Giáo án tổng hợp

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Hoa Ninh
Ngày gửi: 00h:02' 05-01-2025
Dung lượng: 67.0 KB
Số lượt tải: 8
Nguồn:
Người gửi: Lê Hoa Ninh
Ngày gửi: 00h:02' 05-01-2025
Dung lượng: 67.0 KB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích:
0 người
Limbook Vănhọc
GA12.HSG –TẬP 1
Số: 14.22
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH 11, 12
RÈN KĨ NĂNG ĐƯA DẪN CHỨNG
TÁC PHẨM NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH
TRONG BÀI NLVH CỦA HSG VĂN
A. MỤC ĐÍCH
1.Kiến thức:
Giúp học sinh nắm được những nội dung cơ bản và nâng cao về vấn đề: RÈN
KĨ NĂNG ĐƯA DẪN CHỨNG TÁC PHẨM NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH
TRONG BÀI NLVH CỦA HSG VĂN
2. Kĩ năng:
Rèn kĩ năng từ lý thuyết vận dụng vào làm văn, ứng dụng linh hoạt trong đề học
sinh giỏi.
3. Thái độ: Tự giác, nhiệt huyết trong làm văn và có hứng thú với vấn đề.
B. PHƯƠNG PHÁP, PHƯƠNG TIỆN:
-Phương pháp chung: Giảng lý thuyết, cung cấp lý thuyết theo luận điểm+ cho
học sinh thảo luận, ứng dụng và thu sản phẩm là bài tập về nhà (viết văn).
-Phương pháp cụ thể: Theo từng bài học và vấn đề lý luận sẽ linh hoạt trong
việc giảng hoặc thảo luận.
-Phương tiện:
1
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
+ Tài liệu lý luận văn học: Các chuyên luận, bài giảng, giáo trình, STK của các
Thầy là Giáo sư, tiến sĩ; tài liệu của GV trên toàn quốc và của GV Limbook
Vănhọc
+ Tài liệu về kiến thức văn học sử: Các chuyên luận, bài giảng, giáo trình, STK
của các Thầy là Giáo sư, tiến sĩ; tài liệu của GV trên toàn quốc và của GV
Limbook Vănhọc
+ Tài liệu về kiến thức tác phẩm: Các chuyên luận, bài giảng, giáo trình, STK
của các Thầy là Giáo sư, tiến sĩ; tài liệu của GV trên toàn quốc và của GV
Limbook Vănhọc
+ Tài liệu về kiến thức NLXH: Các chuyên luận, bài giảng, giáo trình, STK của
các Thầy là Giáo sư, tiến sĩ; tài liệu của GV trên toàn quốc và của GV Limbook
Vănhọc
+ Tài liệu liên quan hướng dẫn kĩ năng làm văn của HSG.
C. TIẾN TRÌNH BÀI HỌC
1.Ổn định:
Sĩ số hs đội tuyển:
2. Kiểm tra bài cũ:
- Thu sản phẩm của bài học trước (10 phút):
- Kiểm tra lại 1 phần kiến thức trọng của bài học trước
3. Bài mới: bài giảng được trình bày theo hình thức chuyên đề, chủ yếu cung
cấp một số đơn vị kiến thức lý thuyết.
2
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
HOẠT
ĐỘNG
CỦA NỘI DUNG CHÍNH
GV&HS
GV hd cho hs tìm kiếm, đọc I. CÁCH THỨC ĐỌC & CHỌN TP NGOÀI
và phân tích TPNCT
CHƯƠNG TRÌNH
1. Rèn tư duy đọc, tìm kiếm và nhớ:
* Bước thứ nhất: Xác định thông tin chính, hạt nhân “sự thực” của tác
phẩm.
* Bước thứ hai: Đọc tác phẩm kết hợp với thao tác đánh dấu, ghi chú.
Học sinh tự tạo ra những quy ước để đánh dấu hoặc giáo viên hướng dẫn học
sinh cách ghi chú vắn tắt bằng kí hiệu thông dụng, chẳng hạn như viết tắt các
chữ đầu của mỗi từ, hoặc đánh dấu (?) cho nội dung ghi chú người đọc thấy còn
băn khoăn, dấu (!) cho phần học sinh thấy thích thú, cảm động,... Nội dung ghi
chú là tất cả những gì đến trong cảm nhận, đánh giá, nhận thức,... của học sinh
mà yếu tố đánh dấu gợi ra, những câu hỏi, những phỏng đoán, sự đồng tình,
chia sẻ hoặc phản tiếp nhận, những liên tưởng, những hình dung tưởng tượng,...
Việc ghi chú bên lề chính là cách thức tạo ra sự tương tác giữa độc giả với tác
phẩm, cụ thể trong trường hợp này là với những nội dung đã được đánh dấu
trong tác phẩm đang đọc. Đây sẽ là cơ sở để học sinh nhìn lại tổng thể tác phẩm,
lược thông tin chính, nắm thông điệp cơ bản. Đồng thời dựa vào các ghi chú bên
lề để dễ dàng tìm kiếm dẫn chứng khi cần thiết.
* Bước thứ ba: Tóm tắt để ghi nhớ khái quát nội dung tác phẩm.
4.3. Rèn luyện kĩ năng đọc phân tích bằng chiến lược đi tìm điểm sáng thẩm
mĩ và chiều sâu ý nghĩa của tác phẩm
3
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
* Bước thứ nhất: Tìm và phân tích các thông tin thẩm mĩ và giải mã các
tín hiệu thẩm mĩ của tác phẩm, là hình thức đọc lựa chọn phân tích những chi
tiết nghệ thuật, những hình tượng… hàm chứa năng lượng nghệ thuật cao; hay
đơn giản là những yếu tố giữ vai trò như là thần cú, nhãn tự trong thơ, giọng
điệu, cách ngắt nhịp….
Trong các bài thơ tín hiệu thẩm mỹ thể hiện ở nhạc điệu của các câu thơ,
hình ảnh, cảm xúc...do câu chữ gợi ra
- Đọc để tìm tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật. Ví dụ, chú ý cách sử dụng từ
ngữ của Nguyễn Du khi đọc Truyện Kiều. “Mặt mo đã thấy Sở Khanh lẻn vào”.
Chúng ta thấy, chỉ cần một chữ “lẻn”, Nguyễn Du đã phản ánh đúng cái thần
thái của Sở Khanh: gian manh, xảo quyệt. Hoặc “Ghế trên ngồi tót sổ sàng”.
Chỉ một chữ “tót” thôi, Mã Giám Sinh đã lộ nguyên hình một tên vô học, vô
văn hoá. Còn Hoạn Thư cay độc, nham hiểm thì: “Bề ngoài thơn thớt nói cười/
Mà trong nham hiểm giết người không đao”. Tú Bà thì ngoại hình đã tạo ra sự
ghê sợ cho người đọc: “Thoắt trông nhờn nhợt màu da/ Ăn gì to lớn đẩy đà làm
sao”. Hồ Tôn Hiến dâm ô bỉ ổi: “Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình...”. Nguyễn
Du đã sử dụng những từ rất “đắt” để miêu tả về các nhân vật của mình. Các từ
đó đều rất giàu ý nghĩa, rất chính xác, súc tích và có giá trị biểu cảm cao khi thể
hiện tính cách, phẩm chất, ngoại hình... của nhân vật.
- Đọc để tìm hình tượng văn học. Có rất nhiều loại hình tượng văn học:
con người, thiên nhiên (rừng xà nu), đồ vật (chiếc lược ngà, ngọn đèn), con vật
(con cò, con rùa…). Như vậy, ngôn từ nghệ thuật dùng để xây dựng hình tượng
trong tác phẩm văn học. Hình tượng văn học mang nhiều tầng ý nghĩa khác
nhau. Người đọc phải biết gợi ra, khám phá và hiểu các tầng ý nghĩa khác nhau
ấy. Thông qua hình tượng văn học mà ta có thể hiểu được thế giới nội tâm, tư
tưởng, tình cảm của nhà văn.
+ Hình tượng là thiên nhiên. Ví dụ, bài thơ “Lá diêu bông”của nhà thơ
4
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
Hoàng Cầm. Lá diêu Bông, một sản phẩm từ trí tưởng tượng của nhà thơ Hoàng
Cầm đã làm nên huyền thoại. Huyền thoại bắt đầu từ mối tình của cậu bé 8 tuổi
yêu người con gái tên Vinh đang độ trăng rằm và sau này tác giả viết: Lá Diêu
Bông là chiếc lá huyền thoại, chiếc lá ngây thơ về một tình yêu đầy mộng mị
thời thơ ấu. Lá Diêu Bông là biểu tượng của tình yêu, tình yêu đích thực, nồng
nàn, đắm say mà con người luôn khao khát mỏi mong trong cuộc đời có một lần
bắt gặp. Huyền thoại khi Hoàng Cầm làm bài thơ này (theo hồi kí của tác giả)
do thần linh đọc và nhà thơ chép lại: “ riêng có bài thơ Lá Diêu Bông, duy nhất
một bài này là những lời vẳng bên tai, từ đầu chí cuối, quá nửa đêm mùa rét
1959, trên giường ngủ, trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn ngủ 6 oát”, …Và
xung quanh việc tiếp nhận cũng rất nhiều ý kiến trái ngược nhau với nhiều cách
diễn giải khác nhau… Nhưng sức sống của thi phẩm không phải là những huyền
thoại quanh nó mà chính là những xúc cảm, chiêm nghiệm về tình yêu mang
triết lý sâu xa mà phải đến hơn 30 tuổi thi nhân mới nhận ra. Phải chăng vì lẽ đó
mà 25 năm sau bài thơ mới ra đời.
+ Hình tượng là con người. Ví dụ, Ông Thuấn trong “Tướng về hưu” của
Nguyễn Huy Thiệp là một hình tượng tiêu biểu cho bi kịch của người anh hùng
sau chiến tranh. Năm hai mươi tuổi, ông bước vào cuộc chiến để tìm sự an toàn
cho bản thân sau những xung đột của gia đình. Sau bao năm trong quân ngũ, đời
sống trận mạc đã tôi rèn, đã tạo nên một tướng Thuấn có nhân cách trong sạch,
không vụ lợi. Ông trở về trong niềm vinh dự, tự hào của gia đình, dòng tộc.
Nhưng cũng từ đây cuộc đời của ông bước sang một bước ngoặt mới. Ông trở
về bên cạnh những người thân: người vợ đã bị lẫn, người con trai là kĩ sư của
Viện Vật lý, người con dâu là bác sĩ ở bệnh viện sản. Cuộc sống gia đình ông là
niềm mơ ước của bao gia đình. Thế nhưng lúc nào ông Thuấn cũng thấy mình
cô đơn, lạc lõng. Con đường duy nhất để ông giải thoát nỗi đau, sự bế tắc của
5
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
mình đó là lại được cầm súng và ông đã hi sinh…
+ Hình tượng là con vật, đồ vật. Trong văn học Việt Nam, Nguyễn Tuân
và Tô Hoài là hai nhà văn có sở trường viết về đồ vật. Thụy Khuê cho rằng
“Nguyễn Tuân đã thật sự mở ra một “trường phái đồ vật” của riêng mình, đi
trước các nhà Tiểu thuyết Mới như Alain Robbe-Grillet, Nathalie Sarraute”[21].
Tràn ngập trong tác phẩm của Nguyễn Tuân là đồ vật, sự vật: từ chiếc ấm đất,
cái lư đồng cây đàn đáy, đến món ăn hay con sông… Tâm hồn nghệ sĩ và ngòi
bút tài hoa đã phổ vào những vật vô tri vô giác ấy hơi thở và tiếng nói con
người, qua phận vật để nói về và triết lí về thân phận người.
Có thể nói, phân tích các tín hiệu thẩm mĩ và giải mã các tín hiệu thẩm mĩ
của tác phẩm là rèn luyện đồng thời kỹ năng cụ thể hoá nghệ thuật và khái quát
hoá nghệ thuật cho học sinh.
* Bước thứ ba: Đọc có phản hồi, có phản biện về các giá trị của tác
phẩm và các ý kiến đánh giá của người đi trước về văn bản.
Khi đọc tác phẩm học sinh phải nhận ra giá trị của tác phẩm về nội dung
cũng như nghệ thuật. Đồng thời cũng từ đây khơi gợi học sinh tìm hiểu những
cách đánh giá khác nhau về tác phẩm.
Khi đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du học sinh hiểu rằng có nhiều cách
đánh giá về tác phẩm. Thời trung đại, các nhà nho với học thuyết chính trị đạo
đức nên họ thường tìm từ Truyện Kiều những nguồn cảm hứng bình luận chính
trị, đạo đức, nhân đó bộc lộ con người chính trị đạo đức của mình. Đọc Truyện
Kiều Hoài Thanh, nhấn mạnh ở hai phương diện chống phong kiến và Kiều là
nạn nhân thê thảm của chế độ phong kiến. Sức sống của Kiều làm rạn nứt
khuôn khổ của xã hội phong kiến, thân thế trầm luân của nàng lại là lời tố cáo
những gì độc ác, nhơ nhớp trong xã hội phong kiến. Đến các nhà phê bình
Trương Tửu, Lê Đình Kỵ và các nhà phê bình cách mạng cùng thời thì Kiều và
6
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
các nhân vật khác trong Truyện Kiều là những điển hình giai cấp.
7
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
2. Yêu cầu về phương pháp
Một trong những nguyên tắc hàng đầu của đọc hiểu (tiếp nhận) tác phẩm
văn học là không được thoát li văn bản. Nghĩa là, người tiếp nhận không được
suy diễn một cách tùy tiện, thiếu căn cứ mà phải dựa vào câu chữ và các hình
thức nghệ thuật của văn bản. Trên cơ sở, xem tác phẩm văn học như một cấu
trúc. Cấu trúc tác phẩm văn học là “tổ chức nội tại, sự quan hệ qua lại giữa các
yếu tố của văn bản văn học mà việc thay đổi một yếu tố nào đó sẽ kéo theo sự
biến đổi của các yếu tố khác.(…)” (Lại Nguyên Ân)
Ví dụ, khi đọc Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp) học sinh phải chú ý
Nguyễn Huy Thiệp đã đưa người đọc bước vào một cuộc hành trình đầy chất
thơ. Đó là một sớm xuân: “Cây cối đều nhú lộc non. Rừng xanh ngắt và ẩm ướt.
Thiên nhiên vừa trang trọng vừa tình cảm”. Khung cảnh thanh bình ấy lại
chính là dịp để nhân vật ông Diểu “bắt đầu cuộc đi săn”. Nhân vật đi vào rừng
mang theo bao hệ lụy trần thế ám ảnh. Ông nhìn thiên nhiên cũng như cách ông
đánh giá về cuộc đời. Bắt đầu từ lúc tiếp cận đàn khỉ “không buồn, không vui,
không lo lắng cũng không tính toán” đến “mỉm cười và chăm chú nhìn”. Rồi và
cuối cùng là “niềm vui nhen lên từ khi ở nhà ra đi trong ông vơi đi một nữa”.
Ông quyết định bắn hạ con khỉ đực với “một tiếng súng dữ dội”. Ông Diểu làm
điều ác và tại thời điểm đó ông vẫn hài lòng với kết quả dù có chút “run lên”
như “người vừa mới làm xong việc nặng”. Nhưng khi nhìn đôi mắt con khỉ đực,
người đàn ông ấy bổng dấy lên một niềm “thương hại” và “mủi lòng”. Hành
động “tránh nhìn vào đôi mắt” ông Diểu chuyển từ tâm trạng hài lòng khi làm
điều ác sang trạng thái hoảng loạn, bối rối. Ông tìm cách “hái lá đắp cho con
khỉ” hay loay hoay “cởi chiếc quần lót” – mảnh giáp cuối cùng trên cơ thể để
băng bó cho nó. Trải qua một hành trình vất vả, chứng kiến và suy nghiệm
nhiều thứ, đặc biệt là hình ảnh con khỉ con rơi xuống vực sâu thăm thẳm và con
8
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
khỉ cái cứ kiên trì lẽo đẽo theo ông đi xuyên rừng, người đàn ông ấy chợt cảm
thấy “cay cay sống mũi” và thức nhận “một nỗi buồn tê tái đến tận đáy lòng”.
Những tâm trạng và hành động không nhất quán ấy biểu hiện cho một sự giằng
xé nội tâm giữa tham vọng và tình thương, giữa khả năng của một ông già và
sức mạnh của thiên nhiên, giữa phần “con” và phần “người” cũng chính là cái
ác và tính thiện trong nhân vật....
Mỗi yếu tố của hình thức đều gắn liền với một nội dung cụ thể, biểu hiện
nội dung cụ thể. Song, cần phải nhận thức rõ, hình thức của tác phẩm không
phải là những yếu tố riêng lẻ, rời rạc mà là một hệ thống hình thức chỉnh thể.
Cái hay, cái đẹp của nội dung phải được phân tích, chỉ ra, cảm nhận, thưởng
thức và đánh giá thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản. Và như vậy, trong
quá trình rèn luyện kỹ năng đọc phân tích học sinh cần nắm được các hình thức
nghệ thuật mà nhà văn vận dụng để tạo nên hình tượng văn học và thế giới nghệ
thuật trong tác phẩm.
Ngoài ra, đọc hiểu tác phẩm không thể không chú ý đến đặc trưng thể
loại. Mỗi văn bản được viết theo một thể loại nào đó và thể loại ấy sẽ “buộc”
tác giả lựa chọn một số yếu tố hình thức nghệ thuật phù hợp để thể hiện nội
dung.
Đọc hiểu tác phẩm trữ tình cần chú ý một số yếu tố sau:
- Cần chỉ ra cái riêng, nét đặc sắc của nhân vật trữ tình.
- Tìm ra cái tứ của bài thơ.
- Cần chú ý đến nhạc tính của bài thơ.
- Chú ý đến cả giọng điệu, nhịp điệu, hình ảnh và ngôn ngữ của thơ. (…)
Đọc hiểu tác phẩm tự sự thông thường, người ta chú ý đến các yếu tố
sau:
- Tình tiết, cốt truyện, kết cấu, nhân vật;
9
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
- Ngôn ngữ nghệ thuật;
- Tình huống truyện, nghệ thuật trần thuật;
- Giọng điệu, nhịp điệu, lời văn
- (...)
10
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
3.Yêu cầu của chọn dẫn chứng :
GV lưu ý : việc chọn d/c TP ngoài chương trình cũng có nguyên tắc giống
chọn d/c TP trong chương trình.
GV yêu cầu hs nhắc lại cách thức chọn DC TP nói chung trong đề NLVH của
HSG.
Yêu cầu của dẫn chứng
Dẫn chứng có vai trò quan trọng. Tuy nhiên khi đưa dẫn chứng vào bài văn
nghị luận, học sinh cần lưu ý những vấn đề sau:
Thứ nhất: Dẫn chứng phải chính xác
Nếu không đảm bảo được yếu tố chính xác, dẫn chứng sẽ không làm sáng
rõ được luận điểm. Đối với dẫn chứng là thơ, người viết cần trích dẫn đúng
nguyên văn. Đối với văn xuôi thì tóm lược ý nhưng cần đảm bảo tính chính xác
về nội dung, tác giả, tác phẩm. Có không ít trường hợp trích dẫn sai dẫn chứng,
chẳng hạn như trường hợp trích dẫn ngữ liệu từ bài thơ “Tây Tiến” của tác giả
Quang Dũng: Trôi dòng nước lũ hoa đung đưa (Đúng phải là Trôi dòng nước lũ
hoa đong đưa); hoặc trích dẫn thiếu chi tiết quan trọng dẫn tới hiểu sai vấn đề
như trong “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam. Lý do An và Liên cố thức để
đợi tàu là vì An và Liên đã buồn ngủ ríu cả mắt nhưng vẫn gượng thức đến khi
tàu xuống để bán hàng theo lời mẹ dặn ( Đúng phải là Liên không trông mong
còn ai đến mua nữa và em cố thức là vì cớ khác, vì muốn được nhìn thấy
chuyến tàu đó là sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya)
Những sai sót này ảnh hưởng không nhỏ đến tính thuyết phục của bài văn
nghị luận. Do đó, lấy dẫn chứng trong văn nghị luận phải đảm bảo sự chính xác
Thứ hai: Dẫn chứng phải cần và đủ
Trước hết, người viết cần xác định dẫn chứng bắt buộc cần phải có căn cứ
11
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
vào giới hạn phạm vi tư liệu trong đề bài. Bên cạnh những dẫn chứng mang tính
chất bắt buộc người viết cần đưa thêm những dẫn chứng để có sự liên hệ, so
sánh.
Bài văn nghị luận cần có đủ dẫn chứng. Lấy quá ít dẫn chứng thì vấn đề
nghị luận sẽ không được làm sáng tỏ. Tuy nhiên, nếu đưa quá nhiều dẫn chứng
vào bài sẽ khiến bài văn nghị luận bị loãng. Bởi vậy, khi đưa dẫn chứng vào bài
cần lưu ý yếu tố cần và đủ, không thiếu dẫn chứng nhưng cũng không có quá
nhiều dẫn chứng. Việc đưa dẫn chứng tùy thuộc vào việc có bao nhiêu vấn đề
được nêu ra trong luận điểm. Thông thường, với mỗi một lí lẽ, người viết cần
đưa ra ít nhất một dẫn chứng đi kèm.
Thứ ba: dẫn chứng phải điển hình, tiêu biểu,có tính mới
Ngoài việc đưa dẫn chứng phong phú, người viết còn cần biết chọn lọc dẫn
chứng, ưu tiên những dẫn chứng điển hình và tiêu biểu cho thời kì, giai đoạn,
trào lưu văn học. Những tác phẩm văn học được lựa chọn cũng cần tiêu biểu
cho phong cách, sự nghiệp của tác giả. Đồng thời cũng cần chú ý tới các tác
phẩm mới (ngoài chương trình SGK) để tạo nên sức hấp dẫn riêng trong bài
làm, thể hiện được vốn kiến thức phong phú, cập nhật của người viết
Ví dụ: khi viết về phong trào Thơ mới không thể không nhắc tới các tác
phẩm của những đại diện tiêu biểu như: Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận,
Nguyễn Bính...; trào lưu hiện thực phê phán của Việt Nam giai đoạn 1930-1945
có các đại diện như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam
Cao, Nguyên Hồng…văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa có Hồ Chí Minh, Tố
Hữu, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Nguyễn Quang Sáng…
Thứ tư: dẫn chứng phải logic và hệ thống
Khi đưa dẫn chứng trong văn nghị luận, người viết cần đảm bảo tính hệ
thống. Nghĩa là các dẫn chứng phải được sắp xếp theo một trình tự, quy luật
nhất định. Ví dụ như việc sắp xếp dẫn chứng theo trục thời gian tuyến tính (từ
12
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
lịch sử, quá khứ đến thời điểm hiện tại). Hoặc theo chiều không gian (từ rộng
đến hẹp, từ xa đến gần,…. hoặc ngược lại). Tính hệ thống sẽ giúp cho người
viết tránh được tình trạng đưa dẫn chứng một cách tràn lan và mất kiểm soát.
Thứ năm: dẫn chứng phải được phân tích.
Khi đưa dẫn chứng vào bài, cần kết hợp với việc phân tích, đánh giá dẫn
chứng. Thao tác này sẽ khiến cho dẫn chứng phát huy hết vai trò, hiệu quả. Nếu
không phân tích, đánh giá, bài văn sẽ trở nên hời hợt, sáo rỗng, không sâu sắc
và không đủ sức thuyết phục người đọc. Để làm được điều này, người viết cần
hiểu đúng, đánh giá đúng và cảm thụ đúng về giá trị của dẫn chứng. Khi phân
tích, chỉ lựa chọn nội dung phù hợp, có tác dụng làm sáng tỏ vấn đề nghị luận
chứ không phân tích tỉ mỉ, chi tiết toàn bộ dẫn chứng ở tất cả các phương diện.
GV hướng dẫn hs phân tích qua ví dụ :
Ví dụ 1: Có ý kiến cho rằng: cảm xúc trong thơ trữ tình vừa tươi mới vừa
đầy tính chiêm nghiệm.
Anh, chị hãy bình luận ý kiến trên và làm sáng tỏ ý kiến đó qua bài thơ Vội
vàng của Xuân Diệu.
Ở đề này, bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu là dẫn chứng bắt buộc mà
người viết phải trích dẫn, phân tích.
Nhưng trong quá trình viết bài, người viết có thể so sánh với các bài thơ
khác của Xuân Diệu, của nhiều nhà thơ cùng thời khác để làm nổi bật sự tươi
mới và tính chiêm nghiệm trong cảm xúc của Xuân Diệu trong Vội vàng. Tất cả
những tác phẩm trích dẫn ngoài bài thơ Vội vàng đều là những dẫn chứng mở
rộng.
Ví dụ 2: Trả lời phỏng vấn của báo Văn Nghệ số Tết Bính Dần (1986)
Nguyễn Tuân nói: “ Tôi quan niệm đã viết văn phải cố viết cho hay và viết đúng
cái tạng của riêng mình. Văn chương cần sự độc đáo hơn trong bất kì lĩnh vực
nào khác”.
13
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
Bằng hiểu biết về các tác phẩm tiêu biểu của một trong số các nhà văn
Thạch Lam, Nam Cao, hãy bình luận và làm sáng tỏ ý kiến trên.
Với đề này, trước hết học sinh phải lựa chọn một trong số hai tác giả
Thạch Lam, Nam Cao. Chọn và phân tích các tác phẩm tiêu biểu nhất để làm rõ
cái tạng của nhà văn. Đó là các dẫn chứng bắt buộc. Ví dụ như viết về tác giả
Thạch Lam thì có thể chọn các tác phẩm như: Hai đứa trẻ, Nhà mẹ Lê, Gió lạnh
đầu mùa, Dưới bóng hoàng lan...; tác giả Nam Cao thì có thể chọn: Chí Phèo,
Lão Hạc, Đời thừa, Sống mòn...
Đồng thời, người viết cần so sánh, đối chiếu với các tác giả khác như:
Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Nguyễn Minh Châu ... để làm
nổi bật cái tạng riêng của Thạch Lam hoặc Nam Cao. Đây chính là các dẫn
chứng mở rộng.
Khi xác định rõ ràng hai loại dẫn chứng, người viết cần tập trung phân tích
khai thác dẫn chứng bắt buộc một cách triệt để và sâu sắc. Tránh tình trạng dẫn
chứng mở rộng lại nhiều hơn, khai thác sâu hơn dẫn tới việc lấn át cả dẫn chứng
bắt buộc. Nghĩa là dẫn chứng mở rộng chỉ được đưa ra để góp phần liên hệ, so
sánh nhằm làm nổi bật vấn đề, thể hiện tầm hiều biết rộng rãi của người viết.
Trong những năm gần đây, đề văn đòi hỏi người viết tự lựa chọn dẫn
chứng dựa trên những trải nghiệm văn học của bản thân.
Nhà thơ Huy Cận khi bàn về sự giao thoa giữa các phương pháp sáng tác,
trào lưu, thể loại...đã khẳng định: Tác phẩm cao đẹp thì bất chấp sự chia ô hoặc
nói đúng hơn là cái hay, cái đẹp đó nó tràn ngập các ô mà chúng ta đã ngăn
sẵn.
Anh( chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng hiểu biết của anh chị về văn
học, hãy chọn những tác phẩm anh chị cho là thể hiện rõ nhất sự giao thoa để
làm sáng tỏ nhận định trên.
Để làm sáng tỏ vấn đề trong đề bài trên thì người viết phải tự mình xác
14
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
định và lựa chọn dẫn chứng cho phù hợp, tiêu biểu. Học sinh có thể triển khai
trên nhiều trục giao thoa như phương pháp sáng tác, thể loại, tư tưởng ...trên
những tác giả tiêu biểu trong chương trình là Tú Xương (trào phúng – trữ tình);
Thạch Lam, Quang Dũng (hiện thực – lãng mạn); Xuân Diệu (truyện – thơ);
Thanh Thảo (tượng trưng – siêu thực)...Học sinh có thể dùng dẫn chứng ngoài
chương trình, văn học nước ngoài...miễn sao phân tích được giá trị của sự giao
thoa ấy tạo nên cái hay, cái đẹp cho tác phẩm.
Ở kiểu đề này, không yêu cầu quá nặng về kiến thức lí luận mà đánh giá
cao sự thông minh và sắc sảo của học sinh trong việc lựa chọn và phân tích dẫn
chứng.
GV giảng bổ sung:
VD đề: Mỗi hình tượng nhân
Hướng dẫn:
Học sinh cần nhận thức về đề như sau:
vật phụ nữ thực sự thành công Nhận định nêu trong đề bài nhấn mạnh việc
bao giờ cũng là kết quả của phát hiện phương diện nữ tính của người phụ
sự phát hiện sâu sắc về nữ nữ trong quá trình sáng tạo là nhân tố có ý
tính. Bằng việc phân tích một nghĩa quyết định sự thành công của hình tượng
số nhân vật phụ nữ tiêu biểu nhân vật phụ nữ trong tác phẩm. Đồng thời
trong các tác phẩm đã học từ thấy được, nhận định cũng gián tiếp đề cập đến
văn học dân gian đến văn học một yêu cầu không thể thiếu đối với người
hiện đại, anh/chị hãy làm sáng nghệ sĩ chân chính: gắn bó với đời sống, hiểu
tỏ nhận định trên
biết kĩ lưỡng về cuộc sống, về con người; trong
đó, có việc nhận thức thực sự sâu sắc về giới.
Cần chỉ rõ: đây là một nhận định đúng đắn, sâu
sắc đề cập đến một trong những yêu cầu cao về
chất lượng đối với sáng tạo nghệ thuật.
Sau khi xác định đúng vấn đề nghị luận,
15
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
người viết cần lựa chọn được một số hình
tượng nhân vật phụ nữ tiêu biểu trong các tác
phẩm từ văn học dân gian cho đến văn học hiện
đại đã học, không hạn định về thể loại, về tác
phẩm trong nước hay nước ngoài. Có thể chọn
các bài ca dao có mô típ mở đầu là Thân em,
Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, thơ Hồ Xuân
Hương, thơ Xuân Quỳnh, nhân vật Phăng-tin
(Những người khốn khổ)…
VD 3:
VD3: Pt
Văn học chân chính ngay cả
Học sinh cần tập trung vào các từ ngữ
khi nói về cái xấu, cái ác cũng Văn học chân chính ;cái xấu, cái ác; cái đẹp,
chỉ nhằm thể hiện khát vọng cái thiện để xác định vấn đề nghị luận là một
về cái đẹp, cái thiện. Suy nghĩ quy luật của văn học nói riêng và nghệ thuật
của anh/chị về ý kiến trên.
nói chung: luôn luôn hướng đến cái đẹp. Ngay
cả khi nói về cái xấu, cái ác cũng phải là tạo
“cớ” để thể hiện khát vọng vươn tới cái cao cả
và đẹp đẽ, để bồi dưỡng năng lực thẩm mĩ của
con người. Đó cũng chính là giá trị thẩm mỹ
của văn học.
Như vậy, có thể chọn lựa các tác phẩm như:
Tấm Cám, Truyện Kiều (Nguyễn Du), Chí Phèo
(Nam Cao), Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), Chiếc
thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Nhà
16
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
thờ Đức Bà Paris (Victor - Hugo)
THỰC HÀNH VẬN DỤNG TP NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH
TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
Yêu cầu:
+ Vận dụng một phần kiến thức tác phẩm ngoài chương trình vào đề
nghị luận văn học
+ Vận dụng phải linh hoạt, theo nhiều hình thức khác nhau.
+ Đọc bài văn mẫu sau và rút ra các cách khác nhau trong việc vận
dụng TPNCT:
Đề 1. Bàn về nghề văn, nếu nhà văn Pautốpxki cho rằng: “Thiên chức
của nhà văn là người dẫn đường vào xứ sở cái đẹp” thì Gô – gôn khẳng định
“Có những thời đại nếu không chỉ ra tận cùng toàn bộ cái xấu xa, đê tiện của
cuộc sống hiện tại thì ta sẽ không có cách nào để hướng xã hội tới cái Đẹp”.
Giải thích và trình bày ý kiến của anh/ chị về hai nhận định trên qua
tác phẩm trong và ngoài chương trình
Bài làm
Mỗi trang văn không phải lúc nào cũng rực rỡ như ánh nắng sớm mai
mùa hạ, đẹp đẽ như nụ hoa chớm nở đầu xuân, ấm áp như ánh lửa hồng trong
đêm giá rét và yên bình như mặt đất đón nhận chiếc lá thu rơi xào xạc tìm về
với nguồn cội. Nó còn là những mảng màu tối của bức tranh hiện thực, là những
cơn mưa bão xối xả, ào ạt trước khi để lại trên nền trời vẻ đẹp bảy sắc cầu vồng.
Chẳng thế mà khi bàn về nghề văn Pauxtôpxki cho rằng: "Thiên chức của Nhà
văn là người dẫn đường vào xứ sở cái đẹp", còn Gô- gôn khẳng định" Có những
thời đại nếu không chỉ ra tận cùng toàn bộ cái xấu xa, đê tiện của cuộc sống
hiện tại thì sẽ không có cách nào để hướng xã hội tới cái đẹp." Bài thơ " Cảnh
ngày hè" (Nguyễn Trãi) và hai truyện ngắn "Người ngựa ngựa người (Nguyễn
Công Hoan), " Nhà mẹ Lê" (Thạch Lam) chính là những minh chứng sáng giá
17
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
cho hai nhận định trên.
Hành trình vươn tới nghệ thuật đích thực của người nghệ sĩ là hành trình
khám phá những vẻ đẹp của cuộc đời, hình thành nên những giá trị tốt đẹp trong
trí nhớ và trái tim người đọc. "Đã là văn chương thì phải đẹp" (Nguyên Ngọc)
và đối với Pauxtốpxki cái đẹp đã trở thành bến đỗ cho tâm hồn người nghệ sĩ
nuôi dưỡng bao hương thơm và trái ngọt cho cuộc đời. " Xứ sở của cái đẹp"
chính là những vẻ đẹp của hiện thực cuộc sống con người được nhà văn khẳng
định và ca ngợi. Đó còn là sự hòa quyện với lớp ngôn từ lấp lánh, độc đáo. Ngòi
bút của nhà văn đã mở ra cho người đọc cái nhìn thẩm mĩ mới mẻ, sâu sắc về
cuộc đời, đem đến cho người đọc những giá trị mang tính nhân văn, hướng tới
chân -thiện- mỹ. Pauxtopxki đã coi đó là "thiên chức" như một sứ mệnh, nhiệm
vụ cao cả khi người nghệ sĩ đến với văn chương. "Người dẫn đường" là người
mở ra lối đi ngã rẽ mà trong văn chương người nghệ sĩ đã dùng ngôn từ để vẽ
đường đi cho mọi tâm hồn có thể đặt chân vào thế giới của cái đẹp. Nhà văn đã
dựng nên một thiên đường, nơi ấy có tiếng ca về những giá trị nhân văn nhân
bản, có vẻ đẹp muôn màu của bức tranh hiện thực. Nhưng theo Gô- gôn "có
những thời đại", nhiệm vụ của Nhà văn là "chỉ ra tận cùng toàn bộ cái xấu xa đê
tiện của cuộc sống hiện tại". Đây chính là khi người nghệ sĩ nhìn cuộc đời với
những gì trần trụi nhất, tái hiện tất cả những mặt tối tăm mù mịt của bức tranh
hiện thực. Tác phẩm văn chương đâu chỉ khoác lên mình chiếc áo choàng lộng
lẫy mà nó còn sống với những phần bần tiện, thấp hèn nhất của bộ mặt hiện
thực. Nếu không vạch trần được những góc khuất xấu xa, những đám mây u ám
đang vây kín bầu trời đẹp đẽ kia thì "sẽ không còn cách nào để hướng xã hội tới
cái đẹp". Pauxtopxki đã nhìn ra một ngả đường khác để người nghệ sĩ hoàn
thành trách nhiệm nghệ thuật của mình. Song những trang văn dù có là thiên
đường của cái đẹp hay phản chiếu những cái xấu xa, đê tiện thì cuối cùng nó
vẫn giúp người đọc nhận ra giá trị đích thực của đời sống. Với cách nói khẳng
18
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
định của Pauxtôpxki và cách lập luận bác bỏ của Gô- gôn hai nhận định trên đã
bổ sung cho nhau nhấn mạnh đặc trưng, giá trị của văn học cũng như để lại cho
người nghệ sĩ con đường sáng tạo đúng đắn: Người nghệ với sứ mệnh nghệ
thuật của mình có thể dẫn người đọc đến thế giới của cái đẹp nhưng đôi khi lại
phản ánh những cái xấu xa, thấp hèn để khẳng định những giá trị chân - thiện mỹ.
Hai nhận định trên cùng song song bổ sung cho nhau tạo thành một quy
luật sáng tạo hài hòa, thống nhất. "Cái đẹp là điều kiện không thể thiếu của nghệ
thuật" (Bêlinxki). Đó như một chân lý theo suốt quá trình sáng tạo của người
nghệ sĩ. Người ta đến với tác phẩm đâu chỉ đơn giản là đón nhận một thành quả
lao động nghệ thuật của nhà văn mà còn muốn nhìn thấy được những bài học
nhân sinh sâu sắc, hướng đến những hành động có ý nghĩa và thưởng thức
những giá trị thẩm mĩ mới mẻ đặc sắc. Bởi vậy mà kết đọng lại trên trang văn
của người nghệ sĩ là cái nhìn đầy nhân văn trước cuộc đời, hướng tới những gì
chân- thiện- mỹ. Chính người nghệ sĩ đã dùng tài năng và tấm lòng mình đánh
động nhiều âm vang trong lòng người đọc, biến quá trình tiếp nhận tác phẩm
thành quá trình tự nhận thức, giúp người đọc hoàn thiện bản thân. Vẻ đẹp của
lớp ngôn từ độc đáo cùng hòa quyện với vẻ đẹp của bức tranh cuộc sống con
người mà nhà văn phản ánh tạo nên một chỉnh thể của cái đẹp mà bất kỳ người
nghệ sĩ nào cũng muốn hướng đến. Nhưng mỗi người lại chọn một lối đi riêng,
một cách thức khác nhau để cập đến bến bờ của cái đẹp. Có người trực tiếp ca
ngợi cái đẹp, có người lại bắt đầu từ những mặt tối tăm nhất của cuộc sống. Vì
"cuộc đời là nơi xuất phát và cũng là nơi đ...
GA12.HSG –TẬP 1
Số: 14.22
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH 11, 12
RÈN KĨ NĂNG ĐƯA DẪN CHỨNG
TÁC PHẨM NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH
TRONG BÀI NLVH CỦA HSG VĂN
A. MỤC ĐÍCH
1.Kiến thức:
Giúp học sinh nắm được những nội dung cơ bản và nâng cao về vấn đề: RÈN
KĨ NĂNG ĐƯA DẪN CHỨNG TÁC PHẨM NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH
TRONG BÀI NLVH CỦA HSG VĂN
2. Kĩ năng:
Rèn kĩ năng từ lý thuyết vận dụng vào làm văn, ứng dụng linh hoạt trong đề học
sinh giỏi.
3. Thái độ: Tự giác, nhiệt huyết trong làm văn và có hứng thú với vấn đề.
B. PHƯƠNG PHÁP, PHƯƠNG TIỆN:
-Phương pháp chung: Giảng lý thuyết, cung cấp lý thuyết theo luận điểm+ cho
học sinh thảo luận, ứng dụng và thu sản phẩm là bài tập về nhà (viết văn).
-Phương pháp cụ thể: Theo từng bài học và vấn đề lý luận sẽ linh hoạt trong
việc giảng hoặc thảo luận.
-Phương tiện:
1
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
+ Tài liệu lý luận văn học: Các chuyên luận, bài giảng, giáo trình, STK của các
Thầy là Giáo sư, tiến sĩ; tài liệu của GV trên toàn quốc và của GV Limbook
Vănhọc
+ Tài liệu về kiến thức văn học sử: Các chuyên luận, bài giảng, giáo trình, STK
của các Thầy là Giáo sư, tiến sĩ; tài liệu của GV trên toàn quốc và của GV
Limbook Vănhọc
+ Tài liệu về kiến thức tác phẩm: Các chuyên luận, bài giảng, giáo trình, STK
của các Thầy là Giáo sư, tiến sĩ; tài liệu của GV trên toàn quốc và của GV
Limbook Vănhọc
+ Tài liệu về kiến thức NLXH: Các chuyên luận, bài giảng, giáo trình, STK của
các Thầy là Giáo sư, tiến sĩ; tài liệu của GV trên toàn quốc và của GV Limbook
Vănhọc
+ Tài liệu liên quan hướng dẫn kĩ năng làm văn của HSG.
C. TIẾN TRÌNH BÀI HỌC
1.Ổn định:
Sĩ số hs đội tuyển:
2. Kiểm tra bài cũ:
- Thu sản phẩm của bài học trước (10 phút):
- Kiểm tra lại 1 phần kiến thức trọng của bài học trước
3. Bài mới: bài giảng được trình bày theo hình thức chuyên đề, chủ yếu cung
cấp một số đơn vị kiến thức lý thuyết.
2
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
HOẠT
ĐỘNG
CỦA NỘI DUNG CHÍNH
GV&HS
GV hd cho hs tìm kiếm, đọc I. CÁCH THỨC ĐỌC & CHỌN TP NGOÀI
và phân tích TPNCT
CHƯƠNG TRÌNH
1. Rèn tư duy đọc, tìm kiếm và nhớ:
* Bước thứ nhất: Xác định thông tin chính, hạt nhân “sự thực” của tác
phẩm.
* Bước thứ hai: Đọc tác phẩm kết hợp với thao tác đánh dấu, ghi chú.
Học sinh tự tạo ra những quy ước để đánh dấu hoặc giáo viên hướng dẫn học
sinh cách ghi chú vắn tắt bằng kí hiệu thông dụng, chẳng hạn như viết tắt các
chữ đầu của mỗi từ, hoặc đánh dấu (?) cho nội dung ghi chú người đọc thấy còn
băn khoăn, dấu (!) cho phần học sinh thấy thích thú, cảm động,... Nội dung ghi
chú là tất cả những gì đến trong cảm nhận, đánh giá, nhận thức,... của học sinh
mà yếu tố đánh dấu gợi ra, những câu hỏi, những phỏng đoán, sự đồng tình,
chia sẻ hoặc phản tiếp nhận, những liên tưởng, những hình dung tưởng tượng,...
Việc ghi chú bên lề chính là cách thức tạo ra sự tương tác giữa độc giả với tác
phẩm, cụ thể trong trường hợp này là với những nội dung đã được đánh dấu
trong tác phẩm đang đọc. Đây sẽ là cơ sở để học sinh nhìn lại tổng thể tác phẩm,
lược thông tin chính, nắm thông điệp cơ bản. Đồng thời dựa vào các ghi chú bên
lề để dễ dàng tìm kiếm dẫn chứng khi cần thiết.
* Bước thứ ba: Tóm tắt để ghi nhớ khái quát nội dung tác phẩm.
4.3. Rèn luyện kĩ năng đọc phân tích bằng chiến lược đi tìm điểm sáng thẩm
mĩ và chiều sâu ý nghĩa của tác phẩm
3
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
* Bước thứ nhất: Tìm và phân tích các thông tin thẩm mĩ và giải mã các
tín hiệu thẩm mĩ của tác phẩm, là hình thức đọc lựa chọn phân tích những chi
tiết nghệ thuật, những hình tượng… hàm chứa năng lượng nghệ thuật cao; hay
đơn giản là những yếu tố giữ vai trò như là thần cú, nhãn tự trong thơ, giọng
điệu, cách ngắt nhịp….
Trong các bài thơ tín hiệu thẩm mỹ thể hiện ở nhạc điệu của các câu thơ,
hình ảnh, cảm xúc...do câu chữ gợi ra
- Đọc để tìm tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật. Ví dụ, chú ý cách sử dụng từ
ngữ của Nguyễn Du khi đọc Truyện Kiều. “Mặt mo đã thấy Sở Khanh lẻn vào”.
Chúng ta thấy, chỉ cần một chữ “lẻn”, Nguyễn Du đã phản ánh đúng cái thần
thái của Sở Khanh: gian manh, xảo quyệt. Hoặc “Ghế trên ngồi tót sổ sàng”.
Chỉ một chữ “tót” thôi, Mã Giám Sinh đã lộ nguyên hình một tên vô học, vô
văn hoá. Còn Hoạn Thư cay độc, nham hiểm thì: “Bề ngoài thơn thớt nói cười/
Mà trong nham hiểm giết người không đao”. Tú Bà thì ngoại hình đã tạo ra sự
ghê sợ cho người đọc: “Thoắt trông nhờn nhợt màu da/ Ăn gì to lớn đẩy đà làm
sao”. Hồ Tôn Hiến dâm ô bỉ ổi: “Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình...”. Nguyễn
Du đã sử dụng những từ rất “đắt” để miêu tả về các nhân vật của mình. Các từ
đó đều rất giàu ý nghĩa, rất chính xác, súc tích và có giá trị biểu cảm cao khi thể
hiện tính cách, phẩm chất, ngoại hình... của nhân vật.
- Đọc để tìm hình tượng văn học. Có rất nhiều loại hình tượng văn học:
con người, thiên nhiên (rừng xà nu), đồ vật (chiếc lược ngà, ngọn đèn), con vật
(con cò, con rùa…). Như vậy, ngôn từ nghệ thuật dùng để xây dựng hình tượng
trong tác phẩm văn học. Hình tượng văn học mang nhiều tầng ý nghĩa khác
nhau. Người đọc phải biết gợi ra, khám phá và hiểu các tầng ý nghĩa khác nhau
ấy. Thông qua hình tượng văn học mà ta có thể hiểu được thế giới nội tâm, tư
tưởng, tình cảm của nhà văn.
+ Hình tượng là thiên nhiên. Ví dụ, bài thơ “Lá diêu bông”của nhà thơ
4
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
Hoàng Cầm. Lá diêu Bông, một sản phẩm từ trí tưởng tượng của nhà thơ Hoàng
Cầm đã làm nên huyền thoại. Huyền thoại bắt đầu từ mối tình của cậu bé 8 tuổi
yêu người con gái tên Vinh đang độ trăng rằm và sau này tác giả viết: Lá Diêu
Bông là chiếc lá huyền thoại, chiếc lá ngây thơ về một tình yêu đầy mộng mị
thời thơ ấu. Lá Diêu Bông là biểu tượng của tình yêu, tình yêu đích thực, nồng
nàn, đắm say mà con người luôn khao khát mỏi mong trong cuộc đời có một lần
bắt gặp. Huyền thoại khi Hoàng Cầm làm bài thơ này (theo hồi kí của tác giả)
do thần linh đọc và nhà thơ chép lại: “ riêng có bài thơ Lá Diêu Bông, duy nhất
một bài này là những lời vẳng bên tai, từ đầu chí cuối, quá nửa đêm mùa rét
1959, trên giường ngủ, trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn ngủ 6 oát”, …Và
xung quanh việc tiếp nhận cũng rất nhiều ý kiến trái ngược nhau với nhiều cách
diễn giải khác nhau… Nhưng sức sống của thi phẩm không phải là những huyền
thoại quanh nó mà chính là những xúc cảm, chiêm nghiệm về tình yêu mang
triết lý sâu xa mà phải đến hơn 30 tuổi thi nhân mới nhận ra. Phải chăng vì lẽ đó
mà 25 năm sau bài thơ mới ra đời.
+ Hình tượng là con người. Ví dụ, Ông Thuấn trong “Tướng về hưu” của
Nguyễn Huy Thiệp là một hình tượng tiêu biểu cho bi kịch của người anh hùng
sau chiến tranh. Năm hai mươi tuổi, ông bước vào cuộc chiến để tìm sự an toàn
cho bản thân sau những xung đột của gia đình. Sau bao năm trong quân ngũ, đời
sống trận mạc đã tôi rèn, đã tạo nên một tướng Thuấn có nhân cách trong sạch,
không vụ lợi. Ông trở về trong niềm vinh dự, tự hào của gia đình, dòng tộc.
Nhưng cũng từ đây cuộc đời của ông bước sang một bước ngoặt mới. Ông trở
về bên cạnh những người thân: người vợ đã bị lẫn, người con trai là kĩ sư của
Viện Vật lý, người con dâu là bác sĩ ở bệnh viện sản. Cuộc sống gia đình ông là
niềm mơ ước của bao gia đình. Thế nhưng lúc nào ông Thuấn cũng thấy mình
cô đơn, lạc lõng. Con đường duy nhất để ông giải thoát nỗi đau, sự bế tắc của
5
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
mình đó là lại được cầm súng và ông đã hi sinh…
+ Hình tượng là con vật, đồ vật. Trong văn học Việt Nam, Nguyễn Tuân
và Tô Hoài là hai nhà văn có sở trường viết về đồ vật. Thụy Khuê cho rằng
“Nguyễn Tuân đã thật sự mở ra một “trường phái đồ vật” của riêng mình, đi
trước các nhà Tiểu thuyết Mới như Alain Robbe-Grillet, Nathalie Sarraute”[21].
Tràn ngập trong tác phẩm của Nguyễn Tuân là đồ vật, sự vật: từ chiếc ấm đất,
cái lư đồng cây đàn đáy, đến món ăn hay con sông… Tâm hồn nghệ sĩ và ngòi
bút tài hoa đã phổ vào những vật vô tri vô giác ấy hơi thở và tiếng nói con
người, qua phận vật để nói về và triết lí về thân phận người.
Có thể nói, phân tích các tín hiệu thẩm mĩ và giải mã các tín hiệu thẩm mĩ
của tác phẩm là rèn luyện đồng thời kỹ năng cụ thể hoá nghệ thuật và khái quát
hoá nghệ thuật cho học sinh.
* Bước thứ ba: Đọc có phản hồi, có phản biện về các giá trị của tác
phẩm và các ý kiến đánh giá của người đi trước về văn bản.
Khi đọc tác phẩm học sinh phải nhận ra giá trị của tác phẩm về nội dung
cũng như nghệ thuật. Đồng thời cũng từ đây khơi gợi học sinh tìm hiểu những
cách đánh giá khác nhau về tác phẩm.
Khi đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du học sinh hiểu rằng có nhiều cách
đánh giá về tác phẩm. Thời trung đại, các nhà nho với học thuyết chính trị đạo
đức nên họ thường tìm từ Truyện Kiều những nguồn cảm hứng bình luận chính
trị, đạo đức, nhân đó bộc lộ con người chính trị đạo đức của mình. Đọc Truyện
Kiều Hoài Thanh, nhấn mạnh ở hai phương diện chống phong kiến và Kiều là
nạn nhân thê thảm của chế độ phong kiến. Sức sống của Kiều làm rạn nứt
khuôn khổ của xã hội phong kiến, thân thế trầm luân của nàng lại là lời tố cáo
những gì độc ác, nhơ nhớp trong xã hội phong kiến. Đến các nhà phê bình
Trương Tửu, Lê Đình Kỵ và các nhà phê bình cách mạng cùng thời thì Kiều và
6
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
các nhân vật khác trong Truyện Kiều là những điển hình giai cấp.
7
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
2. Yêu cầu về phương pháp
Một trong những nguyên tắc hàng đầu của đọc hiểu (tiếp nhận) tác phẩm
văn học là không được thoát li văn bản. Nghĩa là, người tiếp nhận không được
suy diễn một cách tùy tiện, thiếu căn cứ mà phải dựa vào câu chữ và các hình
thức nghệ thuật của văn bản. Trên cơ sở, xem tác phẩm văn học như một cấu
trúc. Cấu trúc tác phẩm văn học là “tổ chức nội tại, sự quan hệ qua lại giữa các
yếu tố của văn bản văn học mà việc thay đổi một yếu tố nào đó sẽ kéo theo sự
biến đổi của các yếu tố khác.(…)” (Lại Nguyên Ân)
Ví dụ, khi đọc Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp) học sinh phải chú ý
Nguyễn Huy Thiệp đã đưa người đọc bước vào một cuộc hành trình đầy chất
thơ. Đó là một sớm xuân: “Cây cối đều nhú lộc non. Rừng xanh ngắt và ẩm ướt.
Thiên nhiên vừa trang trọng vừa tình cảm”. Khung cảnh thanh bình ấy lại
chính là dịp để nhân vật ông Diểu “bắt đầu cuộc đi săn”. Nhân vật đi vào rừng
mang theo bao hệ lụy trần thế ám ảnh. Ông nhìn thiên nhiên cũng như cách ông
đánh giá về cuộc đời. Bắt đầu từ lúc tiếp cận đàn khỉ “không buồn, không vui,
không lo lắng cũng không tính toán” đến “mỉm cười và chăm chú nhìn”. Rồi và
cuối cùng là “niềm vui nhen lên từ khi ở nhà ra đi trong ông vơi đi một nữa”.
Ông quyết định bắn hạ con khỉ đực với “một tiếng súng dữ dội”. Ông Diểu làm
điều ác và tại thời điểm đó ông vẫn hài lòng với kết quả dù có chút “run lên”
như “người vừa mới làm xong việc nặng”. Nhưng khi nhìn đôi mắt con khỉ đực,
người đàn ông ấy bổng dấy lên một niềm “thương hại” và “mủi lòng”. Hành
động “tránh nhìn vào đôi mắt” ông Diểu chuyển từ tâm trạng hài lòng khi làm
điều ác sang trạng thái hoảng loạn, bối rối. Ông tìm cách “hái lá đắp cho con
khỉ” hay loay hoay “cởi chiếc quần lót” – mảnh giáp cuối cùng trên cơ thể để
băng bó cho nó. Trải qua một hành trình vất vả, chứng kiến và suy nghiệm
nhiều thứ, đặc biệt là hình ảnh con khỉ con rơi xuống vực sâu thăm thẳm và con
8
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
khỉ cái cứ kiên trì lẽo đẽo theo ông đi xuyên rừng, người đàn ông ấy chợt cảm
thấy “cay cay sống mũi” và thức nhận “một nỗi buồn tê tái đến tận đáy lòng”.
Những tâm trạng và hành động không nhất quán ấy biểu hiện cho một sự giằng
xé nội tâm giữa tham vọng và tình thương, giữa khả năng của một ông già và
sức mạnh của thiên nhiên, giữa phần “con” và phần “người” cũng chính là cái
ác và tính thiện trong nhân vật....
Mỗi yếu tố của hình thức đều gắn liền với một nội dung cụ thể, biểu hiện
nội dung cụ thể. Song, cần phải nhận thức rõ, hình thức của tác phẩm không
phải là những yếu tố riêng lẻ, rời rạc mà là một hệ thống hình thức chỉnh thể.
Cái hay, cái đẹp của nội dung phải được phân tích, chỉ ra, cảm nhận, thưởng
thức và đánh giá thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản. Và như vậy, trong
quá trình rèn luyện kỹ năng đọc phân tích học sinh cần nắm được các hình thức
nghệ thuật mà nhà văn vận dụng để tạo nên hình tượng văn học và thế giới nghệ
thuật trong tác phẩm.
Ngoài ra, đọc hiểu tác phẩm không thể không chú ý đến đặc trưng thể
loại. Mỗi văn bản được viết theo một thể loại nào đó và thể loại ấy sẽ “buộc”
tác giả lựa chọn một số yếu tố hình thức nghệ thuật phù hợp để thể hiện nội
dung.
Đọc hiểu tác phẩm trữ tình cần chú ý một số yếu tố sau:
- Cần chỉ ra cái riêng, nét đặc sắc của nhân vật trữ tình.
- Tìm ra cái tứ của bài thơ.
- Cần chú ý đến nhạc tính của bài thơ.
- Chú ý đến cả giọng điệu, nhịp điệu, hình ảnh và ngôn ngữ của thơ. (…)
Đọc hiểu tác phẩm tự sự thông thường, người ta chú ý đến các yếu tố
sau:
- Tình tiết, cốt truyện, kết cấu, nhân vật;
9
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
- Ngôn ngữ nghệ thuật;
- Tình huống truyện, nghệ thuật trần thuật;
- Giọng điệu, nhịp điệu, lời văn
- (...)
10
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
3.Yêu cầu của chọn dẫn chứng :
GV lưu ý : việc chọn d/c TP ngoài chương trình cũng có nguyên tắc giống
chọn d/c TP trong chương trình.
GV yêu cầu hs nhắc lại cách thức chọn DC TP nói chung trong đề NLVH của
HSG.
Yêu cầu của dẫn chứng
Dẫn chứng có vai trò quan trọng. Tuy nhiên khi đưa dẫn chứng vào bài văn
nghị luận, học sinh cần lưu ý những vấn đề sau:
Thứ nhất: Dẫn chứng phải chính xác
Nếu không đảm bảo được yếu tố chính xác, dẫn chứng sẽ không làm sáng
rõ được luận điểm. Đối với dẫn chứng là thơ, người viết cần trích dẫn đúng
nguyên văn. Đối với văn xuôi thì tóm lược ý nhưng cần đảm bảo tính chính xác
về nội dung, tác giả, tác phẩm. Có không ít trường hợp trích dẫn sai dẫn chứng,
chẳng hạn như trường hợp trích dẫn ngữ liệu từ bài thơ “Tây Tiến” của tác giả
Quang Dũng: Trôi dòng nước lũ hoa đung đưa (Đúng phải là Trôi dòng nước lũ
hoa đong đưa); hoặc trích dẫn thiếu chi tiết quan trọng dẫn tới hiểu sai vấn đề
như trong “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam. Lý do An và Liên cố thức để
đợi tàu là vì An và Liên đã buồn ngủ ríu cả mắt nhưng vẫn gượng thức đến khi
tàu xuống để bán hàng theo lời mẹ dặn ( Đúng phải là Liên không trông mong
còn ai đến mua nữa và em cố thức là vì cớ khác, vì muốn được nhìn thấy
chuyến tàu đó là sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya)
Những sai sót này ảnh hưởng không nhỏ đến tính thuyết phục của bài văn
nghị luận. Do đó, lấy dẫn chứng trong văn nghị luận phải đảm bảo sự chính xác
Thứ hai: Dẫn chứng phải cần và đủ
Trước hết, người viết cần xác định dẫn chứng bắt buộc cần phải có căn cứ
11
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
vào giới hạn phạm vi tư liệu trong đề bài. Bên cạnh những dẫn chứng mang tính
chất bắt buộc người viết cần đưa thêm những dẫn chứng để có sự liên hệ, so
sánh.
Bài văn nghị luận cần có đủ dẫn chứng. Lấy quá ít dẫn chứng thì vấn đề
nghị luận sẽ không được làm sáng tỏ. Tuy nhiên, nếu đưa quá nhiều dẫn chứng
vào bài sẽ khiến bài văn nghị luận bị loãng. Bởi vậy, khi đưa dẫn chứng vào bài
cần lưu ý yếu tố cần và đủ, không thiếu dẫn chứng nhưng cũng không có quá
nhiều dẫn chứng. Việc đưa dẫn chứng tùy thuộc vào việc có bao nhiêu vấn đề
được nêu ra trong luận điểm. Thông thường, với mỗi một lí lẽ, người viết cần
đưa ra ít nhất một dẫn chứng đi kèm.
Thứ ba: dẫn chứng phải điển hình, tiêu biểu,có tính mới
Ngoài việc đưa dẫn chứng phong phú, người viết còn cần biết chọn lọc dẫn
chứng, ưu tiên những dẫn chứng điển hình và tiêu biểu cho thời kì, giai đoạn,
trào lưu văn học. Những tác phẩm văn học được lựa chọn cũng cần tiêu biểu
cho phong cách, sự nghiệp của tác giả. Đồng thời cũng cần chú ý tới các tác
phẩm mới (ngoài chương trình SGK) để tạo nên sức hấp dẫn riêng trong bài
làm, thể hiện được vốn kiến thức phong phú, cập nhật của người viết
Ví dụ: khi viết về phong trào Thơ mới không thể không nhắc tới các tác
phẩm của những đại diện tiêu biểu như: Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận,
Nguyễn Bính...; trào lưu hiện thực phê phán của Việt Nam giai đoạn 1930-1945
có các đại diện như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam
Cao, Nguyên Hồng…văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa có Hồ Chí Minh, Tố
Hữu, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Nguyễn Quang Sáng…
Thứ tư: dẫn chứng phải logic và hệ thống
Khi đưa dẫn chứng trong văn nghị luận, người viết cần đảm bảo tính hệ
thống. Nghĩa là các dẫn chứng phải được sắp xếp theo một trình tự, quy luật
nhất định. Ví dụ như việc sắp xếp dẫn chứng theo trục thời gian tuyến tính (từ
12
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
lịch sử, quá khứ đến thời điểm hiện tại). Hoặc theo chiều không gian (từ rộng
đến hẹp, từ xa đến gần,…. hoặc ngược lại). Tính hệ thống sẽ giúp cho người
viết tránh được tình trạng đưa dẫn chứng một cách tràn lan và mất kiểm soát.
Thứ năm: dẫn chứng phải được phân tích.
Khi đưa dẫn chứng vào bài, cần kết hợp với việc phân tích, đánh giá dẫn
chứng. Thao tác này sẽ khiến cho dẫn chứng phát huy hết vai trò, hiệu quả. Nếu
không phân tích, đánh giá, bài văn sẽ trở nên hời hợt, sáo rỗng, không sâu sắc
và không đủ sức thuyết phục người đọc. Để làm được điều này, người viết cần
hiểu đúng, đánh giá đúng và cảm thụ đúng về giá trị của dẫn chứng. Khi phân
tích, chỉ lựa chọn nội dung phù hợp, có tác dụng làm sáng tỏ vấn đề nghị luận
chứ không phân tích tỉ mỉ, chi tiết toàn bộ dẫn chứng ở tất cả các phương diện.
GV hướng dẫn hs phân tích qua ví dụ :
Ví dụ 1: Có ý kiến cho rằng: cảm xúc trong thơ trữ tình vừa tươi mới vừa
đầy tính chiêm nghiệm.
Anh, chị hãy bình luận ý kiến trên và làm sáng tỏ ý kiến đó qua bài thơ Vội
vàng của Xuân Diệu.
Ở đề này, bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu là dẫn chứng bắt buộc mà
người viết phải trích dẫn, phân tích.
Nhưng trong quá trình viết bài, người viết có thể so sánh với các bài thơ
khác của Xuân Diệu, của nhiều nhà thơ cùng thời khác để làm nổi bật sự tươi
mới và tính chiêm nghiệm trong cảm xúc của Xuân Diệu trong Vội vàng. Tất cả
những tác phẩm trích dẫn ngoài bài thơ Vội vàng đều là những dẫn chứng mở
rộng.
Ví dụ 2: Trả lời phỏng vấn của báo Văn Nghệ số Tết Bính Dần (1986)
Nguyễn Tuân nói: “ Tôi quan niệm đã viết văn phải cố viết cho hay và viết đúng
cái tạng của riêng mình. Văn chương cần sự độc đáo hơn trong bất kì lĩnh vực
nào khác”.
13
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
Bằng hiểu biết về các tác phẩm tiêu biểu của một trong số các nhà văn
Thạch Lam, Nam Cao, hãy bình luận và làm sáng tỏ ý kiến trên.
Với đề này, trước hết học sinh phải lựa chọn một trong số hai tác giả
Thạch Lam, Nam Cao. Chọn và phân tích các tác phẩm tiêu biểu nhất để làm rõ
cái tạng của nhà văn. Đó là các dẫn chứng bắt buộc. Ví dụ như viết về tác giả
Thạch Lam thì có thể chọn các tác phẩm như: Hai đứa trẻ, Nhà mẹ Lê, Gió lạnh
đầu mùa, Dưới bóng hoàng lan...; tác giả Nam Cao thì có thể chọn: Chí Phèo,
Lão Hạc, Đời thừa, Sống mòn...
Đồng thời, người viết cần so sánh, đối chiếu với các tác giả khác như:
Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Nguyễn Minh Châu ... để làm
nổi bật cái tạng riêng của Thạch Lam hoặc Nam Cao. Đây chính là các dẫn
chứng mở rộng.
Khi xác định rõ ràng hai loại dẫn chứng, người viết cần tập trung phân tích
khai thác dẫn chứng bắt buộc một cách triệt để và sâu sắc. Tránh tình trạng dẫn
chứng mở rộng lại nhiều hơn, khai thác sâu hơn dẫn tới việc lấn át cả dẫn chứng
bắt buộc. Nghĩa là dẫn chứng mở rộng chỉ được đưa ra để góp phần liên hệ, so
sánh nhằm làm nổi bật vấn đề, thể hiện tầm hiều biết rộng rãi của người viết.
Trong những năm gần đây, đề văn đòi hỏi người viết tự lựa chọn dẫn
chứng dựa trên những trải nghiệm văn học của bản thân.
Nhà thơ Huy Cận khi bàn về sự giao thoa giữa các phương pháp sáng tác,
trào lưu, thể loại...đã khẳng định: Tác phẩm cao đẹp thì bất chấp sự chia ô hoặc
nói đúng hơn là cái hay, cái đẹp đó nó tràn ngập các ô mà chúng ta đã ngăn
sẵn.
Anh( chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng hiểu biết của anh chị về văn
học, hãy chọn những tác phẩm anh chị cho là thể hiện rõ nhất sự giao thoa để
làm sáng tỏ nhận định trên.
Để làm sáng tỏ vấn đề trong đề bài trên thì người viết phải tự mình xác
14
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
định và lựa chọn dẫn chứng cho phù hợp, tiêu biểu. Học sinh có thể triển khai
trên nhiều trục giao thoa như phương pháp sáng tác, thể loại, tư tưởng ...trên
những tác giả tiêu biểu trong chương trình là Tú Xương (trào phúng – trữ tình);
Thạch Lam, Quang Dũng (hiện thực – lãng mạn); Xuân Diệu (truyện – thơ);
Thanh Thảo (tượng trưng – siêu thực)...Học sinh có thể dùng dẫn chứng ngoài
chương trình, văn học nước ngoài...miễn sao phân tích được giá trị của sự giao
thoa ấy tạo nên cái hay, cái đẹp cho tác phẩm.
Ở kiểu đề này, không yêu cầu quá nặng về kiến thức lí luận mà đánh giá
cao sự thông minh và sắc sảo của học sinh trong việc lựa chọn và phân tích dẫn
chứng.
GV giảng bổ sung:
VD đề: Mỗi hình tượng nhân
Hướng dẫn:
Học sinh cần nhận thức về đề như sau:
vật phụ nữ thực sự thành công Nhận định nêu trong đề bài nhấn mạnh việc
bao giờ cũng là kết quả của phát hiện phương diện nữ tính của người phụ
sự phát hiện sâu sắc về nữ nữ trong quá trình sáng tạo là nhân tố có ý
tính. Bằng việc phân tích một nghĩa quyết định sự thành công của hình tượng
số nhân vật phụ nữ tiêu biểu nhân vật phụ nữ trong tác phẩm. Đồng thời
trong các tác phẩm đã học từ thấy được, nhận định cũng gián tiếp đề cập đến
văn học dân gian đến văn học một yêu cầu không thể thiếu đối với người
hiện đại, anh/chị hãy làm sáng nghệ sĩ chân chính: gắn bó với đời sống, hiểu
tỏ nhận định trên
biết kĩ lưỡng về cuộc sống, về con người; trong
đó, có việc nhận thức thực sự sâu sắc về giới.
Cần chỉ rõ: đây là một nhận định đúng đắn, sâu
sắc đề cập đến một trong những yêu cầu cao về
chất lượng đối với sáng tạo nghệ thuật.
Sau khi xác định đúng vấn đề nghị luận,
15
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
người viết cần lựa chọn được một số hình
tượng nhân vật phụ nữ tiêu biểu trong các tác
phẩm từ văn học dân gian cho đến văn học hiện
đại đã học, không hạn định về thể loại, về tác
phẩm trong nước hay nước ngoài. Có thể chọn
các bài ca dao có mô típ mở đầu là Thân em,
Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, thơ Hồ Xuân
Hương, thơ Xuân Quỳnh, nhân vật Phăng-tin
(Những người khốn khổ)…
VD 3:
VD3: Pt
Văn học chân chính ngay cả
Học sinh cần tập trung vào các từ ngữ
khi nói về cái xấu, cái ác cũng Văn học chân chính ;cái xấu, cái ác; cái đẹp,
chỉ nhằm thể hiện khát vọng cái thiện để xác định vấn đề nghị luận là một
về cái đẹp, cái thiện. Suy nghĩ quy luật của văn học nói riêng và nghệ thuật
của anh/chị về ý kiến trên.
nói chung: luôn luôn hướng đến cái đẹp. Ngay
cả khi nói về cái xấu, cái ác cũng phải là tạo
“cớ” để thể hiện khát vọng vươn tới cái cao cả
và đẹp đẽ, để bồi dưỡng năng lực thẩm mĩ của
con người. Đó cũng chính là giá trị thẩm mỹ
của văn học.
Như vậy, có thể chọn lựa các tác phẩm như:
Tấm Cám, Truyện Kiều (Nguyễn Du), Chí Phèo
(Nam Cao), Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), Chiếc
thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Nhà
16
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
thờ Đức Bà Paris (Victor - Hugo)
THỰC HÀNH VẬN DỤNG TP NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH
TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
Yêu cầu:
+ Vận dụng một phần kiến thức tác phẩm ngoài chương trình vào đề
nghị luận văn học
+ Vận dụng phải linh hoạt, theo nhiều hình thức khác nhau.
+ Đọc bài văn mẫu sau và rút ra các cách khác nhau trong việc vận
dụng TPNCT:
Đề 1. Bàn về nghề văn, nếu nhà văn Pautốpxki cho rằng: “Thiên chức
của nhà văn là người dẫn đường vào xứ sở cái đẹp” thì Gô – gôn khẳng định
“Có những thời đại nếu không chỉ ra tận cùng toàn bộ cái xấu xa, đê tiện của
cuộc sống hiện tại thì ta sẽ không có cách nào để hướng xã hội tới cái Đẹp”.
Giải thích và trình bày ý kiến của anh/ chị về hai nhận định trên qua
tác phẩm trong và ngoài chương trình
Bài làm
Mỗi trang văn không phải lúc nào cũng rực rỡ như ánh nắng sớm mai
mùa hạ, đẹp đẽ như nụ hoa chớm nở đầu xuân, ấm áp như ánh lửa hồng trong
đêm giá rét và yên bình như mặt đất đón nhận chiếc lá thu rơi xào xạc tìm về
với nguồn cội. Nó còn là những mảng màu tối của bức tranh hiện thực, là những
cơn mưa bão xối xả, ào ạt trước khi để lại trên nền trời vẻ đẹp bảy sắc cầu vồng.
Chẳng thế mà khi bàn về nghề văn Pauxtôpxki cho rằng: "Thiên chức của Nhà
văn là người dẫn đường vào xứ sở cái đẹp", còn Gô- gôn khẳng định" Có những
thời đại nếu không chỉ ra tận cùng toàn bộ cái xấu xa, đê tiện của cuộc sống
hiện tại thì sẽ không có cách nào để hướng xã hội tới cái đẹp." Bài thơ " Cảnh
ngày hè" (Nguyễn Trãi) và hai truyện ngắn "Người ngựa ngựa người (Nguyễn
Công Hoan), " Nhà mẹ Lê" (Thạch Lam) chính là những minh chứng sáng giá
17
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
cho hai nhận định trên.
Hành trình vươn tới nghệ thuật đích thực của người nghệ sĩ là hành trình
khám phá những vẻ đẹp của cuộc đời, hình thành nên những giá trị tốt đẹp trong
trí nhớ và trái tim người đọc. "Đã là văn chương thì phải đẹp" (Nguyên Ngọc)
và đối với Pauxtốpxki cái đẹp đã trở thành bến đỗ cho tâm hồn người nghệ sĩ
nuôi dưỡng bao hương thơm và trái ngọt cho cuộc đời. " Xứ sở của cái đẹp"
chính là những vẻ đẹp của hiện thực cuộc sống con người được nhà văn khẳng
định và ca ngợi. Đó còn là sự hòa quyện với lớp ngôn từ lấp lánh, độc đáo. Ngòi
bút của nhà văn đã mở ra cho người đọc cái nhìn thẩm mĩ mới mẻ, sâu sắc về
cuộc đời, đem đến cho người đọc những giá trị mang tính nhân văn, hướng tới
chân -thiện- mỹ. Pauxtopxki đã coi đó là "thiên chức" như một sứ mệnh, nhiệm
vụ cao cả khi người nghệ sĩ đến với văn chương. "Người dẫn đường" là người
mở ra lối đi ngã rẽ mà trong văn chương người nghệ sĩ đã dùng ngôn từ để vẽ
đường đi cho mọi tâm hồn có thể đặt chân vào thế giới của cái đẹp. Nhà văn đã
dựng nên một thiên đường, nơi ấy có tiếng ca về những giá trị nhân văn nhân
bản, có vẻ đẹp muôn màu của bức tranh hiện thực. Nhưng theo Gô- gôn "có
những thời đại", nhiệm vụ của Nhà văn là "chỉ ra tận cùng toàn bộ cái xấu xa đê
tiện của cuộc sống hiện tại". Đây chính là khi người nghệ sĩ nhìn cuộc đời với
những gì trần trụi nhất, tái hiện tất cả những mặt tối tăm mù mịt của bức tranh
hiện thực. Tác phẩm văn chương đâu chỉ khoác lên mình chiếc áo choàng lộng
lẫy mà nó còn sống với những phần bần tiện, thấp hèn nhất của bộ mặt hiện
thực. Nếu không vạch trần được những góc khuất xấu xa, những đám mây u ám
đang vây kín bầu trời đẹp đẽ kia thì "sẽ không còn cách nào để hướng xã hội tới
cái đẹp". Pauxtopxki đã nhìn ra một ngả đường khác để người nghệ sĩ hoàn
thành trách nhiệm nghệ thuật của mình. Song những trang văn dù có là thiên
đường của cái đẹp hay phản chiếu những cái xấu xa, đê tiện thì cuối cùng nó
vẫn giúp người đọc nhận ra giá trị đích thực của đời sống. Với cách nói khẳng
18
GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG TỈNH LỚP 11 &12 – TẬP 1
Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc
GV được chuyển giao sử dụng: ……………………………...
Năm học 2019-2020
định của Pauxtôpxki và cách lập luận bác bỏ của Gô- gôn hai nhận định trên đã
bổ sung cho nhau nhấn mạnh đặc trưng, giá trị của văn học cũng như để lại cho
người nghệ sĩ con đường sáng tạo đúng đắn: Người nghệ với sứ mệnh nghệ
thuật của mình có thể dẫn người đọc đến thế giới của cái đẹp nhưng đôi khi lại
phản ánh những cái xấu xa, thấp hèn để khẳng định những giá trị chân - thiện mỹ.
Hai nhận định trên cùng song song bổ sung cho nhau tạo thành một quy
luật sáng tạo hài hòa, thống nhất. "Cái đẹp là điều kiện không thể thiếu của nghệ
thuật" (Bêlinxki). Đó như một chân lý theo suốt quá trình sáng tạo của người
nghệ sĩ. Người ta đến với tác phẩm đâu chỉ đơn giản là đón nhận một thành quả
lao động nghệ thuật của nhà văn mà còn muốn nhìn thấy được những bài học
nhân sinh sâu sắc, hướng đến những hành động có ý nghĩa và thưởng thức
những giá trị thẩm mĩ mới mẻ đặc sắc. Bởi vậy mà kết đọng lại trên trang văn
của người nghệ sĩ là cái nhìn đầy nhân văn trước cuộc đời, hướng tới những gì
chân- thiện- mỹ. Chính người nghệ sĩ đã dùng tài năng và tấm lòng mình đánh
động nhiều âm vang trong lòng người đọc, biến quá trình tiếp nhận tác phẩm
thành quá trình tự nhận thức, giúp người đọc hoàn thiện bản thân. Vẻ đẹp của
lớp ngôn từ độc đáo cùng hòa quyện với vẻ đẹp của bức tranh cuộc sống con
người mà nhà văn phản ánh tạo nên một chỉnh thể của cái đẹp mà bất kỳ người
nghệ sĩ nào cũng muốn hướng đến. Nhưng mỗi người lại chọn một lối đi riêng,
một cách thức khác nhau để cập đến bến bờ của cái đẹp. Có người trực tiếp ca
ngợi cái đẹp, có người lại bắt đầu từ những mặt tối tăm nhất của cuộc sống. Vì
"cuộc đời là nơi xuất phát và cũng là nơi đ...
 








Các ý kiến mới nhất