GÓP PHẦN NHỎ VÀO CUỘC VẬN ĐỘNG LỚN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 09h:24' 25-12-2024
Dung lượng: 1'011.0 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 09h:24' 25-12-2024
Dung lượng: 1'011.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TS. NGUYỄN XUÂN THÔNG
GÓP PHẦN NHỎ VÀO CUỘC VẬN ĐỘNG LỚN
(Những bài viết về học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh, xây dựng Đảng)
(Xuất bản lần thứ hai)
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
HÀ NỘI - 2014
3
Mã số:
4
3KV4
CTQG2014
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Nhân dịp kỷ niệm 77 năm Ngày thành lập Đảng
(3-2-1930 – 3-2-2007), Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa X đã phát động cuộc vận động "Học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh".
Đây là một cuộc vận động có ý nghĩa to lớn, sâu rộng
và có sức lan tỏa mạnh mẽ, có tác dụng tích cực trong đời
sống xã hội nước ta hiện nay.
Ngày 14-5-2011, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa XI ra Chỉ thị số 03-CT/TW "Về tiếp tục
đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh" với nhiều nội dung, yêu cầu, trong đó: Tiếp tục
tổ chức học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh. Xây dựng và thực hiện những chuẩn mực
đạo đức phù hợp với đặc điểm từng ngành, từng địa
phương, cơ quan, đơn vị. Đưa việc học tập, làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên.
Giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh.
Để góp phần thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 03-CT/TW
của Bộ Chính trị, kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của
5
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tái bản cuốn sách Góp phần nhỏ vào cuộc vận
động lớn của TS. Nguyễn Xuân Thông. Cuốn sách gồm
nhiều bài viết về tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh và về
xây dựng Đảng của tác giả đã đăng trên các sách, báo, tạp
chí, kỷ yếu hội thảo.
Hy vọng cuốn sách sẽ đưa đến cho bạn đọc những hiểu
biết cụ thể, sâu sắc thêm trong quá trình thực hiện Chỉ thị số
03-CT/TW cũng như góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị
quyết Trung ương 4 khóa XI của Đảng "Một số nhiệm vụ
cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay".
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 3 năm 2014
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ
THẬT
6
SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN MỞ RA BƯỚC NGOẶT
CHO DÂN TỘC*
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã tạm
thời đặt được ách thống trị lên đất nước ta. Việt Nam trở
thành nước thuộc địa, nửa phong kiến. Dân tộc ta lúc đó
như trong đêm dài nô lệ, không có đường ra.
Một câu hỏi lớn cho dân tộc lúc bấy giờ là con đường
cứu nước ở đâu và làm thế nào để giải phóng nhân dân
khỏi ách áp bức, nô lệ.
Tiếp nối truyền thống yêu nước hàng ngàn năm của
dân tộc, các phong trào đấu tranh của nhân dân ta đã diễn
ra sôi nổi, liên tục trên khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam,
như phong trào kháng chiến của đồng bào các tỉnh ở Nam
Bộ, phong trào Cần Vương của Phan Đình Phùng ở Trung
Bộ, phong trào đấu tranh du kích của nông dân Yên Thế
do cụ Hoàng Hoa Thám lãnh đạo ở Bắc Bộ... Nhưng
những phong trào đấu tranh nói trên đều lần lượt bị thất
* Bài đăng trên tạp chí Văn hóa Nghệ An, số 188, ngày 10-12011.
7
bại, nguyên nhân là chưa tìm ra được con đường cứu nước
đúng đắn trước kẻ thù là bọn thực dân, phong kiến.
Sinh ra trong một gia đình nông dân yêu nước ở một
địa phương nhân dân có truyền thống đấu tranh anh dũng
chống giặc ngoại xâm và cần cù lao động, lại tận mắt chứng
kiến cuộc sống đau khổ của người dân nô lệ và những vụ
truy lùng, chém giết của bọn thực dân Pháp đối với nghĩa
quân và đồng bào ta trong cuộc khởi nghĩa Hương Khê, hay
hình ảnh những người dân bị bắt đi phu ở Cửa Rào chết một
cách thê thảm, dội về các làng quê nghèo ở Nghệ Tĩnh đã in
đậm trong trí nhớ của Nguyễn Tất Thành ngay từ nhỏ. Anh
sớm nhận thức được rằng cả dân tộc bị nô lệ thì mỗi con
người cũng phải chịu thân phận nô lệ, lầm than, do đó Anh
nung nấu và quyết định phải hành động để cứu nước.
Anh rất khâm phục tinh thần yêu nước của Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh, nhưng không hoàn toàn tán thành
cách làm của các cụ. Một người dựa vào hoàng phái, quan
lại và Nhật Bản; một người dựa chính vào thực dân Pháp
để mong giành lại độc lập cho nhân dân ta. Anh thấy
những chủ trương đó là không thực tế, không đem lại kết
quả bởi chẳng khác gì "đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa
sau", hay dựa vào lòng thương của kẻ cướp nước. Anh cho
rằng để cứu nước phải bắt đầu bằng việc xem xét, quan sát
thật nhiều, phải không ngừng học hỏi rút ra bài học và
phải có lý luận cách mạng đúng đắn, phù hợp. Anh quyết
định đi sang các nước phương Tây nơi có trào lưu tư tưởng
8
tự do, dân quyền, dân chủ và khoa học - kỹ thuật phát triển,
với một mục tiêu rõ rệt, xem nhân dân các nước ấy làm thế
nào mà trở nên độc lập, rồi sẽ trở về "giúp đỡ đồng bào"
đánh đuổi thực dân Pháp.
Ngày 5-6-1911, với hai bàn tay trắng, Anh xuống làm
phụ bếp trên chiếc tàu "Đô đốc Latútsơ Tờrêvin" của Pháp
đang đậu ở cảng Sài Gòn. Anh lấy tên là Ba. Một cái tên
dễ nhớ, chân chất, bình dị như biết bao cái tên của những
người dân lao động Việt Nam khác. Anh rời Tổ quốc ra đi
để tìm đường cứu nước một cách âm thầm, lặng lẽ. Và lúc
bấy giờ cũng chưa ai hiểu được rằng cuộc ra đi của người
thanh niên 21 tuổi ấy chứa đựng cả một lý tưởng cao đẹp,
một tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, một quyết
tâm cao cả. Cuộc ra đi có ảnh hưởng quyết định không chỉ
đối với cuộc đời của một con người, mà còn mở ra bước
ngoặt cho cả dân tộc, mở ra một phương hướng mới cho
sự nghiệp cứu nước của nhân dân ta.
Tàu nhổ neo, đưa Anh xa dần Tổ quốc. Nhưng hình
ảnh Tổ quốc luôn luôn vẫn ở trong Anh.
Với mục đích cứu nước và giải phóng dân tộc, với
lòng yêu nước và căm thù sâu sắc bọn thực dân, Anh đã
đi, đi rất nhiều, trước hết là sang Pháp. Anh kiên trì học
tập, quan sát, so sánh, kiên trì chịu đựng mọi gian nan, thử
thách chỉ mong sao thực hiện được mục đích cao cả của
mình là nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được tự do,
đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học
9
hành.
Đây là cuộc ra đi tìm đường cứu nước của một người
thanh niên có lý tưởng và hoài bão cao đẹp, có suy nghĩ
độc lập. Trên cơ sở phân tích nhiều điều kiện khách quan,
những yếu tố chủ quan của thực tế lịch sử Việt Nam lúc
đó. Từ lòng yêu thương đất nước, dân tộc sâu sắc, thông
qua sự suy nghĩ của mình, Anh sớm nhận thức được kẻ thù
của dân tộc để đi thẳng tới tìm hiểu bản chất của nó. Nhận
thức đó mang lại cho người thanh niên Nguyễn Tất Thành,
một lòng tin và quyết tâm hành động phù hợp với chiều
hướng phát triển của lịch sử dân tộc, phù hợp với lịch sử
phát triển của nhân loại.
Đây không phải là cuộc ra đi theo một khát vọng cá
nhân, không tính toán. Đây là một cuộc ra đi có cân nhắc
lựa chọn, một sự hy sinh cho quyền lợi của dân tộc. Anh
đi sang phương Tây, làm tất cả những công việc lao động
bình thường, vất vả, cũng vì mục đích cao cả ấy. Sự lựa
chọn đó đã đưa Anh dần dần đến với ánh sáng của cách
mạng, ánh sáng của chân lý.
Gần 10 năm sau, kể từ khi người thanh niên yêu nước
21 tuổi lấy tên là Ba rời Tổ quốc đi sang phương Tây để
tìm đường cứu nước, ánh sáng đó đã đến với Nguyễn Ái
Quốc. Đó là ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin mà Anh
tiếp nhận được từ trong những ngày còn hoạt động gian
khổ ở nước ngoài. Ánh sáng đó đã được truyền vào nước
ta cùng với tư tưởng của Người trở thành ngọn đèn pha soi
10
sáng con đường của chúng ta để giành được những thắng
lợi ngày càng to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong công cuộc đổi
mới, hội nhập quốc tế hiện nay.
Từ trong đêm tối của nô lệ lầm than, Bác Hồ đã đưa cả
dân tộc ta bước ra ánh sáng, đưa dân tộc ta tới độc lập, tự
do và chủ nghĩa xã hội.
Kỷ niệm lần thứ 100 ngày Bác ra đi tìm đường cứu
nước (1911-2011), là dịp để mỗi chúng ta cùng nhau học
tập và noi theo tấm gương hy sinh suốt đời cho cách mạng,
cho dân tộc của Bác Hồ, để từ đó bằng những việc làm
thiết thực, có hiệu quả góp phần vào việc giữ vững sự ổn
định và phát triển của đất nước, thực hiện thành công mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
và phát triển vững chắc theo con đường mà Đảng, Bác Hồ
kính yêu đã vạch ra.
11
BÁC HỒ VỀ ĐÂY TỔ QUỐC ƠI*
Ngày 28-1-1941, tức ngày mồng 2 Tết Tân Tỵ, sau 30
năm xa Tổ quốc tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã về đến
xã Trường Hà, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng để cùng
Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng nước ta.
Cùng về với Bác Hồ năm 1941 còn có các đồng chí Phùng
Chí Kiên, Đặng Văn Cáp, Lê Quảng Ba, Hoàng Văn Lộc,
Thế An.
"Bác đã về đây Tổ quốc ơi
Nhớ thương hòn đất ấm hơi Người
Ba mươi năm ấy chân không nghỉ
Mà đến bây giờ mới tới nơi".
(Tố Hữu)
Bác Hồ chọn Cao Bằng làm nơi đứng chân đầu tiên,
bởi xét về mặt địa thế, địa hình, quân sự, kinh tế và con
người, nơi đây có đủ điều kiện trở thành một bàn đạp
* Bài đăng trên báo Phú Yên, ngày 29-1-2011.
12
chiến lược cho sự phát triển của công cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc.
Cao Bằng là tỉnh có biên giới giáp với Trung Quốc,
phía nam giáp với Lạng Sơn và Bắc Kạn, phía tây giáp với
Hà Giang và Tuyên Quang. Từ Cao Bằng có thể "nam
tiến" xuống các tỉnh miền xuôi, phát triển và mở rộng căn
cứ cách mạng ở các tỉnh Việt Bắc và nhiều nơi khác trong
cả nước.
Cao Bằng là tỉnh miền núi, nhưng có 10% đất bằng
phẳng với những cánh đồng ở Sóc Hà, Đôn Chương, Phù
Ngọc, Cổ Nông, Pò Tấu... có khả năng tự cung, tự cấp
những nhu cầu kinh tế thiết yếu, bảo đảm cho việc nuôi
dưỡng lực lượng vũ trang cách mạng trong buổi đầu
thành lập. Với 90% diện tích rừng núi, địa hình hiểm trở,
Cao Bằng lại rất thuận lợi cho việc bảo vệ, phát triển các
cơ sở cách mạng bí mật cũng như hoạt động của các đội
du kích, tự vệ.
Đây cũng là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc
Kinh, Tày, Nùng, Hoa, Lô Lô, Mông... trong đó dân tộc
Tày, Nùng chiếm 80% dân số. Đồng bào nơi đây có truyền
thống lao động cần cù, đoàn kết và giàu lòng yêu nước. Vì
vậy, Cao Bằng là nơi có phong trào cách mạng từ rất sớm.
Khi thực dân Pháp đánh chiếm Cao Bằng (năm 1886),
nhân dân các dân tộc đã đứng lên chiến đấu trực diện với
kẻ thù, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Từ năm 1889 đến
năm 1893, phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân
13
Cao Bằng nổ ra khắp nơi. Hàng trăm cuộc tập kích vào bọn
thực dân Pháp đã diễn ra thường xuyên trên đất Cao Bằng
như ở Nguyên Bình, Ngân Sơn, Hà Quảng, Quảng Uyên,
Trùng Khánh... Sau khi chi bộ cộng sản đầu tiên ở Cao
Bằng được thành lập tại xã Hoàng Tung, châu Hòa An vào
tháng 4-1930, do đồng chí Hoàng Văn Nọn làm bí thư,
phong trào đấu tranh của nhân dân các dân tộc nơi đây đã
mở ra bước ngoặt mới, được sự lãnh đạo trực tiếp của
Đảng nên ngày càng lớn mạnh và hòa cùng với phong trào
của cả nước.
Đến năm 1935, các cơ sở cách mạng đã lan khắp cả
tỉnh và các chi bộ đảng được thành lập ở nhiều nơi. Cùng
thời gian đó, nhiều tổ chức "Công hội đỏ", "Nông hội đỏ",
"Hội bản", "Hội làng" được thành lập ở Hòa An, Hà Quảng,
Nguyên Bình... Đặc biệt, từ những năm 1937-1939, dưới sự
lãnh đạo của Tỉnh ủy Cao Bằng, Huyện ủy Hà Quảng, từ
Lục Khu - Pác Bó đến Nà Sắc, dải đất dọc biên giới Việt Trung đã xây dựng được các đội vũ trang, các cơ sở cách
mạng hoạt động tương đối vững chắc, bảo đảm bí mật.
Sau một thời gian ở tại nhà ông Máy Lỳ, một cơ sở
cách mạng trong khu vực Pác Bó, ngày 8-2-1941, Bác Hồ
cùng một số cán bộ chuyển lên hang Cốc Bó, thuộc khu
vực đầu nguồn. Ở đây một thời gian, Người chuyển lên
hang Lũng Lạn cách hang Cốc Bó chừng 200m. Vào
cuối tháng 3-1941, Người lại chuyển lên ở và làm việc tại
lán Khuổi Nậm. Những địa điểm này đều nằm ở khu vực
14
Pác Bó. Từ đó, Pác Bó với "núi Các Mác" và "suối Lênin"
đã gắn liền với tên tuổi, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh kính yêu, đã đi vào lịch sử đấu tranh hào
hùng, vẻ vang của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng.
"Non xa xa, núi xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lênin, kia núi Mác
Hai tay gây dựng một sơn hà".
Tại đây, Bác Hồ đã mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ
cho phong trào Việt Minh. Người trực tiếp giảng dạy,
huấn luyện cán bộ về mục đích, điều lệ của Mặt trận, về
cách thức tổ chức các hội và tuyên truyền, vận động quần
chúng. Mặc dù các lớp học chỉ tổ chức trong thời gian
ngắn, thường học vào ban đêm, nhưng số lượng tham gia
ngày càng đông và từ đó đã góp phần quan trọng cung cấp
kịp thời cho phong trào lúc bấy giờ. Chỉ trong năm 1941,
tại Pác Bó đã có 6 lớp huấn luyện với trên 120 học viên.
Từ đó, phong trào Việt Minh ngày càng lan rộng. Từ tháng
2 đến tháng 4-1941 ở Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình
thu hút gần 2.000 người thuộc các tổ chức, thành phần,
dân tộc, lứa tuổi tham gia.
Tại nơi đây, một sự kiện quan trọng đã diễn ra. Đó là,
từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, ở lán Khuổi Nậm, Pác Bó
(Hà Quảng, Cao Bằng), Bác Hồ đã chủ trì Hội nghị Trung
ương Đảng lần thứ tám, với sự tham gia của các đồng chí:
Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Vũ
15
Oanh, Phùng Chí Kiên, Bùi San, Hồ Xuân Lưu... Hội nghị
đã nêu cao ngọn cờ dân tộc, đề ra chủ trương vũ trang
khởi nghĩa giành chính quyền và quyết định thành lập
Mặt trận Việt Minh nhằm đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân
đánh đuổi Pháp, Nhật, giành độc lập cho dân tộc và quyết
định duy trì, phát triển căn cứ địa du kích Bắc Sơn - Võ
Nhai, củng cố và mở rộng căn cứ địa Cao Bằng, coi
chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn
Đảng, toàn dân lúc này.
Ngày 6-6-1941, cũng tại Pác Bó, Cao Bằng, ký tên
Nguyễn Ái Quốc, Bác Hồ đã gửi thư cho toàn thể đồng
bào trong cả nước kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân tích cực
tham gia Mặt trận Việt Minh đoàn kết làm cách mạng, đánh
đuổi đế quốc phát xít giành độc lập cho đất nước. Người
cho xuất bản báo Việt Nam độc lập gọi tắt là Việt Lập để
tuyên truyền vận động quần chúng, đưa đường lối, chính
sách của Mặt trận Việt Minh đến với mọi người dân, giáo
dục, giác ngộ họ làm cách mạng. Người đã biên soạn
nhiều cuốn sách như: Con đường giải phóng, Lịch sử nước
ta, Mười điều Việt Minh, Địa dư Bắc Kỳ..., sáng tác nhiều
thơ ca (khoảng 30 bài) nhằm giáo dục quần chúng tinh
thần yêu nước, truyền thống đoàn kết, đấu tranh bất khuất
của dân tộc.
Trong thời gian sống và hoạt động ở Cao Bằng, để
trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Bác Hồ với bộ quần áo
Nùng bạc màu, chiếc mũ vải và đôi hài bằng lá mo,
16
thường đến thăm, gặp gỡ, trò chuyện với đồng bào các dân
tộc ở Pác Bó, giải thích cho họ nguyên nhân của sự khổ
cực, động viên, hướng dẫn họ tham gia Mặt trận Việt
Minh, tổ chức các hội yêu nước. Có thể nói, hình ảnh
"Ông Ké", "Già Thu", "Đồng chí Già" thân thiết, gần gũi
đã in đậm trong lòng người dân Pác Bó ngay những ngày
đầu của cách mạng khi Người mới về nước.
Kỷ niệm 70 năm ngày Bác Hồ trở về Tổ quốc (19412011) là dịp để không những nhân dân các dân tộc Cao
Bằng mà cả những người Việt Nam chúng ta ở mọi miền
Tổ quốc càng thêm tự hào, tin tưởng và nhớ tới công lao to
lớn của Người đối với dân tộc, đất nước, nguyện góp phần
thiết thực làm cho non sông gấm vóc của chúng ta ngày
càng "đàng hoàng, to đẹp hơn", thực hiện thành công mục
tiêu và sự nghiệp cách mạng mà Bác Hồ và Đảng đã vạch
ra.
17
BÁC HỒ - TẤM GƯƠNG TIÊU BIỂU CHO KHỐI
ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC*
Nói đến sự thành công của Bác Hồ và Đảng ta trong
chiến lược đại đoàn kết, một điều hết sức quan trọng mà ai
cũng nhận thấy đó là uy tín và tấm gương trong sáng suốt
đời phấn đấu, hy sinh vì đất nước, dân tộc, vì hạnh phúc
mọi người của Bác Hồ kính yêu.
Điều này, trong nhiều bài viết, nhiều cuốn sách, xuất bản
ở trong nước và nước ngoài, nhiều công trình nghiên cứu,
nhiều cuộc hội nghị, hội thảo đều đã khẳng định.
Trong tác phẩm: Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự nghiệp vĩ
đại, gương sáng đời đời, đồng chí Trường Chinh có viết:
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chiến sĩ cộng sản mẫu mực.
Đạo đức và phẩm chất cao quý của Người là sự kết tinh
những truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam,
cộng với đạo đức cộng sản chủ nghĩa của giai cấp công
nhân, giai cấp triệt để cách mạng của thời đại, có sứ mệnh
* Bài đăng trên báo Hà Nội mới, số 34, ngày 19-11-1995.
18
lịch sử cải tạo thế giới, thiết lập xã hội cộng sản chủ nghĩa
trên hành tinh chúng ta.
Lẽ sống của Người là luôn luôn toàn tâm, toàn ý phục vụ
cách mạng, phục vụ nhân dân, suốt đời phấn đấu hy sinh
vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng
sản. Người nói: Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột
bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân
ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn,
áo mặc, ai cũng được học hành.
Bằng cả cuộc đời hy sinh cho sự nghiệp cách mạng,
cho hạnh phúc của nhân dân, tấm gương của Người chiếu
sáng đến mọi tâm hồn, thức tỉnh mọi trái tim yêu nước.
Bởi vậy, đến với Bác Hồ, đến với sự nghiệp cách mạng
của Đảng, của dân tộc ta, không phải chỉ có những người
cộng sản, mà cả mọi tầng lớp lao động và những người
trước đây có lúc lầm đường, lạc lối, những người từng
sống và làm việc dưới chế độ cũ; không phải chỉ có đồng
bào Kinh mà cả đồng bào các dân tộc thiểu số anh em như
Tày, Nùng, Mông, Gia Rai, Ê Đê, Chăm, Khơme...; không
phải chỉ đồng bào lương mà cả các tôn giáo; không chỉ
những người sống trên lãnh thổ Việt Nam, ở cả ba miền
Bắc - Trung - Nam mà cả những người Việt Nam sống ở
nước ngoài, những nhà trí thức nổi tiếng như: Trần Đại
Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Đặng Thai Mai, Trần
Hữu Tước, Đặng Văn Ngữ, Phạm Ngọc Thạch, Lương
Định Của... Hoặc như cụ Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại,
19
Phan Anh, Kiều Hữu Hỷ, các linh mục: Phạm Bá Trực, Vũ
Xuân Kỷ, Nguyễn Thế Vịnh, Hồ Thành Biên... Tất cả đều
hướng theo ngọn cờ đại đoàn kết của Bác Hồ, của Đảng ta
và được Bác Hồ thu phục, cảm hóa. Đồng chí Phạm Văn
Đồng viết: Hồ Chí Minh càng nhập vào nhân dân và nhân
dân càng hòa với tấm lòng bao la của Bác.
Không phải chỉ có nhân dân lao động, đồng bào trong
nước, những người Việt Nam thuộc nhiều thành phần, dân
tộc, tôn giáo, lứa tuổi khác nhau ca ngợi, học tập Bác, noi
gương theo con đường của Bác kính yêu mà những người
nước ngoài thuộc nhiều quốc tịch, vị trí, lứa tuổi, chính
kiến khác nhau cũng đều có chung ý kiến bày tỏ sự kính
trọng, khâm phục cuộc đời và tấm gương của Bác, bày tỏ
lòng tin tưởng ở Bác. Báo Lơ Phigarô (Le Figaro) (4-121945) đăng bài của tác giả Giannơ Đờ Côkê đã viết rằng:
Được tiếp xúc với nhân vật mà tiếng nói đã thổi bùng
nhiệt huyết của người Việt Nam, tôi chờ đợi gặp một nhà
hùng biện ồn ào. Vậy mà trước mắt tôi lại là một con
người hiền từ, thanh lịch và Người từ nhân dân mà ra, ở
Người thể hiện một hình mẫu hoàn thiện. Không nghi ngờ
gì nữa, ông Hồ Chí Minh quả có một tinh thần đoàn kết và
một uy tín lớn lao trong nhân dân Việt Nam.
Còn cố Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai, trong lần
gặp Bác Hồ ở Hà Nội (năm 1960) đã nói: Tôi rất kính trọng
Hồ Chủ tịch, vì ngay từ khi ở Pari, Hồ Chủ tịch đã dìu dắt,
giác ngộ, tổ chức cho tôi vào con đường cách mạng như
20
ngày nay. Tôi rất biết ơn Hồ Chủ tịch.
Và một nhà khoa học, giáo sư người Ấn Độ tên là
Chacờra Bôty viết: "Hồ Chí Minh là một con người đức tài
trọn vẹn".
Cống hiến trọn đời mình cho tự do, độc lập và hạnh
phúc của dân tộc, của loài người; cuộc đời, sự nghiệp của
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành niềm tin tưởng, lòng tự
hào của dân tộc và sự yêu mến, kính trọng của bạn bè.
Cuộc đời, tấm gương của Người là biểu hiện của tình hữu
nghị và sự đoàn kết. Tiến sĩ M. Átmét - Giám đốc
UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương ca ngợi:
Người là một trong những lãnh tụ có ảnh hưởng nhiều
nhất của các dân tộc ở thế kỷ XX. Trong khi chiến đấu cả
đời mình để chống lại ách thống trị của thực dân, đế quốc,
Người vẫn là một nhà nhân văn chân chính trong tư tưởng
và hành động.
Cùng với những tư tưởng, đường lối, chủ trương,
chính sách đúng đắn, những biện pháp cụ thể, phù hợp
trong quá trình lãnh đạo cách mạng; cuộc đời hoạt động,
tấm gương trong sáng của Bác Hồ đã trở thành sức mạnh,
sự thành công của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc và
đoàn kết quốc tế của Đảng ta, dân tộc ta, góp phần quyết
định làm nên những thắng lợi vẻ vang trong thế kỷ XX.
Đúng như đồng chí Phạm Văn Đồng đã từng viết: "Là
linh hồn của khối đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh suốt
đời chăm lo quy tụ mọi lực lượng, mọi người yêu nước và
21
tiến bộ dưới ngọn cờ cách mạng.
Với chính sách đại đoàn kết, với tư tưởng và đạo đức
trong sáng, Hồ Chí Minh có sức tập hợp và thuyết phục lạ
thường".
Và ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, với
những thuận lợi mới to lớn, nhưng cũng có không ít thách
thức, khó khăn, tấm gương tiêu biểu đại đoàn kết của
Người vẫn là nguồn sức mạnh tinh thần và vật chất to lớn
cho dân tộc ta vượt qua khó khăn, giành thắng lợi trên con
đường mà Đảng ta, dân tộc ta đã lựa chọn.
22
CUỘC VẬN ĐỘNG VỀ ĐẠO ĐỨC CÓ Ý NGHĨA TO
LỚN*
Đúng vào dịp kỷ niệm 77 năm Ngày thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam (3-2-2007), Bộ Chính trị khóa X đã phát
động cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh".
Đây là một cuộc vận động có ý nghĩa to lớn, sâu rộng
trong toàn Đảng, toàn dân hiện nay. Thông qua cuộc vận
động nhằm khơi dậy và phát huy các giá trị đạo đức truyền
thống tốt đẹp, đấu tranh khắc phục sự suy thoái về đạo
đức, lối sống; chặn đứng, đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng,
lãng phí và các tệ nạn xã hội; hình thành, phát triển các giá
trị đạo đức xã hội chủ nghĩa, xây dựng con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa có nhân cách cao đẹp, bản lĩnh
chính trị vững vàng, lối sống văn minh, xây dựng các quan
hệ xã hội lành mạnh, tiến bộ.
* Bài in trong cuốn Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.
23
Yêu cầu đặt ra là: Làm cho toàn Đảng, toàn dân thấm
nhuần nội dung và nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò to lớn
của những lời Bác dạy và tấm gương đạo đức trong sáng
của Bác; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ ở các cấp, các
ngành, các địa phương và ở mỗi con người; hình thành
phong trào tu dưỡng, rèn luyện theo tấm gương của Bác để
xây dựng nền đạo đức mới, con người mới Việt Nam.
Để thực hiện kết quả cuộc vận động có một số vấn đề
đặt ra:
1. Cần hiểu rõ vì sao Đảng ta nhấn mạnh mục đích,
tầm quan trọng to lớn của cuộc vận động Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Thứ nhất: Bởi tầm quan trọng của đạo đức đối với xã
hội và mỗi con người. Đây là điều đã được khẳng định từ
trước đến nay và kể cả sau này, không ai có thể phủ nhận.
Thực tế cho thấy, xã hội hưng thịnh hay suy vong đều do
đạo đức quyết định. Vấn đề này như một chân lý, dù ai đó
có nơi, có lúc lãng quên nó. Chúng ta còn nhớ Lê Quý
Đôn đã từng chỉ ra năm nguy cơ mất nước: "Trẻ không
kính già. Trò không trọng thầy. Binh kiêu, tướng thoái.
Tham nhũng tràn lan. Sĩ phu ngoảnh mặt". Rõ ràng những
điều ông nêu lên đều liên quan tới đạo đức xã hội.
Còn Lương Thế Vinh, khi nhà vua hỏi về đạo trị nước
như thế nào, ông đã thẳng thắn chỉ ra rằng: "Bệ hạ sửa
24
mình, bầy tôi tự sửa mình, chính sự sẽ tốt đẹp. Lệ dân có
đức thì chinh phục được lòng người và trị được tệ xấu".
Đảng ta trong nhiều văn kiện qua các thời kỳ cũng đã
nhấn mạnh tới tầm quan trọng to lớn của đạo đức cách
mạng đối với mỗi con người cũng như trong xã hội và
luôn quan tâm tới việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức mới
cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Trong mỗi chúng ta chắc ai cũng nhớ và thuộc câu
Bác Hồ kính yêu đã từng căn dặn: "Cũng như sông thì có
nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây
phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng
phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy
cũng không lãnh đạo được nhân dân"1.
Còn biết bao nhiêu những câu Bác viết, những lời
Bác nói về tầm quan trọng của đạo đức cách mạng đối
với Đảng, dân tộc cũng như với từng ngành, từng giới
khác nhau, không thể nêu hết được ở đây. Điều đó như
một sự khẳng định giá trị đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh
và tấm gương đạo đức trong sáng của Bác.
Đồng chí Phạm Văn Đồng, người học trò xuất sắc, gần
gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo lỗi lạc của
Đảng ta, nhân dân ta, mà cuộc đời, sự nghiệp gắn liền với
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội,
2011, t.5, tr.292.
25
những chiến công vang dội của dân tộc trong thế kỷ XX
cũng đã từng viết: Đạo đức là cái quý nhất, là linh hồn của
một con người, một xã hội, một chế độ và một nền văn
minh.
Bởi vậy, tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của cuộc vận
động này, chính là xuất phát từ nội hàm của đạo đức.
Thứ hai: Bên cạnh những mặt tốt đẹp của đạo đức,
được hình thành, phát triển trong xã hội ta, thì hiện nay đã
và đang có những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống
trong cán bộ, đảng viên và nhân dân rất đáng lo ngại, có
nơi, có lúc rất nghiêm trọng. Nếu không ngăn chặn, đẩy lùi
sẽ dẫn tới nguy cơ, liên quan đến sự tồn vong của Đảng và
chế độ.
Những biểu hiện về suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối
sông hiện nay đã được Đảng nêu lên là:
- Chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng... có
xu hướng phát triển.
- Tham nhũng, lãng phí, đưa và nhận hối lộ diễn ra
khá phổ biến ở nhiều nơi, nhiều cấp trở thành vấn đề bức
xúc hiện nay trong Đảng và ngoài xã hội.
- Tình trạng chạy chức, quyền, tiền, danh, và tội, cũng
như quan liêu, mất đoàn kết diễn ra khá phổ biến.
- Sự suy thoái đạo đức trong gia đình, giữa cá nhân và
xã hội, lối sống buông thả, hưởng thụ tồn tại trong nhiều
người, nhiều tầng lớp. Tệ cờ bạc, mê tín dị đoan... có chiều
26
hướng lan rộng, ảnh hưởng trực tiếp tới thuần phong mỹ
tục, trật tự an toàn xã hội và tác động xấu tới nền tảng đạo
đức mà chúng ta xây dựng.
- Đạo đức nghề nghiệp hiện bị sa sút ở nhiều nơi,
nhiều lĩnh vực, kể cả trong những ngành như y tế, giáo
dục, bảo vệ pháp luật và báo chí.
Nếu chúng ta không ngăn chặn, đẩy lùi được tình
trạng suy thoái đạo đức nói trên trong xu thế hội nhập và
tác động của kinh tế thị trường hiện nay thì không những
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh khó lòng thực hiện được, mà ngay cả sự ổn định của
đất nước cũng có nguy cơ bị đe dọa. Vì vậy, đây là cuộc
vận động có ý nghĩa rất to lớn, quan trọng và cấp bách.
Thứ ba: Chủ tịch Hồ Chí Minh là hình ảnh tiêu biểu,
tập trung và trong sáng nhất của đạo đức cách mạng để
mỗi người chúng ta học tập, noi theo.
Điều này được chứng minh và thể hiện trong toàn bộ
cuộc đời hoạt động cách mạng, từ lúc ra đi tìm đường cứu
nước, cho đến phút cuối cùng trước khi "đi xa", và được
thể hiện đầy đủ, cụ thể trong lời nói đến mỗi việc làm, từ
hành vi đến lý tưởng đạo đức của Bác.
Bác nói: "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột
bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta
được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo
27
mặc, ai cũng được học hành"1. Và cả cuộc đời của Bác đã
cống hiến, hy sinh cho điều ham muốn đó. Bác căn dặn:
Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta
dùng... đều do công sức, mồ hôi của nhân dân làm ra, do
đó chúng ta phải đền bù xứng đáng. Chính Bác Hồ đều
nghĩ và làm mọi việc như vậy.
Năm 1963, khi Quốc hội quyết định tặng cho Bác Huân
chương Sao Vàng - huân chương cao quý nhất của Đảng,
Nhà nước ta, Bác từ chối vì miền Nam chưa được giải
phóng, Tổ quốc chưa thống nhất, Bác coi nhiệm vụ cách
mạng chưa hoàn thành. Bác nói: Một ngày mà Tổ quốc
chưa thống nhất, đồng bào còn đau khổ, hy sinh là một
ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên.
Chúng ta hết sức xúc động khi đọc Di chúc trong phần
về việc riêng, Bác viết: "Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục
vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay
dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối
hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa,
nhiều hơn nữa"2.
Khi Bác Hồ qua đời, trong Điếu văn của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng đã khẳng định: "Hơn 60 năm qua,
từ buổi thiếu niên cho đến phút cuối cùng, Hồ Chủ tịch đã
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.187.
2. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012, tr.27.
28
cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của
nhân dân ta và nhân dân thế giới" và "cả cuộc đời vĩ đại
của Hồ Chủ tịch là tấm gương mãi mãi sáng ngời chí khí
cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập, tự chủ, lòng yêu
nhân dân thắm thiết, đạo đức chí công, vô tư, tác phong
khiêm tốn, giản dị".
Ở Người, không chỉ là nhà đạo đức học mà còn là một
biểu tượng toàn vẹn của đạo đức cách mạng.
Do đó, được học tập, noi gương Bác, đối với mỗi
người Việt Nam, từ già đến trẻ, đồng bào các dân tộc, tôn
giáo, người sống ở trong nước, hay đang ở nước ngoài, có
thể nói ai cũng thấy vừa là vinh dự, niềm tự hào, vừa là
trách nhiệm và niềm tin. Qua cuộc vận động mỗi người có
những việc làm cụ thể, thiết thực, góp phần vào sự chuyển
biến chung của xã hội. Như đồng chí Phạm Văn Đồng đã
nói: "Hồ Chí Minh là hình ảnh sống của một lãnh tụ của
nhân dân, được nhân dân tin yêu coi như ngọn cờ của toàn
dân tộc... Ở Người, tỏa ra hào quang của một cuộc đời cao
thượng, một tâm hồn trong sáng xưa nay hiếm.
Trước tình trạng tham nhũng và tệ nạn xã hội lan rộng
ở nước ta hiện nay, chúng ta càng thấy rõ ý nghĩa sâu xa,
tầm quan trọng và tính thời sự của những lời Bác dạy và
tấm gương đạo đức cách mạng của Bác Hồ".
2. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
29
Chí Minh vừa là chủ đề, vừa là nội dung của cuộc vận
động. Do đó quá trình học và làm cũng diễn ra chứ
không phải là giai đoạn nối tiếp nhau. Và trong quá
trình thực hiện cần hiểu rõ thế nào là học và thế nào là
làm theo tấm gương của Bác, trong đó làm phải là cơ
bản nhất
Thứ nhất, học tập đạo đức Hồ Chí Minh là chúng ta
cần hiểu thật rõ, thật đúng những gì Bác đã nói về đạo
đức, trước hết và cơ bản là hiểu đúng lý tưởng đạo đức
cách mạng của Bác.
Khi đề cập đến vấn đề này, cũng có người cho rằng
chẳng có gì mới, nhiều sách đã in, nhiều người đã biết và
không ít người còn thuộc lòng, việc gì phải học tập. Điều
đó không đúng, bởi lẽ: quan điểm đạo đức của Hồ Chí
Minh rất cao sâu, đề cập tới nhiều nội dung, nhiều đối
tượng khác nhau như:
- Trọn đời phấn đấu cho Đảng, cho cách mạng và dân
tộc.
- Khiêm tốn, giản dị, cần, kiệm, liêm, chính, chí công,
vô tư.
- Hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, xứng đáng là
người đày tớ trung thành của nhân dân.
- Là quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức
cách mạng, kiên quyết chống tham nhũng, quan liêu, tham
ô, lãng phí.
30
- Là lòng nhân ái, vị tha, thương dân, tin dân và kính
trọng dân.
- Nói đi đôi với làm.
- Là tinh thần quốc tế vô sản trong sáng...
Thử hỏi đến nay đã có mấy ai hiểu hết được nội hàm
và ý nghĩa sâu xa những quan điểm về đạo đức trong
những lời nói bình thường, giản dị, mộc mạc ấy của Bác.
Bác từng nói: Đã là con người thì ai cũng muốn ăn
ngon mặc đẹp. Và Bác phê phán: Nhưng chỉ biết một mình
ăn ngon, mặc đẹp, trong lúc nhân dân còn đói khổ là vô
đạo đức. Hoặ...
GÓP PHẦN NHỎ VÀO CUỘC VẬN ĐỘNG LỚN
(Những bài viết về học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh, xây dựng Đảng)
(Xuất bản lần thứ hai)
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
HÀ NỘI - 2014
3
Mã số:
4
3KV4
CTQG2014
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Nhân dịp kỷ niệm 77 năm Ngày thành lập Đảng
(3-2-1930 – 3-2-2007), Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa X đã phát động cuộc vận động "Học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh".
Đây là một cuộc vận động có ý nghĩa to lớn, sâu rộng
và có sức lan tỏa mạnh mẽ, có tác dụng tích cực trong đời
sống xã hội nước ta hiện nay.
Ngày 14-5-2011, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa XI ra Chỉ thị số 03-CT/TW "Về tiếp tục
đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh" với nhiều nội dung, yêu cầu, trong đó: Tiếp tục
tổ chức học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh. Xây dựng và thực hiện những chuẩn mực
đạo đức phù hợp với đặc điểm từng ngành, từng địa
phương, cơ quan, đơn vị. Đưa việc học tập, làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên.
Giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh.
Để góp phần thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 03-CT/TW
của Bộ Chính trị, kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của
5
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tái bản cuốn sách Góp phần nhỏ vào cuộc vận
động lớn của TS. Nguyễn Xuân Thông. Cuốn sách gồm
nhiều bài viết về tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh và về
xây dựng Đảng của tác giả đã đăng trên các sách, báo, tạp
chí, kỷ yếu hội thảo.
Hy vọng cuốn sách sẽ đưa đến cho bạn đọc những hiểu
biết cụ thể, sâu sắc thêm trong quá trình thực hiện Chỉ thị số
03-CT/TW cũng như góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị
quyết Trung ương 4 khóa XI của Đảng "Một số nhiệm vụ
cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay".
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 3 năm 2014
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ
THẬT
6
SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN MỞ RA BƯỚC NGOẶT
CHO DÂN TỘC*
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã tạm
thời đặt được ách thống trị lên đất nước ta. Việt Nam trở
thành nước thuộc địa, nửa phong kiến. Dân tộc ta lúc đó
như trong đêm dài nô lệ, không có đường ra.
Một câu hỏi lớn cho dân tộc lúc bấy giờ là con đường
cứu nước ở đâu và làm thế nào để giải phóng nhân dân
khỏi ách áp bức, nô lệ.
Tiếp nối truyền thống yêu nước hàng ngàn năm của
dân tộc, các phong trào đấu tranh của nhân dân ta đã diễn
ra sôi nổi, liên tục trên khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam,
như phong trào kháng chiến của đồng bào các tỉnh ở Nam
Bộ, phong trào Cần Vương của Phan Đình Phùng ở Trung
Bộ, phong trào đấu tranh du kích của nông dân Yên Thế
do cụ Hoàng Hoa Thám lãnh đạo ở Bắc Bộ... Nhưng
những phong trào đấu tranh nói trên đều lần lượt bị thất
* Bài đăng trên tạp chí Văn hóa Nghệ An, số 188, ngày 10-12011.
7
bại, nguyên nhân là chưa tìm ra được con đường cứu nước
đúng đắn trước kẻ thù là bọn thực dân, phong kiến.
Sinh ra trong một gia đình nông dân yêu nước ở một
địa phương nhân dân có truyền thống đấu tranh anh dũng
chống giặc ngoại xâm và cần cù lao động, lại tận mắt chứng
kiến cuộc sống đau khổ của người dân nô lệ và những vụ
truy lùng, chém giết của bọn thực dân Pháp đối với nghĩa
quân và đồng bào ta trong cuộc khởi nghĩa Hương Khê, hay
hình ảnh những người dân bị bắt đi phu ở Cửa Rào chết một
cách thê thảm, dội về các làng quê nghèo ở Nghệ Tĩnh đã in
đậm trong trí nhớ của Nguyễn Tất Thành ngay từ nhỏ. Anh
sớm nhận thức được rằng cả dân tộc bị nô lệ thì mỗi con
người cũng phải chịu thân phận nô lệ, lầm than, do đó Anh
nung nấu và quyết định phải hành động để cứu nước.
Anh rất khâm phục tinh thần yêu nước của Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh, nhưng không hoàn toàn tán thành
cách làm của các cụ. Một người dựa vào hoàng phái, quan
lại và Nhật Bản; một người dựa chính vào thực dân Pháp
để mong giành lại độc lập cho nhân dân ta. Anh thấy
những chủ trương đó là không thực tế, không đem lại kết
quả bởi chẳng khác gì "đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa
sau", hay dựa vào lòng thương của kẻ cướp nước. Anh cho
rằng để cứu nước phải bắt đầu bằng việc xem xét, quan sát
thật nhiều, phải không ngừng học hỏi rút ra bài học và
phải có lý luận cách mạng đúng đắn, phù hợp. Anh quyết
định đi sang các nước phương Tây nơi có trào lưu tư tưởng
8
tự do, dân quyền, dân chủ và khoa học - kỹ thuật phát triển,
với một mục tiêu rõ rệt, xem nhân dân các nước ấy làm thế
nào mà trở nên độc lập, rồi sẽ trở về "giúp đỡ đồng bào"
đánh đuổi thực dân Pháp.
Ngày 5-6-1911, với hai bàn tay trắng, Anh xuống làm
phụ bếp trên chiếc tàu "Đô đốc Latútsơ Tờrêvin" của Pháp
đang đậu ở cảng Sài Gòn. Anh lấy tên là Ba. Một cái tên
dễ nhớ, chân chất, bình dị như biết bao cái tên của những
người dân lao động Việt Nam khác. Anh rời Tổ quốc ra đi
để tìm đường cứu nước một cách âm thầm, lặng lẽ. Và lúc
bấy giờ cũng chưa ai hiểu được rằng cuộc ra đi của người
thanh niên 21 tuổi ấy chứa đựng cả một lý tưởng cao đẹp,
một tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, một quyết
tâm cao cả. Cuộc ra đi có ảnh hưởng quyết định không chỉ
đối với cuộc đời của một con người, mà còn mở ra bước
ngoặt cho cả dân tộc, mở ra một phương hướng mới cho
sự nghiệp cứu nước của nhân dân ta.
Tàu nhổ neo, đưa Anh xa dần Tổ quốc. Nhưng hình
ảnh Tổ quốc luôn luôn vẫn ở trong Anh.
Với mục đích cứu nước và giải phóng dân tộc, với
lòng yêu nước và căm thù sâu sắc bọn thực dân, Anh đã
đi, đi rất nhiều, trước hết là sang Pháp. Anh kiên trì học
tập, quan sát, so sánh, kiên trì chịu đựng mọi gian nan, thử
thách chỉ mong sao thực hiện được mục đích cao cả của
mình là nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được tự do,
đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học
9
hành.
Đây là cuộc ra đi tìm đường cứu nước của một người
thanh niên có lý tưởng và hoài bão cao đẹp, có suy nghĩ
độc lập. Trên cơ sở phân tích nhiều điều kiện khách quan,
những yếu tố chủ quan của thực tế lịch sử Việt Nam lúc
đó. Từ lòng yêu thương đất nước, dân tộc sâu sắc, thông
qua sự suy nghĩ của mình, Anh sớm nhận thức được kẻ thù
của dân tộc để đi thẳng tới tìm hiểu bản chất của nó. Nhận
thức đó mang lại cho người thanh niên Nguyễn Tất Thành,
một lòng tin và quyết tâm hành động phù hợp với chiều
hướng phát triển của lịch sử dân tộc, phù hợp với lịch sử
phát triển của nhân loại.
Đây không phải là cuộc ra đi theo một khát vọng cá
nhân, không tính toán. Đây là một cuộc ra đi có cân nhắc
lựa chọn, một sự hy sinh cho quyền lợi của dân tộc. Anh
đi sang phương Tây, làm tất cả những công việc lao động
bình thường, vất vả, cũng vì mục đích cao cả ấy. Sự lựa
chọn đó đã đưa Anh dần dần đến với ánh sáng của cách
mạng, ánh sáng của chân lý.
Gần 10 năm sau, kể từ khi người thanh niên yêu nước
21 tuổi lấy tên là Ba rời Tổ quốc đi sang phương Tây để
tìm đường cứu nước, ánh sáng đó đã đến với Nguyễn Ái
Quốc. Đó là ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin mà Anh
tiếp nhận được từ trong những ngày còn hoạt động gian
khổ ở nước ngoài. Ánh sáng đó đã được truyền vào nước
ta cùng với tư tưởng của Người trở thành ngọn đèn pha soi
10
sáng con đường của chúng ta để giành được những thắng
lợi ngày càng to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong công cuộc đổi
mới, hội nhập quốc tế hiện nay.
Từ trong đêm tối của nô lệ lầm than, Bác Hồ đã đưa cả
dân tộc ta bước ra ánh sáng, đưa dân tộc ta tới độc lập, tự
do và chủ nghĩa xã hội.
Kỷ niệm lần thứ 100 ngày Bác ra đi tìm đường cứu
nước (1911-2011), là dịp để mỗi chúng ta cùng nhau học
tập và noi theo tấm gương hy sinh suốt đời cho cách mạng,
cho dân tộc của Bác Hồ, để từ đó bằng những việc làm
thiết thực, có hiệu quả góp phần vào việc giữ vững sự ổn
định và phát triển của đất nước, thực hiện thành công mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
và phát triển vững chắc theo con đường mà Đảng, Bác Hồ
kính yêu đã vạch ra.
11
BÁC HỒ VỀ ĐÂY TỔ QUỐC ƠI*
Ngày 28-1-1941, tức ngày mồng 2 Tết Tân Tỵ, sau 30
năm xa Tổ quốc tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã về đến
xã Trường Hà, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng để cùng
Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng nước ta.
Cùng về với Bác Hồ năm 1941 còn có các đồng chí Phùng
Chí Kiên, Đặng Văn Cáp, Lê Quảng Ba, Hoàng Văn Lộc,
Thế An.
"Bác đã về đây Tổ quốc ơi
Nhớ thương hòn đất ấm hơi Người
Ba mươi năm ấy chân không nghỉ
Mà đến bây giờ mới tới nơi".
(Tố Hữu)
Bác Hồ chọn Cao Bằng làm nơi đứng chân đầu tiên,
bởi xét về mặt địa thế, địa hình, quân sự, kinh tế và con
người, nơi đây có đủ điều kiện trở thành một bàn đạp
* Bài đăng trên báo Phú Yên, ngày 29-1-2011.
12
chiến lược cho sự phát triển của công cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc.
Cao Bằng là tỉnh có biên giới giáp với Trung Quốc,
phía nam giáp với Lạng Sơn và Bắc Kạn, phía tây giáp với
Hà Giang và Tuyên Quang. Từ Cao Bằng có thể "nam
tiến" xuống các tỉnh miền xuôi, phát triển và mở rộng căn
cứ cách mạng ở các tỉnh Việt Bắc và nhiều nơi khác trong
cả nước.
Cao Bằng là tỉnh miền núi, nhưng có 10% đất bằng
phẳng với những cánh đồng ở Sóc Hà, Đôn Chương, Phù
Ngọc, Cổ Nông, Pò Tấu... có khả năng tự cung, tự cấp
những nhu cầu kinh tế thiết yếu, bảo đảm cho việc nuôi
dưỡng lực lượng vũ trang cách mạng trong buổi đầu
thành lập. Với 90% diện tích rừng núi, địa hình hiểm trở,
Cao Bằng lại rất thuận lợi cho việc bảo vệ, phát triển các
cơ sở cách mạng bí mật cũng như hoạt động của các đội
du kích, tự vệ.
Đây cũng là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc
Kinh, Tày, Nùng, Hoa, Lô Lô, Mông... trong đó dân tộc
Tày, Nùng chiếm 80% dân số. Đồng bào nơi đây có truyền
thống lao động cần cù, đoàn kết và giàu lòng yêu nước. Vì
vậy, Cao Bằng là nơi có phong trào cách mạng từ rất sớm.
Khi thực dân Pháp đánh chiếm Cao Bằng (năm 1886),
nhân dân các dân tộc đã đứng lên chiến đấu trực diện với
kẻ thù, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Từ năm 1889 đến
năm 1893, phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân
13
Cao Bằng nổ ra khắp nơi. Hàng trăm cuộc tập kích vào bọn
thực dân Pháp đã diễn ra thường xuyên trên đất Cao Bằng
như ở Nguyên Bình, Ngân Sơn, Hà Quảng, Quảng Uyên,
Trùng Khánh... Sau khi chi bộ cộng sản đầu tiên ở Cao
Bằng được thành lập tại xã Hoàng Tung, châu Hòa An vào
tháng 4-1930, do đồng chí Hoàng Văn Nọn làm bí thư,
phong trào đấu tranh của nhân dân các dân tộc nơi đây đã
mở ra bước ngoặt mới, được sự lãnh đạo trực tiếp của
Đảng nên ngày càng lớn mạnh và hòa cùng với phong trào
của cả nước.
Đến năm 1935, các cơ sở cách mạng đã lan khắp cả
tỉnh và các chi bộ đảng được thành lập ở nhiều nơi. Cùng
thời gian đó, nhiều tổ chức "Công hội đỏ", "Nông hội đỏ",
"Hội bản", "Hội làng" được thành lập ở Hòa An, Hà Quảng,
Nguyên Bình... Đặc biệt, từ những năm 1937-1939, dưới sự
lãnh đạo của Tỉnh ủy Cao Bằng, Huyện ủy Hà Quảng, từ
Lục Khu - Pác Bó đến Nà Sắc, dải đất dọc biên giới Việt Trung đã xây dựng được các đội vũ trang, các cơ sở cách
mạng hoạt động tương đối vững chắc, bảo đảm bí mật.
Sau một thời gian ở tại nhà ông Máy Lỳ, một cơ sở
cách mạng trong khu vực Pác Bó, ngày 8-2-1941, Bác Hồ
cùng một số cán bộ chuyển lên hang Cốc Bó, thuộc khu
vực đầu nguồn. Ở đây một thời gian, Người chuyển lên
hang Lũng Lạn cách hang Cốc Bó chừng 200m. Vào
cuối tháng 3-1941, Người lại chuyển lên ở và làm việc tại
lán Khuổi Nậm. Những địa điểm này đều nằm ở khu vực
14
Pác Bó. Từ đó, Pác Bó với "núi Các Mác" và "suối Lênin"
đã gắn liền với tên tuổi, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh kính yêu, đã đi vào lịch sử đấu tranh hào
hùng, vẻ vang của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng.
"Non xa xa, núi xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lênin, kia núi Mác
Hai tay gây dựng một sơn hà".
Tại đây, Bác Hồ đã mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ
cho phong trào Việt Minh. Người trực tiếp giảng dạy,
huấn luyện cán bộ về mục đích, điều lệ của Mặt trận, về
cách thức tổ chức các hội và tuyên truyền, vận động quần
chúng. Mặc dù các lớp học chỉ tổ chức trong thời gian
ngắn, thường học vào ban đêm, nhưng số lượng tham gia
ngày càng đông và từ đó đã góp phần quan trọng cung cấp
kịp thời cho phong trào lúc bấy giờ. Chỉ trong năm 1941,
tại Pác Bó đã có 6 lớp huấn luyện với trên 120 học viên.
Từ đó, phong trào Việt Minh ngày càng lan rộng. Từ tháng
2 đến tháng 4-1941 ở Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình
thu hút gần 2.000 người thuộc các tổ chức, thành phần,
dân tộc, lứa tuổi tham gia.
Tại nơi đây, một sự kiện quan trọng đã diễn ra. Đó là,
từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, ở lán Khuổi Nậm, Pác Bó
(Hà Quảng, Cao Bằng), Bác Hồ đã chủ trì Hội nghị Trung
ương Đảng lần thứ tám, với sự tham gia của các đồng chí:
Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Vũ
15
Oanh, Phùng Chí Kiên, Bùi San, Hồ Xuân Lưu... Hội nghị
đã nêu cao ngọn cờ dân tộc, đề ra chủ trương vũ trang
khởi nghĩa giành chính quyền và quyết định thành lập
Mặt trận Việt Minh nhằm đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân
đánh đuổi Pháp, Nhật, giành độc lập cho dân tộc và quyết
định duy trì, phát triển căn cứ địa du kích Bắc Sơn - Võ
Nhai, củng cố và mở rộng căn cứ địa Cao Bằng, coi
chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn
Đảng, toàn dân lúc này.
Ngày 6-6-1941, cũng tại Pác Bó, Cao Bằng, ký tên
Nguyễn Ái Quốc, Bác Hồ đã gửi thư cho toàn thể đồng
bào trong cả nước kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân tích cực
tham gia Mặt trận Việt Minh đoàn kết làm cách mạng, đánh
đuổi đế quốc phát xít giành độc lập cho đất nước. Người
cho xuất bản báo Việt Nam độc lập gọi tắt là Việt Lập để
tuyên truyền vận động quần chúng, đưa đường lối, chính
sách của Mặt trận Việt Minh đến với mọi người dân, giáo
dục, giác ngộ họ làm cách mạng. Người đã biên soạn
nhiều cuốn sách như: Con đường giải phóng, Lịch sử nước
ta, Mười điều Việt Minh, Địa dư Bắc Kỳ..., sáng tác nhiều
thơ ca (khoảng 30 bài) nhằm giáo dục quần chúng tinh
thần yêu nước, truyền thống đoàn kết, đấu tranh bất khuất
của dân tộc.
Trong thời gian sống và hoạt động ở Cao Bằng, để
trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Bác Hồ với bộ quần áo
Nùng bạc màu, chiếc mũ vải và đôi hài bằng lá mo,
16
thường đến thăm, gặp gỡ, trò chuyện với đồng bào các dân
tộc ở Pác Bó, giải thích cho họ nguyên nhân của sự khổ
cực, động viên, hướng dẫn họ tham gia Mặt trận Việt
Minh, tổ chức các hội yêu nước. Có thể nói, hình ảnh
"Ông Ké", "Già Thu", "Đồng chí Già" thân thiết, gần gũi
đã in đậm trong lòng người dân Pác Bó ngay những ngày
đầu của cách mạng khi Người mới về nước.
Kỷ niệm 70 năm ngày Bác Hồ trở về Tổ quốc (19412011) là dịp để không những nhân dân các dân tộc Cao
Bằng mà cả những người Việt Nam chúng ta ở mọi miền
Tổ quốc càng thêm tự hào, tin tưởng và nhớ tới công lao to
lớn của Người đối với dân tộc, đất nước, nguyện góp phần
thiết thực làm cho non sông gấm vóc của chúng ta ngày
càng "đàng hoàng, to đẹp hơn", thực hiện thành công mục
tiêu và sự nghiệp cách mạng mà Bác Hồ và Đảng đã vạch
ra.
17
BÁC HỒ - TẤM GƯƠNG TIÊU BIỂU CHO KHỐI
ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC*
Nói đến sự thành công của Bác Hồ và Đảng ta trong
chiến lược đại đoàn kết, một điều hết sức quan trọng mà ai
cũng nhận thấy đó là uy tín và tấm gương trong sáng suốt
đời phấn đấu, hy sinh vì đất nước, dân tộc, vì hạnh phúc
mọi người của Bác Hồ kính yêu.
Điều này, trong nhiều bài viết, nhiều cuốn sách, xuất bản
ở trong nước và nước ngoài, nhiều công trình nghiên cứu,
nhiều cuộc hội nghị, hội thảo đều đã khẳng định.
Trong tác phẩm: Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự nghiệp vĩ
đại, gương sáng đời đời, đồng chí Trường Chinh có viết:
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chiến sĩ cộng sản mẫu mực.
Đạo đức và phẩm chất cao quý của Người là sự kết tinh
những truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam,
cộng với đạo đức cộng sản chủ nghĩa của giai cấp công
nhân, giai cấp triệt để cách mạng của thời đại, có sứ mệnh
* Bài đăng trên báo Hà Nội mới, số 34, ngày 19-11-1995.
18
lịch sử cải tạo thế giới, thiết lập xã hội cộng sản chủ nghĩa
trên hành tinh chúng ta.
Lẽ sống của Người là luôn luôn toàn tâm, toàn ý phục vụ
cách mạng, phục vụ nhân dân, suốt đời phấn đấu hy sinh
vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng
sản. Người nói: Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột
bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân
ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn,
áo mặc, ai cũng được học hành.
Bằng cả cuộc đời hy sinh cho sự nghiệp cách mạng,
cho hạnh phúc của nhân dân, tấm gương của Người chiếu
sáng đến mọi tâm hồn, thức tỉnh mọi trái tim yêu nước.
Bởi vậy, đến với Bác Hồ, đến với sự nghiệp cách mạng
của Đảng, của dân tộc ta, không phải chỉ có những người
cộng sản, mà cả mọi tầng lớp lao động và những người
trước đây có lúc lầm đường, lạc lối, những người từng
sống và làm việc dưới chế độ cũ; không phải chỉ có đồng
bào Kinh mà cả đồng bào các dân tộc thiểu số anh em như
Tày, Nùng, Mông, Gia Rai, Ê Đê, Chăm, Khơme...; không
phải chỉ đồng bào lương mà cả các tôn giáo; không chỉ
những người sống trên lãnh thổ Việt Nam, ở cả ba miền
Bắc - Trung - Nam mà cả những người Việt Nam sống ở
nước ngoài, những nhà trí thức nổi tiếng như: Trần Đại
Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Đặng Thai Mai, Trần
Hữu Tước, Đặng Văn Ngữ, Phạm Ngọc Thạch, Lương
Định Của... Hoặc như cụ Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại,
19
Phan Anh, Kiều Hữu Hỷ, các linh mục: Phạm Bá Trực, Vũ
Xuân Kỷ, Nguyễn Thế Vịnh, Hồ Thành Biên... Tất cả đều
hướng theo ngọn cờ đại đoàn kết của Bác Hồ, của Đảng ta
và được Bác Hồ thu phục, cảm hóa. Đồng chí Phạm Văn
Đồng viết: Hồ Chí Minh càng nhập vào nhân dân và nhân
dân càng hòa với tấm lòng bao la của Bác.
Không phải chỉ có nhân dân lao động, đồng bào trong
nước, những người Việt Nam thuộc nhiều thành phần, dân
tộc, tôn giáo, lứa tuổi khác nhau ca ngợi, học tập Bác, noi
gương theo con đường của Bác kính yêu mà những người
nước ngoài thuộc nhiều quốc tịch, vị trí, lứa tuổi, chính
kiến khác nhau cũng đều có chung ý kiến bày tỏ sự kính
trọng, khâm phục cuộc đời và tấm gương của Bác, bày tỏ
lòng tin tưởng ở Bác. Báo Lơ Phigarô (Le Figaro) (4-121945) đăng bài của tác giả Giannơ Đờ Côkê đã viết rằng:
Được tiếp xúc với nhân vật mà tiếng nói đã thổi bùng
nhiệt huyết của người Việt Nam, tôi chờ đợi gặp một nhà
hùng biện ồn ào. Vậy mà trước mắt tôi lại là một con
người hiền từ, thanh lịch và Người từ nhân dân mà ra, ở
Người thể hiện một hình mẫu hoàn thiện. Không nghi ngờ
gì nữa, ông Hồ Chí Minh quả có một tinh thần đoàn kết và
một uy tín lớn lao trong nhân dân Việt Nam.
Còn cố Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai, trong lần
gặp Bác Hồ ở Hà Nội (năm 1960) đã nói: Tôi rất kính trọng
Hồ Chủ tịch, vì ngay từ khi ở Pari, Hồ Chủ tịch đã dìu dắt,
giác ngộ, tổ chức cho tôi vào con đường cách mạng như
20
ngày nay. Tôi rất biết ơn Hồ Chủ tịch.
Và một nhà khoa học, giáo sư người Ấn Độ tên là
Chacờra Bôty viết: "Hồ Chí Minh là một con người đức tài
trọn vẹn".
Cống hiến trọn đời mình cho tự do, độc lập và hạnh
phúc của dân tộc, của loài người; cuộc đời, sự nghiệp của
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành niềm tin tưởng, lòng tự
hào của dân tộc và sự yêu mến, kính trọng của bạn bè.
Cuộc đời, tấm gương của Người là biểu hiện của tình hữu
nghị và sự đoàn kết. Tiến sĩ M. Átmét - Giám đốc
UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương ca ngợi:
Người là một trong những lãnh tụ có ảnh hưởng nhiều
nhất của các dân tộc ở thế kỷ XX. Trong khi chiến đấu cả
đời mình để chống lại ách thống trị của thực dân, đế quốc,
Người vẫn là một nhà nhân văn chân chính trong tư tưởng
và hành động.
Cùng với những tư tưởng, đường lối, chủ trương,
chính sách đúng đắn, những biện pháp cụ thể, phù hợp
trong quá trình lãnh đạo cách mạng; cuộc đời hoạt động,
tấm gương trong sáng của Bác Hồ đã trở thành sức mạnh,
sự thành công của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc và
đoàn kết quốc tế của Đảng ta, dân tộc ta, góp phần quyết
định làm nên những thắng lợi vẻ vang trong thế kỷ XX.
Đúng như đồng chí Phạm Văn Đồng đã từng viết: "Là
linh hồn của khối đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh suốt
đời chăm lo quy tụ mọi lực lượng, mọi người yêu nước và
21
tiến bộ dưới ngọn cờ cách mạng.
Với chính sách đại đoàn kết, với tư tưởng và đạo đức
trong sáng, Hồ Chí Minh có sức tập hợp và thuyết phục lạ
thường".
Và ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, với
những thuận lợi mới to lớn, nhưng cũng có không ít thách
thức, khó khăn, tấm gương tiêu biểu đại đoàn kết của
Người vẫn là nguồn sức mạnh tinh thần và vật chất to lớn
cho dân tộc ta vượt qua khó khăn, giành thắng lợi trên con
đường mà Đảng ta, dân tộc ta đã lựa chọn.
22
CUỘC VẬN ĐỘNG VỀ ĐẠO ĐỨC CÓ Ý NGHĨA TO
LỚN*
Đúng vào dịp kỷ niệm 77 năm Ngày thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam (3-2-2007), Bộ Chính trị khóa X đã phát
động cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh".
Đây là một cuộc vận động có ý nghĩa to lớn, sâu rộng
trong toàn Đảng, toàn dân hiện nay. Thông qua cuộc vận
động nhằm khơi dậy và phát huy các giá trị đạo đức truyền
thống tốt đẹp, đấu tranh khắc phục sự suy thoái về đạo
đức, lối sống; chặn đứng, đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng,
lãng phí và các tệ nạn xã hội; hình thành, phát triển các giá
trị đạo đức xã hội chủ nghĩa, xây dựng con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa có nhân cách cao đẹp, bản lĩnh
chính trị vững vàng, lối sống văn minh, xây dựng các quan
hệ xã hội lành mạnh, tiến bộ.
* Bài in trong cuốn Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.
23
Yêu cầu đặt ra là: Làm cho toàn Đảng, toàn dân thấm
nhuần nội dung và nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò to lớn
của những lời Bác dạy và tấm gương đạo đức trong sáng
của Bác; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ ở các cấp, các
ngành, các địa phương và ở mỗi con người; hình thành
phong trào tu dưỡng, rèn luyện theo tấm gương của Bác để
xây dựng nền đạo đức mới, con người mới Việt Nam.
Để thực hiện kết quả cuộc vận động có một số vấn đề
đặt ra:
1. Cần hiểu rõ vì sao Đảng ta nhấn mạnh mục đích,
tầm quan trọng to lớn của cuộc vận động Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Thứ nhất: Bởi tầm quan trọng của đạo đức đối với xã
hội và mỗi con người. Đây là điều đã được khẳng định từ
trước đến nay và kể cả sau này, không ai có thể phủ nhận.
Thực tế cho thấy, xã hội hưng thịnh hay suy vong đều do
đạo đức quyết định. Vấn đề này như một chân lý, dù ai đó
có nơi, có lúc lãng quên nó. Chúng ta còn nhớ Lê Quý
Đôn đã từng chỉ ra năm nguy cơ mất nước: "Trẻ không
kính già. Trò không trọng thầy. Binh kiêu, tướng thoái.
Tham nhũng tràn lan. Sĩ phu ngoảnh mặt". Rõ ràng những
điều ông nêu lên đều liên quan tới đạo đức xã hội.
Còn Lương Thế Vinh, khi nhà vua hỏi về đạo trị nước
như thế nào, ông đã thẳng thắn chỉ ra rằng: "Bệ hạ sửa
24
mình, bầy tôi tự sửa mình, chính sự sẽ tốt đẹp. Lệ dân có
đức thì chinh phục được lòng người và trị được tệ xấu".
Đảng ta trong nhiều văn kiện qua các thời kỳ cũng đã
nhấn mạnh tới tầm quan trọng to lớn của đạo đức cách
mạng đối với mỗi con người cũng như trong xã hội và
luôn quan tâm tới việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức mới
cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Trong mỗi chúng ta chắc ai cũng nhớ và thuộc câu
Bác Hồ kính yêu đã từng căn dặn: "Cũng như sông thì có
nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây
phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng
phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy
cũng không lãnh đạo được nhân dân"1.
Còn biết bao nhiêu những câu Bác viết, những lời
Bác nói về tầm quan trọng của đạo đức cách mạng đối
với Đảng, dân tộc cũng như với từng ngành, từng giới
khác nhau, không thể nêu hết được ở đây. Điều đó như
một sự khẳng định giá trị đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh
và tấm gương đạo đức trong sáng của Bác.
Đồng chí Phạm Văn Đồng, người học trò xuất sắc, gần
gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo lỗi lạc của
Đảng ta, nhân dân ta, mà cuộc đời, sự nghiệp gắn liền với
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội,
2011, t.5, tr.292.
25
những chiến công vang dội của dân tộc trong thế kỷ XX
cũng đã từng viết: Đạo đức là cái quý nhất, là linh hồn của
một con người, một xã hội, một chế độ và một nền văn
minh.
Bởi vậy, tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của cuộc vận
động này, chính là xuất phát từ nội hàm của đạo đức.
Thứ hai: Bên cạnh những mặt tốt đẹp của đạo đức,
được hình thành, phát triển trong xã hội ta, thì hiện nay đã
và đang có những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống
trong cán bộ, đảng viên và nhân dân rất đáng lo ngại, có
nơi, có lúc rất nghiêm trọng. Nếu không ngăn chặn, đẩy lùi
sẽ dẫn tới nguy cơ, liên quan đến sự tồn vong của Đảng và
chế độ.
Những biểu hiện về suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối
sông hiện nay đã được Đảng nêu lên là:
- Chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng... có
xu hướng phát triển.
- Tham nhũng, lãng phí, đưa và nhận hối lộ diễn ra
khá phổ biến ở nhiều nơi, nhiều cấp trở thành vấn đề bức
xúc hiện nay trong Đảng và ngoài xã hội.
- Tình trạng chạy chức, quyền, tiền, danh, và tội, cũng
như quan liêu, mất đoàn kết diễn ra khá phổ biến.
- Sự suy thoái đạo đức trong gia đình, giữa cá nhân và
xã hội, lối sống buông thả, hưởng thụ tồn tại trong nhiều
người, nhiều tầng lớp. Tệ cờ bạc, mê tín dị đoan... có chiều
26
hướng lan rộng, ảnh hưởng trực tiếp tới thuần phong mỹ
tục, trật tự an toàn xã hội và tác động xấu tới nền tảng đạo
đức mà chúng ta xây dựng.
- Đạo đức nghề nghiệp hiện bị sa sút ở nhiều nơi,
nhiều lĩnh vực, kể cả trong những ngành như y tế, giáo
dục, bảo vệ pháp luật và báo chí.
Nếu chúng ta không ngăn chặn, đẩy lùi được tình
trạng suy thoái đạo đức nói trên trong xu thế hội nhập và
tác động của kinh tế thị trường hiện nay thì không những
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh khó lòng thực hiện được, mà ngay cả sự ổn định của
đất nước cũng có nguy cơ bị đe dọa. Vì vậy, đây là cuộc
vận động có ý nghĩa rất to lớn, quan trọng và cấp bách.
Thứ ba: Chủ tịch Hồ Chí Minh là hình ảnh tiêu biểu,
tập trung và trong sáng nhất của đạo đức cách mạng để
mỗi người chúng ta học tập, noi theo.
Điều này được chứng minh và thể hiện trong toàn bộ
cuộc đời hoạt động cách mạng, từ lúc ra đi tìm đường cứu
nước, cho đến phút cuối cùng trước khi "đi xa", và được
thể hiện đầy đủ, cụ thể trong lời nói đến mỗi việc làm, từ
hành vi đến lý tưởng đạo đức của Bác.
Bác nói: "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột
bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta
được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo
27
mặc, ai cũng được học hành"1. Và cả cuộc đời của Bác đã
cống hiến, hy sinh cho điều ham muốn đó. Bác căn dặn:
Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta
dùng... đều do công sức, mồ hôi của nhân dân làm ra, do
đó chúng ta phải đền bù xứng đáng. Chính Bác Hồ đều
nghĩ và làm mọi việc như vậy.
Năm 1963, khi Quốc hội quyết định tặng cho Bác Huân
chương Sao Vàng - huân chương cao quý nhất của Đảng,
Nhà nước ta, Bác từ chối vì miền Nam chưa được giải
phóng, Tổ quốc chưa thống nhất, Bác coi nhiệm vụ cách
mạng chưa hoàn thành. Bác nói: Một ngày mà Tổ quốc
chưa thống nhất, đồng bào còn đau khổ, hy sinh là một
ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên.
Chúng ta hết sức xúc động khi đọc Di chúc trong phần
về việc riêng, Bác viết: "Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục
vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay
dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối
hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa,
nhiều hơn nữa"2.
Khi Bác Hồ qua đời, trong Điếu văn của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng đã khẳng định: "Hơn 60 năm qua,
từ buổi thiếu niên cho đến phút cuối cùng, Hồ Chủ tịch đã
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.187.
2. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012, tr.27.
28
cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của
nhân dân ta và nhân dân thế giới" và "cả cuộc đời vĩ đại
của Hồ Chủ tịch là tấm gương mãi mãi sáng ngời chí khí
cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập, tự chủ, lòng yêu
nhân dân thắm thiết, đạo đức chí công, vô tư, tác phong
khiêm tốn, giản dị".
Ở Người, không chỉ là nhà đạo đức học mà còn là một
biểu tượng toàn vẹn của đạo đức cách mạng.
Do đó, được học tập, noi gương Bác, đối với mỗi
người Việt Nam, từ già đến trẻ, đồng bào các dân tộc, tôn
giáo, người sống ở trong nước, hay đang ở nước ngoài, có
thể nói ai cũng thấy vừa là vinh dự, niềm tự hào, vừa là
trách nhiệm và niềm tin. Qua cuộc vận động mỗi người có
những việc làm cụ thể, thiết thực, góp phần vào sự chuyển
biến chung của xã hội. Như đồng chí Phạm Văn Đồng đã
nói: "Hồ Chí Minh là hình ảnh sống của một lãnh tụ của
nhân dân, được nhân dân tin yêu coi như ngọn cờ của toàn
dân tộc... Ở Người, tỏa ra hào quang của một cuộc đời cao
thượng, một tâm hồn trong sáng xưa nay hiếm.
Trước tình trạng tham nhũng và tệ nạn xã hội lan rộng
ở nước ta hiện nay, chúng ta càng thấy rõ ý nghĩa sâu xa,
tầm quan trọng và tính thời sự của những lời Bác dạy và
tấm gương đạo đức cách mạng của Bác Hồ".
2. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
29
Chí Minh vừa là chủ đề, vừa là nội dung của cuộc vận
động. Do đó quá trình học và làm cũng diễn ra chứ
không phải là giai đoạn nối tiếp nhau. Và trong quá
trình thực hiện cần hiểu rõ thế nào là học và thế nào là
làm theo tấm gương của Bác, trong đó làm phải là cơ
bản nhất
Thứ nhất, học tập đạo đức Hồ Chí Minh là chúng ta
cần hiểu thật rõ, thật đúng những gì Bác đã nói về đạo
đức, trước hết và cơ bản là hiểu đúng lý tưởng đạo đức
cách mạng của Bác.
Khi đề cập đến vấn đề này, cũng có người cho rằng
chẳng có gì mới, nhiều sách đã in, nhiều người đã biết và
không ít người còn thuộc lòng, việc gì phải học tập. Điều
đó không đúng, bởi lẽ: quan điểm đạo đức của Hồ Chí
Minh rất cao sâu, đề cập tới nhiều nội dung, nhiều đối
tượng khác nhau như:
- Trọn đời phấn đấu cho Đảng, cho cách mạng và dân
tộc.
- Khiêm tốn, giản dị, cần, kiệm, liêm, chính, chí công,
vô tư.
- Hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, xứng đáng là
người đày tớ trung thành của nhân dân.
- Là quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức
cách mạng, kiên quyết chống tham nhũng, quan liêu, tham
ô, lãng phí.
30
- Là lòng nhân ái, vị tha, thương dân, tin dân và kính
trọng dân.
- Nói đi đôi với làm.
- Là tinh thần quốc tế vô sản trong sáng...
Thử hỏi đến nay đã có mấy ai hiểu hết được nội hàm
và ý nghĩa sâu xa những quan điểm về đạo đức trong
những lời nói bình thường, giản dị, mộc mạc ấy của Bác.
Bác từng nói: Đã là con người thì ai cũng muốn ăn
ngon mặc đẹp. Và Bác phê phán: Nhưng chỉ biết một mình
ăn ngon, mặc đẹp, trong lúc nhân dân còn đói khổ là vô
đạo đức. Hoặ...
 








Các ý kiến mới nhất