Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

SÁNG KIẾN. LỚP 3. QUỲNH

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trường Tiểu học Cẩm Hưng
Ngày gửi: 10h:12' 01-03-2024
Dung lượng: 495.4 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích: 0 người
1

MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
Bước vào thế kỷ XXI cả loài người đang sẵn sàng cho một tương lai mới, một
nền văn minh tin học, một xã hội xây dựng trên nền tảng tri thức, quyền lợi thuộc
về trí tuệ. Nói tới tương lai của chúng ta không thể không nói đến giáo dục vì đó là
chìa khoá để mở cửa tiến vào tương lai.
Đất nước ta đã và đang bước vào thời kỳ đổi mới, chất lượng giáo dục là vấn đề
hàng đầu trong nội dung công tác của ngành giáo dục, là vấn đề sống còn của một
đất nước, một dân tộc.
Ở nhà trường Tiểu học, mỗi môn học đều góp phần vào việc hình thành, vào việc
phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam.
Trong các môn học ở Tiểu học, môn Toán có vị trí cực kỳ quan trọng vì những
lí do sau:
- Các kiến thức và kĩ năng của môn Toán, có nhiều ứng dụng trong đời sống sinh
hoạt của mọi người dân lao động.
- Môn Toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng, hình dạng
không gian của thế giới hiện thực. Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức
một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời
sống.
- Môn Toán góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp tư duy, phương
pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề góp phần phát triển trí thông minh,
độc lập, sáng tạo, góp phần vào việc hình thành các phẩm chất của người lao động
mới.
Việc dạy giải toán ở Tiểu học là một trong những nội dung trong chương trình
môn Toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh tiếp thu và vận dụng những kiến thức về
Toán, được rèn luyện kĩ năng thực hành với những yêu cầu được thể hiện một cách
đa dạng phong phú. Dạy học Toán giúp học sinh có điều kiện rèn luyện và phát
triển năng lực tư duy và có đủ tư cách, phẩm chất của con người mới.
Trong thực tế, chất lượng của bộ môn Toán nói chung và đặc biệt môn Toán lớp
3 nói riêng đã có nhiều kết quả khả quan song chưa thực sự đáp ứng được với
nhiệm vụ và yêu cầu môn học đề ra. Cụ thể là chất lượng môn Toán lớp 3 - trường
Tiểu học chưa thực sự tương xứng với vị trí của môn Toán lớp 3 trong chương trình
học. Đặc biệt là kỹ năng giải toán của học sinh lớp 3 chính là vấn đề cần quan tâm.
Trước thực tế như vậy tôi luôn suy nghĩ: Làm thế nào để giúp học sinh nắm vững
kiến thức và vận dụng vào trong giải toán, góp phần nâng cao chất lượng học môn
Toán của học sinh lớp 3, giúp các em có kỹ năng giải toán với tinh thần tự giác và
hứng thú học tập.

2

Giải toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế, nội dung bài toán được
thông qua những câu văn nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc, có liên
quan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày. Cái khó của bài toán có lời văn chính
là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ được những yếu tố lời văn đã che đậy bản chất toán
học của bài toán. Hay nói một cách khác là làm sao phải chỉ ra được các mối quan
hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và tìm được những lời giải
phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài toán.
Là một giáo viên trực tiếp chủ nhiệm và giảng dạy ở khối lớp 3, qua kinh
nghiệm của bản thân và học hỏi, trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp, tôi đã rút
ra được: “Một vài biện pháp giúp học sinh giải tốt bài toán có lời văn lớp 3” để
góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường nói chung và đối với học
sinh lớp 3 nói riêng.
Trong quá trình nghiên cứu sẽ không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sự
góp ý, nhận xét của Hội đồng khoa học, của các đồng nghiệp.
2.Cơ sở lí luận của vấn đề
Trong dạy học toán ở Tiểu học, giải toán có vị trí quan trọng, có thể coi dạy học
giải Toán là "Hòn đá thử vàng" của dạy học toán. Trong giải toán, học sinh phải tư
duy một cách tích cực linh hoạt, huy động thích hợp các kiến thức và khả năng đã
có vào tình huống khác nhau, trong nhiều trường hợp phải biết phát hiện những dữ
kiện hay điều kiện chưa được nêu một cách tường minh và trong chừng mực nào
đó, phải biết suy nghĩ năng động sáng tạo. Vì vậy có thể coi giải toán là một trong
những biểu hiện năng động nhất của hoạt động trí tuệ của học sinh.
Dạy học giải toán ở Tiểu học nhằm mục đích chủ yếu sau đây:
+ Trước hết nó giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức và thao tác
thực hành các kiến thức đã học, rèn luyện kĩ năng tính toán, bước tập dượt vận
dụng kiến thức và rèn luyện kĩ năng thực hành vào thực tiễn (học tập, đời sống).
Qua các biểu hiện trên giáo viên phát hiện được rõ hơn những gì học sinh đã lĩnh
hội và nắm chắc, những gì học sinh chưa nắm chắc, để có biện pháp giúp học sinh
phát huy hoặc khắc phục.
+ Qua việc dạy học giải Toán, giáo viên giúp học sinh từng bước phát triển năng
lực tư duy, rèn luyện phương pháp và kĩ năng suy luận, khêu gợi và tập dượt quan
sát, phỏng đoán tìm tòi.
+ Qua giải toán, học sinh rèn luyện những đặc tính và phong cách làm việc của
người lao động như: ý trí khắc phục khó khăn, thói quen sét đoán có căn cứ, tính
cẩn thận, chu đáo, cụ thể, làm việc có kế hoạch, có kiểm tra kết quả cuối cùng:
Từng bước hình thành và rèn luyện thói quen và khả năng suy nghĩ độc lập, linh

3

hoạt, khắc phục cách suy nghĩ máy móc, dập khuôn, xây dựng lòng ham thích tìm
tòi, sáng tạo ở mức độ khác nhau, từ đơn giản nhất mà nâng cao từng bước.
Việc giải toán vừa đòi hỏi tính tích cực, độc lập sáng tạo trong suy nghĩ vừa đòi
hỏi một khả năng thực hành. Để giúp học sinh có khả năng thực hành đó, lúc đầu
học sinh cần được giáo viên dẫn dắt, hướng dẫn giải các bài toán theo mẫu, tái hiện
cách giải điển hình, có thể giúp ích cho học sinh trong chừng mực nhất định. Song
do tích chất đặc trưng của giải toán đã nói ở trên, riêng các biện pháp đó không thể
giúp học sinh đạt được các mục tiêu cần thiết.
3. Thực trạng của vấn đề
3.1. Thuận lợi
- Năm học 2023 - 2024 là năm học thứ hai thực hiện chương trình GDPT 2018
đối với lớp 3 nên giáo viên đã được tập huấn về nội dung, phương pháp dạy học theo
hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh.
- Ngành giáo dục luôn có sự chỉ đạo cụ thể, sâu sát; Nhà trường luôn động
viên, khích lệ, tạo điều kiện để giáo viên chúng tôi thực hiện đổi mới phương pháp dạy
học.
- Phòng học được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện
đại cơ bản đáp ứng được yêu cầu đổi mới.
- Học sinh có nền nếp, có ý thức học tập. Đa số phụ huynh đồng thuận, ủng hộ
và luôn phối hợp với giáo viên trong quá trình giáo dục học sinh.
Bên cạnh những thuận lợi, tôi cũng gặp không ít khó khăn:
3.1. Khó khăn
- Nhiều phụ huynh học sinh không có nghề nghiệp kinh tế ổn định, đời sống
kinh tế còn nhiều khó khăn. Chính điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học
tập cũng như chất lượng học tập của các em.
- Nhiều gia đình đi làm ăn xa, gửi con cho ông bà chăm sóc do ông bà đã già
yếu nên không quán xuyến được việc học hành của các cháu.
- Do tâm lý chung của học sinh Tiểu học còn ham chơi nên nếu không có sự
quan tâm của gia đình, nhà trường việc học hành của các em thì khó có hiệu quả
cao.
- Về đội ngũ giáo viên: Nhà trường có đội ngũ giáo viên nhiệt tình giảng dạy
song còn gặp nhiều khó khăn do trình độ giáo viên còn chưa đồng đều.
3.3 Thực trạng học Toán của lớp 3D
Năm học năm học 2023-2024, tôi được phân công chủ nhiệm giảng dạy lớp 3D.
100% học sinh đều đi học đúng độ tuổi, có sức khoẻ tốt, các em đều có nề nếp, ý
thức học tập. Các em biết vâng lời kính trọng thầy cô giáo, yêu lao động, tham gia

4

đầy đủ các hoạt động ngoài giờ lên lớp và các phong trào thi đua. Các em đều là
những học sinh được tiếp cận với chương trình Tiểu học mới nên có nhiều thuận lợi
cho giáo viên trong quá trình giảng dạy.
Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy và thảo luận cùng đồng nghiệp, tôi nhận thấy:
+ Việc tóm tắt, tìm hiểu đề đang còn nhiều khó khăn đối với một số học sinh
trung bình và yếu của lớp 3. Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao, nên
các em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm chạp…
+ Thực tế trong một tiết dạy 40 phút, thời gian dạy kiến thức mới mất nhiều –
phần bài tập hầu hết là ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câu trả lời
không được nhiều mà học sinh chỉ thành thạo việc đọc đề toán.
+ Tuy môn Toán đạt gần 100% từ trung bình trở lên, song số điểm giỏi chưa
nhiều, điểm đạt yêu cầu chủ yếu ở phần giải toán đơn, học sinh mắc lỗi nhiều ở
phần giải toán trong luyện tập và kiểm tra, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng môn
Toán.
3.3.1 Nguyên nhân:
Qua thực tế khảo sát tôi nhận thấy:
- Nhiều học sinh chưa nghiên cứu kĩ đề toán, nhiều học sinh vốn tiếng Việt còn hạn
chế, nên việc xác lập mối quan hệ giữa các dữ kiện của bài toán còn gặp nhiều khó
khăn.
- Một số học sinh chưa nắm chắc hệ thống các bài toán đơn đã được học, dẫn đến
còn lúng túng trong việc phát hiện mối quan hệ logic giữa các bài toán này.
- Học sinh còn thiếu tự tin trong việc tìm cách giải, còn bị hạn chế trong việc lựa
chọn các phép giải.
- Các em chưa chú ý đến khâu kiểm tra, thường coi rằng bài toán đã giải xong khi
tính ra đáp số của bài.
- Trong quá trình giảng dạy môn toán, giáo viên còn coi nhẹ một số bước trong quá
trình giải toán như: Tìm hiểu đề toán, kiểm tra cách giải toán, nên nhiều học sinh
mắc những lỗi không đáng có.
Đây là những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giải toán
của học sinh. Khắc phục được những nguyên nhân trên có ý nghĩa hết sức quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học, nhằm thực hiện mục tiêu
đào tạo con người mới, năng động, tự chủ, sáng tạo.
Từ thực trạng trên, để công việc đạt hiệu quả tốt hơn, giúp các em học sinh có hứng
thú trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, tôi đã mạnh dạn
cải tiến nội dung, phương pháp trong giảng dạy như sau:

5

4.Các biện pháp, giải pháp thực hiện
4.1. Trao đổi với phụ huynh – Thống nhất biện pháp giáo dục.
Chúng ta đều biết học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng đến
trường còn phụ thuộc nhiều vào sự quan tâm, nhắc nhở của cha mẹ và thầy cô.
Phần nhiều các em chưa chủ động trong việc học tập. Chính vì vậy giáo dục ý thức
tích cực học tập cho các em là một yếu tố không kém phần quan trọng giúp các em
học tốt hơn.
Trong một lớp học, lực học của các em không đồng đều, ý thức học của nhiều
em chưa cao. Để thực hiện tốt cuộc vận động “Hai không” của ngành giáo dục và
giúp cho phụ huynh có biện pháp phù hợp trong việc giáo dục con cái, tôi đã mạnh
dạn trao đổi với phụ huynh học sinh về chỉ tiêu phấn đấu của lớp và những yêu cầu
cần thiết giúp các em học tập như: Mua sắm đầy đủ sách vở, đồ dùng – cách hướng
dẫn các em tự học ở nhà, đặc biệt nhất là đối với các ông bố vào buổi tối cố gắng
bớt đi một chút thời gian chuyện trò với bạn bè, tắt (vặn nhỏ đài, ti vi) dành thời
gian nhắc nhở, quan tâm cho các em học tập… Rất mừng là đa số phụ huynh đều
nhiệt liệt hoan nghênh biện pháp trên vì lâu nay các phụ huynh còn đang vướng
mắc nhiều về cách dạy học cho các em. Riêng trong phần bài tập của sách Toán, tôi
hướng dẫn phụ huynh cách dạy các em luyện nêu miệng các đề toán, luyện nói và
trả lời nhiều…
Tuy nhiên, cuộc họp phụ huynh lần này vẫn còn một số gia đình vắng mặt do có
việc đột xuất, do chưa thấy hết được tầm quan trọng của việc học và do điều kiện
gia đình còn nhiều khó khăn nên phó mặc việc học của con cái cho giáo viên, cho
nhà trường. Đối với những phụ huynh vắng mặt này, tôi tìm cách gặp gỡ, trao đổi
tại nhà. Trong số đó có gia đình trao đổi họ lung túng không biết cách dạy con như
thế nào nữa mà chỉ biết nhắc nhở con: “Học bài đi” rồi con học gì, làm gì ở bàn học
bố mẹ cũng không hay. Đối với những em này, tôi phải hướng dẫn nhiều hơn ở lớp
để về nhà các em tự học.
4.2. Giúp HS phân biệt rõ các dạng toán và chuẩn bị cho việc giải toán.
Hai loại toán ở lớp 3 nói riêng và ở Tiểu học nói chung là: Toán đơn và toán
hợp. Mỗi loại toán này có vai trò quan trọng của nó. Việc giải các bài toán hợp thực
chất là giải một hệ thống các bài toán đơn. Có kĩ năng giải các bài toán đơn, học
sinh mới có cơ sở giải các bài toán hợp. Do đó giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ
bản chất bài toán đơn để vận dụng giải các bài toán phức tạp sau này.
Ở lớp 3, cùng với việc học phép nhân, chia, học sinh sẽ giải các bài toán đơn
dùng phép nhân hoặc chia. Trong các đầu bài toán bằng lời văn, học sinh thường
gặp những từ chìa khoá như: "Gấp lên, giảm đi bao nhiêu lần", "So sánh hơn, kém
bao nhiêu lần". Các từ này thường được gợi ra phép nhân, chia tương ứng. Giáo
viên cần chú ý học sinh tránh lẫn lộn "Bao nhiêu lần" với "Bao nhiêu đơn vị" và

6

hiểu đúng khái niệm này. Củng cố thói quen đọc và hiểu đúng đề bài để ngăn ngừa
tác dụng "Cảm ứng" của các từ "Chìa khoá". Giáo viên giúp học sinh nắm vững ý
nghĩa của phép nhân và phép chia đồng thời giúp học sinh hiểu đúng các từ quan
trọng trong đề toán.
Mặt khác, đối với lớp 3, do tư duy của học sinh đã có những tiến bộ, song vốn
ngôn ngữ vẫn còn hạn chế, nên việc nâng cao dần dần các yêu cầu về kiến thức và
kĩ năng một cách vừa sức học sinh, các yêu cầu về trừu tượng hoá cần được chú ý,
nhất là diễn tả các điều kiện, việc sử dụng sơ đồ đoạn thẳng và tia số, thay dần các
hình vẽ tượng trưng, cần được coi như một công cụ phổ biến, tinh lược hoá những
từ ngữ của đề toán, giúp các em tiếp cận tốt hơn với nội dung đề bài toán. Từ đó
dẫn đến định hướng cách giải toán.
Khi học sinh nắm vững cách giải các bài toán đơn, có thể gợi cho học sinh khá,
giỏi dùng chữ thay dữ kiện (ở các bài có cấu trúc giống nhau), diễn đạt các cấu trúc
toán học, từ đó củng cố ý thức về việc sử dụng các công cụ, thủ thuật toán học
giống nhau khi giải chúng. Việc sắp xếp các bài toán đơn mà khi giải học sinh phải
vận dụng các phép tính ngược sẽ giúp các em nâng cao và củng cố nhận thức về
mối quan hệ giữa các phép tính ngược.
Việc sử dụng hình vẽ hay sơ đồ để minh hoạ các điều kiện của bài toán là có ích
với học sinh lớp 3 nói riêng, với học sinh Tiểu học nói chung. Tuy nhiên cần phải
hiểu rõ tác dụng của chúng (là chỗ dựa cho suy luận) trong việc giải toán. Đối với
các bài toán dễ hay đã nắm vững cách giải cần chú ý đến phát huy trí tưởng tượng
của học sinh, từng bước thay đổi chỗ dựa trực quan bằng hình ảnh trong óc suy
luận, vừa giúp học sinh mở rộng vốn hiểu biết vừa thúc đẩy quá trình tư duy của
học sinh.
4.3 Giúp học sinh nắm được quá trình giải toán.
Cái khó của việc giải bài toán có lời văn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ
được những yếu tố lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán. Hay nói một
cách khác là làm sao phải chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học
chứa đựng trong bài toán và tìm được những lời giải phép tính thích hợp để từ đó
tìm được đáp số của bài toán. Do đó giáo viên cần giúp học sinh nắm vững được
quá trình giải toán.
Quá trình này thường được tiến hành theo các bước như sau :
- Tìm hiểu nội dung bài toán.
- Tìm cách giải bài toán.
- Thực hiện cách giải bài toán.
- Kiểm tra, đánh giá kết quả.
 
Gửi ý kiến