Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Luận Văn Cần Yếu

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Giáo sư Vũ Văn Thanh, trường trung học Nguyễn Bá Tòng
Người gửi: Nguyễn Chương
Ngày gửi: 13h:12' 11-04-2023
Dung lượng: 50.6 MB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích: 0 người
Trong 1 dịp tình cờ, tôi tìm thấy quyển sách này của thầy Vũ Văn Thanh, giáo sư trường
Nguyễn Bá Tòng - Sài Gòn. Quả là 1 duyên lành để công sức tâm huyết của thầy đến được với
các bạn trẻ hiện nay. Vì sách quá cũ nên phải qua các công đoạn như scan, OCR và chuyển đổi
thành font chữ văn bản hiện dùng, tất nhiên khó tránh các lỗi in ấn phát sinh. Vì vậy nên tôi
đính kèm theo hình ảnh gốc để tiện đối chiếu. Mong rằng sẽ giúp ích ít nhiều cho quý thầy cô
cũng như các em học sinh tham khảo cho môn học của mình.
Thân chào!
Nguyễn Văn Chương

Gửi các học sinh thân mến
Lời tâm niệm để thành-nhân
Tôi nguyện:
- Vâng lời thầy đề nên học-sinh gương mẫu.
- Kính thầy, yêu bạn, hòa-hợp với mọi người, giữ gìn kỷ luật đề nên người tự trọng.
- Cố gắng trau-giồi đức, trí và thề-dục đề nên người hoàn toàn. Mỗi ngày tự nguyện tiến-bộ
thêm đề khỏi bị đào thải.
- Cố thắng mọi nghịch cảnh cám dỗ, sự lười-biếng bằng ý-chí tiến thủ và tự khích-lệ mình.
- Nỗ-lực không ngừng ở hiện-tại đề xây dựng ngày mai tươi sáng cho bản-thân, gia đình và tổquốc thân yêu.
Tựa
Trong môn học Việt-văn, luận văn là một khía cạnh QUAN TRỌNG, CẦN THIẾT và khókhăn nhất.
QUAN TRỌNG là vì qua các kỳ thi, bài luận văn sẽ nâng cao hay hạ thấp điểm số của các thí
sinh.
CẦN-THIẾT vì chẳng những thường-xuyên học sinh phải làm bài trong lớp mà mục đích của
môn luận văn còn là đề tập-luyện cho các bạn biết dùng ngọn bút một cách dễ dàng trong đời
sống thực tế hằng ngày.
QUAN TRỌNG, CẦN-THIẾT là thế mà học luận-văn cũng như làm luận, thật là khó khăn, đòi
hỏi đến sự suy-tư, nhận-thức, đọc nhiều hiều rộng và kinh-nghiệm sống, đồng-thời lại phải có
một phương pháp căn-bản đề hành văn, khai triển luận-đề.
Điều này khó có thể hội đủ trong những trí óc còn non-nớt của hầu hết các học sinh.
Hiều biết được tất cả những niềm bản-khoăn, thắc mắc và sự lúng- túng của các bạn trẻ khi phải
cầm bút viết văn làm luận, chúng tôi biên soạn cuốn “LUẬN-VĂN CẦN-YẾU" này, để đáp
ứng lại nhu-cầu đòi hỏi cấp-bách ấy.
Sách được viết với nội-dung, phương pháp mới mẻ, từng được đem áp dụng từ nhiều năm tháng
gần cận các bạn và đã thâu lượm được kết-quả tốt-đẹp.
Vì nhan-đề là "LUẬN-VĂN CẦN-YẾU” nên trong sách này, chúng tôi chỉ bàn đến loại văn
nghị luận, các phần lý luận, lập luận, cùng phương pháp khai-triền các loại luận-đề Luân-lý,
Phổ thông và văn chương, thích hợp với trình-độ học-sinh các lớp Đệ tứ, Đệ tam, Đệ nhị (Nay
là các lớp Chín, mười, mười một).

Đặc biệt sau mỗi tiết mục đều có đặt câu hỏi vừa có tính-cách giáo khoa, vừa có mục-đích
khảo-sát đề quí vị giáo sư kiểm soát sự hiều biết của các học-sinh, hoặc tiện-dụng cho các bạn
tự học ôn-tập phần lý-thuyết hành-văn căn-bản đã học qua. Ở mỗi loại luận-đề đều có nhiều bài
mẫu làm tỷ-dụ dẫn-chứng và nhiều bài tập ứng-dụng. Đây là phần quan trọng.
Các bạn phải chịu khó làm bài tập, mỗi ngày làm một, hai bài cho thuần thục, mới mong tiến-bộ
được.
Chúng tôi thấy cần phải nói ngay với các bạn rằng : Không có một ông thầy nào giỏi, một
phương pháp nào hay cả, nếu chỉ đặt nặng phần lý-thuyết mà thiếu thực-hành áp dụng.
Vì thế, thiết nghĩ làm và sửa bài tập ngay trong lớp là một lối học tập hào-hứng và đem lại
nhiều lợi ích thiết-thực nhất.
Với tập sách này; sẽ tiết-kiệm nhiều thì-giờ cho các bạn khỏi phải chép bài học về lý-thuyết
phương pháp hành văn trong lớp. Số thì giờ này sẽ được dùng đề làm bài tập.
Cũng xin các bạn gột rửa ngay ý nghĩ sai lầm, tai hại, làm giảm giá trị cao đẹp của sự học, của
tình thầy trò - tưởng rằng thầy cho mình làm bài đề có giờ khắc nghỉ-ngơi.
Thực ra, không một giáo-sư nào lại có hành động tầm thường nhỏ nhen như vậy. Trong khi các
trò tìm hiều đầu bài, cấu-tứ, lập-luận, diễn ý thì thầy vẫn ở sát bên trò đề theo dõi hướng dẫn,
chớ thầy có ngồi trên bàn đọc nhật trình đâu !
Chúng ta phải làm việc với tinh-thần cầu-tiến. Trò biết vâng lời thầy Thầy ý-thức tinh thần
trách-nhiệm của mình thì sự học-tập mới có kết quả tốt.Học-đường chính là gia đình thân yêu
thứ hai của chúng ta. Ở đó, chỉ có sự xây-dựng, hòa-hợp, yêu-thương, chớ không có hoài nghi,
lọc-lừa, giả-trá.
Với phương-pháp sẵn có, sự nỗ lực làm việc và niềm tin vui phấn- khởi, chắc chắn chúng ta sẽ
vượt qua mọi trở ngại đề thành-công trên đường học-vấn,luyện văn.
Sàigòn, Đầu niên khóa 1970 - 71
VŨ VĂN THANH
MƯỜI ĐIỀU TÂM-NIỆM ĐỂ VIẾT VĂN LÀM LUẬN
- Một là KHÔNG hiểu đầu bài thì không tìm ỷ.
- Hai là KHÔNG chịu suy nghĩ không có ý tưởng.
- Ba là KHÔNG vội vàng hấp tấp thì không lạc đề.
- Bốn là KHÔNG cảm thấy khó khăn khi diễn ý đạt tình, tự nhiên không bực mình mà hứngthủ.
- Năm là KHÔNG vay mượn chắp và ý tưởng của người với của mình thì văn từ không rời-rạc.

- Sáu là PHẢI tìm hiều chủ-đề cho thật rành rẽ.
- Bảy là PHẢI Lập-trung tư tưởng hưởng vào đầu bài đề tìm ý viết văn.
-Tám là PHẢI giữ thái độ trầm lắng suy-tư, mới tránh khỏi những điều sai lầm sơ suất.
- Chín là PHẢI coi vấn đề như một nút rối gỡ dần rồi sẽ ra.
- Mười là PHẢI tự mình chịu khó suy-nghĩ trong việc cấu tú, lựa chọn, phu-diễn thì văn-từ mới
lưu loát, cả phần hình thức nên thận trọng trình bày cho thanh thoát, trang nhã dễ coi thì mới
giữ được cảm tình trọn vẹn với người đọc.

PHẦN THỨ NHẤT
PHẦN LÝ THUYẾT CĂN BẢN VĂN NGHỊ LUẬN
I- ĐỊNH NGHĨA và TỈNH CÁCH VĂN NGHỊ-LUẬN
Nghị-luận là một thể văn, loại văn đề bàn xét, thảo luận về một vấn đề gì, đòi hỏi nhiều đến sự
vận dụng lý trí của ta, Nếu giá trị của một bài văn mô tả là ở gợi hình, gợi cảm và linh hoạt, cái
hay của bài văn thuật ký là làm sống lại những hình ảnh, sự việc của một thời quá khứ thì bản
sắc, đặc điểm của một bài văn nghị luận là lý luận vững chắc, luận chứng cụ thề, lời bàn xác
đáng và văn từ trang nhã lưu loát.
Văn nghị luận rất cần thiết và quan trọng. Học giả dùng văn loại này để biện luận quan điểm
nhận thức của mình. Nhà tu hành dùng nó đề giảng thuyết về đạo giáo, chân lý. Các chính trịgia viết văn nghị luận đề bàn bạc cho sáng tỏ lẽ chân, ngụy chính, tà, hô hào kêu gọi quần
chúng, thức tỉnh đồng bào, phát biểu chính kiến.
Muốn viết văn nghị luận rộng, làu thông sử sách, lịch lãm cho hay, ta phải đọc nhiều, biết việc
đời. (NGHỊ. Bàn bạc về sự lý cho ra lẽ phải, trái, nên, chăng - LUẬN : Suy xét đoán định - Bàn
bạc, xem xét về sự vật hay, dở, phải, trái).
II— PHÂN LOẠI VĂN NGHỊ LUẬN
Văn nghị luận có thể chia ra nhiều loại, tùy thuộc vào các khía cạnh của văn hóa - mà danh từ
này, lại có một ý nghĩa vô cùng rộng rãi và bao quát. Tất cả các bộ môn, khía cạnh: Triết học,
tôn giáo, chính trị, kinh tế, văn chương, học thuật và xã hội đều ở trong phạm vi danh từ văn
hóa.
Nói một cách khác, giản dị và dễ hiểu hơn : Danh từ văn hóa có bao nhiều khía cạnh, bộ môn
thì văn nghị luận có bấy nhiều loại.
Trong chương trình bậc trung học Phổ thông và Chuyên khoa, chúng ta chỉ học hỏi luận bàn về
ba loại nghị luận chính: Luận Luân Lý - Phổ thông và Văn chương mà thôi.
Ở phần sau,sẽ bàn rõ về tính cách, sự phân loại và phương pháp khai triển ba loại văn nghị luận
này.
III– CÁC NGUYÊN TẮC LUẬN LÝ CĂN BẢN ĐỂ XÂY DỰNG MỘT BÀI VĂN NGHỊ
LUẬN
1. LẬP LUẬN
Các lý luận đề xây dựng cấu tạo nên nội dung một bài văn nghị luận gọi là lập luận. Phải để
tâm, đề trí hướng vào vấn đề, rồi xét đến cảnh mình, cảnh người thời gian quá khứ, hiện tại, ước

đoán tương-lai, so-sánh vật chất với tinh thần, trừu tượng với cụ thẻ, đặt ra những câu hỏi có
liên quan đến đề mục để tự giải đáp lấy, đó là phương pháp lập luận.
Các lý luận nêu ra cần hữu lý xác thực, tránh viên-vông tầm thường.
Tỷ-dụ : Bình-giảng câu : “Sống là tranh đấu”.
- Bước vào đời là dự một cuộc thi đua tranh đấu lâu dài nhất. Trước hết, con người phải tranhđấu với chính bản thân mình để thắng mọi dục vọng cám dỗ, rồi phải tranh đấu với đồng loại đề
sinh tồn phát triển. Sau hết, chúng ta còn phải tranh đấu với trở ngại thiên nhiên đề mưu cầu
một đời sống sung mãn, hạnh-phúc hơn. Chỉ có kẻ bệnh tật tàn-phê mới đành chịu bỏ dở cuộc
tranh đấu đầy ý nghĩa phấn khởi này. Cho nên một thức giả đã có lý, khi nhận định " Sống là
tranh-đấu".
Nhìn ra muôn loài, vạn vật ở thế gian, nhỏ bé như con ve, cái kiến, các loài côn trùng, thậm chí
cả các loài thảo mộc, cũng phải vươn lên đê tranh sống dưới bóng mặt trời. Yêu-hèn kém cỏi là
bị đào-thải, diệt-vong. Cụ thể hơn -- Buổi ban mai, qua khung cửa, nhìn ra ngoài đường phố, ta
thấy bày ra một hoạt cảnh, biểu tượng một nguồn sống dạt dào, đầy tự tin, phấn khởi. Xe cộ qua
lại tấp nập như dòng nước chảy, kẻ xuôi người ngược, các nam nữ học-sinh hàng hải đến
trường học-tập tranh đua cùng bạn bè trên đường học vấn đề xây-dựng tương lai. Các viên chức
vội vàng đến nha-sở chu toàn bồn phận. Người bán hàng, kĩu-kịt trên vai đôi gánh nặng, nhưng
vẫn vui vì công-việc cần-lao của mình. Mỗi người đều tích cực đóng-góp vào công-cuộc xây
dựng cho xã hội phồn thịnh, vì "Sống là tranh-đấu".
Một ngày nào đó, cá nhân cảm thấy mỏi-mệt, mất niềm tin vui, không còn tha thiết với cuộc thi
đua, tranh đấu sinh tồn này là anh ta đã tự loại bỏ mình ra ngoài cuộc tiến-hóa, một công lệ của
xã hội.
Trên địa cầu này, một dân tộc nào biết hăng hái tranh đấu, yêu chuộng sự cần-lao, tự nhiên
quốc gia họ sẽ thịnh cường phát triển. Tấm gương sang chói trước mắt chúng ta Hoa-kỳ, Nhậtbản đều là các nước hậu tiến. Nhưng ngày nay, hai quốc-gia này đều là cường quốc, sự tiến-bộ,
phát-triển của họ thật phi thường. Được vậy, cũng là nhờ ở tỉnh thần tranh đấu, ý-thức tráchnhiệm, sự nỗ lực đóng góp của toàn dân.
Vì thế, nếu còn muốn cho cá nhân ta không phải ỷ lại vào gia đình, xã hội, nhà ta được yên vui
hạnh phúc, đất nước ta không thua kém lân bang thì mỗi người chúng ta cần phải tích-cực tranh
đấu bằng trí-óc thông minh sáng-suốt, cánh tay mạnh khỏe, lý-tưởng cao thượng đề phụng-sự
quê hương dân tộc và nhân-loại.
2. BIỆN BẮC

Là trình bày, biện biệt điều hay, dở, lẽ phải, trái. Sau khi đã ngợi khen, tán đồng những ưu điểm
của một sự việc, một vấn đề, ta lại nêu ra điều khiếm khuyết, sự chưa được phải lý chưa được
toàn của một nhận thức, một vấn đề. Nhưng có điều ta cần ý-thức là khen thì khen cho phải mà
có chê, cũng chê cho đúng, chớ đừng để tình cảm che lấp mất sự phê phán của mình, dễ trở
thành chủ quan sai làm hoặc thiên kiến, lý luận một chiều.
Tỷ dụ :– Bình giảng câu "Tôi sẽ nhìn nghiêng, nếu bạn tôi chột måt"
BIỆN
Đề tâm, để trí, chăm chú theo dõi nết hư, tật xấu của một người với thái độ xoi bói tò-mò là
thiếu tế nhị, kém khôn ngoan và không đắc nhân tâm. Muốn khuyên mọi người một bài học xử
thế, một phép lịch sự trên trường giao tế, tục ngữ Tây phương có câu: "Tôi sẽ nhìn nghiêng, nếu
bạn tôi chột mắt.
Người ta, ai không có bạn ? Bạn là người cùng một cảnh ngộ, tâm sự chí hướng, hoặc đồng một
lứa tuổi với ta. Người bạn của ta có một nết hư, một tật xấu, chắc không ai lại vụng dại đem
điều bất hạnh của bạn mình ra đề giễu cợt, làm trò cười cho mọi người? Hành động ấy chỉ gây
thù chuốc oán mà thôi. Cho nên "nhìn nghiêng” nếu "bạn mình chột mắt", thật là một lối cư xử
khôn khéo.
Ngoài cái hình-ảnh và ý nghĩa cụ thể trên, câu nói này còn có ý nhắc nhở chúng ta một phép
lịch sự, một lối cư xử trong cuộc giao tiếp với mọi người ngoài xã hội, chớ bao giờ ta có hành
động vạch lá tìm sâu, bởi bèo ra bọ. Người xấu xa, vụng về hay có vóc dáng, khuôn mặt không
được xinh đẹp, người bạn hỏi ý, nhờ sự phê phán của ta về họ, chẳng bao giờ ta lại vụng về, dại
dột, nói ngay ra sự thực thiểu tế nhị; làm cho người buồn khô, giận hờn. Hãy dè dặt khiêm tốn
cần- thận, khéo léo hơn đề có bạn hơn thù. Hãy quên đi, hoặc làm ngơ, tỏ ra không biết đến một
nết hư, một tật xấu, một dĩ vãng không đẹp của người bạn ta, người đang tiếp xúc với ta.
Hãy theo dõi câu truyện sau đây, ta sẽ lĩnh hội được cái ý nghĩa của một bài học xử thế: Hạnh là
người có đức tự trọng đáng quí, biết mình, biết người, anh ăn ở cư xử, không ai mất lòng. Bạn
có đức tính tốt, việc làm phải, anh hết lời ngợi khen, tán tụng. Ai có điều dở, việc xấu, nếu
không khuyên nhủ an ủi một cách khôn khéo thì anh cũng làm ngơ, chớ không hề xoi bói, chỉ
trích, nhờ đức tính đó, Hạnh đã cảm hóa được mọi người, khiến ai cũng yêu quí.
Còn Hiến là người có tính xấu tò mò, hay chỉ trích người. Bạn bè lần lần xa lánh Hiền, sau rốt
chàng phải sống cô độc trong lời phẩm bình chống-đối của mọi người.
Xem thế đủ biết muốn nên người khả ái thì đừng bao giờ có thái độ sỗ sàng, nặng lời phê bình,
chỉ trích kẻ khác.

BÁC
Qua câu nói trên, lời khuyên của người xưa thật hữu lý, nó biểu lộ tâm hồn thái độ của một
người lịch thiệp từng trải việc đời. Tuy nhiên, câu nói cũng không hẳn có một giá trị hoàn toàn
tuyệt đối. Cố tình bưng bít, che giấu lỗi lầm sơ suất của anh em là vô tình hay cố ý ta đã đề bạn
mình bước sâu vào con đường lỗi làm hư hỏng. Phải trông nhìn vào sự việc một cách thẳng
thắn, phải mạnh dạn chỉ cho bạn bè biết khuyết điểm mà sửa đổi mới là người chân chính, thật
lòng dẫn dắt bạn tới con đường thiện mỹ. Nhưng đề cho việc cư xử của ta không làm buồn lòng
phật ý một ai, ta nên tỏ bày, nói năng làm sao cho người hiểu được thực tâm xây dựng của
mình, chớ không phải lời phê bình vì ác ý.
Tóm lại, những bài học sống tiền nhân đề lại cho chúng ta thật nhiều, mỗi câu nói, mỗi bài học
đều có một ý nghĩa riêng. Nhưng thực hành được lời khuyên ấy một cách thích nghi, mới là
điều đáng kẻ và tìm thấy được lợi ích thực sự. Còn chi tin theo cô nhân một cách mù quáng,
thiếu phán đoán thì thật là tai hại vô cùng. Câu tục ngữ trên đây thuộc về loại ấy, ta phải biết
tùy thời, tùy lúc mà cư-xử mới là người khôn ngoan sành sỏi.
3– PHÁ-LẬP THÀNH
Phá là đánh đồ, là bài bác, lập là làm nên, dựng nên, thành là hoàn thành, thành tựu. Phá-lập
thành là một lối lý-luận mở đầu bằng các lời lẽ đã phá, bác bỏ, nêu ra sự vô lý của vấn đề, của
một lời nói, nhưng sau đó, ta lại đề cập đến điều hữu-lý của đề mục, của một nhận thức, cuối
cùng là đúc kết, dung hòa, chiết trung, thành một sự hợp lý phải chăng, mọi người có thể dễ
dàng noi theo thực thi trong cuộc sống
Tỷ dụ : - Phê bình câu tư tưởng :"Muốn giữ được lương tâm, nuôi được linh tính, cần phải chịu
khô, chịu phiền thì ngày mới thuần thục, (Lưu-trực-Trai)
PHÁ
Sự khổ cực, buồn phiền hành hạ tấm thân thần trí con người, làm cho người ta phải chịu đủ điều
cay đắng, tủi nhục. Phải hình dung ra thân thẻ tiều tụy, nét mặt nhăn nhỏ, vẻ bực rọc của người
trong cảnh khổ, ta mới cảm thấy tất cả sự giày vò, bứt rứt của những kẻ bất hạnh. Bình thường,
không một ai muốn chấp nhận nếp sống như bậc thức giả đã đề cập trên đây.
LẬP
Nhưng trên thực tế, câu nói có hoàn toàn vô lý, vô giá trị không ? Chịu khô, chịu phiên có giữ
được lương tâm, nuôi được linh tính và làm cho người ta thuần thục không ? Xét kỹ ra thì quan
niệm, nhận thức trên cũng không phải hoàn toàn vô lý sai làm. Một thỏi sắt, nếu không được
nung luyện trong lò than hồng, người ta khó làm nên được một vật dụng như con dao, cái kéo

theo ý mình. Người ta cũng vậy, nếu lúc nào cũng được cơm no, áo ấm, kéo dài cuộc sống bình
thản sẽ thiếu nghị lực, không có tinh thần phấn đấu đề đương đầu với nghịch cảnh đầy dãy khó
khăn cản trở trên đường đời. Xưa nay biết bao anh hùng hào kiệt, nhờ sự gian truân từng trải
trong cảnh phong trần, nhẫn nại trước khi cảnh mà dựng nên đại nghiệp.
Việt Vương Câu- Tiễn đời Xuân Thu, nếu không chịu tủi nhục hơn hai mươi năm thì làm sao
diệt được Ngô-phủ-Sai mà khôi phục lại cơ đồ { Bình Định Vương, Nguyễn-Vương nước ta, kẻ
trước, người sau phải mất từ mười đến hai mươi năm sau; nằm gai nếm mật bôn-tẩu, chịu trăm
cay nghìn đẳng mới đuổi được giặc Minh, diệt được Tây Sơn mà giành lại ngôi báu.
Sự khổ, sự phiền quả có giá trị tôi-luyện ý chí con người cho bền vững cương nghị, chín chắn,
thuần thục hơn.
THÀNH
Quan niệm, nhận thức trên của bậc thức gia mang một tính chất khắc khô.. Chúng ta sẽ không
coi đó là một phép dưỡng sinh, nhưng phải coi đó là một khích lệ mỗi khi bị cuộc đời xô đây
vào hoàn cảnh khổ cực, ta biết gắng gượng quen với đó sẽ mạnh mọi cay đắng, mọi đau khổ,
buồn phiền đề rồi sau đó sẽ mạnh tiến trên đường đờimà thực hiện cho bằng được chí hướng
mình. Thật đáng vì câu tư tưởng trên là ngọn đuốc soi đường cho ta trong đêm tối, là lời an-ủi
của người bạn đường đầy lịch lãm và nhẫn nại đáng quí.
4– LẬP PHÁ-THÀNH
Là mở đầu bằng lối tản đồng quan điểm về một đề nào, nhưng liền sau đó ta lại bác-bỏ, đả phá
về chủ quan, cái lẽ chưa được hoàn toàn của một
ý-kiến, vấn sự thiểu-sót, lời nói, một tư tưởng, sau cùng ta nhận thức chiết trung vấn đề đề đi
đến một kết luận hợp-tình-lý hơn.
Tỷ-dụ : Bình giảng câu danh-ngôn: “Không gì giỏi bằng hay bàn, không gì yên bằng hay nhẫn",
(Hoàng Thạch-Công).
LẬP
Sự luận bàn thường giúp ta nảy nở thêm ra nhiều ý-kiến hay, trao đổi ý kiến với mọi người, ta
sẽ học hỏi được nhiều điều khôn ngoan của bậc trí giả, thức giả. Còn nhẫn nhịn sẽ đem lại cho
tâm hồn, bản thân ta sự an hòa, vui vẻ,. Một hiền giả đã đề cao hai đức tính này trong câu danh
ngôn: "Không gì giỏi bằng hay bàn, không gì yên bằng hay nhẫn", từng được nhiều người tán
tụng, coi như một phương châm xử thể đề cá nhân mưu cầu lấy hạnh phúc cho mình, đồng thời
duy trì sự an vui, hòa hợp trong xã hội.
PHÁ

Nhưng thiết nghĩ nhẫn và bàn cũng chưa hẳn là một đức tính hoàn toàn có giá trị trong mọi
hoàn cảnh, trường hợp. Đem ý kiến của mình, chương trình, kế hoạch ra đề thảo luận, bàn bạc
với kẻ khác chí hướng hoặc hèn kém, hành động như vậy, chẳng những không đem lại lợi ích gì
mà còn làm cho mình thối chí nản lòng, hoặc cơ mưu bị bại lộ. Còn như nhẫn nhịn đã hẳn là
một đức tính tốt, nhưng há có vì thế mà ta phải nhẫn nhịn với những kẻ tham-tàn, bạo ngược,
ngoan cố? Nhẫn nhịn với những kẻ cố tình chà đạp lên danh dự bản thân, gia-đình và tổ quốc
của mình thì thật là một hành động yếu-hèn, nhu nhược, đáng trách.
THÀNH
Dầu sao câu danh ngôn trên của bậc hiền giả cũng có giá trị nhắc nhở, khuyên nhủ ta một bài
học xử thể, chỉ cần thực hành theo một cách có ý thức nghĩa là bàn bạc với những người đồngtâm, đồng chí, hiêu-biết mình, nhẫn nhịn, tha thứ cho kẻ vô tình hoặc bỏ qua những hành động
không đáng kể của kẻ khác, nhờ đó ta sẽ thành người giỏi-giang, hiều-biết và cuộc sống sẽ
được yên bình hạnh phúc hơn.
5– CHIẾT TRUNG
Trước hai tư tưởng, quan niệm, sự việc không đồng-nhất, trái ngược nhau, chống-đối nhau, ta
rút-tỉa lấy cái hay, điều hợp-lý rồi dung-hòa thành một đường lối, giải pháp nên theo là chiếttrung. Tỏ bày quan-điểm nhận thức của mình; phải tránh sự chủ quan thái quá, cần dè dặt, có
thái độ khách quan và dùng những lời lẽ khiêm tốn, chớ đừng nặng lời đả kích một ai, mới cảm
hóa được độc giả và thuyết-phục được đối-phương.
Tỷ-dụ : Thế nào là vật chất ? Thể nào là tinh thần ? Sự quân bình giữa vật chất và tinh thần.
Vật chất và tinh thần là hai vấn-đề quan-thiết trong đời người và cuộc sống. Từ bao lâu nay,
vấn đề này đã từng được các thức giả bàn xét đến nhiều.
Vật-chất là chỉ chung các vật-thề, ta có thể cảm nhận thấy được bằng giác quan. Nói cho dễ
hiều thì tất cả những gì hữu hình, cụ thể, làm thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi của ta, đều thuộc về vật
chất. Ăn ngon, mặc đẹp, nhà cửa, xe cộ tiện nghi trong việc di chuyển, trong đời sống hằng
ngày đều là vật chất cả. Ngay như hình hài thề xác của chúng ta; cũng được cấu tạo bởi nhục
thẻ. Cái phần thân thẻ này giữ một vai trò quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Nó tạo nên
một cuộc tranh đấu sinh-tồn của nhân loại. Từ một nhà tu-hành chân chính đến kẻ tranh bá đồ
vương, từ một đứa trẻ thơ đến bậc già nua tuổi tác, giàu, nghèo, sang, hèn, tất cả mọi người đều
có những nhu cầu đòi hỏi cấp bách, một cuộc sống no đủ. Không thỏa mãn được sự đòi hỏi ấy,
con người sẽ cực khô, bị thẻ-xác hành hạ giày vò. Cho nên một dân tộc chậm tiến hay xã hội

văn-minh, mọi người đều phải nỗ lực làm việc tranh đấu để mưu cầu một đời sống vật chất
sung mãn cho bản thân, gia-đình và dân tộc mình,
Nhưng ngoài phần thân thề, hình hài, con người còn có linh hồn. Đó chính là cái phần tinh anh
cao quí của mỗi người. Nhờ có tinh thần mà người ta biết phân biệt chân, giả, thiện, ác Nhờ có
tỉnh thần mà con người cảm thông được với trời đất, muôn vật, kính trọng Thượng Đế, yêu
chuộng cảnh thiên nhiên và thương yêu đồng loại. Các học thuyết, tôn giáo được đề xướng ra
đề gây niềm tin yêu cho nhân-loại, để mọi người sống trên thế gian, vũ trụ này, bớt cảm thấy sự
cô đơn trống trải, đề cuộc sống của nhân loại có một ý nghĩa cao đẹp hơn, đã nói lên rất nhiều
về giá trị tinh thần. Loài người sở dĩ linh hơn muôn vật cũng vì có giá trị tinh thần cao quí. Nếu
chỉ có thể xác mà không có tinh thần sáng suốt, đời sống của con người cũng không hơn gì thú
vật,
Vật chất và tinh thần tuy là hai sự việc khác-biệt nhau, nhưng nó không hoàn toàn mâu thuẫn
mà cần có sự hòa hợp với nhau. Đặt nặng, coi vật chất hơn tinh thần thì cuộc sống không còn ý
nghĩa gì đáng kề. – Mà coi tinh thần là hơn hết, không nhìn thẳng vào thực tế ; là hạng người
viên vòng, không tưởng. Đến một lúc nào đó, kẻ có chủ trương như vậy sẽ nhận rõ sự sai lầm
vô phương cứu-vãn. Chúng ta quan niệm : " Làm người cần phải có đủ ăn, đủ mặc để tấm thân
khỏi cơ hàn, có lý-tưởng đề noi theo cho cuộc đời khỏi vô vị, tức là coi giữa vật-chất và tinh
thần có sự tương quan mật thiết với nhau, chớ không thiên về một bên nào.
Nhìn vào cuộc sống của các quốc gia Âu-Mỹ văn-minh tiến-bộ, ta thấy mức sống của người
dân họ rất lý tưởng. Mỗi người một công-việc, một phận sự. Sau khi đã chu-toàn bồn phận,
người ta có thể hoàn toàn vui thú với sở thích tinh thần, tôn thờ tín-ngưỡng của mình.
Nhiều kẻ ăn xổi ở thì; thấy văn-minh khoa học mau chóng tiến-bộ, vội coi rẻ giá trị tinh thần
mà đặt nặng vấn đề vật chất. Thật là sai lầm tai hại ! Đã đành vật chất là một nhu cầu cần thiết
trong cuộc sống, nhưng quyết nhiên nó không the điều khiển hoàn toàn chi-phối cuộc sống của
chúng ta. Kẻ nào đề cho vật chất cám dỗ, sai khiển là kẻ ấy đã làm mất giá trị, nhân vị của
mình. Một nền văn-minh hoàn-toàn, không chấp nhận sự thiên lệch, thiểu sót, phiến-diện ấy.
Vật-chất và tinh thần cần phải có sự quân bình hòa hợp, mới đem lại cho nhân loại, cho mọi
người một cuộc sống tốt đẹp.
Ai nấy đều hiệu như vậy, tất nhiên vấn-đề trên đã được giải quyết một cách thỏa đáng, hợp tình
lý.
6– LUẬN CHỨNG

Là các bằng chứng, chứng cớ nêu ra đề minh xác vấn đề, làm sáng-tỏ những lý luận ta đã bình
giảng, trình bày ở trên. Trong một bài văn nghị-luận, dùng luận chứng là sự cần-thiết, vì "Nói
có sách, mách có chứng"
Có bốn cách dùng luận chứng:
Một là lấy trong sử sách như đức liêm khiết của Tô-Hiến Thành, Chu-văn-An, chí khí hiênngang như Trần-bình Trọng, dũng cảm như Trần quốc Toản, gương hy-sinh của Lê-Lai liều
mình cứu chúa, lòng trung liệt của Vũ-công-Duệ v.v...
Dùng luận chứng trong lịch-sử, phải tôn trọng luật thời-gian, nhân vật nào sinh ở thời trước thì
kẻ trước, nhân vật nào sinh ở thời sau, nói đến sau.
Hai là lấy trong văn chương tiểu thuyết như : Tài sắc của Thủy- Kiều, vẻ hiên ngang của Từ
Hải. Nỗi oan tình, cái giả trong tiết sạch của người thiểu phụ Nam Xương, tâm hồn cao thượng,
đầy nhẫn nại của Mai trong Nửa chừng xuân.
Ba là lấy trong đời sống hằng ngày, nhưng phải biết lựa chọn lấy những câu truyện lý thú, đậm
đà và chỉ nhắc đến những chi tiết thực sự cần thiết mà thôi. Phải lược bỏ, tránh những xen cảnh
thiếu thanh nhã, những ngôn ngữ thô tục của các nhân vật, mặc dù thực tế sự việc ấy có xảy ra.
Bốn là do trí tưởng tượng của ta xây dựng, tạo nên, câu truyện kể ra phải hợp tỉnh-lý, các tình
tiết, xem cảnh cần diễn biến linh hoạt (Đầu tiên giới thiệu nhân vật, sau đó là các tình tiết diễn
biển, cuối cùng là kết thúc của câu truyện sự việc, đưa đến hậu quả vui, buồn, thành, bại). Khác
với bài văn thuật kỷ, ở văn loại nghị luận sau một luận chứng đã dẫn ra, ta cầu phụ thêm lời bàn
luận, chế, khen của mình để tỏ sự tán đồng hay bác bỏ, xa lánh hoặc nên gần cận ?
Sau hết cũng đừng bao giờ dẫn giải, nếu ra các luận chứng một cách dài dòng, rườm rà, biển bài
văn nghị luận thành ra bài kẻ truyện tiểu sử danh nhân; thì không còn gì vô nghĩa tẻ nhạt cho
bằng. Dùng luận chứng như vậy, thà không có còn hơn.
Tỷ dụ: Một bài văn luận về tình Nhân loại rất sâu sắc lý thú, vì tác giả khéo dùng luận chứng.
- Một ngày kia, con sẽ là một người lính cũng như anh con vậy. Nếu con có phải ra trận chiến
đấu, con sẽ chiến đấu hết lòng bởi vì đó là bồn phận của con; nhưng sau khi đánh nhau xong
rồi, nếu kẻ thù của con có bị thương, con hãy coi anh ta như một người anh em đáng thương
hại. Hai người không cùng một tổ quốc, nhưng anh ta có tổ quốc của anh ta cũng như con có tổ
quốc của con và ai nấy đều đã làm hết bốn phận của mình; hai người tuy không cùng một ngôn
ngữ nhưng đều có những tình cảm giống nhau. Anh ta có một quê hương, một gia đình như con
và anh ta cũng nhớ tiếc các thứ đó lắm. Con hãy thương hại anh, săn sóc anh, an ủi anh. Một

ngày kia nếu con có bị thương, con sẽ xứng đáng được một người thủ đến săn sóc và an-ủi. Đó
tức là tình nhân loại đấy con ạ.
Ta kẻ cho con nghe một câu truyện của một nhà văn hào nước Nga. Ông này bịa ra nhiều truyện
rất hay, nhưng truyện này thì thực từ đầu đến cuối.
Cách đây vào khoảng hai mươi năm, giữa Pháp và Nga có chiến tranh. Sau một trận chiến đấu
dữ dội, hai người bị thương nằm dài cạnh nhau ở bãi chiến trường, vì chưa có đủ thì giờ được
đem về nhà thương. Một là người Pháp, một là người Nga, họ đau đớn lắm, họ cố sức nói
chuyện với nhau, nhưng nếu họ không hiểu được nhau mấy tí, họ ít nhất cũng đã tỏ được cảm
tình với nhau và điều đó làm cho họ đỡ đau hơn. Đêm đến, một trong hai người ngủ đi mất.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, anh thấy trên người mình có đắp một chiếc áo tơi mà anh không rõ là ở
đâu đến. Anh tìm người bạn nằm bên cạnh, anh này đã chết mất rồi; nhưng trước khi chết, anh
đã cởi áo tơi ra đắp lên mình người bạn cùng cảnh khô với mình.
Theo Bersot
(Trích lại trong sách Việt-văn diễn giảng của Nguyễn xuân-Hiếu – Trấn mộng Chu)
7- SUY-DIỄN
Là một lối lý-luận đi từ điểm chính yểu, nguyên-lý chung mà suy ra các chi-tiết, sự trạng riêng.
Vào đề nói ngay đến điểm chính rồi mới quảng diễn, khơi vào các khía cạnh sau là thuộc về
phép suy. diễn. Lối này giúp ta bàn bạc sự việc vấn-đề một cách chính-xác hơn.
Tỷ dụ - Bình giảng câu : “Không cố gắng thì mỗi ngày một lười nản. Không giữ mình thì một
ngày một dông dài" (Chu-Hi)
Cố gắng và giữ mình là những đức tính cần thiết để thành- nhân. Có cố gắng thì việc mới nên,
mớixua đuôi được sự lười biếng chán nản, mới có tinh thần hăng hái phấn khởi hoạt động. Có
giữ mình, biết kiềm chế mình thì mới tránh khỏi sự cám dỗ, buông dông thả dài, thành kẻ
phóng đăng nguy hại. Bàn về phép tu thân, cô nhân đã khuyên chúng ta một câu chi tình mà
cũng chỉ lý: “Không cố gắng thì mỗi ngày một lười nản, không giữ mình thì một ngày một đông
dài" (Chu-Hi)
Tính xấu luôn luôn chực sẵn bên mình ta, chỉ chờ cơ-hội, dịp thuận tiện, nó sẽ len-lấn phá hoại
ta. Một người cố gắng làm việc, lúc nào cũng vui vớiphận sự của mình, thức khuya dậy sớm,
yêu đời với tinh thần minh-mẫn, cánh tay mạnh khỏe, tin tưởng ở sự thành tựu của công việc
làm, chắc-chắn tính lười biếng sẽ không thề ám-ảnh họ được.
Sự buông thả dông dài; cũng chỉ có thể có ở những kẻ bừa bãi, ăn xổi ở thì, không biết kiêmchế mình, thoắt vui, thoắt buồn, này có mai không, thay chiều đồi hướng, cuộc đời họ chẳng ra

sao cả. Hạng người như vậy, chẳng khác gì cánh bèo trôi trên mặt nước, mặc cho dòng nước
muốn xô đầy đến đâu thì đến
Vậy chúng ta hãy cố gắng đề nên người có nghị lực, phải biết giữ mình đẻ nên người mục
thước.
8- QUI-NAP.
Là một lối lý luận, suy luận từ các chi tiết, sự-việc riêng-biệt rồi đưa dẫn đến một nguyên lý
chung, tổng quát. Qui-nạp trái ngược hẳn với lối suy diễn.
Tỷ dụ :- Bình giảng câu: Làm người thật khó" (Không-Tử)
Hơn người thì bị ghen ghét, kém thì bị khinh rẻ. Cư-xử rộng- rãi đời cười là xa hoa phung-phí.
Tính toán dè sẻn, đời lại chê là bần. tiện keo-kiết. Thân nhau thì dễ suồng sã coi nhờn. Sơ sài
thì ra vẻ hờ hững thiếu tình cảm ân cần vồn vã, Cư xử làm sao cho vừa lòng khắp thể nhân ?
Cho nên, tự ngàn xưa, thánh-hiên đã phải thốt ra lời than: Làm người thật khó! " Câu nói ngắngọn mà hàm-súc biết bao ý-nghĩa.
9 - TƯƠNG ĐỒNG
Đem hai sự việc, hoàn cảnh, trường hợp giống nhau để so sánh, đối chiếu cho thuận tình hợp-lý
là lối lý luận tương đồng như:
Cá gặp nước, rồng gặp mây, chim bằng gặp gió, mặc sức mà vẫy vùng. Con người ta cũng vậy,
khi đắc thời, đắc thể, tha-hồ ngang dọc cho thỏa-chíước mong.
10 – TƯƠNG PHẢN
Nói đến hai sự kiện, trường hợp, cảnh ngộ trái ngược hẳn nhau đề phân-biệt lẽ chính, tà, chân,
ngụy, phải, trái, sự khác biệt của mỗi vấn đề cùng là nhấn mạnh đến quan điểm trình bày của
mình, ta dùng lối lý-luận tương phản.
Tỷ dụ: Luận về cái thú ở đời.
Có đói thì ăn mới ngon, Có khát thì khi được uống ly nước mới thú.
Có mong nhớ trông chờ nhau thì khi hội ngộ tương phùng mới thỏa lòng khao khát.
Có cần lao vất vả cả tuần thì khi được ngày nghỉ ngơi mới cảm thấy cái thú vị của sự nhàn nhã.
Có nghèo khổ khổn-cùng, lúc được giầu-sang phú túc, mới thực sung-sướng, hiểu được giá trị
của đồng tiền, lẽ vinh-nhục ở cuộc đời. Một dân tộc từng quằn quại rên siết, đau khổ trong cảnh
khói lửa chiến-tranh, chia lìa chết-chóc thì khi được hưởng hòa bình, mọi người mới cảm thấy
lạc thủ an-vui, sự cần phải sống trong tình thương, che-chở, đùm bọc lẫn nhau, hơn là xâu-xé
hận thù.

Ở đời, mỗi người có một cái vui, cái thú khác nhau, tùy theo cảnh ngộ và sở thích của từng cá
nhân. Nhưng có thể nói một cách bao gồm tổng quát là cái thú ở đời đều ở trong sự mâu thuẫn,
trái ngược ấy. Từ muôn thuở sự trái ngược này vẫn thường diễn biến, tạo nên sự éo-le, bi-hoan
ở cuộc đời.
11 - LƯỠNG ĐẠO LUẬN
Là một lối lý luận vạch ra hai con đường, hai sự lý - mà đường nào cũng phải, lý nào cũng đúng
để dồn kẻ bị ta chỉ trích vào một trong hai con đường ấy (tức là buộc họ phải chọn một trong
hai giải pháp của ta đã đề ra, đề đi đến một kết-thúc theo dụng ý của mình).
Tỷ dụ : Bức thư của cụ Phan-Chu-Trinh gửi cho viên Toàn quyền Pháp ở Đông Dương đề tỏ
bày, trần tình cái thảm cảnh của dân ta, đồng thời tiên sinh bàn về một chính-sách khai hóa dân
ta với Pháp, đoạn kết bức thư tiên sinh đã khảng khái dùng lối Lưỡng đạo luận đề mong nhà
cầm quyền Pháp dứt khoát thái độ với cụ:
... Tôi nay phẫn uất đầy bụng, không biết kêu nài cùng ai, nên phải cầm ngọn bút nói ngay, dầu
ai có thù-oán ghét ghen cũng trối kệ; nếu quan lớn bảo hộ mà c...
 
Gửi ý kiến