinh tế, nâng cao đời sống Nhân dân, vừa phải đẩy mạnh công tác đấu tranh giải
quyết vấn đề FULRO; đồng thời chiến đấu và chiến thắng âm mưu xâm lấn, diệt
chủng của bọn Pôn Pốt - Iêng Xa ry, góp phần bảo vệ vững chắc biên giới và làm
tròn nghĩa vụ quốc tế, giúp bạn giải phóng tỉnh Mondunkiri - Campuchia...
Có thể nói, sau giải phóng là chặng đường vô cùng gian khổ của Đảng bộ, chính
quyền và Nhân dân trong tỉnh. Tuy nhiên, chính trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn,
thử thách khắc nghiệt, Đảng bộ và Nhân dân Đắk Lắk đã phát huy truyền thống vẻ
vang và sức mạnh lao động, sáng tạo, đạt đffợc nhiều thành tựu rất đáng tự hào. Để
khắc phục khó khăn, năm 1976, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị phát động đợt thi
đua “Thực hiện ba cuộc vận động lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IV và kỷ niệm một năm Ngày đất
nước hoàn toàn giải phóng”. Hưởng ứng đợt phát động, hàng loạt các phong trào
thi đua sôi nổi diễn ra, nhff phong trào 3 xung kích: lao động sản xuất, cải thiện đời
sống; giữ gìn trật tự trị an; xây dựng nếp sống văn minh; phong trào thi đua ba giỏi
(lao động sản xuất, tiết kiệm và cải thiện đời sống; tham gia xây dựng cơ quan, bảo
vệ trật tự trị an; xây dựng nếp sống mới)... Nhờ đó, Nhân dân trong tỉnh đã vượt qua
nạn đói; cải tạo, khôi phục và phát triển kinh tế, nhất là nông nghiệp; từng bffớc cải
thiện đời sống Nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số; xây dựng và củng cố
chính quyền các cấp...
Với những chủ trương, biện pháp đúng đắn nên trong chặng đffờng từ sau giải
phóng đến nay đã ghi những dấu ấn đặc biệt của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân
các dân tộc trong tỉnh. Đảng bộ đã tích cực lãnh đạo Nhân dân xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật và từng bffớc hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đồng thời
ra sức xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, ổn định đời sống vật chất, tinh
thần của Nhân dân. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các cấp ủy đảng, chính
quyền và sự nỗ lực của đồng bào các dân tộc trong tỉnh, kinh tế - xã hội có bffớc phát
triển, đời sống vật chất tinh thần của Nhân dân các dân tộc không ngừng đffợc cải
thiện. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp, lâm nghiệp, công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp dần được củng cố và đóng vai trò thúc đẩy sản xuất phát
triển. Hoạt động văn hóa xã hội đã góp phần nâng cao dân trí, từng bước xóa nạn mù
chữ trong đồng bào các dân tộc và đấu tranh với các hủ tục
lạc hậu trong Nhân dân. Hệ thống chính quyền các cấp từ tỉnh đến cơ sở được
củng cố. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đffợc giữ vững. Cấp ủy, chính quyền
và cả hệ thống chính trị trong tỉnh đã có nhiều nỗ lực, không ngừng tư duy, đổi mới,
đoàn kết, sáng tạo trong thực hiện các nội dung về thực hiện tiến bộ, công bằng xã
hội; quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc tỉnh Đắk
Lắk và đã đạt đffợc những thành tựu đáng khích lệ, cụ thể nhưsau:
Thứ nhất, về kinh tế - xã hội luôn có sự phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng
bình quân trong 20 năm qua (giai đoạn 2002 - 2023) trung bình đạt 13,8%/năm, cơ
cấu nền kinh tế tiếp tục có sự chuyển dịch theo hướng tích cực và cơ bản đúng định
hướng, tăng dần tỷ trọng khu vực phi nông nghiệp; tuy nhiên, khu vực thương mại,
dịch vụ chuyển dịch chậm do bị tác động bởi đại dịch COVID-19. Mặt khác, giai
đoạn 2021 - 2023, tổng sản phẩm xã hội đạt 173.669 tỷ đồng (tăng trưởng bình quân
đạt 7,07%/năm); tổng kim ngạch xuất khẩu đạt

4.301 triệu USD (bằng 122,2% kế hoạch 5 năm); tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt
278.347 tỷ đồng (bằng 58,43% kế hoạch 5 năm). Kinh tế của tỉnh duy trì tốc độ tăng
trffởng khá (giai đoạn 2011 - 2015 đạt 8%/năm; giai đoạn 2016 - 2020 đạt
8,75%/năm; giai đoạn 2021 - 2023 đạt 7,07%/năm). Năm 2024, giá trị tổng sản phẩm
trên địa bàn GRDP (theo giá hiện hành) đạt hơn 141.326 tỷ đồng. Quy mô nền kinh tế
cơ bản ổn định, duy trì ở mức khá (giá trị GRDP đứng đầu khu vực Tây Nguyên), các
khu vực đều có tăng trưởng so với cùng kỳ. GRDP bình quân đầu người (theo giá
hiện hành đạt 72,8 triệu đồng/ người). Huy động vốn đầu tư cơ bản đáp ứng nhu cầu
phát triển kết cấu hạ tầng và hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh
tế.
Hệ thống kết cấu hạ tầng từng bước được nâng cấp đồng bộ, hiện đại, nhất là
trong phát triển hạ tầng giao thông kết nối các vùng, khu vực gắn với các dự án quan
trọng được phê duyệt, như tuyến đường bộ cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột; dự
án đường Hồ Chí Minh đoạn tránh phía đông thành phố Buôn Ma Thuột, đffờng
Trường Sơn Đông và các dự án cải tạo nâng cấp quốc lộ 29, tỉnh lộ 1, 2, 3... Hoạt
động sản xuất nông nghiệp đạt mức tăng trưởng khá, tiếp tục đóng vai trò là bệ đỡ
phát triển nền kinh tế trong bối cảnh tác động mạnh mẽ của đại dịch COVID-19.
Công tác thu ngân sách nhà nffớc hằng năm tuy chưa đạt yêu cầu đề ra, nhưng vẫn ở
mức khá so với giai đoạn trước; chế độ, chính sách hỗ trợ đối tượng bị ảnh hưởng bởi
dịch bệnh COVID-19, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, người có công với cách
mạng... được triển khai đồng bộ, kịp thời, thiết thực; chất lượng giáo dục, y tế và đời
sống văn hóa, tinh thần cho người dân từng bước được nâng lên rõ rệt.
Thứ hai, hoạt động cải cách hành chính được chú trọng; hiệu lực, hiệu quả công
tác lãnh đạo, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp được nâng lên rõ rệt; đồng
thời, tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội cơ bản được bảo đảm. Công
tác xây dựng, chỉnh
đốn Đảng và hệ thống chính trị có nhiều chuyển biến tích cực; năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên không ngừng được nâng lên; trình độ lý
luận chính trị, tư tưởng, đạo đức cũng như phương thức lãnh đạo của cấp ủy ngày
càng được nâng cao, đổi mới. Công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế tiếp tục có khởi sắc
và mang lại một số kết quả nổi bật, hoạt động hội nhập quốc tế ngày càng được mở
rộng trên nhiều lĩnh vực. Công tác dân vận chính quyền được đẩy mạnh và thực hiện
khá đồng bộ thông qua việc thực hiện có hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội. Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong tỉnh thường xuyên chủ động đổi mới nội
dung và phương thức hoạt động, vận động Nhân dân thực hiện tốt chủ trương đường
lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tổ chức thực hiện hiệu quả các
phong trào thi đua, các cuộc vận động... tạo sự đồng thuận, lan tỏa và thu hút đông
đảo người dân tham gia. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn
mới, đô thị văn minh”, phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai
bị bỏ lại phía sau” đạt được kết quả tích cực. Ngoài ra, công tác vận động cán bộ,
đoàn viên, hội viên và Nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính
quyền thông qua các hoạt động đối thoại, tư vấn, giám sát, phản biện xã hội được đẩy

mạnh; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trên tinh thần “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra, dân hưởng thụ”. Thứ ba, các hoạt động văn hóa, xã hội, chăm sóc
sức khỏe người dân, an sinh xã hội được bảo đảm; đặc biệt, đời sống vật chất, tinh
thần của Nhân dân được cải thiện và nâng lên rõ rệt. Đặc biệt, tỉnh cũng đã triển khai
nhiều chffơng trình trọng tâm, trọng điểm về thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội;
quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc như:
- Về y tế, chăm sóc sức khỏe cho Nhân dân: Công tác bảo vệ, chăm sóc sức
khỏe người dân được duy trì thực hiện; công tác khám, điều trị từng bước đffợc nâng
lên với sự tham gia của nhiều bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh tư nhân; ngành y tế
đã thực hiện tốt chính sách chăm sóc cho người cao tuổi, người dân tộc thiểu số,
ngffời nghèo; làm tốt công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ sức khỏe bà
mẹ trẻ em. Hệ thống y tế, đặc biệt là mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và phát triển
kể cả ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với mạng lưới 100% số xã
có trạm y tế và 100% số thôn, buôn có cán bộ y tế thôn buôn. Đồng bào DTTS được
khám chữa bệnh và hưởng chính sách bảo hiểm y tế toàn diện theo qui định, Đến nay,
tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng (cân nặng theo độ tuổi) giảm còn 17,6%;
số giường bệnh/vạn dân đạt 29 giường/vạn dân; số bác sỹ/vạn dân đạt 7,7 bác sỹ/vạn
dân. Tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 93,5%. Bên cạnh đó, các hoạt động y tế dự phòng
đffợc tập trung triển khai thực hiện, cơ bản kiểm soát tốt các dịch bệnh truyền nhiễm
trên địa bàn.
- Về giáo dục và đào tạo: Chất lượng công tác giáo dục, đào tạo ngày càng được
nâng lên; ngành giáo dục và đào tạo thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất
lượng giáo dục, đào tạo; đặc biệt đạt nhiều thành tích trong giáo dục mũi nhọn. Cơ sở
vật chất, trang thiết bị cho công tác giáo dục, đào tạo được quan tâm đầu tư, đa dạng
hóa các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực từ xã hội hóa được đẩy mạnh, đạt nhiều kết
quả, góp phần đáp ứng yêu cầu dạy học. Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo
viên, nhân viên đffợc nâng lên, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục, đào tạo của địa
phương. Chất lượng giáo dục, đào tạo được nâng lên, học sinh giỏi đoạt giải quốc gia,
khu vực đều tăng. Hệ thống các trường đại học, phân hiệu học viện và đại học... từng
bước đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh, khu vực Tây Nguyên và các
nước Lào, Campuchia...
- Về văn hóa, thể thao: Chú trọng quan tâm, phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm
gắn kết chặt chẽ, hài hòa với phát triển kinh tế; công tác quản lý nhà nffớc về văn
hóa, thể thao, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc được tỉnh quan tâm
thực hiện, nhiều lễ hội truyền thống và hoạt động văn hóa, văn nghệ diễn ra sôi
động; tổ chức thành công nhiều hoạt động kỷ niệm và nhiều sự kiện chính trị, chương
trình, hoạt động nghệ thuật đặc sắc, ý nghĩa. Các lễ hội đã thu hút đông đảo quần
chúng Nhân dân hưởng ứng, tạo không khí vui tươi, lành mạnh, phấn khởi, góp phần
nâng cao nhận thức, gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân
tộc trên địa bàn tỉnh, tăng cường mối
- giao lưu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, tăng cffờng khối đại đoàn kết dân
tộc. Tiếp tục phát triển phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”,
đến hết năm 2024 toàn tỉnh có 86,8% hộ gia đình được công nhận gia đình văn hóa;

có 86,4% thôn, buôn, tổ dân phố được công nhận danh hiệu văn hóa.
- Công tác bảo tồn, phục hồi và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc
thiểu số tại chỗ được quan tâm. Tỉnh có 04 Di sản phi vật thể đã được Bộ VHTTDL
đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia gồm: Khan (sử thi) của người
Êđê; Tập quán xã hội và tín ngưỡng Lễ mừng thọ của người M'nông; Ngữ văn dân
gian Lời nói vần của người Êđê và di sản Mo Mường. Đời sống văn hóa cơ sở đã có
bước phát triển, cải thiện rõ rệt; các thiết chế văn hóa vùng đồng bào DTTS, vùng
sâu, vùng xa, vùng biên giới được tăng cường cơ sở vật chất, tổ chức và hoạt động,
một số di sản văn hóa của đồng bào các DTTS được tôn vinh. Các hoạt động tổ chức
văn hóa được tổ chức tầm quốc gia, liên vùng đã góp phần bảo tồn, phát huy các giá
trị văn hóa các dân tộc Việt Nam. Hình thành xu hướng xã hội hóa trong việc tổ chức
các hoạt động văn hóa dân tộc. Các thiết chế văn hóa cơ sở được tăng cường, các
trung tâm văn hóa, thể thao xã, thôn đang được đầu tư xây dựng.
- Phong trào thể dục, thể thao quần chúng và thể dục thể thao thành tích cao tiếp
tục được tỉnh quan tâm phát triển; đến hết năm 2024, tỷ lệ người tham gia tập luyện
TDTT thường xuyên đạt 34,5%; Tỷ lệ gia đình thể thao
đạt 20,5%; Tỷ lệ trường học đảm bảo rèn luyện giáo dục thể chất đạt 100%.
- Về lao động, thương binh và xã hội: Công tác lao động, việc làm và các chế
độ, chính sách giảm nghèo, người có công được triển khai đầy đủ, kịp thời; an sinh xã
hội được đảm bảo. Năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo giảm 2,5%; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng
bào dân tộc thiểu số giảm 3,5%. Giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị còn 2,4%.
Tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp giảm còn 57%, Tỷ lệ lao
động qua đào tạo 64%, trong đó lao động có bằng cấp chứng chỉ đạt 22,25%.
Quan tâm thực hiện các phong trào Đền ơn, đáp nghĩa, thăm tặng quà cho các đối
tượng chính sách, người có công với tổng kinh phí trên 44,94 tỷ đồng, các Bà mẹ
Việt Nam Anh hùng trên địa bàn tỉnh được chăm sóc phụng dưỡng; trợ giúp xã hội
thường xuyên tại cộng đồng cho 71.433 đối tượng, kinh phí thực hiện hơn 565 tỷ
đồng; hỗ trợ gạo cứu đói cho 29.564 hộ, 110.733 khẩu với 1.663,725 tấn gạo. Công
an tỉnh và Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh đã triển khai hỗ trợ, xây dựng 1.500 căn nhà
cho người nghèo trên địa bàn tỉnh để chào mừng kỷ niệm 120 năm Ngày thành lập
tỉnh; các hộ dân được hỗ trợ nhà ở rất phấn khởi, vui mừng khi được Đảng, Nhà nước
quan tâm, chăm lo hỗ trợ xây dựng nhà, ổn định cuộc sống.
- Về thông tin và truyền thông: Tuyên truyền các chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị quan
- trọng của đất nước, của tỉnh và đẩy mạnh các hoạt động truyền thông nhằm
nâng cao nhận thức của người dân, doanh nghiệp về lợi ích mang lại của đô thị thông
minh, các dịch vụ giám sát điều hành đô thị thông minh. Tình hình hoạt động mạng
lưới Bưu chính, Viễn thông ổn định, chất lượng dịch vụ được nâng cao, đáp ứng nhu
cầu thông tin của các cơ quan Đảng, nhà nước, doanh nghiệp và người dân trên địa
bàn. Hiện nay 100% xã, phường, thị trấn được kết nối cáp quang đến trung tâm. Tỷ lệ
dân số được phủ sóng di động theo công nghệ 4G đạt 99,23%; số thuê bao băng rộng
di động/100 dân đạt 112,88. Trên địa bàn tỉnh có 09 thôn, buôn và 07 cụm dân cư
vùng lõm sóng di động.

- Dịch vụ công trực tuyến được triển khai ngày càng sâu rộng, hiệu quả. Số thủ
tục hành chính đã cung cấp dịch vụ công trực tuyến đạt tỷ lệ 100%. Tỷ lệ hồ sơ giải
quyết theo dịch vụ công trực tuyến 1 phần và toàn trình trên tổng số hồ sơ đạt 37%
(KH: 40%), Tỷ lệ trả kết quả theo hình thức trực tuyến (số lượng kết quả được trả
trực tuyến trên môi trường mạng/Số lượng kết quả giải quyết TTHC) đạt 15% (KH:
15%). Hệ thống thông tin giải quyết TTHC của tỉnh đã hoàn thành việc tích hợp, kết
nối với 13 cơ sở dữ liệu, phần mềm chuyên ngành.
- Công tác phát triển kinh tế số, xã hội số được quan tâm chú trọng thực hiện,
đạt được nhiều kết quả tích cực. Đến nay, tỉnh Đắk Lắk có 1.715 sản phẩm trên sàn
thương mại điện tử; có 42.933 giao dịch trên sàn thương mại điện tử, đứng thứ 5 toàn
quốc; số hộ sản xuất nông
nghiệp được đào tạo kỹ năng số là 259.652 hộ, đạt 43%. Người dân, doanh nghiệp
đã bước đầu sử dụng rộng rãi các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, nộp
thuế điện tử, thực hiện khám chữa bệnh bằng thẻ Căn cước công dân gắn chip thay
thế thẻ Bảo hiểm y tế hoặc qua ứng dụng VNEID, sử dụng tài khoản Định danh điện
tử mức độ 2 khi làm một số TTHC, đi máy bay; đã triển khai thanh toán chi phí dịch
vụ y tế không dùng tiền mặt tại tất cả các bệnh viện (21/21) và TTYT tuyến huyện.
Triển khai ứng dụng nền tảng công dân số “Đắk Lắk trực tuyến” nhằm cung cấp cho
công dân trên địa bàn một cổng ứng dụng tập trung, tích hợp các ứng dụng và tiện ích,
tạo điều kiện thuận lợi để công dân khai thác các dịch vụ, thông tin và dữ liệu do
chính quyền tỉnh và các đơn vị nhà nước cung cấp.
- Công tác dân tộc: Công tác dân tộc tiếp tục nhận được sự quan tâm, chỉ đạo
của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban ngành, địa
phương; sự cố gắng nỗ lực của cả hệ thống cơ quan công tác dân tộc, điều này đã góp
phần quan trọng trong việc ổn định kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh chính trị, giữ
gìn trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khối đại đoàn kết các dân
tộc ngày càng được tăng cffờng, đồng bào các dân tộc tin tưởng và chấp hành tốt chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. Công tác triển khai
thực hiện Chương trình MTQG 1719 được tập trung thực hiện để người dân được thụ
hưởng chính sách kịp thời, nhiều công trình, dự án đã phát huy hiệu quả tích cực, góp
phần nâng cao
đời sống đồng bào DTTS trên địa bàn. Tổng vốn đầu tư phát triển thực hiện các
chương trình MTQG năm 2024 là 1.555 tỷ đồng, đã triển khai thực hiện và giải ngân
800 tỷ đồng.
- Chính sách đối với cán bộ người DTTS và xây dựng, củng cố hệ thống chính
trị ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn được quan tâm. Đến năm 2024, tổng số cán
bộ, công chức, viên chức toàn tỉnh là 43.136 người, trong đó cán bộ, công chức, viên
chức DTTS là 6.126 ngffời, chiếm 14,2%. Nhiệm kỳ 2020 - 2025, cấp tỉnh có 15/53
đồng chí cán bộ DTTS tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ; 24/75 đại biểu DTTS; cấp
huyện: 114/587 đồng chí tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ; 35 đồng chí cán bộ
DTTS tham gia cấp ủy; 141/513 đại biểu DTTS; cấp xã: có 690/3.598 cán bộ, công
chức DTTS; 591/2.613 cán bộ, công chức DTTS tham gia cấp ủy; 1.279/4.628 ngffời
DTTS là đại biểu HĐND cấp xã, phường, thị trấn. Trong nhiệm kỳ 2021- 2026, tổng
số đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh là 75 người, trong đó DTTS là 24 người; đại biểu

Hội đồng Nhân dân cấp huyện 477 người, trong đó DTTS là 131 người. Việc tuyển
dụng, bố trí cán bộ DTTS vào các chức danh chủ chốt được quan tâm đúng mức, hiện
có 201 cán bộ, công chức, viên chức là lãnh đạo cấp phòng trở lên.
Bên cạnh những thành tựu đạt được trong thực hiện các nội dung về thực hiện tiến
bộ, công bằng xã hội; quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân,
thực tiễn đời sống đồng bào các dân tộc trong tỉnh vẫn còn những khó khăn, tồn tại,
như khoảng cách giàu - nghèo chậm được thu hẹp; sự thụ hưởng lợi ích từ các chính
sách chưa đồng đều; tâm lý trông chờ, thụ động, ỷ lại còn tồn tại ở một số đồng bào;
ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa ở một bộ phận người dân còn mờ nhạt; cơ sở, chất
lượng giáo dục, y tế, an sinh xã hội ở vùng sâu, vùng xa có nơi, có lúc chưa được bảo
đảm; tác động tiêu cực từ tình trạng biến đổi khí hậu, thiên tai ngày càng rõ rệt... Đặc
biệt, tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, vấn đề tôn giáo, dân tộc,
tranh chấp đất đai vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp; đáng chú ý, các thế lực thù địch
luôn sẵn sàng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, đất đai,... hòng kích động, chống phá
Đảng, Nhà nước ta.
Trên đây là toàn bộ nội dung bài thu hoạch về chuyên đề vận dụng tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh và quan điểm của đảng về thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội, quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân
tộc tỉnh Đắk Lắk.
NGƯỜI VIẾT BÀI THU HOẠCH:

LƯƠNG CAO SƠN
 
Gửi ý kiến