CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI QUỐC HỘI (1946-1969)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 09h:18' 25-12-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 09h:18' 25-12-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI QUỐC HỘI
(1946-1969)
TS. VĂN THỊ THANH MAI
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI QUỐC HỘI
(1946 - 1969)
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
HÀ NỘI - 2011
2
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sớm đề xuất việc tổ chức
Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa. Người không chỉ là vị kiến trúc sư mà
còn là linh hồn của Quốc hội, đã có những đóng góp to lớn
trong việc sáng lập và xây dựng Nhà nước Việt Nam của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân; trong việc tăng cường hoạt
động và phát huy vai trò của cơ quan quyền lực tối cao qua
các giai đoạn lịch sử cách mạng. Trong 24 năm ở cương vị
nguyên thủ quốc gia, bất kỳ ở thời điểm lịch sử nào, Người
cũng luôn dành tâm huyết vào việc xây dựng một thiết chế
dân chủ ở nước ta, cố gắng thực hiện quyền lực của nhân dân
một cách đầy đủ nhất.
Để giúp bạn đọc hiểu rõ tư tưởng, sự nghiệp, những đóng
góp to lớn của Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng và
trưởng thành của Quốc hội Việt Nam - cơ quan đại diện cho ý
chí và quyền lực của nhân dân, do nhân dân bầu ra trong thời
gian từ năm 1946 đến năm 1969, Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia - Sự thật xuất bản cuốn sách: Chủ tịch Hồ Chí Minh với
Quốc hội (1946-1969) của TS. Văn Thị Thanh Mai.
Cuốn sách tập trung mô tả, đi sâu trình bày nhận thức của
Hồ Chí Minh về Quốc hội, hệ thống quan điểm của Người về
việc xây dựng Quốc hội trong tổ chức bộ máy Nhà nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1946 đến năm 1969, từ đó
luận giải, làm rõ vai trò của Hồ Chí Minh trong quá trình
sáng lập, hoạt động của Quốc hội theo tư tưởng quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân; phân tích vai trò của Hồ Chí
Minh với Quốc hội trong việc thực hiện nhiệm vụ lập hiến,
lập pháp, đặc biệt là quá trình xây dựng Hiến pháp, luật cơ
bản nhất của Nhà nước ta, qua hai bản Hiến pháp năm 1946
và 1959 cùng các đạo luật và sắc lệnh; làm rõ sự phát triển
trong tư tưởng Hồ Chí Minh về việc thực hiện quyền lực của
nhân dân trong tổ chức bộ máy Nhà nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa; trình bày khái quát những hoạt động chính của ba
nhiệm kỳ Quốc hội khóa I, II, III. Đồng thời, cuốn sách cũng
khẳng định vai trò, những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh
trong hoạt động đối nội, đối ngoại của đất nước thời kỳ này.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc và
mong nhận được những ý kiến góp ý để lần xuất bản sau
cuốn sách được hoàn chỉnh hơn.
Tháng 9 năm 2011
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ
THẬT
4
LỜI MỞ ĐẦU
Là người sáng lập và xây dựng Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước của dân, do dân, vì dân,
trong từng thiết chế của Nhà nước (bao gồm các cơ quan
lập pháp, hành pháp và tư pháp), Hồ Chí Minh vừa là
người sáng lập, vừa là linh hồn của các cơ quan này. Từ
nhận thức: “Vốn bản chất là hiện thân của dân tộc, Quốc
hội sẽ làm tất cả những gì mà nhân dân mong muốn”1,
ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ
lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Tôi đề nghị
Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử
với chế độ phổ thông đầu phiếu” 2. Không chỉ có vậy, bằng
những nỗ lực vượt bậc, Người và Trung ương Đảng một
mặt kiên quyết đấu tranh vạch trần và chống lại những
hành động phá hoại của kẻ thù, mặt khác thực hiện sách
lược nhân nhượng, hoà giải để tiến tới Tổng tuyển cử theo
1. Hồ Chí Minh: Trả lời những câu phỏng vấn của báo Thụy Điển, bác sĩ J.
Takman, tháng 5-1958, tr.3, tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, hồ sơ
HS.H5C1/38.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t.4, tr.
8.
Lời mở đầu
5
nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bí mật, trực tiếp và bỏ
phiếu kín; tạo điều kiện, giúp các ứng cử viên nộp đơn và
vận động tranh cử một cách công bằng, dân chủ; thực hiện
quy định: “Dân trong mỗi tỉnh bầu thẳng đại biểu tỉnh
mình dự vào Quốc dân Đại hội”. Đặc biệt, Người kêu gọi
đồng bào cả nước hãy “tỏ rõ cái tư cách xứng đáng của
những người công dân nước Việt Nam và ý chí đoàn kết
không chia rẽ”, đồng thời “hưởng dụng quyền dân chủ của
mình” bằng việc tham gia cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên
của nước Việt Nam độc lập, để “được tự do lựa chọn và
bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh
vác việc nước”, góp phần quan trọng làm nên thành công
của cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I, ngày 6-11946.
Trong suốt 24 năm ở cương vị một nguyên thủ quốc gia,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều tâm huyết vào việc
xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước nói chung và Quốc
hội nói riêng. Bất kỳ thời điểm lịch sử nào, trong tư tưởng
Hồ Chí Minh, Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của
nhân dân Việt Nam cũng là một thiết chế dân chủ, để thông
qua đó nhân dân thực hiện sự uỷ thác quyền lực của mình.
Hồ Chí Minh quan niệm, một khi Quốc hội chưa làm hết
chức năng của mình, cũng đồng nghĩa với việc quyền lực
của nhân dân chưa được thực hiện một cách đầy đủ.
Với ý nghĩa đó, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa trải qua các khóa: I (1946-1960), II (1960-1964),
III (1964-1971), IV (1971-1975), V (1975-1976) đã góp phần
6Lời mở đầu
quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ
quốc và Quốc hội khóa VI (1976-1981), VII (1981-1987), VIII
(1987-1992), IX (1992-1997), X (1997-2002), XI (2002-2007),
XII (2007-2011) - Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất
đã trở thành nhân tố quan trọng trong hệ thống chính trị của
đất nước, tổ chức nhân dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
Kể từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
(12-1986) - Đại hội mở đầu thời kỳ đổi mới và phát triển đất
nước, Quốc hội ngày càng nâng cao vị trí, vai trò và trách
nhiệm của mình trong việc thực hiện các chức năng lập hiến,
lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng
của đất nước. Đặc biệt, từ khi Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VII (6-1991) của Đảng xác định: “Đảng lấy
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”1 và Hội nghị
giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (1-1994) khẳng định việc
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thì vị trí, vai trò của Quốc hội
ngày càng tăng lên mạnh mẽ.
Thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 27-3-2003 của Ban
Bí thư, về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư
tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới, việc đi sâu nghiên
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.127.
Lời mở đầu
7
cứu để làm sáng rõ tư tưởng, sự nghiệp Hồ Chí Minh trên tư
cách là người tổ chức, đóng góp to lớn vào quá trình xây dựng
và trưởng thành của Quốc hội Việt Nam trong 24 năm (19461969), càng trở nên cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to
lớn.
Với ý nghĩa đó, nghiên cứu vai trò của Chủ tịch
Hồ Chí Minh với Quốc hội giai đoạn 1946-1969 đã thu hút sự
quan tâm của nhiều nhà khoa học nói chung và những người
say mê nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí
Minh nói riêng.
Có thể nói, vấn đề Nhà nước, Quốc hội Việt Nam trong 65
năm xây dựng và phát triển đã được bàn đến trong nhiều công
trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau, song
nhìn chung, các công trình chưa đề cập một cách có hệ thống,
đầy đủ về quan điểm và những đóng góp của Hồ Chí Minh đối
với việc xây dựng Quốc hội từ năm 1946 đến năm 1969. Vì
vậy, trong cuốn sách này, trên cơ sở hệ thống hoá, khái quát
hoá những tư liệu đã có, bổ sung thêm những tư liệu mới, tác
giả đi sâu nghiên cứu quan điểm và hoạt động của Hồ Chí
Minh đối với việc xây dựng Quốc hội qua ba giai đoạn: từ
tháng 1 đến tháng 12-1946, từ tháng 12-1946 đến tháng 5-1960
và từ tháng 5-1960 đến cuối năm 1969; phân tích những điều
kiện cụ thể, những quyết nghị của Hồ Chí Minh và Quốc hội
trong việc thực hiện chức năng lập hiến, lập pháp, quyết định
những vấn đề quan trọng của đất nước qua các giai đoạn lịch
sử, nhằm:
Thứ nhất, làm rõ vai trò của Hồ Chí Minh đối với việc
8Lời mở đầu
sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xây dựng cơ
quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất là Quốc hội, xây dựng hệ thống pháp luật và
việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị khác với tư cách là lãnh
tụ của Đảng và Nhà nước.
Thứ hai, trình bày những hoạt động chính, quan trọng của
Hồ Chí Minh, thể hiện những đóng góp của Người đối với
việc xây dựng Quốc hội từ năm 1946 đến năm 1969.
Cuốn sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với Quốc hội (19461969) có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy
môn học lịch sử Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh trong các
trường đại học và cao đẳng, đồng thời giúp những người
quan tâm nghiên cứu về Quốc hội tiếp cận một danh mục tài
liệu tham khảo về Hồ Chí Minh với Quốc hội từ năm 1946
đến năm 1969.
Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, tác giả xin bày tỏ
lòng cảm ơn trân trọng tới PGS.NGND. Lê Mậu Hãn,
PGS.TS. Vũ Quang Hiển, PGS.TS. Ngô Đăng Tri,
PGS.TS. Hoàng Hồng, PGS.TS. Trình Mưu, GS.TS. Nguyễn
Đăng Dung, PGS.TS. Trần Đức Cường, PGS.TS. Phùng Đức
Thắng, PGS.TS. Nguyễn Văn Nhật, PGS.TS. Vũ Như Khôi,
PGS.TS. Nguyễn Đình Lê, TS. Nguyễn Đình Lộc đã đóng
góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình hình thành và hoàn
thiện bản thảo.
Cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót,
tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp, phê bình của đồng
nghiệp và bạn đọc.
Lời mở đầu
9
Hà Nội, tháng 8 năm 2011
TÁC GIẢ
10
Chương I
HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC SÁNG LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG
HÒA (1-12-1946)
I- HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC SÁNG LẬP QUỐC HỘI
KHÓA I
1. Lựa chọn và chuẩn bị cho sự ra đời một thể
chế nhà nước mới
a) Lựa chọn mô hình nhà nước
Ngày 1-9-1858, đại bác Pháp từ các tàu chiến của Rigault
de Genouilly nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu quá trình
xâm lược và thôn tính Việt Nam, biến nước ta thành thuộc
địa của Pháp. Nước bị mất quyền độc lập, nhân dân bị mất
quyền tự do.
Năm 1887, với thủ đoạn “chia để trị”, thực dân Pháp đã
chia Việt Nam thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau,
trong đó Nam Kỳ là xứ thuộc địa do Thống đốc đứng đầu,
Bắc Kỳ là xứ bảo hộ do Thống sứ đứng đầu, còn Trung Kỳ,
Lào và Campuchia cũng là xứ bảo hộ, nhưng lại do Khâm sứ
đứng đầu. Dưới chế độ thuộc địa, hệ thống vua quan người
bản xứ đều trở thành công cụ thực thi chính sách thống trị hà
khắc của thực dân Pháp.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
11
Cùng với bộ máy chính trị, thực dân Pháp đã xây dựng
bộ máy quân sự, cảnh sát, toà án, nhà tù để kìm kẹp, đàn áp
nhân dân ta. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, người
Việt Nam không được hưởng một chút tự do, dân chủ nào
của nền văn minh tư sản. Trong khi đó, ở nước Pháp, người
dân được hưởng sự cai trị bằng các đạo luật do Quốc hội (có
sự đại diện của người dân ban hành), thì ở xứ Đông Dương
thuộc địa, “công lý” chỉ dành cho người Pháp, thuộc về
người Pháp. Còn người dân bản xứ chỉ là nô lệ, là “thuộc
dân”, không có quyền ngang hàng với người dân “mẫu
quốc”, nhưng lại được che đậy, điểm trang bằng những
châm ngôn lý tưởng như bác ái, bình đẳng, v.v.. Song không
chịu khuất phục cam tâm làm nô lệ, nhân dân ta liên tiếp nổi
dậy đấu tranh, chống lại cường quyền. Tuy nhiên các phong
trào đấu tranh yêu nước đều bị thất bại.
Được sinh ra và lớn lên giữa những năm tháng đen tối đó,
Nguyễn Sinh Cung (Hồ Chí Minh) đã sớm hiểu biết và rất
đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Với nhiệt huyết
của tuổi trẻ và khát vọng giải phóng nhân dân khỏi cảnh lầm
than, Người quyết định rời Tổ quốc sang phương Tây, tìm
hiểu thực chất: Tự do, Bình đẳng, Bác ái và những gì ẩn giấu
dưới nhãn hiệu “khai hoá văn minh” cho các dân tộc “lạc
hậu” của thực dân Pháp, để “sau khi xem xét họ làm như thế
nào... sẽ trở về giúp đồng bào”1. Tàu Đô đốc Latútxơ
Trêvinlơ (Amiral Latouche Tréville) đã đưa Hồ Chí Minh
đến nước Pháp. Song, không dừng lại ở đó, Người tiếp tục
1. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của
Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 13.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
12
cuộc khảo nghiệm thực tiễn của mình qua hành trình đến
châu Âu, châu Phi và châu Mỹ.
Trong những năm bôn ba này, Hồ Chí Minh có điều kiện
tìm hiểu đời sống kinh tế - xã hội, nghiên cứu thành tựu và
những mặt hạn chế của mô hình tổ chức nhà nước tư sản và
bản chất chế độ tư bản chủ nghĩa. Từ thực tế, Người nhận
thấy, mặc dù pháp luật được đề cao, dân chủ và quyền con
người được ghi nhận trong các văn bản pháp lý (Tuyên ngôn
độc lập của nước Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền
của cách mạng Pháp, v.v.) nhưng không được thực hiện một
cách triệt để trong thực tiễn. Luận giải điều này, Người nhận
thức được rằng, cùng với việc giương cao khẩu hiệu Tự do,
Bình đẳng, Bác ái, quy tụ quần chúng nhân dân lật đổ chế độ
phong kiến, xoá bỏ cơ chế tổ chức quyền lực chuyên chế của
nhà vua, giai cấp tư sản đã tiến hành tổ chức bộ máy nhà
nước theo chế độ cộng hòa dân chủ. Chính thức ra đời từ sau
cách mạng tư sản, là một trong những thành tựu của cách
mạng tư sản, về mặt lý thuyết, sự hiện diện của nghị
viện/quốc hội có tính chất là một tiêu chí để khẳng định cho
nền dân chủ của chế độ chính trị mỗi quốc gia. Nghị viện ra
đời cùng với sự xuất hiện của hiến pháp và tư tưởng quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đó là một hình thức quan
trọng để nhân dân thực hiện quyền lực của mình và đó cũng
là một hình thức để thông qua đó nhân dân thực hiện sự kiểm
tra, làm cho nhà nước luôn thuộc về mình.
Tuy nhiên, trong xã hội tư bản, thực chất quyền tự do
dân chủ không được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi
người. Đó là đặc quyền của những người hữu sản, không
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
13
phải dành cho mọi người dân trong xã hội. Điều này được
minh chứng trong Hiến pháp năm 1791 của nước Pháp. Sau
khi Quốc hội Pháp thông qua bản Tuyên ngôn nhân quyền
và dân quyền, trong quy định chế độ bầu cử, Hiến pháp năm
1791 đã chia công dân thành hai loại tích cực và tiêu cực
theo giá trị tài sản mà họ có. Đó là, "Những người không có
tài sản, quần chúng lao động bị coi là công dân tiêu cực.
Quyền bầu cử chỉ dành cho các công dân tích cực là những
người từ 25 tuổi trở lên, không làm thuê cho ai, có tên trong
danh sách vệ quốc quân và phải nộp một khoản thuế trực thu
ít nhất là ba ngày lương" 1.
Quy định này đã làm cho hàng triệu người lao động
không có quyền tham gia bầu cử vào cơ quan quyền lực nhà
nước (nghị viện/quốc hội). Họ đã không được hưởng dụng
quyền dân chủ một cách thực sự. Vì vậy, trong cuộc bầu cử
Quốc hội năm 1791 ở Pháp, “chỉ có 4 triệu 28 vạn người là
công dân tích cực trên tổng số 26 triệu dân"2 được tham gia.
Còn phụ nữ Pháp, đến năm 1945 mới được tham gia bầu cử.
Từ thực tế đó, Hồ Chí Minh nhận định: “Cách mệnh Pháp
cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách
mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực
trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc
địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng
còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng
1, 2. Văn phòng Quốc hội: Quá trình hình thành, phát triển và vai trò của
Quốc hội trong sự nghiệp đổi mới, Kỷ yếu hội thảo, Hà Nội, 2001, tr. 218, 219.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
14
áp bức”1.
Quyền lực nhà nước tư sản trong chế độ cộng hòa đã
không thuộc về nhân dân, không thuộc về số đông mà thuộc
về những kẻ giàu có. Và luật pháp của giai cấp tư sản, luật
pháp đẻ ra từ quyền lực, của kẻ mạnh, từ một số ít người, sẽ
không thể phục vụ quyền lợi cho đông đảo dân chúng. Vì thế,
cùng với việc kết tội, vạch trần bản chất tuỳ tiện, chuyên chế,
cách thức cai trị và tổ chức quyền lực của chính quyền thực
dân ở các thuộc địa, năm 1919, Hồ Chí Minh đã thay mặt Hội
những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi đến Hội nghị
Vécxây (Versailles) bản Yêu sách của nhân dân An Nam,
gồm tám điểm, đòi chính quyền thực dân Pháp “cải cách nền
pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng
được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như
người Âu châu... thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra
các đạo luật”2. Đây là sự khởi đầu tư tưởng về “thần linh
pháp quyền” của Hồ Chí Minh, là những yêu cầu bước đầu về
nền pháp quyền ở Việt Nam. Đồng thời, Người cũng đòi phải
có đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản
xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp “để giúp cho Nghị viện biết
được những nguyện vọng của người bản xứ”.
Bàn về yêu sách gồm tám điểm này, Daniel Hémerý cho
rằng: đối với Hồ Chí Minh, trong khi chờ cho các nguyên tắc
về dân tộc tự quyết từ lĩnh vực lý tưởng chuyển vào lĩnh vực
hiện thực, do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc
thuộc địa bị vi phạm tùy tiện, sự nhún nhường của Người và
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 274.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 435-436.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
15
những người Việt Nam yêu nước là rất táo bạo, rất triệt để,
“vì nó không dừng lại ở việc yêu sách được bình đẳng với
nước Pháp mà còn đòi hỏi phải chuyển giao lập tức mô hình
dân chủ kiểu phương Tây sang Đông Dương theo hướng độc
lập... Đó là một kịch bản chấm dứt tình trạng thuộc địa trước
công thức dân chủ về chính trị rồi độc lập”1.
Từ yêu cầu này, năm 1922, trong Việt Nam yêu cầu ca,
điểm 7 của Yêu sách tám điểm được Người thể hiện:
“Bảy xin hiến pháp ban hành
Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”2.
Tiếp đó, Hồ Chí Minh lại một lần nữa nêu rõ quan điểm
về “thần linh pháp quyền”, về quyền lực của nhân dân, khi
viết bài đăng trên Báo L'Humanité (Nhân đạo) - cơ quan
ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp, trong đó Người yêu cầu:
“Đòi cải cách pháp chế ở Đông Dương bằng ban hành những
bảo đảm cho người bản xứ cũng như cho người Âu, đòi tự do
cho báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do dạy học, đòi thay
thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ pháp luật; và sau cùng, đòi
có một đoàn đại biểu thường trực của dân bản xứ, được bầu
vào Nghị viện Pháp. Chúng tôi chỉ có thể coi các yêu sách rất
đúng đắn đó cũng là của chính mình, trong thời đại mà ý
muốn của nhân dân là nắm quyền tự quyết”3. Và trong Yêu
sách gửi hội Vạn quốc, Người viết: “Chúng tôi yêu sách với
1. Daniel Hémerý: Hồ Chí Minh từ Đông Dương đến Việt Nam, Nxb. Phụ
nữ, Hà Nội, 2004, tr. 29.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 438.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 6.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
16
Vạn quốc quyền độc lập hoàn toàn, tức khắc của dân tộc Việt
Nam” và nếu được độc lập ngay thì nước chúng tôi sẽ “xếp
đặt một nền hiến pháp theo những lý tưởng dân quyền”1.
Như vậy là, trong thời đại mà ý muốn của nhân dân là
nắm quyền tự quyết, lý tưởng dân quyền, vấn đề thực thi
quyền lực của nhân dân, thực thi tổ chức và điều hành xã hội
bằng pháp luật mà Hồ Chí Minh trình bày trong những văn
bản pháp lý nêu trên, đã phản ánh rõ nguyện vọng và yêu cầu
về quyền của con người ở thuộc địa (trong đó có Đông
Dương thuộc Pháp). Nội dung và ý nghĩa của những yêu cầu
chính đáng này xuất phát từ sự tiếp nhận có chọn lọc những
thành tựu về quyền con người mà nhân loại đã đạt được trong
cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến quân chủ chuyên
chế (từng được ghi trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ
năm 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước
Pháp năm 1791). Theo luật sư Vũ Đình Hòe, những yêu sách
đó “phản ánh tư tưởng hiến chính của Nguyễn Ái Quốc đã
nảy mầm” và “là một dạng của chế độ hiến chính”3.
Song có một sự thật cũng đã được Hồ Chí Minh rút ra từ
thực tế, đó là sự bất bình đẳng về quyền lợi và hưởng thụ đã
không chỉ xảy ra ở thuộc địa, mà tồn tại ngay cả ở các nước
tư bản và nước Pháp chính quốc. Từ đó, Người đúc kết:
Muốn xây dựng một nhà nước “của dân chúng số nhiều”,
điều hành và quản lý xã hội bằng pháp luật, thực hiện quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân, tất yếu không thể đi theo
1, 3. Vũ Đình Hòe: Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh,
Nxb. Văn hóa thông tin và Trung tâm lưu trữ văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà
Nội, 2001, tr. 341, 340.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
17
con đường cách mạng tư sản và tổ chức mô hình nhà nước
kiểu tư sản. Với nhận thức đúng đắn về dân chủ, Hồ Chí
Minh hiểu rằng, pháp quyền gắn bó hữu cơ với quyền công
dân của mỗi con người, nên ở đâu còn áp bức, bất công, ở đó
sẽ không có pháp quyền và pháp chế. Kết luận này càng được
củng cố khi Người được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những
Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin
đăng trên Báo L'Humanité, số ra ngày 16 và 17-7-1920, và
sau đó là những năm tháng được sống, học tập và làm việc tại
nước Nga xã hội chủ nghĩa của Lênin vĩ đại.
Nghiên cứu Hiến pháp và Luật bầu cử của Liên Xô,
Hồ Chí Minh nhận thấy: Nhân dân là chủ thể của cách mạng,
của quyền lực chính trị chân chính. Mọi công dân đều có
quyền tham gia các cuộc bầu cử trên cơ sở bình đẳng, chỉ trừ
những người bị mất trí, hoặc bị kết án. Bài học kinh nghiệm
của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 với sự ra đời của
các Xôviết công nông binh do công nhân, nông dân và binh sĩ
bầu ra, đã khẳng định sức mạnh và vai trò của quần chúng
nhân dân trong lịch sử. Đồng thời, mô hình tổ chức quyền lực
nhà nước kiểu Xôviết cũng chứng minh trong thực tiễn, nhân
dân có thể tham gia rộng rãi vào việc quản lý nhà nước, sử
dụng quyền lực nhà nước của mình. Thực tiễn mô hình tổ
chức nhà nước của quần chúng số đông, việc thực thi dân chủ
và quyền của con người trong chế độ ở nước Nga Xôviết đã
hấp dẫn Hồ Chí Minh.
Như vậy, cùng với hành trình tìm đường cứu nước, tìm
con đường giải phóng dân tộc, nghiên cứu tổ chức bộ máy
nhà nước, trong đó có vị trí, vai trò của nghị viện/quốc hội,
của pháp luật trong các nước tư bản (nước Pháp, nước Mỹ)
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
18
và Nhà nước Xôviết, Hồ Chí Minh đi tới kết luận: “Cách
mệnh Mỹ là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản là chưa
phải cách mệnh đến nơi”, vì rằng “cách mệnh thành công đã
hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ
lo tính cách mệnh lần thứ hai”1. Còn cách mạng Pháp, thì “tư
bản nó dùng chữ Tự do, Bình đẳng, Đồng bào để lừa dân, xúi
dân đánh đổ phong kiến. Khi dân đánh đổ phong kiến rồi, thì
nó lại thay phong kiến mà áp bức dân”2.
Từ đó, Người lựa chọn con đường cách mạng vô sản,
lựa chọn mô hình tổ chức nhà nước kiểu mới và hướng đến
cách mạng Nga, vì: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh,
thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì
quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một
bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng
mới được hạnh phúc”3. Hướng tới việc thành lập một nhà
nước thuộc về “dân chúng số nhiều” ở Việt Nam trong
tương lai, Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong thế giới bây giờ
chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến
nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do,
bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như
đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam” 2.
Nhận thức chính trị này đã đưa Hồ Chí Minh đến với
định hướng cơ bản về con đường giải phóng dân tộc Việt
Nam và thiết lập một thể chế quyền lực thực sự thuộc về
nhân dân. Từ sự lựa chọn này, con đường giải phóng dân tộc,
mô hình nhà nước “làm cho nước Nam được hoàn toàn độc
1, 2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 270, 274, 270.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 280.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
19
lập. Dựng ra chính phủ công nông binh”1 đã được
Hồ Chí Minh thể hiện rõ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người soạn thảo, được
thông qua tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đầu
năm 1930, tại Cửu Long - Hương Cảng.
b) Chuẩn bị cơ sở cho sự ra đời một thể chế nhà
nước mới
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và lan rộng đến Thái
Bình Dương. Sự kiện Pháp mở cửa cho quân Nhật vào chiếm
Đông Dương tháng 9-1940, làm cho mâu thuẫn giữa dân tộc
Việt Nam với đế quốc phát xít Pháp - Nhật ngày càng gay
gắt. Trong nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông
Dương, phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng
dâng cao. Khát vọng đánh đuổi Pháp, Nhật, giải phóng dân
tộc của đồng bào đã trở thành nhu cầu cấp bách. Trước sự
chuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước, từ
cuối năm 1939, Đảng Cộng sản Đông Dương đã bắt đầu thay
đổi chiến lược cách mạng tư sản dân quyền, hướng toàn bộ
cuộc vận động cách mạng vào mục tiêu giải phóng dân tộc và
thay đổi mô hình Chính phủ công nông binh bằng việc “lập
Chính phủ Liên bang Cộng hòa dân chủ Đông Dương”2.
Giữa lúc đó, Hồ Chí Minh đã trở về Tổ quốc, sau những
năm tháng bôn ba và hoạt động ở nước ngoài. Trên cơ sở
phân tích tình hình thế giới và thực tiễn Việt Nam, tháng 51. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 1.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2001, t. 6, tr. 542.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
20
1941, Người quyết định triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ
tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trước yêu cầu khách
quan của tình hình và nguyện vọng chung của quốc gia - dân
tộc, Hội nghị đã quyết định thay đổi chiến lược cách mạng.
Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc
cách mạng tư sản dân quyền, phải giải quyết hai vấn đề: phản
đế và điền địa, “mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một
vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, vậy thì cuộc cách mạng
Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng
dân tộc giải phóng”1.
Từ nhận thức sâu sắc rằng, “chủ nghĩa dân tộc là động
lực lớn của đất nước”2, là dòng chủ lưu trong lịch sử dựng
nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng
định: mỗi người dân Việt Nam, dù là địa chủ hay nông dân,
người buôn hay cu li, họ cũng đều là người nô lệ mất nước.
Họ đều có ý thức rõ rệt về độc lập dân tộc và chủ quyền quốc
gia, đều được nuôi dưỡng bởi truyền thống yêu nước, đoàn
kết, thống nhất và khát khao đấu tranh giải phóng dân tộc. Do
đó, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ chung của tất cả các giai
cấp, các đảng phái, tôn giáo, v.v. được quy tụ, tập hợp trong
mặt trận “Việt Nam độc lập đồng minh, hay nói tắt là Việt
Minh”3 do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Cùng với việc xác định mục tiêu, lực lượng, hình thức
mặt trận để thực hiện cuộc vận động giải phóng dân tộc, Nghị
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 119.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 466.
3, 2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr.
122, 114, 150.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
21
quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng
đã nêu rõ vấn đề cơ bản nhất của mọi cuộc cách mạng - vấn
đề chính quyền nhà nước. Khác với mô hình Chính phủ công
nông binh (như đã nêu trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng), Nghị quyết Trung ương 8 quyết định: “Sau lúc đánh
đuổi được Pháp - Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân
chủ mới theo tinh thần tân dân chủ. Chính quyền cách mạng
của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của
một giai cấp nào mà của chung cả toàn thể dân tộc”2 và
“Chính phủ ấy do quốc dân đại hội cử ra”3. Trong chính
quyền đó, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp - Nhật,
những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính
quyền, còn tất cả người dân sống trên dải đất Việt Nam đều
phải tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ
giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy.
Từ thực tế cách mạng Việt Nam và từ việc xác định rõ Nhật,
Pháp là kẻ thù của nhân dân Đông Dương, để tập trung vào mục
tiêu giải phóng dân tộc và nhằm phát huy được nguồn sức mạnh
nội lực của toàn thể dân tộc trong sự nghiệp giải phóng đất nước,
Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam đã quyết định
thay đổi chiến lược cách mạng, thay đổi việc lựa chọn từ mô hình
Chính phủ công nông binh (1930) sang mô hình Chính phủ dân
chủ cộng hòa (1941).
Sau thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga, hình
mẫu Nhà nước Xôviết công nông đã từng được các nghị
quyết của Quốc tế Cộng sản đề cập, trở thành mục tiêu của
các Đảng Cộng sản trong cuộc đấu tranh cách mạng. Tuy
nhiên, trên thế giới, mô hình chính quyền Xôviết đã không
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
22
được áp dụng thành công, trong đó có một số nước Đông Âu
và Hunggari đã áp dụng nhưng thất bại. Và cũng từ điều kiện
thực tế, Hồ Chí Minh nhận thức rõ: cơ sở của nhà nước ở
Việt Nam không chỉ thuần tuý là công nông, đó phải là khối
toàn dân đoàn kết. Vì vậy, Người và Trung ương Đảng lựa
chọn mô hình nhà nước “dân chủ cộng hòa”, nhằm phát huy
sức mạnh nội lực của toàn dân tộc.
Sự thay đổi này là một bước phát triển mới trong tư
tưởng Hồ Chí Minh, một sáng tạo của Người về thể chế chính
quyền nhà nước trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở
một nước thuộc địa. Quyết định này xuất phát từ thực tiễn,
đáp ứng yêu cầu khách quan của cuộc cách mạng giải phóng
dân tộc, phù hợp tình hình cụ thể của Việt Nam, phù hợp với
xu thế của thế giới. Đó là một bước tiến trong tư duy lý luận
về tổ chức chính quyền nhà nước của Hồ Chí Minh, của Đảng
ta. Với những điều ghi rõ trong Nghị quyết Trung ương lần
thứ tám, trong Chương trình và các văn kiện của Mặt trận
Việt Minh, mô hình Chính phủ dân chủ cộng hòa đã thể
hiện rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước pháp quyền
của dân chúng số nhiều, của chung toàn thể dân tộc ta, phù
hợp với đất nước và con người Việt Nam. Điều đó càng
chứng tỏ rằng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh: nước lấy dân
làm gốc, để phát huy sức mạnh nội lực của toàn dân tộc.
Sự thay đổi quan trọng về cách thức tổ chức bộ máy nhà
nước, chính là kết quả sự vận dụng trong thực tiễn tư tưởng
Hồ Chí Minh về việc xây dựng một nhà nước của dân, do dân
và vì dân. Quyết định này không chỉ phù hợp với sự phát
triển của phong trào cách mạng trong nước, mà còn được vận
dụng một cách sáng tạo trên cơ sở kế thừa những thành tựu
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
23
các mô hình tổ chức nhà nước đương đại. Sự thay đổi chiến
lược cách mạng, việc lựa chọn mô hình nhà nước “dân chủ
cộng hòa” đã thể hiện vai trò, sự nhạy bén của lãnh tụ Hồ Chí
Minh trước sự biến động của tình hình quốc tế và trong nước,
đồng thời cho thấy sự sâu sát thực tiễn, tầm nhìn xa của Hồ
Chí Minh trong quá trình chuẩn bị cho ngày vùng lên của
toàn dân. Điều đó có ý nghĩa quyết định đến thành công của
công cuộc vận động giải phóng dân tộc trong những năm
1941-...
(1946-1969)
TS. VĂN THỊ THANH MAI
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI QUỐC HỘI
(1946 - 1969)
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
HÀ NỘI - 2011
2
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sớm đề xuất việc tổ chức
Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa. Người không chỉ là vị kiến trúc sư mà
còn là linh hồn của Quốc hội, đã có những đóng góp to lớn
trong việc sáng lập và xây dựng Nhà nước Việt Nam của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân; trong việc tăng cường hoạt
động và phát huy vai trò của cơ quan quyền lực tối cao qua
các giai đoạn lịch sử cách mạng. Trong 24 năm ở cương vị
nguyên thủ quốc gia, bất kỳ ở thời điểm lịch sử nào, Người
cũng luôn dành tâm huyết vào việc xây dựng một thiết chế
dân chủ ở nước ta, cố gắng thực hiện quyền lực của nhân dân
một cách đầy đủ nhất.
Để giúp bạn đọc hiểu rõ tư tưởng, sự nghiệp, những đóng
góp to lớn của Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng và
trưởng thành của Quốc hội Việt Nam - cơ quan đại diện cho ý
chí và quyền lực của nhân dân, do nhân dân bầu ra trong thời
gian từ năm 1946 đến năm 1969, Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia - Sự thật xuất bản cuốn sách: Chủ tịch Hồ Chí Minh với
Quốc hội (1946-1969) của TS. Văn Thị Thanh Mai.
Cuốn sách tập trung mô tả, đi sâu trình bày nhận thức của
Hồ Chí Minh về Quốc hội, hệ thống quan điểm của Người về
việc xây dựng Quốc hội trong tổ chức bộ máy Nhà nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1946 đến năm 1969, từ đó
luận giải, làm rõ vai trò của Hồ Chí Minh trong quá trình
sáng lập, hoạt động của Quốc hội theo tư tưởng quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân; phân tích vai trò của Hồ Chí
Minh với Quốc hội trong việc thực hiện nhiệm vụ lập hiến,
lập pháp, đặc biệt là quá trình xây dựng Hiến pháp, luật cơ
bản nhất của Nhà nước ta, qua hai bản Hiến pháp năm 1946
và 1959 cùng các đạo luật và sắc lệnh; làm rõ sự phát triển
trong tư tưởng Hồ Chí Minh về việc thực hiện quyền lực của
nhân dân trong tổ chức bộ máy Nhà nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa; trình bày khái quát những hoạt động chính của ba
nhiệm kỳ Quốc hội khóa I, II, III. Đồng thời, cuốn sách cũng
khẳng định vai trò, những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh
trong hoạt động đối nội, đối ngoại của đất nước thời kỳ này.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc và
mong nhận được những ý kiến góp ý để lần xuất bản sau
cuốn sách được hoàn chỉnh hơn.
Tháng 9 năm 2011
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ
THẬT
4
LỜI MỞ ĐẦU
Là người sáng lập và xây dựng Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước của dân, do dân, vì dân,
trong từng thiết chế của Nhà nước (bao gồm các cơ quan
lập pháp, hành pháp và tư pháp), Hồ Chí Minh vừa là
người sáng lập, vừa là linh hồn của các cơ quan này. Từ
nhận thức: “Vốn bản chất là hiện thân của dân tộc, Quốc
hội sẽ làm tất cả những gì mà nhân dân mong muốn”1,
ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ
lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Tôi đề nghị
Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử
với chế độ phổ thông đầu phiếu” 2. Không chỉ có vậy, bằng
những nỗ lực vượt bậc, Người và Trung ương Đảng một
mặt kiên quyết đấu tranh vạch trần và chống lại những
hành động phá hoại của kẻ thù, mặt khác thực hiện sách
lược nhân nhượng, hoà giải để tiến tới Tổng tuyển cử theo
1. Hồ Chí Minh: Trả lời những câu phỏng vấn của báo Thụy Điển, bác sĩ J.
Takman, tháng 5-1958, tr.3, tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, hồ sơ
HS.H5C1/38.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t.4, tr.
8.
Lời mở đầu
5
nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bí mật, trực tiếp và bỏ
phiếu kín; tạo điều kiện, giúp các ứng cử viên nộp đơn và
vận động tranh cử một cách công bằng, dân chủ; thực hiện
quy định: “Dân trong mỗi tỉnh bầu thẳng đại biểu tỉnh
mình dự vào Quốc dân Đại hội”. Đặc biệt, Người kêu gọi
đồng bào cả nước hãy “tỏ rõ cái tư cách xứng đáng của
những người công dân nước Việt Nam và ý chí đoàn kết
không chia rẽ”, đồng thời “hưởng dụng quyền dân chủ của
mình” bằng việc tham gia cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên
của nước Việt Nam độc lập, để “được tự do lựa chọn và
bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh
vác việc nước”, góp phần quan trọng làm nên thành công
của cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I, ngày 6-11946.
Trong suốt 24 năm ở cương vị một nguyên thủ quốc gia,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều tâm huyết vào việc
xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước nói chung và Quốc
hội nói riêng. Bất kỳ thời điểm lịch sử nào, trong tư tưởng
Hồ Chí Minh, Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của
nhân dân Việt Nam cũng là một thiết chế dân chủ, để thông
qua đó nhân dân thực hiện sự uỷ thác quyền lực của mình.
Hồ Chí Minh quan niệm, một khi Quốc hội chưa làm hết
chức năng của mình, cũng đồng nghĩa với việc quyền lực
của nhân dân chưa được thực hiện một cách đầy đủ.
Với ý nghĩa đó, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa trải qua các khóa: I (1946-1960), II (1960-1964),
III (1964-1971), IV (1971-1975), V (1975-1976) đã góp phần
6Lời mở đầu
quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ
quốc và Quốc hội khóa VI (1976-1981), VII (1981-1987), VIII
(1987-1992), IX (1992-1997), X (1997-2002), XI (2002-2007),
XII (2007-2011) - Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất
đã trở thành nhân tố quan trọng trong hệ thống chính trị của
đất nước, tổ chức nhân dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
Kể từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
(12-1986) - Đại hội mở đầu thời kỳ đổi mới và phát triển đất
nước, Quốc hội ngày càng nâng cao vị trí, vai trò và trách
nhiệm của mình trong việc thực hiện các chức năng lập hiến,
lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng
của đất nước. Đặc biệt, từ khi Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VII (6-1991) của Đảng xác định: “Đảng lấy
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”1 và Hội nghị
giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (1-1994) khẳng định việc
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thì vị trí, vai trò của Quốc hội
ngày càng tăng lên mạnh mẽ.
Thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 27-3-2003 của Ban
Bí thư, về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư
tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới, việc đi sâu nghiên
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.127.
Lời mở đầu
7
cứu để làm sáng rõ tư tưởng, sự nghiệp Hồ Chí Minh trên tư
cách là người tổ chức, đóng góp to lớn vào quá trình xây dựng
và trưởng thành của Quốc hội Việt Nam trong 24 năm (19461969), càng trở nên cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to
lớn.
Với ý nghĩa đó, nghiên cứu vai trò của Chủ tịch
Hồ Chí Minh với Quốc hội giai đoạn 1946-1969 đã thu hút sự
quan tâm của nhiều nhà khoa học nói chung và những người
say mê nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí
Minh nói riêng.
Có thể nói, vấn đề Nhà nước, Quốc hội Việt Nam trong 65
năm xây dựng và phát triển đã được bàn đến trong nhiều công
trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau, song
nhìn chung, các công trình chưa đề cập một cách có hệ thống,
đầy đủ về quan điểm và những đóng góp của Hồ Chí Minh đối
với việc xây dựng Quốc hội từ năm 1946 đến năm 1969. Vì
vậy, trong cuốn sách này, trên cơ sở hệ thống hoá, khái quát
hoá những tư liệu đã có, bổ sung thêm những tư liệu mới, tác
giả đi sâu nghiên cứu quan điểm và hoạt động của Hồ Chí
Minh đối với việc xây dựng Quốc hội qua ba giai đoạn: từ
tháng 1 đến tháng 12-1946, từ tháng 12-1946 đến tháng 5-1960
và từ tháng 5-1960 đến cuối năm 1969; phân tích những điều
kiện cụ thể, những quyết nghị của Hồ Chí Minh và Quốc hội
trong việc thực hiện chức năng lập hiến, lập pháp, quyết định
những vấn đề quan trọng của đất nước qua các giai đoạn lịch
sử, nhằm:
Thứ nhất, làm rõ vai trò của Hồ Chí Minh đối với việc
8Lời mở đầu
sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xây dựng cơ
quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất là Quốc hội, xây dựng hệ thống pháp luật và
việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị khác với tư cách là lãnh
tụ của Đảng và Nhà nước.
Thứ hai, trình bày những hoạt động chính, quan trọng của
Hồ Chí Minh, thể hiện những đóng góp của Người đối với
việc xây dựng Quốc hội từ năm 1946 đến năm 1969.
Cuốn sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với Quốc hội (19461969) có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy
môn học lịch sử Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh trong các
trường đại học và cao đẳng, đồng thời giúp những người
quan tâm nghiên cứu về Quốc hội tiếp cận một danh mục tài
liệu tham khảo về Hồ Chí Minh với Quốc hội từ năm 1946
đến năm 1969.
Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, tác giả xin bày tỏ
lòng cảm ơn trân trọng tới PGS.NGND. Lê Mậu Hãn,
PGS.TS. Vũ Quang Hiển, PGS.TS. Ngô Đăng Tri,
PGS.TS. Hoàng Hồng, PGS.TS. Trình Mưu, GS.TS. Nguyễn
Đăng Dung, PGS.TS. Trần Đức Cường, PGS.TS. Phùng Đức
Thắng, PGS.TS. Nguyễn Văn Nhật, PGS.TS. Vũ Như Khôi,
PGS.TS. Nguyễn Đình Lê, TS. Nguyễn Đình Lộc đã đóng
góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình hình thành và hoàn
thiện bản thảo.
Cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót,
tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp, phê bình của đồng
nghiệp và bạn đọc.
Lời mở đầu
9
Hà Nội, tháng 8 năm 2011
TÁC GIẢ
10
Chương I
HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC SÁNG LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG
HÒA (1-12-1946)
I- HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC SÁNG LẬP QUỐC HỘI
KHÓA I
1. Lựa chọn và chuẩn bị cho sự ra đời một thể
chế nhà nước mới
a) Lựa chọn mô hình nhà nước
Ngày 1-9-1858, đại bác Pháp từ các tàu chiến của Rigault
de Genouilly nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu quá trình
xâm lược và thôn tính Việt Nam, biến nước ta thành thuộc
địa của Pháp. Nước bị mất quyền độc lập, nhân dân bị mất
quyền tự do.
Năm 1887, với thủ đoạn “chia để trị”, thực dân Pháp đã
chia Việt Nam thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau,
trong đó Nam Kỳ là xứ thuộc địa do Thống đốc đứng đầu,
Bắc Kỳ là xứ bảo hộ do Thống sứ đứng đầu, còn Trung Kỳ,
Lào và Campuchia cũng là xứ bảo hộ, nhưng lại do Khâm sứ
đứng đầu. Dưới chế độ thuộc địa, hệ thống vua quan người
bản xứ đều trở thành công cụ thực thi chính sách thống trị hà
khắc của thực dân Pháp.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
11
Cùng với bộ máy chính trị, thực dân Pháp đã xây dựng
bộ máy quân sự, cảnh sát, toà án, nhà tù để kìm kẹp, đàn áp
nhân dân ta. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, người
Việt Nam không được hưởng một chút tự do, dân chủ nào
của nền văn minh tư sản. Trong khi đó, ở nước Pháp, người
dân được hưởng sự cai trị bằng các đạo luật do Quốc hội (có
sự đại diện của người dân ban hành), thì ở xứ Đông Dương
thuộc địa, “công lý” chỉ dành cho người Pháp, thuộc về
người Pháp. Còn người dân bản xứ chỉ là nô lệ, là “thuộc
dân”, không có quyền ngang hàng với người dân “mẫu
quốc”, nhưng lại được che đậy, điểm trang bằng những
châm ngôn lý tưởng như bác ái, bình đẳng, v.v.. Song không
chịu khuất phục cam tâm làm nô lệ, nhân dân ta liên tiếp nổi
dậy đấu tranh, chống lại cường quyền. Tuy nhiên các phong
trào đấu tranh yêu nước đều bị thất bại.
Được sinh ra và lớn lên giữa những năm tháng đen tối đó,
Nguyễn Sinh Cung (Hồ Chí Minh) đã sớm hiểu biết và rất
đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Với nhiệt huyết
của tuổi trẻ và khát vọng giải phóng nhân dân khỏi cảnh lầm
than, Người quyết định rời Tổ quốc sang phương Tây, tìm
hiểu thực chất: Tự do, Bình đẳng, Bác ái và những gì ẩn giấu
dưới nhãn hiệu “khai hoá văn minh” cho các dân tộc “lạc
hậu” của thực dân Pháp, để “sau khi xem xét họ làm như thế
nào... sẽ trở về giúp đồng bào”1. Tàu Đô đốc Latútxơ
Trêvinlơ (Amiral Latouche Tréville) đã đưa Hồ Chí Minh
đến nước Pháp. Song, không dừng lại ở đó, Người tiếp tục
1. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của
Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 13.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
12
cuộc khảo nghiệm thực tiễn của mình qua hành trình đến
châu Âu, châu Phi và châu Mỹ.
Trong những năm bôn ba này, Hồ Chí Minh có điều kiện
tìm hiểu đời sống kinh tế - xã hội, nghiên cứu thành tựu và
những mặt hạn chế của mô hình tổ chức nhà nước tư sản và
bản chất chế độ tư bản chủ nghĩa. Từ thực tế, Người nhận
thấy, mặc dù pháp luật được đề cao, dân chủ và quyền con
người được ghi nhận trong các văn bản pháp lý (Tuyên ngôn
độc lập của nước Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền
của cách mạng Pháp, v.v.) nhưng không được thực hiện một
cách triệt để trong thực tiễn. Luận giải điều này, Người nhận
thức được rằng, cùng với việc giương cao khẩu hiệu Tự do,
Bình đẳng, Bác ái, quy tụ quần chúng nhân dân lật đổ chế độ
phong kiến, xoá bỏ cơ chế tổ chức quyền lực chuyên chế của
nhà vua, giai cấp tư sản đã tiến hành tổ chức bộ máy nhà
nước theo chế độ cộng hòa dân chủ. Chính thức ra đời từ sau
cách mạng tư sản, là một trong những thành tựu của cách
mạng tư sản, về mặt lý thuyết, sự hiện diện của nghị
viện/quốc hội có tính chất là một tiêu chí để khẳng định cho
nền dân chủ của chế độ chính trị mỗi quốc gia. Nghị viện ra
đời cùng với sự xuất hiện của hiến pháp và tư tưởng quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đó là một hình thức quan
trọng để nhân dân thực hiện quyền lực của mình và đó cũng
là một hình thức để thông qua đó nhân dân thực hiện sự kiểm
tra, làm cho nhà nước luôn thuộc về mình.
Tuy nhiên, trong xã hội tư bản, thực chất quyền tự do
dân chủ không được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi
người. Đó là đặc quyền của những người hữu sản, không
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
13
phải dành cho mọi người dân trong xã hội. Điều này được
minh chứng trong Hiến pháp năm 1791 của nước Pháp. Sau
khi Quốc hội Pháp thông qua bản Tuyên ngôn nhân quyền
và dân quyền, trong quy định chế độ bầu cử, Hiến pháp năm
1791 đã chia công dân thành hai loại tích cực và tiêu cực
theo giá trị tài sản mà họ có. Đó là, "Những người không có
tài sản, quần chúng lao động bị coi là công dân tiêu cực.
Quyền bầu cử chỉ dành cho các công dân tích cực là những
người từ 25 tuổi trở lên, không làm thuê cho ai, có tên trong
danh sách vệ quốc quân và phải nộp một khoản thuế trực thu
ít nhất là ba ngày lương" 1.
Quy định này đã làm cho hàng triệu người lao động
không có quyền tham gia bầu cử vào cơ quan quyền lực nhà
nước (nghị viện/quốc hội). Họ đã không được hưởng dụng
quyền dân chủ một cách thực sự. Vì vậy, trong cuộc bầu cử
Quốc hội năm 1791 ở Pháp, “chỉ có 4 triệu 28 vạn người là
công dân tích cực trên tổng số 26 triệu dân"2 được tham gia.
Còn phụ nữ Pháp, đến năm 1945 mới được tham gia bầu cử.
Từ thực tế đó, Hồ Chí Minh nhận định: “Cách mệnh Pháp
cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách
mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực
trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc
địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng
còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng
1, 2. Văn phòng Quốc hội: Quá trình hình thành, phát triển và vai trò của
Quốc hội trong sự nghiệp đổi mới, Kỷ yếu hội thảo, Hà Nội, 2001, tr. 218, 219.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
14
áp bức”1.
Quyền lực nhà nước tư sản trong chế độ cộng hòa đã
không thuộc về nhân dân, không thuộc về số đông mà thuộc
về những kẻ giàu có. Và luật pháp của giai cấp tư sản, luật
pháp đẻ ra từ quyền lực, của kẻ mạnh, từ một số ít người, sẽ
không thể phục vụ quyền lợi cho đông đảo dân chúng. Vì thế,
cùng với việc kết tội, vạch trần bản chất tuỳ tiện, chuyên chế,
cách thức cai trị và tổ chức quyền lực của chính quyền thực
dân ở các thuộc địa, năm 1919, Hồ Chí Minh đã thay mặt Hội
những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi đến Hội nghị
Vécxây (Versailles) bản Yêu sách của nhân dân An Nam,
gồm tám điểm, đòi chính quyền thực dân Pháp “cải cách nền
pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng
được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như
người Âu châu... thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra
các đạo luật”2. Đây là sự khởi đầu tư tưởng về “thần linh
pháp quyền” của Hồ Chí Minh, là những yêu cầu bước đầu về
nền pháp quyền ở Việt Nam. Đồng thời, Người cũng đòi phải
có đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản
xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp “để giúp cho Nghị viện biết
được những nguyện vọng của người bản xứ”.
Bàn về yêu sách gồm tám điểm này, Daniel Hémerý cho
rằng: đối với Hồ Chí Minh, trong khi chờ cho các nguyên tắc
về dân tộc tự quyết từ lĩnh vực lý tưởng chuyển vào lĩnh vực
hiện thực, do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc
thuộc địa bị vi phạm tùy tiện, sự nhún nhường của Người và
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 274.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 435-436.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
15
những người Việt Nam yêu nước là rất táo bạo, rất triệt để,
“vì nó không dừng lại ở việc yêu sách được bình đẳng với
nước Pháp mà còn đòi hỏi phải chuyển giao lập tức mô hình
dân chủ kiểu phương Tây sang Đông Dương theo hướng độc
lập... Đó là một kịch bản chấm dứt tình trạng thuộc địa trước
công thức dân chủ về chính trị rồi độc lập”1.
Từ yêu cầu này, năm 1922, trong Việt Nam yêu cầu ca,
điểm 7 của Yêu sách tám điểm được Người thể hiện:
“Bảy xin hiến pháp ban hành
Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”2.
Tiếp đó, Hồ Chí Minh lại một lần nữa nêu rõ quan điểm
về “thần linh pháp quyền”, về quyền lực của nhân dân, khi
viết bài đăng trên Báo L'Humanité (Nhân đạo) - cơ quan
ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp, trong đó Người yêu cầu:
“Đòi cải cách pháp chế ở Đông Dương bằng ban hành những
bảo đảm cho người bản xứ cũng như cho người Âu, đòi tự do
cho báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do dạy học, đòi thay
thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ pháp luật; và sau cùng, đòi
có một đoàn đại biểu thường trực của dân bản xứ, được bầu
vào Nghị viện Pháp. Chúng tôi chỉ có thể coi các yêu sách rất
đúng đắn đó cũng là của chính mình, trong thời đại mà ý
muốn của nhân dân là nắm quyền tự quyết”3. Và trong Yêu
sách gửi hội Vạn quốc, Người viết: “Chúng tôi yêu sách với
1. Daniel Hémerý: Hồ Chí Minh từ Đông Dương đến Việt Nam, Nxb. Phụ
nữ, Hà Nội, 2004, tr. 29.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 438.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 6.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
16
Vạn quốc quyền độc lập hoàn toàn, tức khắc của dân tộc Việt
Nam” và nếu được độc lập ngay thì nước chúng tôi sẽ “xếp
đặt một nền hiến pháp theo những lý tưởng dân quyền”1.
Như vậy là, trong thời đại mà ý muốn của nhân dân là
nắm quyền tự quyết, lý tưởng dân quyền, vấn đề thực thi
quyền lực của nhân dân, thực thi tổ chức và điều hành xã hội
bằng pháp luật mà Hồ Chí Minh trình bày trong những văn
bản pháp lý nêu trên, đã phản ánh rõ nguyện vọng và yêu cầu
về quyền của con người ở thuộc địa (trong đó có Đông
Dương thuộc Pháp). Nội dung và ý nghĩa của những yêu cầu
chính đáng này xuất phát từ sự tiếp nhận có chọn lọc những
thành tựu về quyền con người mà nhân loại đã đạt được trong
cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến quân chủ chuyên
chế (từng được ghi trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ
năm 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước
Pháp năm 1791). Theo luật sư Vũ Đình Hòe, những yêu sách
đó “phản ánh tư tưởng hiến chính của Nguyễn Ái Quốc đã
nảy mầm” và “là một dạng của chế độ hiến chính”3.
Song có một sự thật cũng đã được Hồ Chí Minh rút ra từ
thực tế, đó là sự bất bình đẳng về quyền lợi và hưởng thụ đã
không chỉ xảy ra ở thuộc địa, mà tồn tại ngay cả ở các nước
tư bản và nước Pháp chính quốc. Từ đó, Người đúc kết:
Muốn xây dựng một nhà nước “của dân chúng số nhiều”,
điều hành và quản lý xã hội bằng pháp luật, thực hiện quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân, tất yếu không thể đi theo
1, 3. Vũ Đình Hòe: Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh,
Nxb. Văn hóa thông tin và Trung tâm lưu trữ văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà
Nội, 2001, tr. 341, 340.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
17
con đường cách mạng tư sản và tổ chức mô hình nhà nước
kiểu tư sản. Với nhận thức đúng đắn về dân chủ, Hồ Chí
Minh hiểu rằng, pháp quyền gắn bó hữu cơ với quyền công
dân của mỗi con người, nên ở đâu còn áp bức, bất công, ở đó
sẽ không có pháp quyền và pháp chế. Kết luận này càng được
củng cố khi Người được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những
Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin
đăng trên Báo L'Humanité, số ra ngày 16 và 17-7-1920, và
sau đó là những năm tháng được sống, học tập và làm việc tại
nước Nga xã hội chủ nghĩa của Lênin vĩ đại.
Nghiên cứu Hiến pháp và Luật bầu cử của Liên Xô,
Hồ Chí Minh nhận thấy: Nhân dân là chủ thể của cách mạng,
của quyền lực chính trị chân chính. Mọi công dân đều có
quyền tham gia các cuộc bầu cử trên cơ sở bình đẳng, chỉ trừ
những người bị mất trí, hoặc bị kết án. Bài học kinh nghiệm
của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 với sự ra đời của
các Xôviết công nông binh do công nhân, nông dân và binh sĩ
bầu ra, đã khẳng định sức mạnh và vai trò của quần chúng
nhân dân trong lịch sử. Đồng thời, mô hình tổ chức quyền lực
nhà nước kiểu Xôviết cũng chứng minh trong thực tiễn, nhân
dân có thể tham gia rộng rãi vào việc quản lý nhà nước, sử
dụng quyền lực nhà nước của mình. Thực tiễn mô hình tổ
chức nhà nước của quần chúng số đông, việc thực thi dân chủ
và quyền của con người trong chế độ ở nước Nga Xôviết đã
hấp dẫn Hồ Chí Minh.
Như vậy, cùng với hành trình tìm đường cứu nước, tìm
con đường giải phóng dân tộc, nghiên cứu tổ chức bộ máy
nhà nước, trong đó có vị trí, vai trò của nghị viện/quốc hội,
của pháp luật trong các nước tư bản (nước Pháp, nước Mỹ)
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
18
và Nhà nước Xôviết, Hồ Chí Minh đi tới kết luận: “Cách
mệnh Mỹ là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản là chưa
phải cách mệnh đến nơi”, vì rằng “cách mệnh thành công đã
hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ
lo tính cách mệnh lần thứ hai”1. Còn cách mạng Pháp, thì “tư
bản nó dùng chữ Tự do, Bình đẳng, Đồng bào để lừa dân, xúi
dân đánh đổ phong kiến. Khi dân đánh đổ phong kiến rồi, thì
nó lại thay phong kiến mà áp bức dân”2.
Từ đó, Người lựa chọn con đường cách mạng vô sản,
lựa chọn mô hình tổ chức nhà nước kiểu mới và hướng đến
cách mạng Nga, vì: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh,
thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì
quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một
bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng
mới được hạnh phúc”3. Hướng tới việc thành lập một nhà
nước thuộc về “dân chúng số nhiều” ở Việt Nam trong
tương lai, Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong thế giới bây giờ
chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến
nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do,
bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như
đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam” 2.
Nhận thức chính trị này đã đưa Hồ Chí Minh đến với
định hướng cơ bản về con đường giải phóng dân tộc Việt
Nam và thiết lập một thể chế quyền lực thực sự thuộc về
nhân dân. Từ sự lựa chọn này, con đường giải phóng dân tộc,
mô hình nhà nước “làm cho nước Nam được hoàn toàn độc
1, 2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 270, 274, 270.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 280.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
19
lập. Dựng ra chính phủ công nông binh”1 đã được
Hồ Chí Minh thể hiện rõ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người soạn thảo, được
thông qua tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đầu
năm 1930, tại Cửu Long - Hương Cảng.
b) Chuẩn bị cơ sở cho sự ra đời một thể chế nhà
nước mới
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và lan rộng đến Thái
Bình Dương. Sự kiện Pháp mở cửa cho quân Nhật vào chiếm
Đông Dương tháng 9-1940, làm cho mâu thuẫn giữa dân tộc
Việt Nam với đế quốc phát xít Pháp - Nhật ngày càng gay
gắt. Trong nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông
Dương, phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng
dâng cao. Khát vọng đánh đuổi Pháp, Nhật, giải phóng dân
tộc của đồng bào đã trở thành nhu cầu cấp bách. Trước sự
chuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước, từ
cuối năm 1939, Đảng Cộng sản Đông Dương đã bắt đầu thay
đổi chiến lược cách mạng tư sản dân quyền, hướng toàn bộ
cuộc vận động cách mạng vào mục tiêu giải phóng dân tộc và
thay đổi mô hình Chính phủ công nông binh bằng việc “lập
Chính phủ Liên bang Cộng hòa dân chủ Đông Dương”2.
Giữa lúc đó, Hồ Chí Minh đã trở về Tổ quốc, sau những
năm tháng bôn ba và hoạt động ở nước ngoài. Trên cơ sở
phân tích tình hình thế giới và thực tiễn Việt Nam, tháng 51. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 1.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2001, t. 6, tr. 542.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
20
1941, Người quyết định triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ
tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trước yêu cầu khách
quan của tình hình và nguyện vọng chung của quốc gia - dân
tộc, Hội nghị đã quyết định thay đổi chiến lược cách mạng.
Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc
cách mạng tư sản dân quyền, phải giải quyết hai vấn đề: phản
đế và điền địa, “mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một
vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, vậy thì cuộc cách mạng
Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng
dân tộc giải phóng”1.
Từ nhận thức sâu sắc rằng, “chủ nghĩa dân tộc là động
lực lớn của đất nước”2, là dòng chủ lưu trong lịch sử dựng
nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng
định: mỗi người dân Việt Nam, dù là địa chủ hay nông dân,
người buôn hay cu li, họ cũng đều là người nô lệ mất nước.
Họ đều có ý thức rõ rệt về độc lập dân tộc và chủ quyền quốc
gia, đều được nuôi dưỡng bởi truyền thống yêu nước, đoàn
kết, thống nhất và khát khao đấu tranh giải phóng dân tộc. Do
đó, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ chung của tất cả các giai
cấp, các đảng phái, tôn giáo, v.v. được quy tụ, tập hợp trong
mặt trận “Việt Nam độc lập đồng minh, hay nói tắt là Việt
Minh”3 do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Cùng với việc xác định mục tiêu, lực lượng, hình thức
mặt trận để thực hiện cuộc vận động giải phóng dân tộc, Nghị
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 119.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 466.
3, 2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr.
122, 114, 150.
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
21
quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng
đã nêu rõ vấn đề cơ bản nhất của mọi cuộc cách mạng - vấn
đề chính quyền nhà nước. Khác với mô hình Chính phủ công
nông binh (như đã nêu trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng), Nghị quyết Trung ương 8 quyết định: “Sau lúc đánh
đuổi được Pháp - Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân
chủ mới theo tinh thần tân dân chủ. Chính quyền cách mạng
của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của
một giai cấp nào mà của chung cả toàn thể dân tộc”2 và
“Chính phủ ấy do quốc dân đại hội cử ra”3. Trong chính
quyền đó, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp - Nhật,
những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính
quyền, còn tất cả người dân sống trên dải đất Việt Nam đều
phải tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ
giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy.
Từ thực tế cách mạng Việt Nam và từ việc xác định rõ Nhật,
Pháp là kẻ thù của nhân dân Đông Dương, để tập trung vào mục
tiêu giải phóng dân tộc và nhằm phát huy được nguồn sức mạnh
nội lực của toàn thể dân tộc trong sự nghiệp giải phóng đất nước,
Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam đã quyết định
thay đổi chiến lược cách mạng, thay đổi việc lựa chọn từ mô hình
Chính phủ công nông binh (1930) sang mô hình Chính phủ dân
chủ cộng hòa (1941).
Sau thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga, hình
mẫu Nhà nước Xôviết công nông đã từng được các nghị
quyết của Quốc tế Cộng sản đề cập, trở thành mục tiêu của
các Đảng Cộng sản trong cuộc đấu tranh cách mạng. Tuy
nhiên, trên thế giới, mô hình chính quyền Xôviết đã không
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
22
được áp dụng thành công, trong đó có một số nước Đông Âu
và Hunggari đã áp dụng nhưng thất bại. Và cũng từ điều kiện
thực tế, Hồ Chí Minh nhận thức rõ: cơ sở của nhà nước ở
Việt Nam không chỉ thuần tuý là công nông, đó phải là khối
toàn dân đoàn kết. Vì vậy, Người và Trung ương Đảng lựa
chọn mô hình nhà nước “dân chủ cộng hòa”, nhằm phát huy
sức mạnh nội lực của toàn dân tộc.
Sự thay đổi này là một bước phát triển mới trong tư
tưởng Hồ Chí Minh, một sáng tạo của Người về thể chế chính
quyền nhà nước trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở
một nước thuộc địa. Quyết định này xuất phát từ thực tiễn,
đáp ứng yêu cầu khách quan của cuộc cách mạng giải phóng
dân tộc, phù hợp tình hình cụ thể của Việt Nam, phù hợp với
xu thế của thế giới. Đó là một bước tiến trong tư duy lý luận
về tổ chức chính quyền nhà nước của Hồ Chí Minh, của Đảng
ta. Với những điều ghi rõ trong Nghị quyết Trung ương lần
thứ tám, trong Chương trình và các văn kiện của Mặt trận
Việt Minh, mô hình Chính phủ dân chủ cộng hòa đã thể
hiện rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước pháp quyền
của dân chúng số nhiều, của chung toàn thể dân tộc ta, phù
hợp với đất nước và con người Việt Nam. Điều đó càng
chứng tỏ rằng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh: nước lấy dân
làm gốc, để phát huy sức mạnh nội lực của toàn dân tộc.
Sự thay đổi quan trọng về cách thức tổ chức bộ máy nhà
nước, chính là kết quả sự vận dụng trong thực tiễn tư tưởng
Hồ Chí Minh về việc xây dựng một nhà nước của dân, do dân
và vì dân. Quyết định này không chỉ phù hợp với sự phát
triển của phong trào cách mạng trong nước, mà còn được vận
dụng một cách sáng tạo trên cơ sở kế thừa những thành tựu
Chương I: Hồ Chí Minh với việc sáng lập và hoạt động...
23
các mô hình tổ chức nhà nước đương đại. Sự thay đổi chiến
lược cách mạng, việc lựa chọn mô hình nhà nước “dân chủ
cộng hòa” đã thể hiện vai trò, sự nhạy bén của lãnh tụ Hồ Chí
Minh trước sự biến động của tình hình quốc tế và trong nước,
đồng thời cho thấy sự sâu sát thực tiễn, tầm nhìn xa của Hồ
Chí Minh trong quá trình chuẩn bị cho ngày vùng lên của
toàn dân. Điều đó có ý nghĩa quyết định đến thành công của
công cuộc vận động giải phóng dân tộc trong những năm
1941-...
 








Các ý kiến mới nhất