Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

401 “biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn môn toán cho học sinh lớp 4”(bộ sách kết nối tri thức).docx

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Quế (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:01' 20-02-2024
Dung lượng: 232.4 KB
Số lượt tải: 221
Số lượt thích: 0 người
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …
TRƯỜNG TH ….

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

“BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN MÔN
TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 4”
(Bộ sách KẾT NỐI TRI THỨC)

Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:

Năm học 2022 - 2023

1

MỤC LỤC

I. MỞ ĐẦU.............................................................................................................................. 1
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.......................................................................................................1
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU...............................................................................................2
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU............................................................................................3
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.....................................................................................3
II. NỘI DUNG.......................................................................................................................... 4
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN.............................................................................................................. 4
2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ..........................................................................................5
2.1. Thực trạng chung......................................................................................................5
2.2. Thực trạng của trường, lớp.......................................................................................5
3. CÁC GIẢI PHÁP..............................................................................................................7
3.1. Rèn cho học sinh các kiến thức và kĩ năng toán học, biết vận dụng linh hoạt các
kiến thức và kĩ năng đó vào việc giải toán có lời văn.......................................................7
3.2. Rèn luyện qua các bước giải để học sinh có kĩ năng giải bài toán............................8

2

I. MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết, Toán học là một trong những môn học đòi hỏi sự tư
duy sáng tạo cả người dạy và người học. Chính vì thế, để mỗi học sinh chiếm
lĩnh được tri thức nói chung và Toán học nói riêng thì mỗi người thầy cô phải
thật sự tâm huyết khơi nguồn tri thức đến mỗi học sinh.
Thật vậy, tri thức trong xã hội là chìa khóa vạn năng để mở tất cả các cánh
cửa của loài người. Muốn có tri thức thì mỗi người học sinh phải học và phải
học thật tốt. Việc học phải trải qua quá trình nghiền ngẫm, suy luận tìm tòi mới
có được. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà trường hiện nay là
hình thành, phát triển trí tuệ cho học sinh. Trong các môn học nói chung và môn
Toán nói riêng đều có nhiệm vụ trao dồi kiến thức, rèn luyện kĩ năng góp phần
tích cực vào việc đào tạo con người. Trong các môn khoa học và kĩ thuật , Toán
học giữ một vai trò nổi bật. Nó còn là môn thể thao trí tuệ giúp ta rèn luyện
phương pháp suy nghĩ, suy luận, học tập và giải quyết vấn đề. Toán học còn
giúp ta phát huy một số đức tính quý báu như: cần cù, nhẫn nại, tự lực cánh sinh,
ý chí vượt khó, yêu thích sự chính xác, khẳng định chân lí.
Môn Toán là một trong những môn học bắt buộc được dạy trong chương
trình Tiểu học. Cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí hết sức quan trọng.
Bộ GD&ĐT đã nhấn mạnh trong chương trình đổi mới GDPT 2018 về các kiến
thức và kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong cuộc sống,
trong lao động cũng như trong quá trình học sinh học lên các cấp học sau này.
Trong chương trình môn Toán ở Tiểu học được cấu trúc theo vòng tròn đồng
tâm và chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn một là các lớp 1, 2, 3 và giai đoạn hai
là các lớp 4, 5. Vì trong chương trình Toán lớp 4 nói chung và Toán có lời văn
lớp 4 nói riêng là mở đầu là mở đầu giai đoạn hai ở tiểu học. Giai đoạn này, việc
giải toán có sự yêu cầu và đòi hỏi cao hơn. Đó là, học sinh phải biết phân tích
bài toán hợp thành bài toán đơn, đưa những bài toán phức tạp về các bài toán
đơn giản hơn mà các em đã biết cách giải. Học sinh biết vận dụng phép phân
tích, tổng hợp trong quá trình tìm, xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch
1

giải. Vì vậy, đây là cơ sở ban đầu rất quan trọng của một giai đoạn mới trong
quá trình học toán ở Tiểu học nói chung và giải toán có lời văn nói riêng.
Xuất phát từ thực tế dạy học, năm học ........tôi được nhà trường phân công
phụ trách lớp 4C. Ngay từ những ngày đầu năm học, khi dạy đến các bài toán có
lời văn, tôi đã nhận thấy trong lớp mình còn nhiều học sinh gặp khó khăn khi
giải toán. Qua khảo sát, điều tra cụ thể, có trên 40% số học sinh trong lớp kĩ
năng giải toán chưa đạt yêu cầu. Và đây cũng là điều tôi suy nghĩ rất nhiều, nếu
các em giải toán còn yếu thì làm sao nắm được cách giải các bài toán dựa vào sơ
đồ đoạn thẳng, dùng chữ thay số, rút về đơn vị và một số dạng toán điển hình
của lớp 4 như: tìm hai số khi biết tổng hiệu, tổng tỉ, hiệu tỉ.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi mạnh dạn đưa ra và nghiên cứu đề tài
“Biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn môn Toán cho học sinh lớp 4
(KNTT)”. Với hi vọng sau khi nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao trình độ của
bản thân, góp phần nâng cao chất lượng dạy học mạch kiến thức giải toán có lời
văn ở lớp 4. Qua sáng kiến này tôi cũng muốn nhận được nhiều ý kiến trao đổi
của bạn bè đồng nghiệp, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học giải toán có
lời văn cho học sinh nói chung và học sinh lớp 4 nói riêng.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Như chúng ta đã biết, việc giải toán có lời văn của học sinh tiểu học nói
chung và học sinh lớp 4 nói riêng là việc rất khó khăn đối với các em. Chính vì
thế để giúp các em nắm được cách giải của một bài toán là một việc làm cần
thiết. Mặt khác, để giải được một bài toán đúng các em cần phải nắm chắc và
tổng hợp nhiều kiến thức toán học. Vì vậy, mục đích của đề tài này tôi đưa ra là:
+ Học sinh có khả năng phân tích, tổng hợp, nhận dạng bài toán và giải tốt
các bài toán có lời văn.
+ Biết cách giải bài toán có lời văn lớp 4 một cách linh hoạt.
+ Biết cách trình bày bài toán một cách khoa học, chính xác, đầy đủ.
+ Đối với bản thân giáo viên: tự tìm tòi, nâng cao tay nghề, đức rút kinh
nghiệm trong giảng dạy, nhất là mạch kiến thức toán có lời văn lớp 4.

2

3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Với mục đích nghiên cứu của đề tài này, khi nghiên cứu tôi hướng tới các
bài toán có lời văn trong sách giáo khoa lớp 4.
Được sự nhất trí và tạo điều kiện của ban giám hiệu nhà trường và tổ
chuyên môn, tôi chọn đối tượng nghiên cứu là lớp 4C trường Tiểu học … do tôi
phụ trách.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong đề tài này tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
+ Nghiên cứu trên cơ sở lí luận.
+ Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
+ Phương pháp thống kê dữ liệu.
+ Phương pháp trò chuyện, quan sát, điều tra, phỏng vấn.
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm, trao đổi với đồng nghiệp.
+ Phương pháp nghiên cứu qua sản phẩm của học sinh.

3

II. NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trong các môn học ở tiểu học, cùng với môn TV, môn Toán có vị trí hết
sức quan trọng. Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học có nhiều ứng
dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học
tốt các môn học khác ở Tiểu học và chuẩn bị cho việc học tốt môn Toán ở bậc
trung học.
Dạy giải toán có lời văn ở Tiểu học nói chung và ở lớp 4 nói riêng, nhằm
giúp học sinh vận dụng những kiến thức về toán học vào các tình huống thực
tiễn, đa dạng, phong phú, những vấn đề thường gặp trong cuộc sống. Giải toán
có lời văn là một trong năm mạch kiến thức toán, được dạy trong chương trình
Tiểu học, đã được đánh giá là một trong các nội dung, học sinh thường hay gặp
khó khăn nhất. Vì nội dung này, các bài toán có lời văn đều liên quan chặt chẽ
đến các kiến thức kĩ năng của bốn mạch kiến thức còn lại. Vì vậy, khi giải bài
toán có lời văn ở bất cứ dạng nào, học sinh cũng phải huy động tích hợp các
kiến thức, kĩ năng đã có vào các tình huống khác nhau. Trong một chừng mực
nào đó, học sinh phải biết suy nghĩ năng động, sáng tạo thì mới giải được bài
toán. Chính vì thế, khi học sinh giải được một bài toán có lời văn tốt thì đồng
thời các kĩ năng khác của môn Toán em đã nắm tốt.
Mặt khác, giải toán có lời văn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho
HS năng lực tư duy và đức tính tốt của con người lao động mới, hoạt động trí
tuệ trong việc giải toán góp phần giáo dục các em ý chí vượt khó, đức tính cẩn
thận, chu đáo làm việc có kế hoạch, thói quen xem xét có căn cứ, thói quen tự
kiểm tra kết quả công việc mình làm, óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo vv...
Song đối với học sinh lớp 4, các em còn hiếu động, ham chơi, chưa ý thức
được tầm quan trọng của việc học nên thường lơ là, xem thường việc học toán.
Chính vì thế, việc rèn kĩ năng giải toán có lời văn là việc làm cần thiết, từ đó học
sinh có kiến thức toán học một cách tốt hơn.

4

2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ.
2.1. Thực trạng chung
Như chúng ta đã biết, chương trình toán lớp 4 là mở đầu cho giai đoạn hai
của toán Tiểu học. Chính vì thế, lượng toán giải chiếm số lượng tương đối lớn,
trong đó đa số là dạng toán điển hình. Mức độ khó của các bài toán giải cũng đã
được nâng lên, chủ yếu là các bài toán hợp. Chính vì thế, để giải được bài toán
đòi hỏi học sinh phải sử dụng nhiều kiến thức đã học để giải quyết vấn đề. Đứng
trước tình hình đó, nhiều học sinh đã có biểu hiện không hứng thú với việc giải
toán. Mặt khác, do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của các em thường vội vàng,
hấp tấp hay đơn giản hóa vấn đề nên đôi khi chưa hiểu kĩ đề, làm bài chưa cẩn
thận đã nộp bài. Từ đó dẫn đến bài làm còn nhiều khi bị sai, thiếu sót.
Đối với giáo viên còn phải dạy nhiều môn học, số lượng học sinh trong một
lớp đông, khả năng tiếp thu của các em không đồng đều, có sự chênh lệch nhiều.
Chính vì thế, việc truyền tải kiến thức toán học nói chung và giải toán có lời văn
nói riêng đến từng học sinh còn có phần hạn chế. Đối với các em tiếp thu chậm
thì việc nắm kiến thức mới và giải các bài toán có lời văn là một việc vô cùng
khó khăn.
Bên cạnh đó, trong lớp còn có học sinh tâm lí không ổn định, một số em có
hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ chưa quan tâm đến việc học hành của con
cái. Chính vì thế mà đôi khi, chưa có sự thống nhất cao giữa giáo viên và cha mẹ
học sinh. Từ đó, hiệu quả học tập của các em chưa cao, nhất là việc giải toán có
lời văn lại là sự cản trở lớn trong việc học tập của các em.
2.2. Thực trạng của trường, lớp
Trường Tiểu học… là ngôi trường nằm ở trung tâm thành phố …Bản thân
tôi mới về nhận công tác được gần ba năm nhưng tôi nhận thấy, đây là ngôi
trường luôn được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo địa phương. Trường có một
tập thể cán bộ giáo viên với nhiều bề dày kinh nghiệm, có trình độ chuẩn và trên
chuẩn luôn tâm huyết với nghề. Cùng với đó là ban giám hiệu luôn quan tâm tạo
điều kiện để giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Chính vì thế mà ngôi
trường đã đón nhận gần một nghìn học sinh. Đây là ngôi trường mà các bậc phụ
5

huynh luôn đặt niềm tin cao, để gửi gắm cho em mình về đây học tập.
Bên cạnh những mặt thuận lợi trên thì bản thân tôi còn nhận thấy một số
mặt khó khăn hạn chế mà trường và lớp tôi gặp phải đó là: khuôn viên trong
trường đang hẹp so với số lượng học sinh, diện tích phòng học chưa đảm bảo, số
lượng học sinh trong một lớp đông. Chính vì thế mà phần nào đã ảnh hưởng đến
việc học tập, vui chơi và sinh hoạt của các em. Còn về phần lớp 4C do tôi chủ
nhiệm tổng số học sinh là 42 em, trong đó có 21 em nam và 21 em nữ. Nhìn
chung các em ngoan, chịu khó học bài và làm bài, phụ huynh cũng trang bị đầy
đủ sách vở và đồ dùng học tập. Song từ khi nhận lớp, tôi đã nhận thấy một số
em trong lớp còn hiếu động, chưa tập trung tiếp thu bài, khả năng tiếp thu còn
chậm, có cả học sinh tâm lí không bình thường.Phụ huynh đa số là buôn bán tự
do, một số gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên chưa sát sao đến việc học tập
của con em mình. Chính vì thế, một số em đã có tính ỉ lại, chưa có sự chịu khó,
vươn lên để học tập. Đặc biệt việc nắm kiến thức giải toán có lời văn đối với các
em lại càng hạn chế hơn.
Bên cạnh đó khả năng tiếp thu các kiến thức của các em không đồng đều.
Đối với các em tiếp thu tốt thì việc vận dụng linh hoạt các kiến thức đã học vào
từng bài cụ thể là rất tốt. Song đối với các em tiếp thu chậm, khả năng vận dụng
kiến thức tổng hợp vào từng bài cụ thể là hết sức khó khăn. Do đó, đối với giáo
viên việc vừa dạy kiến thức mới, vừa ôn tập củng cố và dẫn dắt học sinh giải
một bài toán là việc làm thường xuyên và cần thiết.

6

3. CÁC GIẢI PHÁP
3.1. Rèn cho học sinh các kiến thức và kĩ năng toán học, biết vận dụng
linh hoạt các kiến thức và kĩ năng đó vào việc giải toán có lời văn.
Như chúng ta đã biết, để giải được một bài toán có lời văn ở bất kì một
dạng nào thì chúng ta cũng phải vận dụng tổng hợp nhiều kiến thức kĩ năng đã
học. Với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh là nhanh nhớ, chóng quên. Nên để
các em vận dụng kiến thức đã học vào để giải một bài toán là rất khó khăn. Do
đó, trước mỗi bài toán giải tôi thường cho học sinh nhớ lại các kiến thức cũ có
liên quan đến việc giải toán và giúp các em có thể vận dụng linh hoạt vào để giải
bài toán.
Trong phần đầu chương trình toán lớp 4 có liên quan đến giải toán đó là
dạng toán “ Giải bài toán có ba bước tính” (trang 19 Toán 4 bộ sách Kết nối
tri thức với cuộc sống). Đây cũng là dạng toán điển hình được học ở lớp 4.
Song để giải quyết từng bài toán cụ thể ta cần sử dụng linh hoạt các kiến thức có
liên quan.
Chẳng hạn, với bài toán 1 (trang 20 Toán 4 bộ sách Kết nối tri thức với
cuộc sống): “Đàn vịt nhà bác Đào có 1200 con. Đàn vịt nhà bác Mận có ít hơn
đàn vịt nhà bác Đào 300 con. Đàn vịt nhà bác Cúc có nhiều hơn đàn vịt nhà bác
Đào 500 con. Hỏi số vịt của nhà bác Đào, bác Mận và bác Cúc có tất cả bao
nhiêu con?”
Để giải bài toán này thì học sinh cần vận dụng ba mạch kiến thức để
giải. Đó là tính số vịt nhà bác Mận, số vịt nhà bác Đào và tổng số vịt của của 3
nhà. Song đối với những em tiếp thu chậm, chỉ tính số vịt của mỗi nhà là xong.
Ví dụ:
Số vịt nhà bác Mận là:
1200 - 300 = 900 (con)
Số vịt nhà bác Đào là:
1200 + 500 = 1700 (con)
Điều đó cho ta thấy khả năng phân tích của các em là không tốt, chỉ có khả
năng ghi nhớ một mạch kiến thức. Do đó, trước một bài toán giáo viên cần cho
7

học sinh nắm được các mạch kiến thức liên quan để giải bài toán.
- Muốn tìm tổng số vịt của cả 3 nhà là bao nhiêu trước hết ta phải làm gì?
( Tính tổng số vịt của cả 3 nhà)
- Để tìm tổng số vịt của 3 nhà ta làm như thế nào?
( Ta lấy số vịt của mỗi nhà cộng lại với nhau)
Qua đó, học sinh sẽ hiểu rõ hơn, để giải quyết bài toán này cần phải vận
dụng ba mạch kiến thức đã học.

Như vậy, với một bài toán được đưa ra với nhiều hình thức khác nhau, với
nhiều ngôn ngữ phong phú khác nhau. Song giáo viên cần hướng các em nắm
được xem bài toán đó thuộc dạng toán gì, những kiến thức nào cần liên quan để
giải quyết bài toán đó. Cách tôi thường xuyên sử dụng là ôn tập, củng cố kiến
thức được lồng ghép trong từng bài toán cụ thể.
3.2. Rèn luyện qua các bước giải để học sinh có kĩ năng giải bài toán
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, qua điều tra thực trạng ban đầu, tôi đã
nghiên cứu và tìm ra các giải pháp rèn kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh.
Trước hết muốn giải được bài toán có lời văn, giáo viên cần cho học sinh nắm
được đường lối chung để giải bài toán có lời văn được thực hiện 3 bước sau:
Bước 1: Rèn kĩ năng đọc và phân tích bài toán
- Kĩ năng đọc là một trong các kĩ năng được quan tâm chú trọng ngay từ khi
các em vào học lớp 1. Kĩ năng này vẫn được rèn luyện cho các em ở các lớp trên
thông qua môn tập đọc và một số môn khác. Tuy là học sinh lớp 4 nhưng kĩ
năng đọc của một số em chưa tốt.
- Với những em đọc chưa tốt thì tôi luôn dành nhiều thời gian hơn cho các
em được rèn kĩ năng đọc, không những trong giờ tập đọc mà còn trong cả tiết
học khác như: Lịch Sử, Địa Lý, Khoa Học...Không những các em ngắt nghỉ
chưa đúng mà việc đọc bỏ từ, thiếu từ thì sẽ dẫn đến các em hiểu sai đề.
8

Ví dụ: Với đề toán “ Khoang chứa nhiên liệu của máy bay màu xanh có
240 363 l. Khoang chứa nhiên liệu của máy bay màu hồng có 25 350 l. Hỏi
khoang chứa nhiên liệu của máy bay có nhiều hơn và nhiều hơn bao nhiêu lít”
(bài 3 trang 80 Toán 4 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống). Nếu học sinh
đọc không cẩn thận sẽ bỏ đi từ “ nhiều” thì cách hiểu bài toán lại hoàn toàn
ngược lại. Chính vì thế, bước đầu tiên phải giúp học sinh đọc đề chính xác. Mặt
khác, các em đọc đề tốt cũng chưa hẳn các em hiểu đề tốt. Do đó, khâu phân tích
đề cũng rất quan trọng. Trong bài toán, đôi khi người ta sử dụng bằng các ngôn
ngữ tự nhiên như “ bay đi”, “ cho đi”, “ ăn đi”... có nghĩa là số lượng đã được
bớt đi. Hay các từ “ đổ đều”, có nghĩa là chia đều.

Hay với những dạng toán tổng hiệu. Đôi khi trong bài toán người ta không
nói rõ đâu là tổng, đâu là hiệu. Song qua việc phân tích đề bài ta phải xác định ra
đâu là các dữ kiện bài toán đã cho tương ứng với từng dạng toán. Có bài toán
dạng tổng hiệu như sau:
Ví dụ: “Một lớp học võ dân tộc có 40 bạn tham gia, trong đó số bạn nữ ít
hơn số bạn nam là 10 bạn. Hỏi lớp học võ đó có bao nhiêu bạn nữ, bao nhiêu
bạn nam?” (bài 1 trang 87 Toán 4 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống).
Trong bài toán này các em phải hiểu được “ tổng” của hai số được thay bằng
cụm từ “ có 40 bạn tham gia”, hiệu số của hai số đó chính là số bạn nữ và số bạn
nam. Chính vì thế, trước một bài toán các em phải biết phân tích đề và đưa bài
toán về các dạng toán quen thuộc để giải.

9

Mặt khác, trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong học toán có nhiều từ
gần như là “ mặc định” trong đầu các em. Ví dụ các em cứ thấy từ “ nhiều hơn”
là nghĩ đến phép cộng và từ “ ít hơn” là nghĩ đến phép trừ. Nên khi gặp một bài
toán có các từ như thế thì các em dễ giải sai. Ví dụ bài toán: Trong đợt phát
động trồng cây, lớp 4A trồng được 32 cây, lớp 4B trồng được nhiều hơn lớp 4A
là 3 cây nhưng ít hơn lớp 4C là 6 cây. Hỏi trung bình mỗi lớp trồng được bao
nhiêu cây?
Có một số học sinh đã trình bày bài giải như sau:
Lớp 4B trồng được số cây là:
32 + 6 = 38 ( cây)
Lớp 4C trồng được số cây là:
32 – 6 = 26 ( cây)
Như vậy, các em đã bị ám bởi từ “ít hơn”, từ này đã làm lạc hướng học sinh
nên các em đã chọn phép tính trừ trong phép tính thứ hai, trong khi phép tính
đúng là phép cộng.
Thật vậy, để giúp học sinh đọc kĩ bài toán thì tôi luôn rèn cho học sinh kĩ
năng đọc, đồng thời để học sinh phân tích, xác định được dạng toán thì cần phải
giúp học sinh hiểu đề. Như chúng ta đã biết, mỗi đề toán thường có hai bộ phận,
bộ phận thứ nhất là những điều đã cho, bộ phận thứ hai là những điều chúng ta
phải tìm. Muốn giải bất kì bài toán nào thì chúng ta cũng phải xác định đúng hai
bộ phận đó. Chúng ta cần giúp học sinh tập trung vào những từ quan trọng gọi là
từ khóa của đề toán. Từ nào chưa hiểu thì phải tìm hiểu ý nghĩa của nó. Cần
giúp học sinh phân biệt rõ những gì thuộc về bản chất của đề toán, những gì
10

không
Người viết
Đỗ Văn Hiếu
Liên hệ Zalo: 0985598499

11
 
Gửi ý kiến