Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Giáo án tổng hợp

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Hoa Ninh
Ngày gửi: 00h:06' 05-01-2025
Dung lượng: 53.2 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích: 0 người
CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN CẦN NẮM TRONG CÁC VĂN BẢN NGỮ VĂN 12
“VỢ CHỒNG A PHỦ” (Tô Hoài)
I. Các vấn đề chung:
1. Tác giả Tô Hoài:
- Tên thật: Nguyễn Sen; quê ở Thanh Oai, Hà Nội, nhưng sinh ra và lớn lên ở
quê ngoại Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội.
Gia đình thợ thủ công (chuyên làm guốc mộc)
- Cuộc đời vất vả, phải lăn lộn kiếm sống bằng nhiều nghề. Trở thành nhà
văn bằng con đường tự học. Sớm tham gia kháng chiến, hoạt động ở lĩnh
vực văn hóa nghệ thuật.
- Sáng tác:
+ Chủ yếu là văn xuôi hiện thực, thiên về “diễn tả sự thật của đời thường”,
với vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc phong tục tập quán của các vùng quê
khác nhau trên đất nước và thế giới,… nên tác phẩm rất có sức hấp dẫn.
+ Số lượng sáng tác: khoảng 200 đầu sách với nhiều thể loại: truyện ngắn,
tiểu thuyết, kí, tự truyện, tiểu luận, kinh nghiệm sáng tác…
+ Tác phẩm tiêu biểu; SGK trang 4
+ Đặc điểm sáng tác: lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động, vốn từ ngữ phong
phú, sử dụng đắc địa các từ ngữ bình dân,…
2. Truyện “Vợ chồng A Phủ”:
- In trong tập truyện “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài (Gồm 3 truyện
ngắn: Vợ chồng A Phủ, Mường Giơn và Cứu đất cứu mường”). Tập truyện
được giải Nhất về truyện, ký của Hội văn nghệ VN 1954-1955.
- Được sáng tác sau chuyến đi của Tô Hoài cùng với bộ đội vào giải
phóng T.Bắc (1952). Trong 8 tháng, T.Hoài đã cùng ăn, cùng ở, gắn bó
nghĩa tình cùng đồng bào các dân tộc T.Bắc, nhận thức sâu sắc cuộc sống
và con đường đến với CM của họ. Đó là cơ sở để tác giả sáng tác tập
truyện.
II. Các vấn đề trong tác phẩm:
1. Nhân vật Mị và sự trỗi dậy trong “những đêm tình mùa xuân”bước ngoặt trong cuôc đời làm dâu nô lệ:
a. Trước khi bị bắt làm dâu: Mị dù là cô gái con nhà nghèo nhưng
chăm chỉ, hiếu thảo, lại có tài thổi sáo. Mị khát khao cuộc sống tự do,
hạnh phúc; từng được sống những tháng ngày hạnh phúc giản dị, ấm
áp yêu thương.
b. Khi bị bắt làm dâu gạt nợ:

-

Mị đã phản kháng từ âm thầm đến dữ dội, quyết liệt nhưng vẫn
không thoát khỏi cường quyền, thần quyền (chết cũng không
được).
- Mị có những thay đổi và có sự mâu thuẫn giữa con người bên trong
với con người bên ngoài rõ rệt:
+ Bên ngoài: Lầm lũi, mặt cúi, buồn rười rười, “như con rùa trong
xó cửa”, có vẻ như cam chịu thân phận trâu ngựa, không nghĩ gì
khác ngoài công việc (kể cả về cái chết).
+ Bên trong: luôn nghĩ
++ “tưởng mình là con trâu con ngựa”  ý thức sâu sắc về thân
phận, cảnh ngộ
++ Thấy không bằng con trâu, con ngựa “con trâu con ngựa làm
còn có lúc, đêm được nghỉ ngơi đứng ngãi chân nhai cỏ, con đàn bà
con gái nhà này thì vùi vào làm việc cả đêm lẫn ngày”  bất bình
trước sự bị đối xử
++ “sẽ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra đến bao giờ chết
thì thôi”  luôn hướng về ánh sáng, khát khao tự do, và chờ cơ hội
để tuông ra.
c. Bước ngoặt trong cuôc đời làm dâu nô lệ:
c.1. Vào “những đêm tình mùa xuân”:
 Nguyên nhân: sự tác động của không khí mùa xuân, tiếng sáo,
men rượu
- Mùa xuân của người Hồng Ngài chính là tết. Tết, mùa xuân không
đến từ đất trời mà đến từ lòng người hân hoan sau mùa thu hoạch,
từ khao khát tìm đôi của trai gái
- Tiếng sáo: là sức sống và biểu tượng của mùa xuân, cũng là tiếng
lòng thanh xuân của Mị. Âm thanh này được Tô Hoài nhắc đến
nhiều lần trong suốt những đêm tình mùa xuân và sự trỗi dậy của
Mị:
Tiếng sáo “lấp ló ngoài đầu núi” “văng vẳng ngoài đầu làng” 
“lửng lơ bay ngoài đường”  “rập rờn trong đầu Mị” . Tiếng sáo
mời gọi, dẫn dụ, là tác nhân bên ngoài rồi thành tiếng lòng tha
thiết bên trong, là kỉ niệm tình yêu quá khứ, là khát khao cháy
bỏng của hiện tại,…
- Men rượu: men say ngày tết, men say cuộc đời
Mị không được uống
Mị đã “lén” uống, cách uống đầy thèm thuồng, phẫn uất, chưa thấy
bao giờ
Mị “say”, thoát khỏi con người của hiện tại
 Biểu hiện của sự trỗi dậy:
- Uống rượu: không chấp nhận ở bên ngoài mọi cuộc vui nữa, không
cam chịu thân phận phục dịch, hầu hạ nữa

-

Sống về ngày trước: trở lại là mình của ngày xưa, được tự do, có
tình yêu
Thấy “phơi phới trở lại”, nhận ra mình còn trẻ và “không có lòng
với A Sử”- chưa có tình yêu, chưa có “con trai con gái”
- Sửa soạn đi chơi - ra với thế giới bên ngoài, trở lại là mình, tìm lại
tình yêu, hạnh phúc, tự do:
+ Thắp sáng thêm ngọn đèn - xua đi bóng tối, không chấp nhận
bóng tối nữa
+ Quấn lại tóc - làm đẹp cho mình, biết quan tâm chú ý đến mình
+ Với tay lấy cái váy hoa trên vách - làm một việc trọng đại của đời
mình
- Đi chơi, dù thể xác bị trói chặt từ đầu đến chân, tóc cũng bị cuốn
hết cả vào cột nhưng tinh thần của Mị nhờ được tiếng sáo nâng đỡ,
đã làm một cuộc vượt thoát ngoạn mục. Mị đã ra với thế giới bên
ngoài, sống với những âm thanh da diết yêu thương của mùa xuân,
Mị đã tìm lại được con người ngày xưa của mình, dù vẫn chưa tìm
lại được hạnh phúc đã mất.
 Sự trỗi dậy sức sống trong Mị vào những đêm tình mùa xuân đã cho
thấy:
- Ngòi bút của Tô Hoài khi khắc họa nhân vật đã không chỉ quan
tâm, chú ý con người bên ngoài mà đặc biệt chú ý đến diễn biến
nội tâm, tâm lí và miêu tả rất tinh tế, tỉ mỉ từng chút diễn biến ấy
rất hấp dẫn, lôi cuốn.
- Tội ác của chúa đất phong kiến: dùng cả cường quyền lẫn thần
quyền để áp bức, bóc lột người lao động nghèo về thể xác và
khống chế họ về tinh thần.
- Cho thấy, người lao động nghèo dù bị cường quyền, thần quyền
biến thành thân trâu ngựa, thành một thứ công cụ lao động vẫn
không từ bỏ khát khao tự do, hạnh phúc, vẫn luôn chờ thời cơ cơ
hội vùng lên, tìm lối thoát cuộc đời.
c. 2. Vào “một đêm mùa đông”:
* Nguyên nhân: được chứng kiến tận mắt
- Những giọt nước mắt của A Phủ: nỗi khổ đau, bất lực, cái chết đang
cận kề với một con người.
- Tội ác của cha con thống lí Pátra: bắt và trói đứng một con người cho
đến chết (hành động này Mị đã được nghe nói chúng đã làm với một người
đàn bà đời trước và được trải nghiệm trong cái đêm mùa xuân muốn đi
chơi)
 Mị không thể thờ ơ, cam chịu nữa.
Nếu trong “những đêm tình mùa xuân” tác nhân tạo ra sự phản
kháng, trỗi dậy của Mị chính là khát khao tự do, hạnh phúc, thì trong “đêm

mùa đông” này, tác nhân khiến Mị không cam chịu chính là tội ác của cha
con thống lí Pátra. Mị phẫn uất trước tội ác đó và thấy thương người,
thương mình sâu sắc. Tình thương ấy thôi thúc Mị hành động.
 Biểu hiện:
- Cắt dây, cởi trói cho A Phủ: giải thoát cho A Phủ khỏi cái chết và
khỏi những xiềng xích của cường quyền phong kiến
- Chạy theo A Phủ: tự giải thoát cho mình, tìm cho mình một chỗ dựa
tinh thần để thoát khỏi cường quyền, thần quyền của cha con
thống lí.
 Hành động của Mị rất nhanh chóng, nhìn từ bên ngoài tưởng là hành
động bộc phát, nhưng hành động đó chính là biểu hiện của giọt nước tràn li,
tức nước vỡ bờ. Đó là kết quả của sự dồn nén tất cả những khát khao, ước
mơ, và cả những phẫn uất. Hành động đó cho thấy con đường vươn lên của
Mị và những người cùng cảnh ngộ, tự cứu mình và cứu người, góp phần giải
phóng quê hương.
Ngòi bút của Tô Hoài vừa rất hiện thực (phản ánh rất chính xác, chân thực
cuộc đời số phận của nhân vật) vừa rất nhân đạo (tìm ra lối thoát cho nhân
vật).
Sự trỗi dậy của con người bên trong của Mị, đã chứng tỏ quyền lực của cha con thống lý Pá
tra chỉ có thể trói buộc thể xác chứ không thể giam giữ được tâm hồn Mị. Thế lực thần quyền,
cường quyền dù lớn đến đâu cũng không thể vùi dập được sức sống mãnh liệt và khao khát tự
do, hạnh phúc cháy bỏng của con người.
 Nhân vật Mị đánh dấu sự thành công của ngòi bút Tô Hoài khi hướng về đề tài miền núi và
số phận của người dân nghèo trước CM. Tác giả đã tái hiện chân thực, sinh động khung cảnh
mùa xuân, tập quán ăn tết của người miền núi Tây Bắc từ đó làm nền tảng khắc họa diễn biến
nội tâm, tâm lí của nhân vật. Từ cuộc đời, số phận của nhân vật Mị, tác giả cho thấy sức sống
mãnh liệt, khát khao hạnh phúc cháy bỏng và con đường vươn lên tìm hạnh phúc của người
phụ nữ nghèo miền núi trước CM.
2. Giá trị hiện thực và nhân đạo của ngòi bút Tô Hoài:
a. Giá trị hiện thực:
-

Phản ánh chân thực, sâu sắc bộ mặt của chúa đất phong kiến miền
núi: giàu có, quyền lực, có cả cường quyền, thần quyền trong tay,
có nhiều thủ đoạn để áp bức và trói buộc người dân nghèo.
Phản ánh chân thực, sâu sắc tình cảnh của người dân nghèo miền
núi trước CM: vì vay nợ mà bị biến thành thân phận trâu ngựa,
công cụ lao động,…

b. Giá trị nhân đạo:
- Tố cáo và phê phán tội ác của bọn thống trị phong kiến miền núi
- Đồng cảm với nỗi thống khổ của người dân miền núi

-

Phát hiện và trân trọng những phẩm chất cao đẹp của những người dân nghèo miền
núi
Miêu tả con đường đi lên, mở ra một cuộc sống mới cho những người dân nghèo
miền núi  Sự khác biệt của ngói bút Tô Hoài so với những ngòi bút viết về cùng
đề tài trước CM-8
---------------------------------------------------------------------------

“VỢ NHẶT” (Kim Lân)
I. Các vấn đề chung:
1. Tác giả Kim Lân:
-

-

Tên khai sinh: Nguyễn Văn Tài
Quê: Phù Lưu, Tân Hồng,Tiên Sơn, Bắc Ninh.
Là cây bút chuyên viết truyện ngắn, thành công về đề tài nông thôn và người nông
dân, có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê.
Hai truyện ngắn nổi tiếng nhất của Kim Lân là “Làng” và “Vợ Nhặt”, ngoài ra
còn một số TP khác.
Ngoài viết văn, Kim Lân còn tham gia đóng phim với các vai: Lão Hạc (phim Làng
Vũ Đại ngày ấy), thầy mo (phim Vợ chồng A Phủ).

2. Truyện “Vợ nhặt”:
-

-

In trong tập “Con chó xấu xí” (1962).
Được viết sau khi hòa bình lập lại, dựa trên một phần cốt truyện cũ của tiểu
thuyết “Xóm ngụ cư” viết ngay sau Cách mạng tháng Tám.
Nội dung: Kể lại tình cảnh thê thảm của người nông dân trong nạn đói khủng khiếp
mùa xuân năm 1945.
Bố cục: 5 phần
P 1: Tràng đưa người vợ nhặt về nhà
P 2: Hoàn cảnh gặp gỡ, nên vợ nên chồng
P 3: Tấm lòng của bà mẹ nghèo đối với đôi vợ chồng trẻ
P 4: Hạnh phúc của gia đình nhỏ
P 5: Hình ảnh của cách mạng.
Tóm tắt truyện:

+ Một buổi chiều “tối sầm” vì cái đói, Tràng đã nhặt và đưa người vợ trở
về trong sự ngạc nhiên, bàn tán của những người dân trong xóm ngụ cư.
Mọi người len lén nhìn theo Tràng và cô vợ nhặt, mừng vui thì ít mà lo
lắng, chê bai thì nhiều. Ngược với thái độ của mọi người, Tràng rất đỗi
hạnh phúc, “cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình”. Cô vợ nhặt ngượng
ngùng đi bên cạnh.
+ Việc Tràng nhặt vợ diễn ra rất chóng vánh, tình cờ. Khi kéo xe bò chở
thóc thuê lên tỉnh, vừa trả xong thóc, thị ở đâu sầm sầm chạy lại trách
móc Tràng, rồi hờn dỗi “ăn gì thì ăn chả ăn giầu”. Tràng mời thị ăn, thị
ăn liền 4 bát bánh đúc không nói năng gì. Tràng nói “đùa” “có về làm

bạn với tớ thì khuân hàng lên xe rồi cùng về”, thị đồng ý. Tràng 'chợn”
nhưng “chậc lưỡi: Kệ!” và dẫn thị về.
+ Về đến nhà, cô vợ nhặt chứng kiến gia cảnh của Tràng thì nén một
tiếng thở dài. Tràng thưa chuyện với mẹ. Bà cụ Tứ ngậm ngùi, nén tủi
hổ, lo lắng, nước mắt rỉ ra giữa hai kẽ mắt kèm nhèm vẫn nói với con “u
cũng mừng lòng!”.
+ Sáng hôm sau, khi Tràng và thị đã thành vợ chồng. Ngôi nhà nhỏ của
Tràng có nhiều thay đổi khác lạ. Mọi thứ quang quẻ, sạch sẽ, ngăn nắp,
ấm cúng trong tình mẹ con, vợ chồng. bà cụ Tứ nét mặt rạng rỡ, cô thị
“hiền hậu, đúng mực”, Tràng “thấy nên người”.
+ Bữa cơm ngày đói dư vị đắng chát nhưng tình mẹ con, vợ chồng chưa
bao giờ đầm ấm như thế. Hình ảnh đoàn người đói kéo nhau đi phá kho
thóc Nhật phía trước có lá cờ đỏ to lắm xuất hiện trong óc Tràng từ câu
nói của thị “ở đây vẫn còn phải đóng thuế cơ à”.
II. Các vấn đề trong tác phẩm:
1. Tình huống truyện:
-

Được bộc lộ ngay trong nhan đề của truyện: Nhặt vợ.
Nhân vật Tràng, có vợ nhưng không phải do cưới treo, xin hỏi theo
nghi lễ đàng hoàng mà giữa lúc đói kém đến ngặt nghèo, khủng
khiếp Tràng đã nhặt và đưa vợ về trước sự ngạc nhiên của tất thảy
mọi người.
+ Lấy vợ: là chuyện hệ trọng của cả một đời người
+ “Nhặt vợ”:
* Nhặt là hành động không có chủ ý.
*
Vợ là người bạn đời, người yêu thương và chia sẻ suốt cả cuộc
đời.
* Nhặt vợ: khiến cho vợ thành ra như một thứ đồ vật rơi vãi, ít hoặc
không còn giá trị.
+ Hoàn cảnh nhặt: giữa lúc cái đói đang hoành hành dữ dội, khi
danh giới giữa sự sống, cái chết vô cùng mong manh
 Nhặt vợ, một tình huống truyện độc đáo, trớ trêu, éo le.
Sáng tạo ra tình huống này Kim Lân dễ dàng triển khai câu chuyện
của mình theo hướng miêu tả tâm lý của các nhân vật, đồng thời
giúp người đọc thấy được phần nào hiện thực xã hội đương thời và
tấm lòng nhân hậu của con người giữa nạn đói.

2. Nhân vật Tràng:
- Tên gọi: Tràng (một loại dụng cụ nghề mộc)  Tên gọi dân dã, thô mộc.
- Gia cảnh: Dân ngụ cư, nhà nghèo, mẹ già.
Bản thân: Xấu trai, hay cười đùa với trẻ con.
 Rất khó để lấy được vợ, có được hạnh phúc

- Bối cảnh nhặt vợ: nạn đói hoành hành dữ dội.
+ Hình ảnh: người chết như ngả rạ, không sáng nào không có “ba bốn cái thây nằm còng queo
bên vệ đường”; người sống (trẻ con, người lớn) ủ rũ, lo lắng chuyện sống chết, suy nghĩ ích kỉ.
+ Âm thanh: tiếng quạ, tiếng hờ khóc người chết đói
+ Mùi vị: ẩm mốc, gây của xác người,…
 “Tối sầm lại vì đói khát”, không còn sinh khí.
- Tâm trạng của Tràng:
+ Khi nhặt vợ: “đùa”, “chợn”, tặc lưỡi  khát khao hạnh phúc lớn hơn nỗi chợn về cái chết.
+ Lúc đưa vợ về: sung sướng (nét mặt, ánh mắt, cái miệng…)  thấy sự khác biệt giữa mình
với mọi người.
+ Lúc đợi mẹ về: lo lắng, bồn chồn, ngỡ ngàng  sợ người đàn bà thay đổi ý định, không tin
nổi hạnh phúc đã có.
+ Khi đã thành vợ thành chồng: hạnh phúc, thấy “nên người”, ý thức được ngôi nhà- tổ ấm, ý
thức được trách nhiệm, bổn phận và nghĩ đến cách đổi thay cuộc đời.
 Tràng là một người lao động nghèo, tốt bụng và cởi mở. Luôn khát khao hạnh phúc và có ý
thức xây dựng hạnh phúc.
3. Nhân vật “thị” và số phận người phụ nữ nông thôn trước CM-8:
- Thị là người vợ nhặt, một nhân vật đặc biệt. Là một nạn nhân trực tiếp của
cái đói, nạn nhân gián tiếp của những tội ác mà bọn thực dân, phát xít và
chúa đất phong kiến đã gây ra cho người nông dân những năm 1944 –
1945, nhưng nhân vật cũng là một đốm sáng của tác phẩm.
- Khi xây dựng nhân vật này tác giả Kim Lân đã làm sáng tỏ hai điều: Một
con người có số phận đáng thương, Một con người có khát vọng sống mãnh
liệt.
a. Thị, một con người có số phận đáng thương.
- Trước khi được Tràng “nhặt” về: không tên tuổi, họ hàng, quê quán,
lang thang, phiêu bạt, ngồi vêu ra ở cổng chợ tỉnh chờ nhặt hạt rơi hạt
vãi và người mướn làm thuê.  Tứ cố vô thân, bị cái đói dồn đuổi.
- Khi được Tràng “nhặt” về: tàn tạ, thê lương, dưới đáy cùng của sự
sống. Quần áo rách như tổ đỉa, khuân mặt lưỡi cày còn độc hai con
mắt,… Hành động liều lĩnh, bất cần để được sống
Tràng, người nhặt Thị: bản thân xấu trai, dân ngụ cư, vô lo vô nghĩ;
gia cảnh bần hàn, cùng cực  Chỗ bấu víu mong manh, sự sống
không đảm bảo!
 Thị là hình ảnh điển hình cho một số phận người đau khổ, thảm hại
vì cái đói, vì những tội ác của kẻ thống trị.
b. Thị, một con người có khát vọng sống mãnh liệt.

- Con người dưới đáy cùng của sự sống luôn tìm mọi cách vươn lên để chiến
thắng cái chết, Kim Lân đã miêu tả cả một quá trình vươn lên của nhân vật
Thị để gửi gắm những ý tưởng của mình. Quá trình ấy là:
+ Trước khi được Tràng “nhặt” về: không cam lòng ngồi “vêu ra”,
khoanh tay chịu chết, Thị đã sầm sập chạy lại làm thân, rồi gợi ý để được
ăn và đồng ý theo không về làm bạn với người đàn ông xấu xí, xa lạ
+ Khi được Tràng “nhặt” về: ý thức được cảnh ngộ của mình, Thị
ngượng nghịu, rón rén, e thẹn, cố nén một tiếng thở dài,…nhưng vẫn quyết
ở lại cùng người đàn ông đã nhặt mình.
+ Sau khi đã nên vợ nên chồng với Tràng: cố gắng để thay đổi ngôi
nhà nhỏ, bằng sinh khí của mình để mang lại sinh khí cho ngôi nhà nhỏ của
mẹ con Tràng (…)
 Với khát khao sống mãnh liệt, Thị người đàn bà đói đã không cam

lòng ngồi “vêu ra”, khoanh tay chịu chết. Thị đã cố gắng làm tất cả để được
ăn, để được sống rồi sau đó là mưu cầu hạnh phúc. Thị là một nhân vật
chứa đựng nhiều ẩn tình của nhà văn Kim Lân.
 Với Kim Lân, Thị không chỉ là một người người nữ yếu đuối, có số phận

đáng thương như rất nhiều số phận người phụ nữ trong những trang văn
trước CM-8, “mông mênh mặt nước cánh bèo. Tránh sao cho khỏi sớm
chiều đầy vơi”, Thị còn là người phụ nữ với khát vọng sống mãnh liệt, với cá
tính mạnh mẽ. Cá tính và khát vọng sống mãnh liệt đó chính là động lực để
nhân vật vươn lên chiến thắng số phận và hoàn cảnh.
Nhân vật Thị không gợi lên những u ám, tiều tụy của nạn đói và kiếp người
mà khơi gợi niềm tin vào khả năng vươn lên của con người!
4. Tâm trạng của bà cụ Tứ:
- Bà cụ Tứ, điển hình cho người mẹ nông dân nghèo. Cả cuộc đời nghèo khó
nuôi con, bà cụ Tứ không có được cái hạnh phúc được tự tay dựng vợ gả
chồng cho con: Con gái thì mất tích, con trai thì nhặt vợ…
Bị đặt vào thế bị động khi con trai nhặt vợ, người mẹ nghèo đã có những
biến đổi hết sức phức tạp về tâm lý:

* Ban đầu: Khi mới trở về nhà, trước thái độ vồn vã khác thường của con
trai, người mẹ “phấp phỏng” lo âu, sợ có thêm điều gì bất thường đang chờ
đợi.
* Vào đến giữa sân, “bà lão đứng sững lại”, chưa hết ngạc nhiên về sự xuất
hiện của người đàn bà lạ, lại ngạc nhiên về tiếng chào “u”. Một loạt những
câu hỏi được người mẹ nghèo đặt ra với chính mình, lẽ ra trong hoàn cảnh
tương tự người mẹ có thể dễ dàng đoán biết cơ sự, song bà cụ Tứ lại ngạc
nhiên, thảng thốt, sự nhạy cảm của một người mẹ đã mất đi hay chính bản
thân bà cũng không thể tin con trai có thể có được vợ, lại ngay giữa lúc đói?

* Sau khi nghe Tràng phân trần, bà đã “vỡ lẽ”. Bà cúi đầu nín lặng, nhưng
sau cái nín lặng ấy, cõi lòng người mẹ ngổn ngang những tâm tư. Ra con
mình đã có vợ, lại là “nhặt được vợ”. Mừng, vui đấy nhưng cũng xót xa
buồn tủi đấy, và làm sao tránh khỏi sự lo lắng?
+ Tủi cho phận mình và gia cảnh của mình: “Người ta dựng vợ gả chồng
cho con là lúc trong nhà ăn nên, làm nổi, những mong sinh con, đẻ cái mở
mặt sau này. Còn mình thì…”
+ Lo cho con: Lấy nhau giữa lúc đói “biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau
sống qua được cơn đói khát này không?”
+ Mừng cho con, vì dù sao con mình cũng lấy được vợ, điều mà không chỉ
bà, bất kỳ người mẹ nào cũng mong mỏi ở con.
+ Thương con vô hạn: “Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này người
ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được…”
Những tâm tư ấy người mẹ đã nén chặt trong lòng, chỉ để lộ ra bên
ngoài hai dòng nước mắt “rỉ xuống giữa hai kẽ mắt kèm nhèm”. Người mẹ
đã dành về phần mình tất cả những lo âu, tủi hờn để các con có được cái
yên tâm, vững dạ. Bà nói với con những yêu thương, mừng, vui và tin
tưởng:
“Các con đã phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng”
“Nhà ta thì nghèo con ạ, vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn…ai
giàu ba họ, ai khó ba đời!”
“Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá!”…
 Chỉ có tình thương nơi người mẹ nghèo cho con và cho dâu chứ không hề
có sự mắng mỏ, khinh khi. Tấm lòng của người mẹ thật bao dung, độ lượng.
- Để tạo cho các con sự vững tâm, tin tưởng, bà cụ Tứ còn nói “toàn chuyện
vui”, bàn bạc với con việc làm ăn và thắt chặt tình cảm mẹ con bằng những
hành động cụ thể:
+ Cùng nàng dâu mới thu dọn, sửa sang lại ngôi nhà
+ Sửa soạn bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới
Tình thương của người mẹ đã giúp Tràng và người vợ nhặt vượt qua
nỗi tự ti, mặc cảm thân phận: “chưa bao giờ mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp
như thế”. Tình cảm mẹ con, vợ chồng giống như một đốm sáng ấm áp giữa
cái u ám, tối sầm của đói khát, chết chóc.

 Miêu tả tâm trạng của bà cụ Tứ trong tình cảnh nhặt vợ của con trai, tác
giả Kim Lân đã cho thấy tấm lòng thương con của một người mẹ nghèo. Sự
đôn hậu, vị tha, nhân ái của người mẹ khiến nhân vật hiện lên rất gần với

hình ảnh của người mẹ Việt Nam truyền thống và khiến người đọc hiểu
thêm rằng Kim Lân không chỉ viết về cái đói, miếng ăn mà còn viết về sự
sống, về tình người. Và điều quan trọng hơn, tác giả đã chứng minh: “Dù ở
trong tình huống bi thảm đến đâu. Dù kề bên cái chết, con người vẫn khát
khao hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hy
vọng ở tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người”.
------------------------------------------------------------------------

“RỪNG XÀ NU” (Nguyễn Trung Thành)
I. Các vấn đề chung:
1. Tác giả Nguyễn Trung Thành:
- Tên: Nguyễn Ngọc Tấn, bút danh khác là Nguyên Ngọc. Quê ở huyện Thăng Bình, Quảng
Nam.
- Là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến, gắn bó mật thiết với mảnh đất Tây
Nguyên. Là một trong những người đầu tiên , đóng góp nhiều công sức nhất trong việc đưa
văn chương hiện đại tìm đến với Tây nguyên và đem Tây Nguyên về với văn chương hiện đại.
- Tác phẩm chính: “Đất nước đứng lên”, “Rẻo cao”, “Rừng xà nu”…giống như những
khúc sử thi ngợi ca đất nước, quê hương và những con người anh hùng.
2. Tác phẩm “Rừng xà nu”:
- Được viết năm 1965, in lần đầu trên tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ (số
2-1965), sau đó được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc.
- Cốt truyện gồm 2 câu chuyện đan cài nhau:
+ Câu chuyện về cuộc đời Tnú, một anh hùng lực lượng vũ trang thời chống Mĩ.
+ Câu chuyện về cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man.
 Cốt truyện đã tái hiện được phần nào không khí dữ dội của một thời kỳ lịch sử với phong

trào đấu tranh cách mạng ở miền Nam những năm 1955-1959 và trả lời cho câu hỏi lớn của
thời đại: “chúng nó đã cầm súng thì mình phải cầm giáo!”
II. Các vấn đề cần nắm:

1. Hình tượng cây xà nu:
- Là hình tượng xuyên suốt tác phẩm, được miêu tả tỉ mỉ, say mê, với tất cả tình yêu và sự
ngưỡng mộ của tác giả.
- Xà nu gần gũi, gắn bó với cuộc sống của dân làng Xô Man-Tây Nguyên.
- Xà nu là hương sắc, vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Nguyên, đất nước Việt Nam:

+ Vóc dáng xà nu: Thân cây cao vút, vạm vỡ, ứ nhựa; cành lá sum sê…
+ Nhựa cây “thơm mỡ màng”, “ngào ngạt, long lanh dưới nắng hè gay gắt”…
+ Sinh sôi nảy nở khỏe: “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy”…
+ Ham ánh sáng và khí trời: “…nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng
trong rừng từ trên cao rọi xuống…”
- Cây, rừng xà nu là hình ảnh mang tính biểu tượng sâu sắc, nó biểu tượng cho con ngườingười dân Xô Man, Tây Nguyên và dân tộc Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ
cứu nước:
+ Rừng xà nu nằm ngay trong tầm đạn đại bác của kẻ thù, không có cây nào không bị
thương…  Biểu tượng cho những đau thương, hi sinh, mất mát của nhân dân, dân tộc; góp
phần tố cáo sâu sắc tội ác của kẻ thù.
+ Rừng xà nu vẫn vươn lên xanh tốt dù có những cây bị thương, bị chết, đổ gục…Vẫn “ưỡn
tấm ngực lớn, che chở cho làng Xô Man”…  Biểu tượng cho sự bất khuất, kiên cường, sức
sống bất diệt của Tây Nguyên và dân tộc.
Cụ Mết đã khẳng định: “Không có cây nào mạnh bằng cây xà nu đất ta. Cây mẹ ngã thì cây
con mọc lên. Đố nó giết được rừng xà nu đất ta!”
 - Cách miêu tả tỉ mỉ, ngôn ngữ giàu tính tạo hình, ngay từ đầu tác phẩm tác giả đã tạo
cho người đọc một ấn tượng sâu sắc về cây xà nu, rừng xà nu.
- Cây xà nu, rừng xà nu là một hình ảnh đẹp, mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Góp phần
làm phong phú kho tàng các hình ảnh biểu tượng của Văn học Việt Nam.
2. Hình tượng nhân vật Tnú:
- Là hình tượng trung tâm của tác phẩm, nhân vật chính trong câu chuyện
kể của cụ Mết.
- Là người con ưu tú nhất của làng Xô Man, một anh hùng lực lượng vũ
trang của thời đại cách mạng mới, được khoác lên màu sắc sử thi bởi cách
kể và ngôn ngữ kể chuyện.
- Bối cảnh kể và giọng kể chuyện về Tnú:
+ Thời gian: đêm Tnú được nghỉ phép về thăm làng, khi Xô man đã vùng
lên tự trang bị vũ khí, lập làng kháng chiến.
+ Không gian: ở nhà già làng Mết.
Bên trong, dân làng tụ họp đông đủ, yên lặng lắng chờ.
Bên ngoài, “lấm tấm một trận mưa đêm rì rào như gió nhẹ”.
+ Giọng kể: “không cất cao”, “tiếng nói rất trầm”, như một lời nhắn nhủ “ai
có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước hãy lắng mà nghe, mà
nhớ…”

 Tạo nên màu sắc sử thi trang nghiêm; khiến nhân vật hiện lên như
một anh hùng huyền thoại; làm cho câu chuyện về một cá nhân giống
như một câu chuyện lịch sử của cộng đồng dân tộc.
a. Tnú lúc còn nhỏ:
- “Cha mẹ nó chết sớm, làng Xô Man này nuôi nó. Đời nó khổ, nhưng bụng
nó sạch như nước suối làng ta…”
 Tnú bị mồ côi cả cha lẫn mẹ, được nuôi nấng trong sự yêu thương của
dân làng, đặc biệt là cụ Mết
- Không phụ lòng tin yêu của mọi người, Tnú đã có những hành động vô
cùng đẹp đẽ:
+ Cùng với Mai, thay thế thế hệ thanh niên, người già đi nuôi giấu cán bộ
cách mạng.
+ Luôn khắc ghi câu nói, lời dạy của cụ Mết: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn,
núi nước này còn”.
+ Táo bạo, mưu trí (khi vượt rừng, băng suối…), gan góc, dũng cảm (khi bị
kẻ thù phục kích, bắt đi…)
+ Quyết tâm học chữ để lớn lên làm cán bộ cách mạng theo lời dạy của
anh Quyết (hành động lấy đá tự đập vào đầu, máu chảy ròng ròng…).
 Lớn lên giữa bối cảnh khốc liệt của chiến tranh, trong tình yêu thương,
kì vọng của mọi người, Tnú đã sớm bộc lộ những phẩm chất của một
người con Tây Nguyên gan góc, mưu trí, dũng cảm, kiên cường.
b. Tnú khi lớn lên:
- Những phẩm chất của người con Tây Nguyên ưu tú, người chiến sĩ cách
mạng kiên cường ngày càng ngời sáng ở Tnú.
Câu chuyện về Tnú được cụ Mết tiếp tục kể với lời khắc ghi:
“Đêm nay tau kể chuyện nó cho cả làng nghe, để mừng nó về thăm
làng. Người Strá mình ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước
hãy lắng mà nghe, mà nhớ. Sau này tau chết rồi, chúng mày phải kể lại cho
con cháu nghe…”!
+ Với dân làng: Tnú là một người con được yêu thương, kì vọng, một du
kích dũng cảm, mưu trí.
+ Với gia đình: Tnú là một người chồng, người cha giàu yêu thương, ấm áp.
+ Với kẻ thù: Tnú là một “con cọp rừng” nguy hiểm, “con cọp đó mà không
giết sớm, nay nó làm loạn núi rừng này rồi”

 Tnú là một người con ưu tú nhất của làng Xô man, một cây xà nu
đang trưởng thành, vươn lên đón lấy ánh nắng từ trên cao trong trẻo,
ấm áp của bầu trời tự do.
* Bi kịch cuộc đời:
+ Tận mắt chứng kiến cảnh kẻ thù hành hạ và giết hại vợ con ngay trước
mắt mà không thể cứu vì trong tay không có vũ khí.
+ Bị kẻ thù bắt trói và tẩm dầu xà nu, đốt cháy đôi bàn tay.
* Những hành động đáng khâm phục:
+ Bứt đứt hàng chục trái vả, mắt như hai cục lửa lớn
+ Tay không, nhảy xổ vào giữa bọn lính, quật chết 1 thằng.
+ Lửa thiêu đốt 10 đầu ngón tay, không hề kêu than, chỉ nghe lửa cháy
trong tim.
+ Gia nhập lực lượng vũ trang, lập lên nhiều chiến công, được cấp trên
thưởng phép, về thăm làng.
 Đối lập với bi kịch đau thương của cuộc đời, Tnú vẫn hiện lên với những
vẻ đẹp đáng khâm phục. Bằng ngọn lửa trên tay và trong trái tim mình, Tnú
đã khơi lên ngọn lửa CM trong mỗi người dân Xô man.
 Giàu yêu thương, dũng cảm, giàu nghị lực, ở Tnú có sự hội tụ tất cả vẻ
đẹp truyền thống của con người và mảnh đất Tây Nguyên. Hình ảnh của
Tnú giống như hình ảnh của cây xà nu, trúng đạn, bị thương nhưng không
gục ngã mà vươn lên với sức sống phi thường. Cây xà nu ấy đã góp phần
làm nên màu xanh bạt ngàn, bất tận của Tây Nguyên, đất nước.
* Chi tiết “đôi bàn tay” của Tnú:
Được tác giả đặc biệt khắc họa. Đôi bàn tay gắn với những hành động cụ
thể, mỗi hành động là biểu hiện của một phẩm chất:
+ Tự lấy đá đập vào đầu đến chảy máu ròng ròng Đôi bàn tay quả quyết.
+ Đặt lên bụng, chỉ cho kẻ thù : “cộng sản ở đây!”.  Đôi bàn tay dũng
cảm, kiên trung
+ Tự làm lấy tấm choàng cho Mai địu con  Đôi bàn tay đầy yêu thương
+ Bị đốt cháy, mỗi ngón bị cụt đi một đốt  Đôi bàn tay là chứng tích tội ác
của kẻ thù
+ Dẫu tật nguyền vẫn cầm súng diệt thù  Đôi bàn tay nghị lực, quả cảm.
 Tập trung khắc họa chi tiết đôi bàn tay, tác giả Nguyễn Trung Thành đã
làm nổi bật cuộc đời, số phận, nghị lực, tình yêu, phẩm chất và tính cách
nhân vật Tnú. Đây là một chi tiết nghệ thuật giàu ý nghĩa.

 Xây dựng nhân vật Tnú, tác giả Nguyễn Trung Thành đã khái quát lại những đau thương,
sự quật khởi của dân làng Xô man nói riêng và các tộc người Tây Nguyên nói chung dưới gót
giày của Mĩ ngụy. Tác giả cũng lý giải nguyên nhân khiến người Xô man Tây nguyên đứng lên
cầm vũ khí đấu tranh và trả lời cho câu hỏi lớn của thời đại: “Chúng nó đã cầm súng thì mình
phải cầm giáo!”
3. Tính sử thi của truyện:
- Tính sử thi là một đặc điểm nổi bật của VHVN 1945-1975, đây cũng là một
giai đoạn mà lịch sử đất nước có nhiều biến động, cuộc chiến tranh kéo dài
suốt 30 năm, vấn đề dân tộc được đặt lên hàng đầu. VH giai đoạn này đã
đề cập tới số phận chung của cả cộng đồng, của toàn dân tộc. VH tập trung
phản ánh những vấn đề cơ bản nhất, có ý nghĩa sống còn của đất nước: Tổ
quốc còn hay mất, độc lập tự do hay nô lệ. Những sự kiện có ý nghĩa lịch
sử, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng… đó cũng là những vấn đề
mà VH quan tâm.
- Tính sử thi củ truyện Rừng xà nu được thể hiện ở:
+ Đề tài của tác phẩm: Đề tài chiến tranh( Cuộc chiến đấu của dân
làng Xô Man, của đồng bào miền Nam chống bọn Mỹ - Ngụy xâm lược)
+ Chủ đề của tác phẩm: Trước tội ác man rợ của kẻ thù xâm lược,
nhân dân, dân tộc VN phải làm gì để đáp trả? (Đây là câu hỏi của cả dân
tộc, câu hỏi mang tính thời đại)
+ Nhân vật chính: Tnú có cuộc đời, số phận đầy bi tráng, cuộc đời, số
phận của Tnú cũng là số phận và sự đi lên của dân làng Xô Man TN trong
những năm chống Mỹ cứu nước.
+ Bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ: Rừng xà nu. Không phải chỉ một cánh
rừng xà nu nằm bên cạnh con nước lớn mà “Những cánh rừng xà nu nối
tiếp nhau chạy đến chân trời”. Bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ ấy làm nền tảng
cho câu chuyện về cuộc đời Tnú, về cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man TN.
+ Cách kể chuyện:
Người kể chuyện là một già làng, truyện được kể bằng giọng điệu trang
nghiêm, trong không khí linh thiêng (bên trong “mọi người yên lặng lắng
chờ”, bên ngoài “lấm tấm một trận mưa đêm rì rào như gió nhẹ”). Cách kể,
giọng kể đã tạo nên âm hưởng sử thi trang trọng cho câu chuyện.
 Ra đời trong bối cảnh đất nước sục sôi chống Mỹ, tính sử thi là
đặc điểm tất yếu và nổi bật của tác phẩm Rừng xà nu, với đặc điểm
này tác giả Nguyễn Trung Thành một lần nữa đã rất thành công khi
đem đến cho người đọc không gian và âm hưởng Tây Nguyên. Tác
phẩm xứng đáng là một khúc hùng ca ngợi ca đất nước, con người
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ hào hùng, vĩ đại.

----------------------------------------------------------------------------------“CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” (Nguyễn Minh Châu)
I. Các vấn đề chung:
1. Tác giả Nguyễn Minh Châu: (1930 – 1989)
- Quê: làng Thơi – Quỳnh Hải – Quỳnh Lưu – Nghệ An
- Là nhà văn trưởng thành trong môi trường quân đội. Công tác và chiến
đấu tại sư đoàn 320. Từ 1962, về Phòng Văn nghệ quân đội, sau đó sang
tạp chí văn nghệ quân đội.
"Từ lúc còn nhỏ tôi đã là một thằng bé rụt rè và vô cùng nhút nhát”…
“gần sáu chục tuổi, đến một nơi đông người tôi...
 
Gửi ý kiến