Nguồn gốc loài người

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thu Yến
Ngày gửi: 12h:53' 07-04-2024
Dung lượng: 6.7 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thu Yến
Ngày gửi: 12h:53' 07-04-2024
Dung lượng: 6.7 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI
G.N. Machusin
Nhà xuất bản Mir, Maxcova, 1982
Người dịch : Phạm Thái Xuyên
dịch sang tiếng Việt có bổ sung và sửa chữa
Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1986
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục
Tiểu sử tác giả
Lời nói đầu
Mở đầu
Tìm kiếm tổ tiên
Côbi-Fora
Luxi ở Sađa
Lêtôlin
Mai và những hắc tinh tinh khác...
Lò urani trong vườn Êđem
Kết quả đầu tiên và vấn đề mới
Theo các định luật di truyền
"Sức mạnh của bầu trời"
Điều kiện chủ yếu
Tổ tiên đến với chúng ta
TIỂU SỬ TÁC GIẢ
Machusin Ghêran Nhicôlaêvich là cán bộ khoa học lâu năm của Viện khảo
cổ thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học Liên Xô.
Lúc 14 tuổi, ông đã tham gia chiến đấu chống phát xít Đức. Từ thủy thủ tập
sự trở thành chỉ huy lái tàu quét mìn tại Hạm đội phương Bắc. Đã được tặng
thưởng 10 huân chương và huy chương chiến đấu.
Sau chiến tranh ông trở thành nhà khảo cổ học và năm 1964 ông bảo vệ luận
án phó tiến sĩ. Năm 1985 luận án tiến sĩ của ông được chấp nhận để chuẩn bị
bảo vệ. Hơn 30 năm tiến hành khai quật ông đã phát hiện ra di chỉ thời đại
đồ đá cũ trước ở Uran – Mưxovaia và hơn 300 di vật thuộc kỷ đồ đá.
Cuốn sách này trình bày luận điểm do ông đề xướng vào những năm 60.
Theo luận điểm đó đột biến do dị thường phóng xạ ở vùng Đông Phi vào
cuối kỷ pliôxen đã làm xuất hiện cách đi thẳng, tăng thể tích não và các đột
biến khác trong cơ thể tổ tiên con người. Và để tồn tại được tổ tiên con
người đã phải chuyển sang lao động có hệ thống.
Tác giả đã viết các cuốn "Môn khảo cổ học ở trường phổ thông" (M. 1964),
"Nôi lịch sử" (M. 1972), "Mêzôlit Nam Uran" (M. 1976), "Vành đai ngọc
bích Uran" (M. 1977), "Eneôlit Nam Uran" (M. 1982), "Ba triệu năm trước
công nguyên" (M. 1986), sách giáo khoa cho sinh viên "Địa phương học lịch
sử" (1975 và 1980) và gần 140 bài báo khoa học.
LỜI NÓI ĐẦU
Đọc cuốn sách "Nguồn gốc loài người" của G. N. Machusin sẽ thấy rất thú
vị. Ngôn ngữ sống động, tài liệu khoa học đa dạng, những quan niệm khác
thường đối với vấn đề nguồn gốc con người - tất cả những điều đó đã đủ lý
thú rồi. Cuốn sách được viết theo truyền thống diễn đạt dễ hiểu đối với khoa
học phổ cập, nó mang lại một cách chính xác cho đông đảo bạn đọc những
chứng cứ và những giả thuyết khoa học.
Trong lịch sử nguồn gốc con người vẫn còn nhiều vấn đề chưa rõ. Thời gian
chuyển biến từ động vật đến các tổ tiên con người được chú ý đến nhiều.
Một loài động vật khởi đầu đã tạo ra hai nhánh phát triển. Một nhánh - tổ
tiên con người, người vượn và họ người (Hominidae) [1] , nhánh song song
thứ hai - vượn gôrila (Gorilla gorilla), hắc tinh tinh (Antropopithecus
troglodytes), và v.v... Tổ tiên con người là một loài đã bị mất tung tích,
không để lại dấu vết, - đỉnh cao của tiến hóa thuần túy sinh học đã trở thành
nguồn cội của người xã hội tương lai nhờ có được những tính chất mới đặc
biệt trong di truyền. Tổ tiên con người đã trải qua những biến đổi sinh học
căn bản, trước hết, những biến đổi ấy gắn liền với sự xuất hiện những dạng
thức phản ánh mới.
Dựng lại quá trình xuất xứ của con người nghĩa là nói về hai giai đoạn bước
ngoặt chủ yếu nhất trên nền tảng của quá trình đó. Giai đoạn thứ nhất - xuất
hiện tổ tiên xa xôi mà trong não đã chớm nở những yếu tố của quá trình phản
ánh mới, mà sau này do ảnh hưởng của lao động, dẫn đến phát sinh tri thức.
Có lẽ, sự kiện đó đã xảy ra gần 20 triệu năm trước đây. Mối liên hệ của tổ
tiên con người với giới động vật có ý nghĩa to lớn; đồng thời, sự tiến hóa của
họ người cũng bắt đầu từ đó. Giai đoạn thứ hai - xuất hiện người thông minh,
Homo sapiens. Sự kiện này xảy ra tất cả chỉ vào khoảng 40 nghìn năm trước
đây.
Những điều kiện và những yếu tố tiến hóa từ tổ tiên là động vật đến người
hiện đại đã biến đổi rõ rệt. Quá trình tiến hóa ấy bao gồm tính liên tục và
những bước nhảy vọt, tính ngẫu nhiên và tính tất yếu, nó gắn liền với lối
thoát dần dần của con người ra khỏi sự thống trị của tiến hóa sinh học theo
mức độ ngày càng tăng tính đặc thù của dạng thức vận động vật chất có tính
chất xã hội. Dạng thức này trở thành sức mạnh quyết định sự phát triển của
con người.
Thế nhưng, như thế nào mà do ảnh hưởng của những nguyên nhân ấy, một
trong số các loài động vật đã tạo nên nguồn gốc của tổ tiên con người, và do
đó mở ra lịch sử chưa từng có hình thành người thông minh ? Có thể gọi giai
đoạn khi những tổ tiên đầu tiên của con người vẫn còn ở trong phạm vi của
tiến hóa sinh học, bằng cách nào đó bắt đầu vận động tiến tới hình thành
những dạng đầu tiên của đời sống xã hội, là giai đoạn tổ tiên con người. Có
lẽ, tổ tiên con người vẫn sống trên cây và giống vượn người nhiều hơn là
giống với người. Tại sao sự tiến hóa lại bắt đầu từ ramapitec và kết thúc khi
người thông minh xuất hiện. Câu trả lời thông thường cho câu hỏi đó là : sự
xuất hiện tổ tiên con người không phải là bước nhảy vọt trong quá trình tiến
hóa của sự sống. Người ta cho rằng họ người đã xuất hiện như một phản ứng
với áp lực chọn lọc kéo dài đã tác động chủ yếu thông qua những biến đổi
trong tập tính gắn liền với những biến đổi trong môi trường sống.
Phần lớn các nhà khoa học cho rằng con người là kết quả phát triển dần dần
của một tổ hợp các đặc tính vốn có ở tổ tiên là động vật của con người,
những đặc tính đó là tâm lý, cảm xúc, cảm giác quần hệ, khả năng trao đổi
thông tin, và v.v... S. Đacuyn, P. Cropôtkin, E. Maer, Ph. Đôpgianxki đã viết
về điều đó. Họ cho rằng dường như sự tiến hóa của họ người đã diễn ra về
chất cũng giống như đã diễn ra ở tổ tiên là động vật của họ này. Trong
trường hợp này, không tính đến sự xuất hiện bước nhảy vọt dưới dạng các
đặc tính có thể biến đổi một cách căn bản khả năng tiến hóa, hướng sự tiến
hóa theo con người dẫn đến xuất hiện người thông minh. Giả thiết rằng vì
những tổ tiên động vật của con người rơi vào môi trường sống mới, và điều
đó chính là bước nhảy vọt dẫn đến sự tiến hóa đặc biệt của những tổ tiên là
động vật của con người. Quả thật, vào thời gian xuất hiện tổ tiên con người,
những biến đổi của khí hậu trên Trái đất đã làm cho những cánh rừng rộng
lớn bị thay thế bằng những savan [2] trống trải kể cả những miền khô hạn
dưới dạng bán sa mạc. Tổ tiên con người (sau khi đã tách ra từ nhóm
đriôpitec) lúc ấy vẫn còn sống trên cây, bây giờ buộc phải tiến ra những
khoảng trống lộ thiên. Hình như điều đó tạo ra những điều kiện thuận lợi cho
dáng đi thẳng và nhờ săn bắt đã tăng thêm số lượng thịt trong thức ăn.
Có thể, đó chỉ là mô tả thực tế tiến trình hình thức của các sự kiện. Thế
nhưng ramapitec đã xuất hiện ngay khi đriôpitec còn sống trên cây trong
rừng. Tại sao cũng những biến đổi nghiêm trọng như thế trong môi trường
sống, sự tiến hóa theo hướng dẫn đến người thông minh chỉ đụng chạm tới
một loài động vật mà không đụng chạm tới những động vật gần gũi khác?
Đã có đủ bằng cớ hiển nhiên chứng minh rằng việc sử dụng công cụ ở mức
tối thiểu, sự hợp thành quần xã để kiếm thức ăn, kỹ năng khi hình thành tập
tính, là bản tính của vượn. Một câu hỏi nảy sinh : tại sao trong những điều
kiện ấy, những loài vượn khác lại không chuyển sang đi hai chân? Điều đã
biết rõ là một khu vực sống [3] mới rộng lớn xuất hiện sẽ kéo theo hiện
tượng song hành trong tiến hóa của các loài. Khi môi trường sống ở nửa thứ
hai của kỷ thứ ba biến đổi, chỉ có một loài sinh học biến đổi theo cách đặc
biệt, và điều đó cho phép con cháu của loài ấy trở thành tổ tiên có triển vọng
nhất của người thông minh, sự kiện đó được các nhà khoa học nghiên cứu
như một vấn đề quan trọng nhất trong quá trình hình thành con người.
Lần đầu tiên con người thoát ra khỏi giới động vật là nhờ có khả năng nhận
thức bản thân mình như một đơn vị tách biệt hẳn thế giới còn lại, đó là kết
quả của một loại hình đặc biệt xử lý thông tin. Phải chăng khả năng đó là hệ
quả bình thường trong tiến hóa của động vật? Nếu như thế thì sự nhận thức
cần phải trở thành vốn riêng không những chỉ cho con người. Nếu mà con
người chỉ giản đơn vượt hơn các loại khác về sự phát triển thì lúc ấy phải có
những sinh vật hoặc là gần với người, hoặc là phản ánh trong hành vi của
mình toàn bộ những bước chuyển tiếp từ giới động vật đến con người.
Không có chuyện đó ! Hoạt động nhận thức tách biệt con người với động vật
một trời một vực.
Rõ ràng rằng sự xuất hiện dạng thức không bình thường như thế, như tổ tiên
con người, đã dựa vào một hiện tượng sinh học duy nhất nào đó. Trên nền
tảng khả năng xuất hiện tổ tiên con người, có sự cải biến sinh học đặc biệt về
thông tin di truyền của đriôpitec, sự cải biến đó là cơ sở để phát triển loại
hình vận động mới của vật chất.
Toàn bộ những điều đó chứng minh cho giả thuyết giữa con người và giới
động vật phải có một giai đoạn của tổ tiên con người - một sinh thể là sản
phẩm của tiến hóa sinh học, thoát thai từ giới động vật bởi quá trình phát
triển lịch sử tự nhiên của dạng thức vận động vật chất về mặt sinh học. Hơn
nữa, tổ tiên con người có bản tính sinh học mới về chất của một đặc tính duy
nhất tuyệt đối ; bản tính đó không có ở tất cả các loài động vật còn lại. Bản
tính đó quan trọng tới mức nó tạo ra bước ngoặt trong lịch sử sự sống trên
Trái Đất - bước ngoặt trở thành điểm nguyên khai đối với sự phát triển
những cơ sở sinh học đã xuất hiện khi hình thành người thông minh.
Tính duy nhất của sự xuất hiện tổ tiên con người, tính không lặp lại của sự
kiện đó trong lịch sử sự sống buộc phải thừa nhận sự xuất hiện đó là bất ngờ
và đột nhiên. Bất cứ hiện tượng nào cũng là sự thống nhất biện chứng của
tính tất yếu và tính ngẫu nhiên. Tính ngẫu nhiên - sản phẩm có tính quy luật
và không tránh khỏi của những yếu tố quyết định chủ yếu, không có nghĩa là
nó có thể xảy ra hoặc không có thể xảy ra. Trong định nghĩa triết học này, sự
xuất hiện tổ tiên con người được xem xét như tính ngẫu nhiên trong quá trình
tiến hóa hữu cơ. Sự chuyển tiếp từ dạng thức vận động sinh học sang vận
động xã hội - đó là sự chuyển tiếp đến một lĩnh vực mới về chất. F. Ănghen
viết: "Tính ngẫu nhiên lật nhào quan niệm đã tồn tại cho đến nay về tính tất
yếu".
Sự việc cũng diễn ra như vậy đối với sự xuất hiện tổ tiên con người. Sau khi
xuất hiện bằng con đường cải biến đột biến và chọn lọc, tổ tiên con người
dựa vào các quá trình lao động, đã bước lên con đường tiến hóa có hướng.
Con đường ấy - được đề nghị gọi là con đường tiến hóa hòa hợp, đã kéo theo
một loạt các giai đoạn biến đổi về tâm lý và những đặc điểm thể chất để hoàn
thiện sự hình thành người hiện đại. Ý nghĩa của tiến hóa hòa hợp là sự cải
biến nối tiếp nhau những cơ sở sinh học của tổ tiên con người dưới ảnh
hưởng của những yêu cầu xã hội.
G. N. Machusin đã xác định một cách đúng đắn tính chất phức tạp và quan
trọng của vấn đề, và đã đưa ra một giả thuyết độc đáo. Theo giả thuyết này,
những cải biến di truyền ở tổ tiên con người do kết quả đột biến đã phụ thuộc
rất nhiều vào ảnh hưởng của bức xạ được tăng cường ở một trong những thời
kỳ của sự tiến hóa này. Tác giả lưu ý bạn đọc rằng những biến đổi sinh học
cỡ lớn ở tổ tiên con người đã diễn ra ở thời kỳ pliôxen, theo thời gian, trùng
hợp với những sự kiện không bình thường trong lịch sử Trái Đất. Trên Trái
Đất lúc ấy cùng chung sống những tổ tiên chung của tổ tiên con người và
vượn hiện đại. Ở Đông Phi, trên lãnh thổ mà những tổ tiên chung ấy chiếm
lĩnh, sự vận động mạnh mẽ của vỏ Trái Đất đã diễn ra. Những đứt gãy có
dạng những đường nứt sâu dài hàng nghìn kilomet đã xuất hiện trên vỏ Trái
Đất. Đồng thời, những quá trình phún xuất của núi lửa, tần số và cường độ
động đất gia tăng đột ngột. Những lò urani thiên nhiên xuất hiện, chúng hoạt
động như những nguồn năng lượng hạt nhân thiên nhiên và v.v...
Theo quan điểm của tác giả, trong những điều kiện ấy, điều chủ yếu là nền
phóng xạ đã gia tăng trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. Và chỉ
trong một thời kỳ nhất định, sự tiến hóa của tổ tiên con người đã chịu đựng
tác động của một yếu tố gây đột biến mạnh mẽ. G. N. Machusin chỉ ra rằng
vào thời kỳ xuất hiện con người, trên lãnh thổ quê hương đầu tiên của con
người đã xảy ra nhiều sự kiện có tính chất không bình thường. Ngoài hiện
tượng phóng xạ được gia tăng, đã quan sát thấy núi lửa hoạt động mãnh liệt,
động đất ở khắp nơi, và v.v... Tất cả những sự kiện đó đã tạo điều kiện gia
tăng cả tần số đột biến cũng như cả đối với chọn lọc tự nhiên. Còn về vai trò
của những đột biến lớn trong nguồn gốc con người, tuy còn hơi cứng nhắc,
nhưng vấn đề đó cũng đã được thảo luận trong cuốn sách. M.E. Lôba- sep
(1967) đã viết: "Có thể, sự xuất hiện con người với hai bán cầu vỏ đại não
phát triển, tư thế thân thể thẳng đứng, tín hiệu ngôn ngữ rời rạc, là hệ quả
của những đột biến lớn. Đối với thiên nhiên, người thông minh "không bình
thường" tới mức như một con gà nuôi đẻ 365 trứng một năm thay cho 10-15
trứng, hoặc một bò sữa kỷ lục cho 16 nghìn kilogam sữa một năm thay cho
600-700 kg".
G. N. Machusin không tán thành quan điểm coi những đột biến như thế qui
định sự xuất hiện con người. Tác giả nhấn mạnh rất đúng rằng sự hình thành
tổ tiên con người không bị các đột biến bắt buộc mà là do những yêu cầu xã
hội được đáp ứng trong lao động có mục đích quyết định; chỉ bằng con
đường ấy, sự phát sinh xã hội mới có thể quyết định hướng tiến hóa sinh học
của họ người.
Tất nhiên, không phải toàn bộ các vấn đề trong cuốn sách đều đã hiển nhiên.
Những luận điểm riêng biệt được dẫn ra có thể là quá khẳng định, những
luận điểm khác - lại đơn giản hóa. Thế nhưng, trong cuốn sách khá ngắn gọn
về nội dung này, những luận điểm ấy đã được giải thích.
Tôi xin giới thiệu với bạn đọc cuốn sách thú vị này, và ở một số phần, thậm
chí nó là một cuốn sách hấp dẫn. Người đọc cuốn sách này sẽ có thêm nhiều
kiến thức.
Viện sĩ N. P. ĐUBININ
___
[1] Họ người thuộc bộ linh trưởng (Primates), bao gồm người hóa thạch và
người hiện đại. ND.
[2] Savan - từ tiếng Tây Ban Nha : sabana - những vùng bình nguyên rộng
lớn ở nhiệt đới (châu Phi, Nam Mỹ), chỉ có cây thảo, chủ yếu là hòa thảo,
thỉnh thoảng có những cây bụi có gai và những cụm cây thấp. ND.
[3] Khu vực sống (sinh cảnh) - từ gốc chữ Hy Lạp : biotopos - một vùng là
môi trường sống của động vật được đặc trưng bằng những điều kiện sống
tương đối ổn định (đầm lầy, savan,...). ND.
MỞ ĐẦU
Thân thể con người - một cơ thể được cấu tạo phức tạp. Trong cơ thể có đủ
các bộ phận mà nhờ chúng, có thể suy nghĩ, nói năng, đi lại bằng hai chân,
chế tạo ra những đồ vật khác nhau bằng hai tay, sử dụng được ưu thế thị giác
có hình khối, màu sắc. Trong thiên nhiên, không có một loài sinh vật nào
khác mà lại có trách nhiệm với sự tồn tại của mình không những về sự thích
nghi thể chất với môi trường sống, mà còn đối với cả những thành tựu trong
trình độ phát triển về vật chất.
Tôi là ai? Không có một người biết suy nghĩ nào mà lại không đặt ra câu hỏi
đó cho bản thân mình, dù chỉ một lần. Tại sao tôi có tầm vóc cao lớn như thế
này, màu mắt như thế này, tính cách như thế này? Bố tôi không cao lắm, mẹ
- thấp người, ông nội và bà nội - cũng thế. Màu mắt của bố mẹ, ông bà tôi
đều khác tôi. Cũng có thể tôi giống với cụ tổ theo truyền thuyết - một trưởng
đội côdắc, sống vào thế kỷ XVI, là người sáng lập nên cái làng quê thân yêu
mà một nửa làng cũng mang tên họ như tôi ? Các câu hỏi ngày càng đi sâu
mãi, đi sâu mãi vào quá khứ…
Ngày xưa, các vị tổ tiên của tôi không nhiều lắm. Một nghìn năm trước đây,
trên hành tinh này, họ còn ít hơn cả số dân trên đất nước chúng ta hiện nay.
Còn nếu đi xa hơn nữa về quá khứ cách đây hai triệu năm, thì hình dạng tổ
tiên của tôi sẽ biến đổi đi. Họ không có hình dạng con người, ý thức của họ
còn mơ hồ. Còn tiếng nói, nếu họ nói được, - cũng là tiếng nói nguyên thủy.
Quần áo, nếu họ có, - là những bộ da lông chưa qua chế biến. Cũng có thể là
họ chưa biết dùng lửa, họ ăn những con thằn lằn, những con rắn còn sống
nguyên... Đấy, những tổ tiên của tôi.
Tôi là ai? Tôi - tất cả những người như họ, bởi vì một câu trả lời đúng đắn sẽ
phải dựa vào sự di truyền và tiến hóa. Và câu trả lời ấy sẽ giúp tôi hình dung
ra họ hàng thân thuộc của tôi với toàn thể loài người, với tất cả các sinh vật
sống. Nếu tôi tìm được câu trả lời, thì có thể tôi nhận ra tại sao tôi có được
bộ óc lớn mà nhờ nó tôi có thể viết sách, xây dựng các thành phố, bay vào vũ
trụ, mà cái chính là biết nói và suy ngẫm về nguồn cội của mình.
Đã có một thời gian mà tổ tiên của tôi không biết một chút gì về những
chuyện đó. Họ vẫn chưa phải là những con người và họ giống những con
vượn hiện nay. Một nơi nào đó, trong tận cùng cội nguồn tộc phả của tôi, "ở
một giống vượn xa tất cả những giống còn lại về trí thông minh và sự thích
ứng" [1] đã sinh ra một sinh vật biết liên kết thế giới con người hiển nhiên
với giới động vật hiển nhiên. Nhiệm vụ của cuốn sách này là ở chỗ cố gắng
làm sáng tỏ sinh vật ấy xuất hiện như thế nào, cố gắng xác định những yếu tố
nào đã gây nên sự biến đổi vượn "bốn tay" thành tổ tiên đi thẳng của con
người. Ngắn gọn hơn là nhận thức được tôi trở thành một con người như tôi
như thế nào.
Những người sống trước tôi đã cố gắng giải đoán bí mật về nguồn gốc của
mình. Có thể là đã lâu lắm rồi, từ ngày đầu tiên tồn tại của mình, vấn đề tộc
phả của con người đã dày vò con người. Vô vàn huyền thoại còn lưu truyền
đến chúng ta, dưới dạng những chuyện cổ tích dân gian Nga, cũng như dưới
dạng những truyền thuyết thần thoại của các dân tộc khác, có chủ đề cố gắng
giải thích đất nước và con người đã xuất hiện như thế nào. Tất cả những
huyền thoại ấy đều tuyệt đẹp và thú vị nhưng tuyệt đối ... không đáng tin
cậy.
Cuối cùng, chỉ vào thời đại chúng ta mới hoàn thiện được các phương pháp
cho phép bắt tay vào giải quyết những vấn đề về nguồn gốc con người một
cách khoa học. Chỉ có bây giờ các nhà khoa học mới có thể chinh phục lại
một cách chính xác đến cả những chi tiết về cuộc sống của tổ tiên xa xưa của
chúng ta theo những dấu vết tưởng như là không đáng kể. Những phương
pháp mới nhất phục chế quá khứ cho phép tái hiện chân dung chính xác của
các tổ tiên. Độ chính xác và độ tin cậy của những phục chế ấy đã được kiểm
tra. Kiểm tra như thế nào? Đây là một ví dụ.
Tội phạm đến khéo che đậy những dấu vết của mình tới mức sau đó mấy
năm, khi công nhân xây dựng đào hào để đặt đường ống dẫn, mới phát hiện
ra hài cốt của người bị giết. Thoạt tiên, không ai có thể nghi ngờ rằng người
chết mà công nhân xây dựng tìm thấy hài cốt là nạn nhân của một hành
động giết người dã man.
"Chó sói, chắc thế", - các dự thẩm nêu ra giả thuyết sau khi phát hiện ra
những vết thủng nằm ngang ở xương người bị giết. Ban giám định đã xác
định được ở xương đúng là có những vết răng của một con thú cỡ lớn. Bộ
xương không có sọ dường như cũng khẳng định giả thuyết những con thú ăn
thịt đã tấn công nạn nhân. Những con thú cũng có thể gặm mất toàn bộ sọ.
Có lẽ mọi việc đã rõ và người ta đã chuẩn bị nộp hồ sơ vào lưu trữ, thì đột
nhiên công nhân xây dựng bỗng thấy chiếc sọ, và những giả thuyết trước đó
bị bác bỏ. Rõ ràng đây là một vụ giết người. Trên xương sọ thấy rõ một vết
lõm, dấu vết của một đòn mạnh đánh từ phía sau. Có nghĩa là đó không phải
do chó sói mà là một tội ác.
Hung thủ không để lại bất cứ dấu vết gì. Thậm chí tên người bị giết cũng
không biết, người bị giết quê quán ở đâu, xuất hiện trong rừng như thế nào.
Phải chăng ở đây chính là chỗ người ấy bị giết, hay là người ấy đã bị giết ở
một nơi khác nào đó, mà ở đây chỉ là nơi giấu xác. Vụ án còn phức tạp thêm
lên ở chỗ chiếc sọ và bộ xương người đã được tìm thấy ở ngoại ô một thành
phố lớn. Vì vậy, cũng có thể xác chết đã bị chặt ra thành từng đoạn, và việc
chuyên chở từng đoạn xác chết có thể kín đáo hơn.
Tìm hung thủ khi không có bất cứ dấu vết nào và cũng không biết cả tên
người bị giết là điều không thể làm được. Thế nhưng, chẳng bao lâu sau đó
đã tìm ra hung thủ. Khi thảo luận các giả thuyết khác nhau, đã tưởng đó là
một vấn đề không có hy vọng, thì một trong số các cộng tác viên của ban
điều tra hình sự chợt nhớ lại rằng mình đã đọc ở đâu đó có một phương pháp
phục chế mặt người theo xương sọ của họ do các nhà khảo cổ học nghiên
cứu ra. Một dự thẩm đã đến Maxcơva. Ở Viện khảo cổ học thuộc Viện hàn
lâm khoa học Liên Xô, người ta khuyên người dự thẩm đến gặp tiến sĩ sử
học M. M. Gheraximôp.
"Và đừng nghĩ thế, không, không và không, - giáo sư trả lời. - Đồng chí
không biết là tôi bận đến như thế nào : cần phải đến những chỗ khai quật ở
Xibêri, phải xử lý tài liệu ở Malta. Và sau đó tôi phải phục chế các chân
dung hoàn toàn không phải là để bắt hung thủ. Tôi chú ý đến bộ mặt thật của
người cổ xưa chứ không phải của người hiện đại. Chúng tôi cần làm sáng tỏ
một cách chi tiết những sai khác của những dạng người đã mất tung tích
(pitêcantrôp, nêanđectan) [2] với người hiện đại, hay như người ta gọi
"người thông minh thông minh". Còn những tội phạm, về hình dáng bên
ngoài, cũng là những người như tôi với đồng chí. Ở đây có cái gì là thú vị
đối với khoa học?".
"Nhưng, thưa giáo sư, xin giáo sư hãy nghĩ xem, - người dự thẩm nói, - nếu
được giáo sư giúp đỡ mà chúng tôi tìm thấy hung thủ, thì đó là một bằng
chứng có sức thuyết phục biết chừng nào về tính chính xác của những phục
chế làm theo phương pháp của giáo sư".
"Vâng, nhưng đồng chí cần độ chính xác mà chúng tôi không cần đến, - M.
M . Gheraximôp trả lời. - Đồng chí muốn có độ chính xác của một tấm ảnh
chụp để căn cứ vào tấm ảnh ấy mà tìm ra tên của người bị giết. Đối với
chúng tôi thì điều quan trọng là chỉ phục chế những đặc điểm về hình dạng
của người cổ xưa".
"Thưa giáo sư, tôi tin rằng việc phục chế theo phương pháp của giáo sư sẽ có
được một tấm ảnh đối chứng", - người dự thẩm không nhượng bộ. Và cuối
cùng, người dự thẩm đã thuyết phục được nhà khoa học.
Kết quả phục chế tạo hình đã xác lập được rằng người bị giết là một chú bé
12-13 tuổi... Căn cứ vào xương sọ, đã nặn ra tượng của người chết bằng bột
nặn plastilin. Người ta đã chụp ảnh bức tượng từ nhiều phía khác nhau.
Người dự thẩm trộn lẫn những tấm ảnh chụp được với ba mươi tấm ảnh của
các chú bé khác cùng tuổi. Người ta phân phát số ảnh ấy cho các nhân viên
công an để đưa cho nhân dân ở những làng xóm gần đấy xem. Chẳng bao
lâu, những người dân ở một trong số những làng ngoại ô cách không xa địa
điểm tìm thấy xác chết, căn cứ vào các tấm ảnh, đã nhận ra chú bé sống ở
làng ấy và đã mất tích mấy năm trước đây. Người ta nghi rằng chú bé đã trốn
đi và đi du lịch ở đâu đó, hoặc là đi lang thang lêu lổng. Đã biết được tên
người bị giết và địa chỉ bố mẹ của người ấy. Người ta đưa cho ông bố chú bé
bị giết 37 tấm ảnh chụp các chú bé. Không hề do dự, ông bố đã chọn ra 7
tấm ảnh trong số đó vì lập tức đã nhận ra con trai của mình...
Như vậy, hình pháp học đã giúp cho việc khẳng định độ chính xác của
phương pháp tái hiện hình dạng con người cổ xưa và những tổ tiên của họ.
Đã chứng minh một cách không chối cãi được rằng việc phục chế chân dung
con người theo phương pháp của Gheraximôp (1964), - đó không chỉ đơn
giản là các kiểu khái quát hóa người cổ xưa mà còn là những bức chân dung
chính xác của những tổ tiên người hiện đại đã từ lâu mất tung tích. Căn cứ
vào chân dung như vậy của từng tổ tiên một, có lẽ, có thể nhận ra những
người bà con...
Đi loanh quanh trong rừng ngoại thành và khi suy ngẫm về trường hợp mà
M. M. Gheraximôp kể cho tôi nghe, tôi chú ý đến những chiếc lông tơ màu
trắng, như một lớp tuyết phủ lên ngã tư đường nhựa nhỏ. Đặc biệt thú vị khi
nhìn những chiếc lông ấy rơi xuống mặt nước. Những "bông tuyết" trắng của
cây dương như một tấm chăn mỏng bằng lông tơ phủ lên mặt nước phẳng
lặng.
Khi đi chơi trong rừng, trên đồng cỏ vào mùa hoa nở, chắc các bạn cũng đã
chú ý đến những vũng nước có một lớp màu vàng nhạt phủ lên, các bạn cũng
đã trông thấy khi một trận gió thổi trên cánh đồng màu gỉ sắt, một cột khói
màu xanh nhạt đã bốc lên như thế nào. Đó là giới thực vật vung vãi những
mầm sống tương lai với khối lượng khổng lồ. Mỗi đóa hoa tạo ra hàng
nghìn, hàng chục nghìn bào tử và phấn hoa. Việc nghiên cứu phấn hoa thời
cổ xưa giúp cho các nhà khoa học tái dựng cảnh quan của quá khứ, lập lại
được lịch sử khí hậu và thậm chí xác định phỏng chừng thời gian tìm được di
cốt cũng như đồ dùng của con người. Và không chỉ là phấn hoa mà cả xương
động vật cũng có khả năng giúp cho các nhà khảo cổ xác định niên đại của
những vật tìm được. Trong suốt quãng thời gian hàng nghìn, hàng triệu và
hàng trăm triệu năm, một số loài động vật và thực vật đã bị những loài động
vật và thực vật khác thay thế, còn những di tích của chúng được tích lũy lại
trong đất. Trình tự thay đổi động vật và thực vật được xác định khá chính
xác (bằng phương pháp sinh địa tầng học). Nhưng ở những địa điểm này hay
khác, một số động vật bị tuyệt chủng sớm hơn những động vật khác, hoặc
ngược lại, chúng đã sống lâu hơn so với ở những địa điểm khác. Vì vậy
thước đo thời gian dựa vào sự tiến hóa của chúng không cho phép định niên
đại một cách chính xác những vật tìm được.
Năm 1949, giáo sư U. F. Libi ở trường đại học tổng hợp Sicagô đã đề nghị
một phương pháp xác định niên đại những đối tượng cổ xưa theo mức phóng
xạ của các di tích hữu cơ. Do phát minh này, năm 1960, ông đã được nhận
giải thưởng Nobel. Trên cơ sở của phương pháp Libi, người ta đã hoàn thiện
những phương pháp khác tương tự như các phương pháp xác định niên đại.
Cơ sở của những phương pháp này là trong tự nhiên thường xuyên diễn ra sự
tích tụ hoặc phân rã các chất đồng vị của các chất khác nhau. Ví dụ, trong cơ
thể sống và trong khí quyển có một lượng như nhau cacbon (14C) phóng xạ.
Khi cơ thể đó chết đi thì sự xâm nhập của cacbon vào cơ thể cũng ngừng lại.
Trong cơ thể động vật hoặc thực vật đã chết, cacbon phóng xạ bắt đầu phân
rã. Đã xác định được rằng sau 5730 năm, số lượng của nó chỉ còn lại một
nửa (bán rã). Vật tìm được càng cổ xưa bao nhiêu thì lượng cacbon trong nó
càng ít bấy nhiêu, còn ít đi bao nhiêu thì máy đo đặc biệt sẽ "thông báo". Bây
giờ, tuổi của các di tích hữu cơ được xác định đủ chính xác. Hàng nghìn di
tích đã được xác định niên đại bằng cách ấy.
Trong thiên nhiên, không chỉ có cacbon phóng xạ thường xuyên phân rã, mà
còn cả các nguyên tố khác nữa. Cũng đã biết tốc độ bán rã của chúng. Khi
xác định số lượng nguyên tố phóng xạ này hay khác trong các vỏ sò, hến,
trong san hô, trong các trầm tích biển hoặc núi lửa, có thể biết được khá
chính xác bao nhiêu năm đã trôi qua kể từ khi những di tích hóa thạch này
hay khác, hoặc công cụ của người đã bị chìm xuống đáy biển, hoặc bị tro vùi
lấp và bị dung nham của núi lửa phủ kín.
Ví dụ, từ 1 kg urani (238U), trong những điều kiện nhất định, sau 100 triệu
năm, sẽ thải ra 13 g chì và 2 g hêli. Sau 2 tỷ năm, trong đá nguyên khai chứa
1 kg urani, sẽ tích tụ lại 225 g chì và 35 g hêli, còn urani chỉ còn lại 0,5 kg.
Sau khi đã xác định được số lượng urani và hêli trong mẫu đá bằng các máy
đo có thể tính ra được tuổi của mẫu ấy. Chu kỳ bán rã của kali (40K) - 1,31
tỷ năm, nghĩa là sau 1,31 tỷ năm kể từ khi kali cùng với dung nham núi lửa
chảy tràn lên bề mặt một địa điểm này hay khác, trong mẫu dung nham, số
lượng kali chỉ còn lại một nửa, thế nhưng sẽ có cùng chừng ấy can xi (40Ca)
và acgon (40Ar) được tạo thành. Như vậy, nếu xác định số lượng các hợp
phần trong mẫu dung nham thì có thể biết được chính xác tuổi của bản thân
dung nham ấy. Còn nếu như dưới lớp dung nham lại có di cốt của người bị
chết do phún xuất cùng với nhà ở và đồ dùng của người ấy, thì tuổi của
người chết, nhà cửa và đồ dùng, cũng tương ứng với lớp dung nham.
Phương pháp xác định niên đại phổ biến nhất trong số các phương pháp
dùng đồng vị phóng xạ - là phương pháp dùng cacbon phóng xạ và kaliacgon. Ngoài ra, còn dùng các phương pháp xác định niên đại theo đồng vị
của protoactini (231Pa - chu kỳ bán rã 32 nghìn năm), thôri (230Th - 75
nghìn năm), urani (234U - 0,25 triệu năm), clo (36Cl - 0,3 triệu năm), berili
(10Be - 2,5 triệu năm), hêli (4He - 4,5 tỷ năm), và v.v...
Người ta còn xác định thời gian theo cường độ bức xạ Mặt Trời (phương
pháp vật lý thiên văn), theo các dẫn liệu địa chất từ, và v.v... Các nhà địa lý
học, địa chất học, dân tộc học, di truyền học, động vật học, đều tích cực quan
tâm đến việc nghiên cứu các vật tìm được cổ xưa ; toán học tính toán và
nhiều phương pháp khác nữa cũng được sử dụng.
Trong khoảng 15 - 20 năm gần đây, khi sử dụng những thành tựu của khoa
học thế giới và những phương pháp mới về khai quật, phục chế và xác định
niên đại, các nhà khảo cổ đã có được những phát hiện quan trọng nhất, đặc
biệt là trong việc nghiên cứu thời đại đồ đá - thời kỳ đầu tiên trong lịch sử
loài người. Thời đại đồ đá không những chỉ là thời đại cổ xưa nhất, mà còn
là thời đại dài nhất trong lịch sử. Toàn bộ lịch sử văn tự, bắt đầu từ Sumer và
Ai Cập cổ đại, chỉ kéo dài trên 5 nghìn năm một chút. Nếu cho lịch sử văn tự
của loài người là một ngày, thì thời đại đồ đá so với một ngày ấy, đã kéo dài
522 ngày (gần một năm rưỡi!).
Trong lịch sử thời đại đồ đá người ta chia ra thành ba thời đại : 1) paleolit [3]
(thời đại đồ đá cũ) ; 2) mezolit (thời đại đồ đá giữa) ; 3) neolit (thời đại đồ đá
mới). Thời đại đồ đá cũ còn được chia ra thành một số giai đoạn (hoặc "văn
hóa").
Thời đại đồ đá cũ sớm (dưới)
- Ônđuvai : từ khi xuất...
G.N. Machusin
Nhà xuất bản Mir, Maxcova, 1982
Người dịch : Phạm Thái Xuyên
dịch sang tiếng Việt có bổ sung và sửa chữa
Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1986
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục
Tiểu sử tác giả
Lời nói đầu
Mở đầu
Tìm kiếm tổ tiên
Côbi-Fora
Luxi ở Sađa
Lêtôlin
Mai và những hắc tinh tinh khác...
Lò urani trong vườn Êđem
Kết quả đầu tiên và vấn đề mới
Theo các định luật di truyền
"Sức mạnh của bầu trời"
Điều kiện chủ yếu
Tổ tiên đến với chúng ta
TIỂU SỬ TÁC GIẢ
Machusin Ghêran Nhicôlaêvich là cán bộ khoa học lâu năm của Viện khảo
cổ thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học Liên Xô.
Lúc 14 tuổi, ông đã tham gia chiến đấu chống phát xít Đức. Từ thủy thủ tập
sự trở thành chỉ huy lái tàu quét mìn tại Hạm đội phương Bắc. Đã được tặng
thưởng 10 huân chương và huy chương chiến đấu.
Sau chiến tranh ông trở thành nhà khảo cổ học và năm 1964 ông bảo vệ luận
án phó tiến sĩ. Năm 1985 luận án tiến sĩ của ông được chấp nhận để chuẩn bị
bảo vệ. Hơn 30 năm tiến hành khai quật ông đã phát hiện ra di chỉ thời đại
đồ đá cũ trước ở Uran – Mưxovaia và hơn 300 di vật thuộc kỷ đồ đá.
Cuốn sách này trình bày luận điểm do ông đề xướng vào những năm 60.
Theo luận điểm đó đột biến do dị thường phóng xạ ở vùng Đông Phi vào
cuối kỷ pliôxen đã làm xuất hiện cách đi thẳng, tăng thể tích não và các đột
biến khác trong cơ thể tổ tiên con người. Và để tồn tại được tổ tiên con
người đã phải chuyển sang lao động có hệ thống.
Tác giả đã viết các cuốn "Môn khảo cổ học ở trường phổ thông" (M. 1964),
"Nôi lịch sử" (M. 1972), "Mêzôlit Nam Uran" (M. 1976), "Vành đai ngọc
bích Uran" (M. 1977), "Eneôlit Nam Uran" (M. 1982), "Ba triệu năm trước
công nguyên" (M. 1986), sách giáo khoa cho sinh viên "Địa phương học lịch
sử" (1975 và 1980) và gần 140 bài báo khoa học.
LỜI NÓI ĐẦU
Đọc cuốn sách "Nguồn gốc loài người" của G. N. Machusin sẽ thấy rất thú
vị. Ngôn ngữ sống động, tài liệu khoa học đa dạng, những quan niệm khác
thường đối với vấn đề nguồn gốc con người - tất cả những điều đó đã đủ lý
thú rồi. Cuốn sách được viết theo truyền thống diễn đạt dễ hiểu đối với khoa
học phổ cập, nó mang lại một cách chính xác cho đông đảo bạn đọc những
chứng cứ và những giả thuyết khoa học.
Trong lịch sử nguồn gốc con người vẫn còn nhiều vấn đề chưa rõ. Thời gian
chuyển biến từ động vật đến các tổ tiên con người được chú ý đến nhiều.
Một loài động vật khởi đầu đã tạo ra hai nhánh phát triển. Một nhánh - tổ
tiên con người, người vượn và họ người (Hominidae) [1] , nhánh song song
thứ hai - vượn gôrila (Gorilla gorilla), hắc tinh tinh (Antropopithecus
troglodytes), và v.v... Tổ tiên con người là một loài đã bị mất tung tích,
không để lại dấu vết, - đỉnh cao của tiến hóa thuần túy sinh học đã trở thành
nguồn cội của người xã hội tương lai nhờ có được những tính chất mới đặc
biệt trong di truyền. Tổ tiên con người đã trải qua những biến đổi sinh học
căn bản, trước hết, những biến đổi ấy gắn liền với sự xuất hiện những dạng
thức phản ánh mới.
Dựng lại quá trình xuất xứ của con người nghĩa là nói về hai giai đoạn bước
ngoặt chủ yếu nhất trên nền tảng của quá trình đó. Giai đoạn thứ nhất - xuất
hiện tổ tiên xa xôi mà trong não đã chớm nở những yếu tố của quá trình phản
ánh mới, mà sau này do ảnh hưởng của lao động, dẫn đến phát sinh tri thức.
Có lẽ, sự kiện đó đã xảy ra gần 20 triệu năm trước đây. Mối liên hệ của tổ
tiên con người với giới động vật có ý nghĩa to lớn; đồng thời, sự tiến hóa của
họ người cũng bắt đầu từ đó. Giai đoạn thứ hai - xuất hiện người thông minh,
Homo sapiens. Sự kiện này xảy ra tất cả chỉ vào khoảng 40 nghìn năm trước
đây.
Những điều kiện và những yếu tố tiến hóa từ tổ tiên là động vật đến người
hiện đại đã biến đổi rõ rệt. Quá trình tiến hóa ấy bao gồm tính liên tục và
những bước nhảy vọt, tính ngẫu nhiên và tính tất yếu, nó gắn liền với lối
thoát dần dần của con người ra khỏi sự thống trị của tiến hóa sinh học theo
mức độ ngày càng tăng tính đặc thù của dạng thức vận động vật chất có tính
chất xã hội. Dạng thức này trở thành sức mạnh quyết định sự phát triển của
con người.
Thế nhưng, như thế nào mà do ảnh hưởng của những nguyên nhân ấy, một
trong số các loài động vật đã tạo nên nguồn gốc của tổ tiên con người, và do
đó mở ra lịch sử chưa từng có hình thành người thông minh ? Có thể gọi giai
đoạn khi những tổ tiên đầu tiên của con người vẫn còn ở trong phạm vi của
tiến hóa sinh học, bằng cách nào đó bắt đầu vận động tiến tới hình thành
những dạng đầu tiên của đời sống xã hội, là giai đoạn tổ tiên con người. Có
lẽ, tổ tiên con người vẫn sống trên cây và giống vượn người nhiều hơn là
giống với người. Tại sao sự tiến hóa lại bắt đầu từ ramapitec và kết thúc khi
người thông minh xuất hiện. Câu trả lời thông thường cho câu hỏi đó là : sự
xuất hiện tổ tiên con người không phải là bước nhảy vọt trong quá trình tiến
hóa của sự sống. Người ta cho rằng họ người đã xuất hiện như một phản ứng
với áp lực chọn lọc kéo dài đã tác động chủ yếu thông qua những biến đổi
trong tập tính gắn liền với những biến đổi trong môi trường sống.
Phần lớn các nhà khoa học cho rằng con người là kết quả phát triển dần dần
của một tổ hợp các đặc tính vốn có ở tổ tiên là động vật của con người,
những đặc tính đó là tâm lý, cảm xúc, cảm giác quần hệ, khả năng trao đổi
thông tin, và v.v... S. Đacuyn, P. Cropôtkin, E. Maer, Ph. Đôpgianxki đã viết
về điều đó. Họ cho rằng dường như sự tiến hóa của họ người đã diễn ra về
chất cũng giống như đã diễn ra ở tổ tiên là động vật của họ này. Trong
trường hợp này, không tính đến sự xuất hiện bước nhảy vọt dưới dạng các
đặc tính có thể biến đổi một cách căn bản khả năng tiến hóa, hướng sự tiến
hóa theo con người dẫn đến xuất hiện người thông minh. Giả thiết rằng vì
những tổ tiên động vật của con người rơi vào môi trường sống mới, và điều
đó chính là bước nhảy vọt dẫn đến sự tiến hóa đặc biệt của những tổ tiên là
động vật của con người. Quả thật, vào thời gian xuất hiện tổ tiên con người,
những biến đổi của khí hậu trên Trái đất đã làm cho những cánh rừng rộng
lớn bị thay thế bằng những savan [2] trống trải kể cả những miền khô hạn
dưới dạng bán sa mạc. Tổ tiên con người (sau khi đã tách ra từ nhóm
đriôpitec) lúc ấy vẫn còn sống trên cây, bây giờ buộc phải tiến ra những
khoảng trống lộ thiên. Hình như điều đó tạo ra những điều kiện thuận lợi cho
dáng đi thẳng và nhờ săn bắt đã tăng thêm số lượng thịt trong thức ăn.
Có thể, đó chỉ là mô tả thực tế tiến trình hình thức của các sự kiện. Thế
nhưng ramapitec đã xuất hiện ngay khi đriôpitec còn sống trên cây trong
rừng. Tại sao cũng những biến đổi nghiêm trọng như thế trong môi trường
sống, sự tiến hóa theo hướng dẫn đến người thông minh chỉ đụng chạm tới
một loài động vật mà không đụng chạm tới những động vật gần gũi khác?
Đã có đủ bằng cớ hiển nhiên chứng minh rằng việc sử dụng công cụ ở mức
tối thiểu, sự hợp thành quần xã để kiếm thức ăn, kỹ năng khi hình thành tập
tính, là bản tính của vượn. Một câu hỏi nảy sinh : tại sao trong những điều
kiện ấy, những loài vượn khác lại không chuyển sang đi hai chân? Điều đã
biết rõ là một khu vực sống [3] mới rộng lớn xuất hiện sẽ kéo theo hiện
tượng song hành trong tiến hóa của các loài. Khi môi trường sống ở nửa thứ
hai của kỷ thứ ba biến đổi, chỉ có một loài sinh học biến đổi theo cách đặc
biệt, và điều đó cho phép con cháu của loài ấy trở thành tổ tiên có triển vọng
nhất của người thông minh, sự kiện đó được các nhà khoa học nghiên cứu
như một vấn đề quan trọng nhất trong quá trình hình thành con người.
Lần đầu tiên con người thoát ra khỏi giới động vật là nhờ có khả năng nhận
thức bản thân mình như một đơn vị tách biệt hẳn thế giới còn lại, đó là kết
quả của một loại hình đặc biệt xử lý thông tin. Phải chăng khả năng đó là hệ
quả bình thường trong tiến hóa của động vật? Nếu như thế thì sự nhận thức
cần phải trở thành vốn riêng không những chỉ cho con người. Nếu mà con
người chỉ giản đơn vượt hơn các loại khác về sự phát triển thì lúc ấy phải có
những sinh vật hoặc là gần với người, hoặc là phản ánh trong hành vi của
mình toàn bộ những bước chuyển tiếp từ giới động vật đến con người.
Không có chuyện đó ! Hoạt động nhận thức tách biệt con người với động vật
một trời một vực.
Rõ ràng rằng sự xuất hiện dạng thức không bình thường như thế, như tổ tiên
con người, đã dựa vào một hiện tượng sinh học duy nhất nào đó. Trên nền
tảng khả năng xuất hiện tổ tiên con người, có sự cải biến sinh học đặc biệt về
thông tin di truyền của đriôpitec, sự cải biến đó là cơ sở để phát triển loại
hình vận động mới của vật chất.
Toàn bộ những điều đó chứng minh cho giả thuyết giữa con người và giới
động vật phải có một giai đoạn của tổ tiên con người - một sinh thể là sản
phẩm của tiến hóa sinh học, thoát thai từ giới động vật bởi quá trình phát
triển lịch sử tự nhiên của dạng thức vận động vật chất về mặt sinh học. Hơn
nữa, tổ tiên con người có bản tính sinh học mới về chất của một đặc tính duy
nhất tuyệt đối ; bản tính đó không có ở tất cả các loài động vật còn lại. Bản
tính đó quan trọng tới mức nó tạo ra bước ngoặt trong lịch sử sự sống trên
Trái Đất - bước ngoặt trở thành điểm nguyên khai đối với sự phát triển
những cơ sở sinh học đã xuất hiện khi hình thành người thông minh.
Tính duy nhất của sự xuất hiện tổ tiên con người, tính không lặp lại của sự
kiện đó trong lịch sử sự sống buộc phải thừa nhận sự xuất hiện đó là bất ngờ
và đột nhiên. Bất cứ hiện tượng nào cũng là sự thống nhất biện chứng của
tính tất yếu và tính ngẫu nhiên. Tính ngẫu nhiên - sản phẩm có tính quy luật
và không tránh khỏi của những yếu tố quyết định chủ yếu, không có nghĩa là
nó có thể xảy ra hoặc không có thể xảy ra. Trong định nghĩa triết học này, sự
xuất hiện tổ tiên con người được xem xét như tính ngẫu nhiên trong quá trình
tiến hóa hữu cơ. Sự chuyển tiếp từ dạng thức vận động sinh học sang vận
động xã hội - đó là sự chuyển tiếp đến một lĩnh vực mới về chất. F. Ănghen
viết: "Tính ngẫu nhiên lật nhào quan niệm đã tồn tại cho đến nay về tính tất
yếu".
Sự việc cũng diễn ra như vậy đối với sự xuất hiện tổ tiên con người. Sau khi
xuất hiện bằng con đường cải biến đột biến và chọn lọc, tổ tiên con người
dựa vào các quá trình lao động, đã bước lên con đường tiến hóa có hướng.
Con đường ấy - được đề nghị gọi là con đường tiến hóa hòa hợp, đã kéo theo
một loạt các giai đoạn biến đổi về tâm lý và những đặc điểm thể chất để hoàn
thiện sự hình thành người hiện đại. Ý nghĩa của tiến hóa hòa hợp là sự cải
biến nối tiếp nhau những cơ sở sinh học của tổ tiên con người dưới ảnh
hưởng của những yêu cầu xã hội.
G. N. Machusin đã xác định một cách đúng đắn tính chất phức tạp và quan
trọng của vấn đề, và đã đưa ra một giả thuyết độc đáo. Theo giả thuyết này,
những cải biến di truyền ở tổ tiên con người do kết quả đột biến đã phụ thuộc
rất nhiều vào ảnh hưởng của bức xạ được tăng cường ở một trong những thời
kỳ của sự tiến hóa này. Tác giả lưu ý bạn đọc rằng những biến đổi sinh học
cỡ lớn ở tổ tiên con người đã diễn ra ở thời kỳ pliôxen, theo thời gian, trùng
hợp với những sự kiện không bình thường trong lịch sử Trái Đất. Trên Trái
Đất lúc ấy cùng chung sống những tổ tiên chung của tổ tiên con người và
vượn hiện đại. Ở Đông Phi, trên lãnh thổ mà những tổ tiên chung ấy chiếm
lĩnh, sự vận động mạnh mẽ của vỏ Trái Đất đã diễn ra. Những đứt gãy có
dạng những đường nứt sâu dài hàng nghìn kilomet đã xuất hiện trên vỏ Trái
Đất. Đồng thời, những quá trình phún xuất của núi lửa, tần số và cường độ
động đất gia tăng đột ngột. Những lò urani thiên nhiên xuất hiện, chúng hoạt
động như những nguồn năng lượng hạt nhân thiên nhiên và v.v...
Theo quan điểm của tác giả, trong những điều kiện ấy, điều chủ yếu là nền
phóng xạ đã gia tăng trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. Và chỉ
trong một thời kỳ nhất định, sự tiến hóa của tổ tiên con người đã chịu đựng
tác động của một yếu tố gây đột biến mạnh mẽ. G. N. Machusin chỉ ra rằng
vào thời kỳ xuất hiện con người, trên lãnh thổ quê hương đầu tiên của con
người đã xảy ra nhiều sự kiện có tính chất không bình thường. Ngoài hiện
tượng phóng xạ được gia tăng, đã quan sát thấy núi lửa hoạt động mãnh liệt,
động đất ở khắp nơi, và v.v... Tất cả những sự kiện đó đã tạo điều kiện gia
tăng cả tần số đột biến cũng như cả đối với chọn lọc tự nhiên. Còn về vai trò
của những đột biến lớn trong nguồn gốc con người, tuy còn hơi cứng nhắc,
nhưng vấn đề đó cũng đã được thảo luận trong cuốn sách. M.E. Lôba- sep
(1967) đã viết: "Có thể, sự xuất hiện con người với hai bán cầu vỏ đại não
phát triển, tư thế thân thể thẳng đứng, tín hiệu ngôn ngữ rời rạc, là hệ quả
của những đột biến lớn. Đối với thiên nhiên, người thông minh "không bình
thường" tới mức như một con gà nuôi đẻ 365 trứng một năm thay cho 10-15
trứng, hoặc một bò sữa kỷ lục cho 16 nghìn kilogam sữa một năm thay cho
600-700 kg".
G. N. Machusin không tán thành quan điểm coi những đột biến như thế qui
định sự xuất hiện con người. Tác giả nhấn mạnh rất đúng rằng sự hình thành
tổ tiên con người không bị các đột biến bắt buộc mà là do những yêu cầu xã
hội được đáp ứng trong lao động có mục đích quyết định; chỉ bằng con
đường ấy, sự phát sinh xã hội mới có thể quyết định hướng tiến hóa sinh học
của họ người.
Tất nhiên, không phải toàn bộ các vấn đề trong cuốn sách đều đã hiển nhiên.
Những luận điểm riêng biệt được dẫn ra có thể là quá khẳng định, những
luận điểm khác - lại đơn giản hóa. Thế nhưng, trong cuốn sách khá ngắn gọn
về nội dung này, những luận điểm ấy đã được giải thích.
Tôi xin giới thiệu với bạn đọc cuốn sách thú vị này, và ở một số phần, thậm
chí nó là một cuốn sách hấp dẫn. Người đọc cuốn sách này sẽ có thêm nhiều
kiến thức.
Viện sĩ N. P. ĐUBININ
___
[1] Họ người thuộc bộ linh trưởng (Primates), bao gồm người hóa thạch và
người hiện đại. ND.
[2] Savan - từ tiếng Tây Ban Nha : sabana - những vùng bình nguyên rộng
lớn ở nhiệt đới (châu Phi, Nam Mỹ), chỉ có cây thảo, chủ yếu là hòa thảo,
thỉnh thoảng có những cây bụi có gai và những cụm cây thấp. ND.
[3] Khu vực sống (sinh cảnh) - từ gốc chữ Hy Lạp : biotopos - một vùng là
môi trường sống của động vật được đặc trưng bằng những điều kiện sống
tương đối ổn định (đầm lầy, savan,...). ND.
MỞ ĐẦU
Thân thể con người - một cơ thể được cấu tạo phức tạp. Trong cơ thể có đủ
các bộ phận mà nhờ chúng, có thể suy nghĩ, nói năng, đi lại bằng hai chân,
chế tạo ra những đồ vật khác nhau bằng hai tay, sử dụng được ưu thế thị giác
có hình khối, màu sắc. Trong thiên nhiên, không có một loài sinh vật nào
khác mà lại có trách nhiệm với sự tồn tại của mình không những về sự thích
nghi thể chất với môi trường sống, mà còn đối với cả những thành tựu trong
trình độ phát triển về vật chất.
Tôi là ai? Không có một người biết suy nghĩ nào mà lại không đặt ra câu hỏi
đó cho bản thân mình, dù chỉ một lần. Tại sao tôi có tầm vóc cao lớn như thế
này, màu mắt như thế này, tính cách như thế này? Bố tôi không cao lắm, mẹ
- thấp người, ông nội và bà nội - cũng thế. Màu mắt của bố mẹ, ông bà tôi
đều khác tôi. Cũng có thể tôi giống với cụ tổ theo truyền thuyết - một trưởng
đội côdắc, sống vào thế kỷ XVI, là người sáng lập nên cái làng quê thân yêu
mà một nửa làng cũng mang tên họ như tôi ? Các câu hỏi ngày càng đi sâu
mãi, đi sâu mãi vào quá khứ…
Ngày xưa, các vị tổ tiên của tôi không nhiều lắm. Một nghìn năm trước đây,
trên hành tinh này, họ còn ít hơn cả số dân trên đất nước chúng ta hiện nay.
Còn nếu đi xa hơn nữa về quá khứ cách đây hai triệu năm, thì hình dạng tổ
tiên của tôi sẽ biến đổi đi. Họ không có hình dạng con người, ý thức của họ
còn mơ hồ. Còn tiếng nói, nếu họ nói được, - cũng là tiếng nói nguyên thủy.
Quần áo, nếu họ có, - là những bộ da lông chưa qua chế biến. Cũng có thể là
họ chưa biết dùng lửa, họ ăn những con thằn lằn, những con rắn còn sống
nguyên... Đấy, những tổ tiên của tôi.
Tôi là ai? Tôi - tất cả những người như họ, bởi vì một câu trả lời đúng đắn sẽ
phải dựa vào sự di truyền và tiến hóa. Và câu trả lời ấy sẽ giúp tôi hình dung
ra họ hàng thân thuộc của tôi với toàn thể loài người, với tất cả các sinh vật
sống. Nếu tôi tìm được câu trả lời, thì có thể tôi nhận ra tại sao tôi có được
bộ óc lớn mà nhờ nó tôi có thể viết sách, xây dựng các thành phố, bay vào vũ
trụ, mà cái chính là biết nói và suy ngẫm về nguồn cội của mình.
Đã có một thời gian mà tổ tiên của tôi không biết một chút gì về những
chuyện đó. Họ vẫn chưa phải là những con người và họ giống những con
vượn hiện nay. Một nơi nào đó, trong tận cùng cội nguồn tộc phả của tôi, "ở
một giống vượn xa tất cả những giống còn lại về trí thông minh và sự thích
ứng" [1] đã sinh ra một sinh vật biết liên kết thế giới con người hiển nhiên
với giới động vật hiển nhiên. Nhiệm vụ của cuốn sách này là ở chỗ cố gắng
làm sáng tỏ sinh vật ấy xuất hiện như thế nào, cố gắng xác định những yếu tố
nào đã gây nên sự biến đổi vượn "bốn tay" thành tổ tiên đi thẳng của con
người. Ngắn gọn hơn là nhận thức được tôi trở thành một con người như tôi
như thế nào.
Những người sống trước tôi đã cố gắng giải đoán bí mật về nguồn gốc của
mình. Có thể là đã lâu lắm rồi, từ ngày đầu tiên tồn tại của mình, vấn đề tộc
phả của con người đã dày vò con người. Vô vàn huyền thoại còn lưu truyền
đến chúng ta, dưới dạng những chuyện cổ tích dân gian Nga, cũng như dưới
dạng những truyền thuyết thần thoại của các dân tộc khác, có chủ đề cố gắng
giải thích đất nước và con người đã xuất hiện như thế nào. Tất cả những
huyền thoại ấy đều tuyệt đẹp và thú vị nhưng tuyệt đối ... không đáng tin
cậy.
Cuối cùng, chỉ vào thời đại chúng ta mới hoàn thiện được các phương pháp
cho phép bắt tay vào giải quyết những vấn đề về nguồn gốc con người một
cách khoa học. Chỉ có bây giờ các nhà khoa học mới có thể chinh phục lại
một cách chính xác đến cả những chi tiết về cuộc sống của tổ tiên xa xưa của
chúng ta theo những dấu vết tưởng như là không đáng kể. Những phương
pháp mới nhất phục chế quá khứ cho phép tái hiện chân dung chính xác của
các tổ tiên. Độ chính xác và độ tin cậy của những phục chế ấy đã được kiểm
tra. Kiểm tra như thế nào? Đây là một ví dụ.
Tội phạm đến khéo che đậy những dấu vết của mình tới mức sau đó mấy
năm, khi công nhân xây dựng đào hào để đặt đường ống dẫn, mới phát hiện
ra hài cốt của người bị giết. Thoạt tiên, không ai có thể nghi ngờ rằng người
chết mà công nhân xây dựng tìm thấy hài cốt là nạn nhân của một hành
động giết người dã man.
"Chó sói, chắc thế", - các dự thẩm nêu ra giả thuyết sau khi phát hiện ra
những vết thủng nằm ngang ở xương người bị giết. Ban giám định đã xác
định được ở xương đúng là có những vết răng của một con thú cỡ lớn. Bộ
xương không có sọ dường như cũng khẳng định giả thuyết những con thú ăn
thịt đã tấn công nạn nhân. Những con thú cũng có thể gặm mất toàn bộ sọ.
Có lẽ mọi việc đã rõ và người ta đã chuẩn bị nộp hồ sơ vào lưu trữ, thì đột
nhiên công nhân xây dựng bỗng thấy chiếc sọ, và những giả thuyết trước đó
bị bác bỏ. Rõ ràng đây là một vụ giết người. Trên xương sọ thấy rõ một vết
lõm, dấu vết của một đòn mạnh đánh từ phía sau. Có nghĩa là đó không phải
do chó sói mà là một tội ác.
Hung thủ không để lại bất cứ dấu vết gì. Thậm chí tên người bị giết cũng
không biết, người bị giết quê quán ở đâu, xuất hiện trong rừng như thế nào.
Phải chăng ở đây chính là chỗ người ấy bị giết, hay là người ấy đã bị giết ở
một nơi khác nào đó, mà ở đây chỉ là nơi giấu xác. Vụ án còn phức tạp thêm
lên ở chỗ chiếc sọ và bộ xương người đã được tìm thấy ở ngoại ô một thành
phố lớn. Vì vậy, cũng có thể xác chết đã bị chặt ra thành từng đoạn, và việc
chuyên chở từng đoạn xác chết có thể kín đáo hơn.
Tìm hung thủ khi không có bất cứ dấu vết nào và cũng không biết cả tên
người bị giết là điều không thể làm được. Thế nhưng, chẳng bao lâu sau đó
đã tìm ra hung thủ. Khi thảo luận các giả thuyết khác nhau, đã tưởng đó là
một vấn đề không có hy vọng, thì một trong số các cộng tác viên của ban
điều tra hình sự chợt nhớ lại rằng mình đã đọc ở đâu đó có một phương pháp
phục chế mặt người theo xương sọ của họ do các nhà khảo cổ học nghiên
cứu ra. Một dự thẩm đã đến Maxcơva. Ở Viện khảo cổ học thuộc Viện hàn
lâm khoa học Liên Xô, người ta khuyên người dự thẩm đến gặp tiến sĩ sử
học M. M. Gheraximôp.
"Và đừng nghĩ thế, không, không và không, - giáo sư trả lời. - Đồng chí
không biết là tôi bận đến như thế nào : cần phải đến những chỗ khai quật ở
Xibêri, phải xử lý tài liệu ở Malta. Và sau đó tôi phải phục chế các chân
dung hoàn toàn không phải là để bắt hung thủ. Tôi chú ý đến bộ mặt thật của
người cổ xưa chứ không phải của người hiện đại. Chúng tôi cần làm sáng tỏ
một cách chi tiết những sai khác của những dạng người đã mất tung tích
(pitêcantrôp, nêanđectan) [2] với người hiện đại, hay như người ta gọi
"người thông minh thông minh". Còn những tội phạm, về hình dáng bên
ngoài, cũng là những người như tôi với đồng chí. Ở đây có cái gì là thú vị
đối với khoa học?".
"Nhưng, thưa giáo sư, xin giáo sư hãy nghĩ xem, - người dự thẩm nói, - nếu
được giáo sư giúp đỡ mà chúng tôi tìm thấy hung thủ, thì đó là một bằng
chứng có sức thuyết phục biết chừng nào về tính chính xác của những phục
chế làm theo phương pháp của giáo sư".
"Vâng, nhưng đồng chí cần độ chính xác mà chúng tôi không cần đến, - M.
M . Gheraximôp trả lời. - Đồng chí muốn có độ chính xác của một tấm ảnh
chụp để căn cứ vào tấm ảnh ấy mà tìm ra tên của người bị giết. Đối với
chúng tôi thì điều quan trọng là chỉ phục chế những đặc điểm về hình dạng
của người cổ xưa".
"Thưa giáo sư, tôi tin rằng việc phục chế theo phương pháp của giáo sư sẽ có
được một tấm ảnh đối chứng", - người dự thẩm không nhượng bộ. Và cuối
cùng, người dự thẩm đã thuyết phục được nhà khoa học.
Kết quả phục chế tạo hình đã xác lập được rằng người bị giết là một chú bé
12-13 tuổi... Căn cứ vào xương sọ, đã nặn ra tượng của người chết bằng bột
nặn plastilin. Người ta đã chụp ảnh bức tượng từ nhiều phía khác nhau.
Người dự thẩm trộn lẫn những tấm ảnh chụp được với ba mươi tấm ảnh của
các chú bé khác cùng tuổi. Người ta phân phát số ảnh ấy cho các nhân viên
công an để đưa cho nhân dân ở những làng xóm gần đấy xem. Chẳng bao
lâu, những người dân ở một trong số những làng ngoại ô cách không xa địa
điểm tìm thấy xác chết, căn cứ vào các tấm ảnh, đã nhận ra chú bé sống ở
làng ấy và đã mất tích mấy năm trước đây. Người ta nghi rằng chú bé đã trốn
đi và đi du lịch ở đâu đó, hoặc là đi lang thang lêu lổng. Đã biết được tên
người bị giết và địa chỉ bố mẹ của người ấy. Người ta đưa cho ông bố chú bé
bị giết 37 tấm ảnh chụp các chú bé. Không hề do dự, ông bố đã chọn ra 7
tấm ảnh trong số đó vì lập tức đã nhận ra con trai của mình...
Như vậy, hình pháp học đã giúp cho việc khẳng định độ chính xác của
phương pháp tái hiện hình dạng con người cổ xưa và những tổ tiên của họ.
Đã chứng minh một cách không chối cãi được rằng việc phục chế chân dung
con người theo phương pháp của Gheraximôp (1964), - đó không chỉ đơn
giản là các kiểu khái quát hóa người cổ xưa mà còn là những bức chân dung
chính xác của những tổ tiên người hiện đại đã từ lâu mất tung tích. Căn cứ
vào chân dung như vậy của từng tổ tiên một, có lẽ, có thể nhận ra những
người bà con...
Đi loanh quanh trong rừng ngoại thành và khi suy ngẫm về trường hợp mà
M. M. Gheraximôp kể cho tôi nghe, tôi chú ý đến những chiếc lông tơ màu
trắng, như một lớp tuyết phủ lên ngã tư đường nhựa nhỏ. Đặc biệt thú vị khi
nhìn những chiếc lông ấy rơi xuống mặt nước. Những "bông tuyết" trắng của
cây dương như một tấm chăn mỏng bằng lông tơ phủ lên mặt nước phẳng
lặng.
Khi đi chơi trong rừng, trên đồng cỏ vào mùa hoa nở, chắc các bạn cũng đã
chú ý đến những vũng nước có một lớp màu vàng nhạt phủ lên, các bạn cũng
đã trông thấy khi một trận gió thổi trên cánh đồng màu gỉ sắt, một cột khói
màu xanh nhạt đã bốc lên như thế nào. Đó là giới thực vật vung vãi những
mầm sống tương lai với khối lượng khổng lồ. Mỗi đóa hoa tạo ra hàng
nghìn, hàng chục nghìn bào tử và phấn hoa. Việc nghiên cứu phấn hoa thời
cổ xưa giúp cho các nhà khoa học tái dựng cảnh quan của quá khứ, lập lại
được lịch sử khí hậu và thậm chí xác định phỏng chừng thời gian tìm được di
cốt cũng như đồ dùng của con người. Và không chỉ là phấn hoa mà cả xương
động vật cũng có khả năng giúp cho các nhà khảo cổ xác định niên đại của
những vật tìm được. Trong suốt quãng thời gian hàng nghìn, hàng triệu và
hàng trăm triệu năm, một số loài động vật và thực vật đã bị những loài động
vật và thực vật khác thay thế, còn những di tích của chúng được tích lũy lại
trong đất. Trình tự thay đổi động vật và thực vật được xác định khá chính
xác (bằng phương pháp sinh địa tầng học). Nhưng ở những địa điểm này hay
khác, một số động vật bị tuyệt chủng sớm hơn những động vật khác, hoặc
ngược lại, chúng đã sống lâu hơn so với ở những địa điểm khác. Vì vậy
thước đo thời gian dựa vào sự tiến hóa của chúng không cho phép định niên
đại một cách chính xác những vật tìm được.
Năm 1949, giáo sư U. F. Libi ở trường đại học tổng hợp Sicagô đã đề nghị
một phương pháp xác định niên đại những đối tượng cổ xưa theo mức phóng
xạ của các di tích hữu cơ. Do phát minh này, năm 1960, ông đã được nhận
giải thưởng Nobel. Trên cơ sở của phương pháp Libi, người ta đã hoàn thiện
những phương pháp khác tương tự như các phương pháp xác định niên đại.
Cơ sở của những phương pháp này là trong tự nhiên thường xuyên diễn ra sự
tích tụ hoặc phân rã các chất đồng vị của các chất khác nhau. Ví dụ, trong cơ
thể sống và trong khí quyển có một lượng như nhau cacbon (14C) phóng xạ.
Khi cơ thể đó chết đi thì sự xâm nhập của cacbon vào cơ thể cũng ngừng lại.
Trong cơ thể động vật hoặc thực vật đã chết, cacbon phóng xạ bắt đầu phân
rã. Đã xác định được rằng sau 5730 năm, số lượng của nó chỉ còn lại một
nửa (bán rã). Vật tìm được càng cổ xưa bao nhiêu thì lượng cacbon trong nó
càng ít bấy nhiêu, còn ít đi bao nhiêu thì máy đo đặc biệt sẽ "thông báo". Bây
giờ, tuổi của các di tích hữu cơ được xác định đủ chính xác. Hàng nghìn di
tích đã được xác định niên đại bằng cách ấy.
Trong thiên nhiên, không chỉ có cacbon phóng xạ thường xuyên phân rã, mà
còn cả các nguyên tố khác nữa. Cũng đã biết tốc độ bán rã của chúng. Khi
xác định số lượng nguyên tố phóng xạ này hay khác trong các vỏ sò, hến,
trong san hô, trong các trầm tích biển hoặc núi lửa, có thể biết được khá
chính xác bao nhiêu năm đã trôi qua kể từ khi những di tích hóa thạch này
hay khác, hoặc công cụ của người đã bị chìm xuống đáy biển, hoặc bị tro vùi
lấp và bị dung nham của núi lửa phủ kín.
Ví dụ, từ 1 kg urani (238U), trong những điều kiện nhất định, sau 100 triệu
năm, sẽ thải ra 13 g chì và 2 g hêli. Sau 2 tỷ năm, trong đá nguyên khai chứa
1 kg urani, sẽ tích tụ lại 225 g chì và 35 g hêli, còn urani chỉ còn lại 0,5 kg.
Sau khi đã xác định được số lượng urani và hêli trong mẫu đá bằng các máy
đo có thể tính ra được tuổi của mẫu ấy. Chu kỳ bán rã của kali (40K) - 1,31
tỷ năm, nghĩa là sau 1,31 tỷ năm kể từ khi kali cùng với dung nham núi lửa
chảy tràn lên bề mặt một địa điểm này hay khác, trong mẫu dung nham, số
lượng kali chỉ còn lại một nửa, thế nhưng sẽ có cùng chừng ấy can xi (40Ca)
và acgon (40Ar) được tạo thành. Như vậy, nếu xác định số lượng các hợp
phần trong mẫu dung nham thì có thể biết được chính xác tuổi của bản thân
dung nham ấy. Còn nếu như dưới lớp dung nham lại có di cốt của người bị
chết do phún xuất cùng với nhà ở và đồ dùng của người ấy, thì tuổi của
người chết, nhà cửa và đồ dùng, cũng tương ứng với lớp dung nham.
Phương pháp xác định niên đại phổ biến nhất trong số các phương pháp
dùng đồng vị phóng xạ - là phương pháp dùng cacbon phóng xạ và kaliacgon. Ngoài ra, còn dùng các phương pháp xác định niên đại theo đồng vị
của protoactini (231Pa - chu kỳ bán rã 32 nghìn năm), thôri (230Th - 75
nghìn năm), urani (234U - 0,25 triệu năm), clo (36Cl - 0,3 triệu năm), berili
(10Be - 2,5 triệu năm), hêli (4He - 4,5 tỷ năm), và v.v...
Người ta còn xác định thời gian theo cường độ bức xạ Mặt Trời (phương
pháp vật lý thiên văn), theo các dẫn liệu địa chất từ, và v.v... Các nhà địa lý
học, địa chất học, dân tộc học, di truyền học, động vật học, đều tích cực quan
tâm đến việc nghiên cứu các vật tìm được cổ xưa ; toán học tính toán và
nhiều phương pháp khác nữa cũng được sử dụng.
Trong khoảng 15 - 20 năm gần đây, khi sử dụng những thành tựu của khoa
học thế giới và những phương pháp mới về khai quật, phục chế và xác định
niên đại, các nhà khảo cổ đã có được những phát hiện quan trọng nhất, đặc
biệt là trong việc nghiên cứu thời đại đồ đá - thời kỳ đầu tiên trong lịch sử
loài người. Thời đại đồ đá không những chỉ là thời đại cổ xưa nhất, mà còn
là thời đại dài nhất trong lịch sử. Toàn bộ lịch sử văn tự, bắt đầu từ Sumer và
Ai Cập cổ đại, chỉ kéo dài trên 5 nghìn năm một chút. Nếu cho lịch sử văn tự
của loài người là một ngày, thì thời đại đồ đá so với một ngày ấy, đã kéo dài
522 ngày (gần một năm rưỡi!).
Trong lịch sử thời đại đồ đá người ta chia ra thành ba thời đại : 1) paleolit [3]
(thời đại đồ đá cũ) ; 2) mezolit (thời đại đồ đá giữa) ; 3) neolit (thời đại đồ đá
mới). Thời đại đồ đá cũ còn được chia ra thành một số giai đoạn (hoặc "văn
hóa").
Thời đại đồ đá cũ sớm (dưới)
- Ônđuvai : từ khi xuất...
 









Các ý kiến mới nhất