TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM TUYỂN CHỌN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 10h:51' 26-01-2024
Dung lượng: 449.5 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 10h:51' 26-01-2024
Dung lượng: 449.5 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Héi ®ång chØ ®¹o xuÊt b¶n
Chñ tÞch Héi ®ång
pgs.TS. NguyÔn ThÕ kû
Phã Chñ tÞch Héi ®ång
TS. HOµNG PHONG Hµ
Thµnh viªn
trÇn quèc d©n
TS. NguyÔn §øC TµI
TS. NGUYÔN AN TI£M
NguyÔn Vò Thanh H¶o
M· sè:
2
KV5
CTQG - 2015
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Tục ngữ, ca dao luôn gắn liền với sinh hoạt, hoạt
động văn hóa, vui chơi truyền thống của người dân Việt
Nam. Nó có giá trị bổ trợ kiến thức, bồi dưỡng tình cảm
đạo đức và thẩm mỹ cho thanh thiếu niên, nhi đồng.
Không những thế, bất kể nơi đâu, trong tình huống nào
người ta cũng có thể sử dụng tục ngữ, ca dao để bày tỏ
tình cảm hay giãi bày một vấn đề nào đó khi cảm thấy
khó nói.
Thực hiện Đề án trang bị sách cho cơ sở xã, phường,
thị trấn của Ban Tuyên giáo Trung ương, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia - Sự thật phối hợp với Nhà xuất bản
Thanh niên xuất bản cuốn sách Tục ngữ, ca dao Việt Nam Tuyển chọn do ThS. Bùi Văn Vượng, Huy Linh (Sưu tầm,
biên soạn). Kho tàng tục ngữ, ca dao ở nước ta là vô vận,
nhưng trong giới hạn cuốn sách nhỏ này chúng tôi chỉ
giới thiệu một cách khái quát, với số lượng rất hạn hẹp
các câu tục ngữ, ca dao.
Nội dung cuốn sách gồm 2 phần:
1. Tục ngữ và giải nghĩa
2. Ca dao
Tục ngữ, ca dao phản ánh mọi mặt cuộc sống của
người dân Việt Nam qua quá trình lịch sử. Đó là một bức
tranh sinh động, phong phú, thể hiện một cách sâu sắc,
5
thế giới quan, nhân sinh quan của nhân dân Việt Nam từ
thời xa xưa cho đến sau này. Ca dao, tục ngữ là sự kết
tinh, lắng đọng vốn sống và những kinh nghiệm quý báu
trong dân gian được truyền miệng từ đời này qua đời
khác. Trải qua bao biến thiên cuộc sống, trong thời đại
ngày nay, ca dao, tục ngữ vẫn còn vẹn nguyên giá trị răn
dạy con người về cách đối nhân xử thế trong cuộc sống.
Tục ngữ, ca dao là một phần của kho tàng di sản văn
hóa quý giá của dân tộc ta, rất cần được bảo tồn, khai thác,
sử dụng lâu dài, vì vậy cuốn sách nhỏ này cũng là góp
phần bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống và xây dựng nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 11 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
6
LỜI SOẠN GIẢ
Trong vốn di sản văn hóa, văn học, nghệ thuật
dân gian rất đồ sộ, quý giá của dân tộc ta, có một bộ
phận đặc biệt quan trọng, được coi như những báu
vật vô giá, đó là tục ngữ, ca dao mà xưa nay vẫn
được truyền giữ như châu ngọc quý, được lưu
truyền qua nhiều thế hệ trong dòng chảy dân gian
truyền miệng lâu đời.
Tục ngữ, ca dao là loại hình văn hóa, nghệ thuật
và thơ ca dân gian Việt Nam có đặc điểm chung
nhất là cách diễn đạt có vần điệu, dễ thuộc, dễ nhớ,
có sức lan truyền nhanh chóng, rộng rãi. Bằng ngôn
ngữ trong sáng, giản dị, ngắn gọn mà súc tích, bình
dân, dễ đi vào lòng người ở nhiều độ tuổi không
phân biệt trình độ cao, thấp, những câu tục ngữ, ca
dao chứa đựng nội dung giáo dục đạo đức và tình
yêu quê hương đất nước, truyền bá kinh nghiệm,
phổ cập kiến thức, khuyến khích sáng tạo và ý chí
phấn đấu vươn lên của mỗi người ngay từ tuổi thơ.
Đây là loại hình văn hóa và thơ ca dân gian thuần
Việt, giàu trí tuệ và cảm xúc, dễ cảm thụ, đạt tới
đỉnh cao của ngôn ngữ Việt Nam, được phổ biến
7
sâu rộng trong nhân dân khắp mọi miền đất nước
xưa nay và sẽ còn lưu truyền mãi sau này.
Trước đây, ở Việt Nam hầu hết mọi người,
dường như đều thuộc lòng những câu tục ngữ, ca
dao. Trong điều kiện, hoàn cảnh lịch sử đương
thời, phần lớn cư dân không biết chữ, văn hóa và
thơ ca dân gian truyền miệng đã trở thành phương
tiện truyền tải tri thức chủ yếu thì loại hình nghệ
thuật này thực sự có sức sống mạnh mẽ trong sinh
hoạt hằng ngày, bồi dưỡng kiến thức bách khoa về
giáo dục - đào tạo ngoài nhà trường cho các tầng
lớp nhân dân, đặc biệt là đối với lứa tuổi thanh
thiếu niên, nhi đồng.
Ngày nay, nhu cầu sử dụng, học tập, tìm hiểu về
tục ngữ, ca dao vẫn rất lớn trong xã hội do ý nghĩa
văn hóa, giáo dục và thực hành của nó còn vẹn
nguyên giá trị. Nhưng đáng tiếc là không ít người,
nhất là thế hệ trẻ chưa hiểu rõ nghĩa những câu tục
ngữ, không thuộc nhiều ca dao.
Chúng tôi đã dành nhiều năm sưu tầm nghiên
cứu vốn tài sản văn hóa, văn học dân gian truyền
miệng thuộc chuyên đề này nhằm góp phần lưu giữ,
truyền bá những giá trị của tục ngữ, ca dao theo chủ
trương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Khối
lượng tư liệu sưu tập của chúng tôi khá lớn, song
chúng tôi cố gắng chọn lọc trong số đó những câu
tiêu biểu, giá trị để biên soạn thành cuốn sách Tục
ngữ, ca dao Việt Nam - Tuyển chọn.
Trong quá trình biên soạn chúng tôi có giải
8
nghĩa từng câu tục ngữ. Tuy nhiên, cuốn sách có thể
còn những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp
ý của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn
trong lần xuất bản sau.
Hy vọng rằng cuốn sách Tục ngữ, ca dao Việt
Nam - Tuyển chọn sẽ đem lại cho quý vị và các bạn
yêu quý nền văn hóa, văn học nghệ thuật dân gian
Việt Nam trong và ngoài nước nhiều điều bổ ích.
Xin trân trọng biết ơn các cơ quan và cá nhân:
Thư viện Quốc gia Việt Nam, một số thư viện tỉnh,
viện nghiên cứu, trường đại học, các bậc cao niên và
các tác giả tiền bối có uy tín, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia - Sự thật, Nhà xuất bản Thanh niên... đã
nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình
sưu tầm, biên soạn và xuất bản cuốn sách này.
Hà Nội, mùa Thu 2015
ThS. BÙI VĂN VƯỢNG
9
10
TỤC NGỮ VÀ GIẢI NGHĨA
I. Khái niệm
Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn,
ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh, đúc kết kinh
nghiệm của nhân dân về mọi mặt (Tự nhiên, lao
động sản xuất, xã hội, con người...), được nhân dân
ta vận dụng vào đời sống, suy nghĩ và lời ăn tiếng
nói hằng ngày. Đây là một thể loại văn học dân
gian. Khác với ca dao, tục ngữ có chức năng chủ
yếu là đúc kết kinh nghiệm sống trên rất nhiều lĩnh
vực của cuộc sống hằng ngày. Vì thế, tục ngữ được
xem là kho kinh nghiệm và tri thức thực tiễn vô
cùng phong phú.
Phần lớn các câu tục ngữ có hình thức ngắn, có
vần hoặc không vần:
- Tre già măng mọc.
- Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa.
- Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước.
- Gió heo may, chuồn chuồn bay thì bão.
Một số khác có hình thức câu dài, nhiều vế:
Của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của
phù vân để ngoài ngõ.
11
Có câu còn có hình thức của một câu ca dao, thể
lục bát:
Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm.
Hay
Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.
Dù dài hay ngắn, có vần hay không vần, nói
chung tục ngữ đều là những câu dễ nhớ, dễ thuộc.
Đặc điểm này của tục ngữ chủ yếu được tạo nên từ
vần điệu. Những câu tục ngữ không có vần tác
động đến người đọc, người nghe bởi kết cấu đối
lập hoặc những ấn tượng đặc biệt nào đó. Ví dụ:
Tre già măng mọc là quy luật kế thừa, Một mặt người
bằng mười mặt của lại dựa trên những yếu tố đối
lập,...
II. Phân loại
Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian vì
vậy nó có thể có rất nhiều dị bản và vô số đề tài,
không thể kể hết, có thể chia thành hai chủ đề cơ
bản như sau:
1. Tục ngữ về tự nhiên và lao động sản xuất
Chủ đề chung của những câu tục ngữ này là
những kinh nghiệm về thiên nhiên và lao động sản
xuất. Bởi lao động sản xuất luôn gắn với thiên nhiên
(thời tiết, khí hậu, đất đai...). Tuy nhiên, có thể chia
chủ đề này thành 2 nhóm:
12
a) Tục ngữ về thời tiết, khí hậu
Sấm động, gió tan.
Khi mưa có sấm nổi lên thì gió sẽ ngừng thổi
mạnh.
Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa.
Nếu phía đông có chớp nhiều thì đến gần sáng
có thể trời sẽ mưa.
Tháng ba mưa đám, tháng tám mưa cơn.
Kinh nghiệm dự đoán mưa trong năm. Tháng ba
thường mưa bóng mây, tháng tám mưa theo cơn,
hết cơn là hết mưa.
Gió heo may, chẳng mưa dầm thì bão giật.
Kinh nghiệm dự báo thời tiết. Khi có gió heo
may thì sẽ có mưa dầm hoặc bão to.
Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước.
Kinh nghiệm dự báo thời tiết. Ếch kêu nhiều sẽ
có mưa to.
Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão.
Kinh nghiệm dự báo thời tiết. Tháng bảy có heo
may và chuồn chuồn bay nhiều sẽ có bão.
Rét tháng tư, nắng dư tháng tám.
Năm nào tháng tư rét thì tháng tám vẫn nắng
dữ dội.
Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối.
Ngày tháng năm mùa hè, trời nhanh sáng,
ngày dài. Ngày tháng mười trời vào đông, mau
tối, ngày ngắn.
Đầu năm sương muối, cuối năm gió nồm.
13
Nói về hiện tượng trái quy luật tự nhiên, ảnh
hưởng tới sức khỏe và sản xuất.
Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét
nàng Bân.
Một quy luật thời tiết: tháng giêng rét đậm, vật
nuôi, cây trồng kém phát triển; tháng hai ẩm ướt
thuận lợi cho cây trồng phát triển sau ngày đông
giá; tháng ba rét lại cho nên ngắn ngày, với câu
chuyện nàng Bân may áo cho chồng.
Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa.
Nếu quanh mặt trăng có một quầng sáng thì trời
nắng nhiều, hạn hán; nếu có vùng sáng mờ tỏa ra
như cái tán thì trời sẽ mưa.
Ráng vàng thì gió, ráng đỏ thì mưa.
Mây có sắc vàng phía chân trời thì chuyển gió,
mây có sắc màu đỏ thì sắp mưa.
Tháng bảy kiến bò chỉ lo lại lụt.
Tháng bảy kiến tha trứng bò lên cao sẽ có thể
lụt lội.
Ráng mỡ gà ai có nhà thì chống.
(Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa).
Khi chân trời có màu vàng hoặc đỏ là sắp có mưa
to hoặc bão.
Mưa chẳng qua ngọ, gió chẳng qua mùi.
(Sáng ướt áo, trưa ráo thóc).
Một kinh nghiệm về thời tiết: Mưa không quá từ
11 giờ đến 13 giờ (giờ Ngọ); gió không quá từ 13 giờ
đến 15 giờ (giờ Mùi).
14
Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa.
Một kinh nghiệm dự báo thời tiết. Buổi tối thấy
trời nhiều sao thì hôm sau sẽ nắng, trời ít sao đề
phòng có mưa.
Tháng mười sấm rạp, tháng chạp sấm động.
Tháng mười thường không có sấm; tháng chạp
bắt đầu có sấm (sấm đầu mùa).
Mống cao gió táp, mống áp mưa rào.
Khi cầu vồng xuất hiện ở cao thì gió lớn, cầu
vồng xuất hiện thấp ở chân trời thì mưa to.
b) Tục ngữ về kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp
Bao giờ đom đóm bay ra
Hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng.
Một kinh nghiệm làm nông nghiệp. Khi thấy
đom đóm bay và hoa gạo rụng (tháng ba âm lịch) thì
bắt đầu gieo vừng.
Tháng mười có sấm, cấy trên nấm cũng được ăn.
Tháng mười mà có sấm thì mùa màng thuận lợi,
cấy lúa trên mô đất cao cũng cho năng suất.
Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.
Sấm và những trận mưa đầu mùa hè sẽ làm cho
lúa chiêm có nước để nhanh tốt và trổ bông đều.
Tua rua thì mặc tua rua
Mạ già, ruộng ngấu không thua bạn điền.
Dù có chùm sao tua rua xuất hiện, mà có mạ già,
có ruộng ngấu thì năng suất vẫn cao.
15
Gió đông là chồng lúa chiêm, gió may, gió bấc là
duyên lúa mùa.
Đây là thời tiết thích hợp cho sự phát triển của
cây lúa chiêm và lúa mùa.
Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.
Những yếu tố quyết định năng suất của đồng
ruộng.
Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn.
Nếu chỉ cấy xuống mà không làm cỏ, chăm sóc
cẩn thận thì lúa cũng không được thu hoạch.
Lúa trổ Cốc vũ, no đủ mọi bề.
Cốc vũ: là thời tiết ứng với ngày từ 19-21 tháng 4
âm lịch. Một kinh nghiệm cày cấy: lúa trổ vào thời
gian này sẽ tránh được các đợt gió rét cuối mùa và
gió nóng đầu mùa, sẽ cho năng suất cao.
Trồng khoai đất lạ, gieo mạ đất quen.
Một kinh nghiệm trồng trọt. Khoai trồng trên đất
mới, chưa trồng khoai bao giờ sẽ nhiều củ và củ to,
mạ gieo đất vụ trước đã gieo thì cây mạ sẽ cứng,
mập cây.
Trồng tre đất sỏi, trồng tỏi đất bồi.
Trồng tre đất sỏi cằn cỗi sẽ chắc, đặc thân; trồng
tỏi trên đất bồi phù sa củ sẽ to.
Thiếu tháng hai mất cà, thiếu tháng ba mất đỗ.
Năm nào tháng hai không đủ ngày (tháng thiếu)
thì mất mùa cà, tháng ba không đủ ngày (tháng
thiếu) thì mất mùa đỗ.
Làm ruộng ăn cơm nằm, chăn tằm ăn cơm đứng.
Sự khó nhọc vất vả của nghề chăn (nuôi) tằm.
16
Làm ruộng ba năm, không bằng chăn tằm một lứa.
Nói về hiệu quả kinh tế của việc trồng dâu
nuôi tằm.
Tháng giêng trồng trúc, tháng lục trồng tiêu.
Kinh nghiệm trồng trọt. Tháng giêng trồng tre,
trúc, tháng sáu trồng tiêu sẽ rất tốt.
Sấm trước cơm sấm no, sấm sau cơm sấm đói.
Sấm trước cơm là sấm vào buổi sáng, sẽ mưa, đủ
nước cày cấy. Sấm sau cơm là sấm về chiều, ít có
mưa, thiếu nước cày bừa, lúa không tốt.
Sâu muống thì đen, sâu dền thì trắng.
Kinh nghiệm trồng trọt giúp bà con phân biệt
từng loại sâu rau khác nhau.
Mít chặt cành, chanh chặt rễ.
Một kinh nghiệm trồng cây ăn quả. Cây mít chặt
đỡ cành, cây chanh tỉa bớt rễ phụ, sẽ ra nhiều quả.
c) Tục ngữ về các ngành nghề
Ruộng bề bề không bằng nghề trong tay.
Tiền của, ruộng vườn có nhiều bao nhiêu thì
cũng không bằng có nghề nghiệp ổn định.
Một nghề thì sống, đống nghề thì chết.
Nên chuyên sâu, thành thạo, tinh tường một
nghề, còn hơn biết nhiều nghề mà chẳng thông
thạo nghề nào và không thể kiếm sống bằng
những nghề đó.
Nghề năng trau, trâu năng cày.
17
Có nghề thì phải thường xuyên làm nghề, trau
dồi, nâng cao tay nghề thì mới giỏi nghề và tinh
thông, cũng như có trâu phải thường xuyên cho đi
cày mới không phá ách.
Mộc gia, nề giảm.
Thợ mộc khi cắt gỗ phải để dư ra, phòng khi đo
lại thừa thì cắt được; thợ nề phải xây giảm kích
thước vì còn phải trát thêm lớp vữa bên ngoài.
Con nít may ra, mụ già may vào.
Kinh nghiệm của nghề thợ may.
Nhất dáng, nhì men, ba chàm, bốn vẽ.
Kinh nghiệm làm nghề gốm.
Dâu non ngon miệng tằm.
Kinh nghiệm của những người làm nghề
chăn tằm.
Mắm mặn chết dòi.
Kinh nghiệm làm mắm. Khi làm mắm phải cho
già muối (nhiều muối) thì không sinh con dòi, mắm
mới ngon và để được lâu.
Mồm gầu dai, tai lá mít, đít lồng bàn.
Kinh nghiệm chọn trâu của người lái (buôn)
trâu. Những con trâu có đặc điểm này là những con
trâu tốt, hay ăn, cày khỏe, dai sức.
Tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông.
Kinh nghiệm của những người làm nghề
chài lưới.
Câu, cất vó tôm vào buổi chiều tối sẽ được nhiều
18
cũng như đi đánh cá vào buổi sáng sớm, đón được
luồng cá sẽ đánh được nhiều cá.
Tốt mốc ngon tương.
Kinh nghiệm của nghề làm tương.
Nếu mốc gạo ủ lên men vàng đều là tốt, tương sẽ
ngọt, có màu vàng sẫm, thơm ngon.
Bán rẻ còn hơn đẻ lãi.
Trong kinh doanh, nhiều khi cần phải bán rẻ để
thu hồi vốn ngay, còn hơn đợi giá cao mới bán, để
hàng tồn đọng, tiền vốn vay sẽ đẻ lãi, có khi lại lỗ.
Bán rẻ về tắt, bán đắt về trưa.
Kinh nghiệm của người buôn bán. Bán rẻ, lãi ít
thì nhanh hết hàng, được về sớm; bán đắt ít người
mua phải về muộn, có khi lại không hết hàng (ế) thì
lại thành ra bị lỗ.
Bán gà kiêng ngày gió, bán chó kiêng ngày mưa.
Kinh nghiệm của người bán chó, gà. Bán chó, gà
vào những ngày này nhìn bề ngoài của chúng không
đẹp, trông xấu mã, sẽ khó bán.
2. Tục ngữ về con người và đời sống xã hội
a) Tục ngữ về con người
Một mặt người bằng mười mặt của.
(Người là vàng của là ngãi).
Con người quý giá hơn gấp bội so với của cải vật
chất. Khẳng định giá trị của con người.
Cái răng, cái tóc là góc con người.
Hàm răng, mái tóc góp phần làm nên vẻ đẹp của
con người, hãy giữ gìn hình thức bên ngoài cho gọn
19
gàng, sạch sẽ, vì hình thức bên ngoài thể hiện phần
nào tính cách bên trong.
Trông mặt mà bắt hình dong.
(Người khôn dồn ra mặt).
Vẻ mặt biểu lộ tâm tính. Nhìn bề ngoài có thể
đoán được phẩm chất tốt, xấu của một người.
Người năm bảy đấng, của ba bảy loài.
Người cũng có người tốt người xấu, của cũng có
của tốt của xấu.
Mắt lá răm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
Chỉ người phụ nữ rất xinh đẹp.
Mắt phượng mày ngài.
Chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ. Mắt sáng như mắt
chim phượng, lông mày dài cong, thanh nhỏ.
Mặt hoa da phấn.
Chỉ người phụ nữ có vẻ ngoài xinh đẹp, tươi tắn,
nõn nà.
Mắt sắc như dao cau.
Ánh mắt tinh nhanh sắc sảo.
Mình đồng, da sắt.
Kiên cường, vững vàng trước mọi gian nan,
thử thách.
Mặt vuông chữ điền.
Khuôn mặt vuông vắn, thường chỉ người phúc hậu.
Mắt trắng, môi thâm.
Theo dân gian, những người có tướng này
thường bạc ác, bất nhân.
20
Mặt choắt bằng hai ngón tay chéo.
Chỉ những người mặt gầy, quắt. Thường nói
với ý xấu.
Dài lưng tốn vải.
Chỉ người lười biếng, vụng về, người vô dụng.
b) Tục ngữ về đời sống xã hội
Một giọt máu đào hơn ao nước lã.
Quan hệ cùng huyết thống, họ hàng dù rất xa
nhưng cũng quý hơn so với người ngoài, xa lạ.
Máu chảy ruột mềm.
Tình thương yêu, chia ngọt sẻ bùi giữa những
người ruột thịt, cùng giống nòi.
Cá chuối đắm đuối vì con.
Cha mẹ chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ, quên
mình vì con cái.
Cá không ăn muối cá ươn.
Con cái phải biết nghe lời cha mẹ răn dạy mới
nên người.
Thương người như thể thương thân.
Thương mình thế nào thì thương người thế ấy.
Hãy coi người khác như bản thân mình để từ đó có
sự quý trọng, thương yêu thật sự.
Bán anh em xa mua láng giềng gần.
Anh em họ hàng ở xa không thể giúp mình, chỉ
có hàng xóm bên cạnh mới là chỗ dựa, giúp đỡ
thường xuyên. Nên quan hệ đối xử tốt với những
người hàng xóm.
21
Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.
Một người trong cộng đồng bị tai họa, đau đớn
thì cả tập thể chia sẻ, buồn đau.
Sảy cha còn chú, sảy mẹ ấp vú dì.
Người em trai của bố và người em gái của mẹ là
những người gần gũi nhất khi không còn cha mẹ.
Không thầy đố mày làm nên.
Không có thầy không thể làm nên việc gì. Sự
thành đạt của mỗi học trò đều có công lao to lớn của
thầy. Vì vậy chúng ta phải biết tìm thầy mà học và
mãi mãi yêu quý, kính trọng, biết ơn thầy.
Học thầy không tày học bạn.
Chủ động học hỏi ở bạn bè những điều nên học
và tự học là cách học tốt nhất.
Nòi nào giống ấy.
(Giỏ nhà ai, quai nhà ấy).
Cha mẹ thế nào thì con cái như thế ấy; Vậy nên
sự giáo dục và nền nếp gia đình ảnh hưởng rất lớn
đến đạo đức và phẩm chất của con cái.
Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh.
Con cái thừa hưởng những điều tốt đẹp của cha
mẹ, ông bà.
Học ăn, học nói, học gói, học mở.
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta phải học
nhiều thứ kỹ càng, tỉ mỉ.
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
(Cây có cội, nước có nguồn.
Chim có tổ, người có tông).
22
Khi có đời sống sung sướng, đầy đủ, thành đạt
phải nhớ đến nguồn gốc, tổ tiên, người đã có công
gây dựng cho mình.
Giấy rách phải giữ lấy lề.
(Rựa cùn còn giữ lấy tông.
Trống thủng còn tang.
Đói cho sạch, rách cho thơm).
Dù nghèo khó, sa sút cũng phải giữ nền nếp,
đạo đức.
Áo năng may năng mới, người năng tới năng thân.
Người có quan hệ rộng, hay tiếp xúc, đi lại thì có
nhiều bạn và thành thân thiết.
Cháo nóng húp quanh, công nợ trả dần.
Làm việc gì cũng phải dần dần, kiên trì từng bước
một, chớ nên nóng vội, cũng như ăn cháo nóng, ăn
nhanh là bỏng, làm nhanh, làm ẩu là hỏng việc.
Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.
Cần có cư xử tế nhị, ý tứ trong sinh hoạt hằng ngày.
Lời chào cao hơn mâm cỗ.
Thái độ, tình cảm đón tiếp quý hơn ăn uống,
cỗ bàn.
Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.
(Gần lửa rát mặt, gần sông sạch mình).
Gần kẻ xấu mà không biết giữ mình thì sẽ bị ảnh
hưởng, tiêm nhiễm cái xấu, trở thành người xấu;
Gần người tốt mà biết học hỏi sẽ tiếp thu được cái
tốt, cái hay để hoàn thiện mình.
23
Thua thầy một vạn không bằng thua bạn một li.
Thua thầy bao nhiêu cũng được, nhưng kém
hiểu biết, không bằng bạn bè cùng trang lứa thì một
chút thôi cũng không nên. Đề cao tính tự trọng, ý
chí vươn lên.
Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già.
Trẻ có khôn đến mấy cũng không bằng người
lớn, người già có khỏe đến mấy cũng không thể
bằng thanh niên.
Cả lo cả nghĩ.
Chỉ người hay lo hay nghĩ quá mức bình thường.
Của biếu là của lo, của cho là của nợ.
Chịu ơn về vật chất không tự mình làm ra sẽ
không thanh thản, mà lúc nào cũng phải lo nghĩ để
đáp lại.
Cả giận mất khôn.
Nóng nảy quá, không bình tĩnh sẽ mất tỉnh táo,
dẫn đến hỏng việc.
Một người làm quan cả họ được nhờ.
Quan niệm dân gian cho rằng: một người có
quyền thế có thể thu xếp, bao bọc, thu vén cho
những người thân.
Lòng người như bể khôn dò.
Khó biết được lòng dạ con người.
Dâu hiền hơn con gái, rể hiền hơn con trai.
Khen những người dâu thảo, rể hiền.
Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng.
24
Dân gian thường quan niệm, bà cô bên chồng
(em gái của chồng) thường đanh đá, ỷ thế bắt nạt
chị dâu.
Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng.
Chỉ nàng dâu đanh đá, ghê gớm, ăn ở không tốt,
làm cho họ hàng xa lánh.
Miệng hùm gan sứa.
Ngoài miệng nói ra thì hùng hổ, ra vẻ bạo dạn
nhưng thực chất thì hèn nhát, sợ sệt.
Miệng nam mô, bụng một bồ dao găm.
(Miệng Bồ Tát, dạ ớt ngâm).
Kẻ giả dối, miệng thì nói từ bi, nhân nghĩa
nhưng trong lòng thì độc ác, nham hiểm.
Cốc mò cò xơi.
Chỉ sự uổng công vô ích, làm cho người khác
hưởng.
Cá lớn nuốt cá bé.
Kẻ mạnh hà hiếp người yếu, người trên áp bức
người dưới.
Cá mè đè cá chép.
Cùng đồng loại họ hàng mà chèn ép lẫn nhau.
Cảnh đời trớ trêu.
Cá nhảy ốc cũng nhảy.
Phê phán kẻ kém cỏi, học hành chẳng ra gì, cũng
học đòi bắt chước người tài giỏi.
Cả tiếng nhiều lời.
Những người ghê gớm, chua ngoa.
25
Công ai nấy hưởng, tội ai nấy chịu.
Làm điều tốt thì trước hết bản thân được hưởng,
làm điều xấu thì trước hết bản thân phải gánh chịu.
Tức nước vỡ bờ.
(Con giun xéo lắm cũng quằn).
Chèn ép quá khiến người ta phải vùng lên chống
đối, phản kháng lại.
26
CA DAO
I. Khái niệm
Ca dao là thơ ca dân gian Việt Nam, được truyền
miệng dưới dạng những câu hát không theo một
giai điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ
lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc.
Nội dung của ca dao thường phản ánh những
chủ đề sau đây:
- Lịch sử: Ca dao lịch sử không phản ánh hiện
tượng lịch sử trong quá trình diễn biến của nó, mà
chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan
điểm nhân dân.
- Phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền
thống.
- Phản ánh đời sống tình cảm nhân dân: tình
cảm gia đình; tình yêu lứa đôi; tình yêu quê hương
đất nước...
- Ca dao phản ánh cuộc sống lao động của người
dân Việt Nam.
- Ca dao còn chứa đựng tiếng cười trào phúng
vui vẻ của người dân lao động.
27
II. Phân loại
Người ta thường phân loại ca dao theo một số
đặc điểm và nội dung chủ yếu sau:
1. Ca dao về lao động sản xuất: Là phần lời cốt
lõi của dân ca lao động. Những bài ca lao động tồn
tại như là một bộ phận của quá trình lao động.
2. Ca dao ru con: Hát ru có từ lâu đời và rất
phổ biến, lời hát ru phần nhiều là những câu ca
dao có sẵn.
3. Ca dao phản ánh nghi lễ, phong tục của người
dân: Trong nhiều bài ca tế thần, các yếu tố trữ tình
cũng có mặt, cùng với yếu tố hiện thực, chúng biểu
hiện sức mạnh đời sống hiện thực trong các hình
thức sinh hoạt tôn giáo của nhân dân.
4. Ca dao phản ánh lịch sử.
5. Ca dao về tình cảm gia đình, tình yêu quê
hương đất nước; tình yêu lứa đôi.
6. Ca dao trào phúng, bông đùa.
III. Nội dung
1. Ca dao về lao động sản xuất
Mài dừa dưới ánh trăng vàng
Ép dầu mà chải tóc nàng tóc anh.
Nghé ơi ta bảo nghé này
Nghé ăn cho béo, nghé cày cho sâu
Ở đời khôn khéo chi đâu
Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.
28
Nhờ trời mưa gió thuận hòa
Nào cày, nào cấy, trẻ già đua nhau
Chim, gà, cá, nhện, cảnh, cau
Mùa nào thức nấy giữ màu quê hương.
Nhờ trời mưa gió thuận hòa
Lúa vàng dầy ruộng, lời ca vang đồng.
Những người đi biển làm nghề
Thấy dòng nước nóng thì về đừng đi
Sóng lừng, bụng biển ầm ì
Bão mưa ta tránh chớ hề ra khơi.
Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu.
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời trông đất trông mây
Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng.
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
29
Rủ nhau lên núi đốt than
Chồng mang đòn gánh, vợ mang quang giành
Củi than nhem nhuốc với tình
Ghi lời vàng đá xin mình chớ quên.
Gỗ kiền anh để đóng cày
Gỗ lim, gỗ sến anh nay đóng bừa
Răng bừa tám cái còn thưa
Lưỡi cày tám tấc đã vừa luống to
Muốn cho lúa mẩy bông to
Cày sâu, bừa kĩ phân gio cho nhiều.
Lập thu mới cấy lúa mùa
Khác nào hương khói lên chùa cầu con.
Tháng chạp thì mắc trồng khoai
Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà
Tháng ba cày bở ruộng ra
Tháng tư bắc mạ, thuận hoà mọi nơi
Tháng năm gặt hái vừa rồi
Bước sang tháng sáu, nước trôi đầy đồng
Nhà nhà vợ vợ chồng chồng
Đi làm ngoài đồng, sá kể sớm trưa
Tháng sáu, tháng bảy, khi vừa
Vun trồng giống lúa, bỏ chừa cỏ tranh
Tháng tám lúa giỗ đã đành
Tháng mười cắt hái cho nhanh kịp người
Khó khăn làm mấy tháng trời
Lại còn mưa nắng thất thời khổ trông
30
Cắt rồi nộp thuế nhà công
Từ rày mới được yên lòng ấm no.
Mồng chín tháng chín có mưa
Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn
Mồng chín tháng chín không mưa
Thì con bán cả cày bừa đi buôn.
Đêm trời tang, trăng sao không tỏ
Ấy là điềm mưa gió tới nơi
Đêm nào sao sáng xanh trời
Ấy là nắng ráo yên vui suốt ngày
Những ai chăm việc cấy cày
Điềm trời trông đó, liệu xoay việc làm
Nhiều chống càng tốt, nhiều cột càng bền.
Cơm ăn một bữa sao no
Ruộng cày một vụ sao cho đành lòng
Sâu cấy lúa cạn gieo bông
Chẳng ươm được đỗ thì trồng khoai ngô.
2. Ca dao hát ru
Cái bống đi chợ Cầu Canh
Con tôm đi trước, củ hành theo sau
Con cua lạch đạch theo hầu
Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cua.
Cái bống là cái bống bang
Con đi lấy sàng cho mẹ đổ khoai
Con ăn một, mẹ ăn hai
31
Con đi bốc muối thì khoai chẳng còn
Con ngồi con khóc nỉ non
Mẹ cầm cái vọt, con bon ra hè
Có đánh thì đánh vọt tre
Đừng đánh vọt nứa mà què chân con.
Cái bống là cái bống bình
Thổi cơm nấu nước một mình mà thôi
Rạng ngày có khách đến chơi
Cơm ăn rượu uống cho vui lòng chồng
Rạng ngày ăn uống vừa xong
Tay nhấc mâm đồng, tay trải chiếu hoa
Nhịn miệng đãi khách đàng xa
Ấy là của gởi chồng ta ăn đàng.
Cháu ơi cháu ngủ cho lâu
Mẹ cháu đi cấy đồng sâu chưa về
Bắt được con trắm con trê
Tròng cổ mang về bà cháu mình ăn.
Cái bống đi chợ Cầu Cần
Thấy ba ông bụt cởi trần nấu cơm
Ông thì xới xới, đơm đơm
Ông thì ứ hự, nồi cơm không còn.
Cái bống là cái bống bang
Ăn cơm bằng sàng, bốc muối bằng vung
Mẹ giận mẹ vứt (đẩy) xuống sông
Bơi ra cửa (Con ra đường) biển lấy chồng lái buôn
32
Khát nước thì uống nước nguồn
Lạc đường thì bảo lái buôn đưa về.
Ầu ơ, bồng bống bông bông
Lớn lên con phải cố công học hành
Học là học đạo làm người
Con đừng lêu lổng kẻ cười người chê.
Ầu ơ, mẹ ơi đừng đánh con đau
Để con bắt cá hái rau mẹ dùng.
Ầu ơ, mẹ ơi chớ đánh con hoài
Để con bắt ốc, hái xoài mẹ ăn.
Ầu ơ, ví dầu cá bống đánh đu
Tôm càng hát bội, cá thu cầm chầu.
Bồng em mà bỏ vô nôi
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Bát Nhị, mua trầu Hội An.
Cái bống mặc xống ngang chân
Lấy chồng Kẻ Chợ cho gần xem voi
Trèo lên trái núi mà coi
Thấy ông quản tượng cỡi voi đánh cồng
Túi vóc mà thêu chỉ hồng
Têm trầu cánh phượng cho chồng đi thi
Một mai chồng đỗ, vinh quy
33
Võng anh đi trước, em thì võng sau
Tàn quạt, hương án theo hầu
Vinh quy bái tổ, giết trâu ăn mừng.
Con cò lặn lội bờ sông
Mẹ đi tưới nước cho bông ra đài
Trông trời, trông đất, trông mây
Trông cho lúa chín hạt sai nặng nhành
Trông cho rau muống mau xanh
Để em cắt nấu bát canh mặn mà
Mát lòng sau bữa rau cà
Con ơi mau lớn nước nhà cậy trông.
Con tôi buồn ngủ buồn nghê
Buồn ăn cơm nếp, cháo kê thịt gà
Nhà còn có một quả cà
Làm sao đủ miếng cơm và cho con
Con tôi khóc héo, khóc hon
Khóc đòi quả thị méo trôn đầu mùa
Con thèm phẩm oản trên chùa
Thèm quả chuối ngự tiến vua của làng
Con thèm gạo cốm Làng Ngang
Con thèm ăn quả dưa gang Làng Quài
Con thèm cá mát canh khoai
Con thèm xơ mít, thèm tai quả hồng
Con thèm đuôi cá vây bông
Thèm râu tôm rảo, thèm lòng bí đao.
34
Mẹ bồng con lên ngồi cầu Ái Tử
Vợ (Gái) trông chồng đứng núi Vọng Phu
Biết răng chừ bóng xế trăng lu (Tây cù)
Giả như con ve ve nó kêu mùa hạ
Biết mấy thu mới gặp chàng.
Ru con con ngủ cho say
Để u dệt vải cho thầy nhuộm nâu
Cắt quần cắt áo u khâu
Để thầy con mặc cày bừa mùa chiêm.
Ru em, em hãy nín đi
Kẻo mà mẹ đánh em thì phải đau
Em đau chị cũng buồn rầu
Bé mồm bé miệng nín mau tức thì.
Ru hời ru hỡi là ru
Bên cạn thì chống bên su thì chèo
Hai tay vừa chống vừa chèo
Không ai tát nước đỡ nghèo một phen.
Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo ghập ghềnh khó đi
Ví dầu mẹ chẳng có chi
Chỉ con với mẹ chẳng khi nào rời.
Ru con con ngủ cho lâu
Để mẹ đi cấy ruộng sâu lâu về
Ru con con ngủ cho mê
35
Mẹ còn lo chuyện lê thê kéo cày
Ru con con ngủ cho say
Mẹ còn vất vả chân tay ngoài đồng
Ru con con ngủ cho nồng
Mẹ còn nhổ mạ trả công cho người.
Ru em buồn ngủ buồn nghê
Con tằm chín đỏ, con dê chín muồi
Con tằm chín để mà nuôi
Con dê chín muồi làm thịt mà ăn.
Ru em cho thét cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ, mua trầu Chợ Dinh
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.
3. Ca dao về nghi lễ, lễ hội, phong tục tập quán
Ai về Phú Thọ cùng ta
Vui ngày Giỗ Tổ tháng ba mồng mười
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm.
Trong thời gian từ ngày khai hội Đền Hùng
đến ngày mãn hội, có nhiều trò chơi dân gian
36
được tổ chức như trò đu tiên, leo dây, thả diều,
đánh còn:
Đu tiên mới dựng năm nay
Cô nào hay hát kỳ này hát lên
Tháng ba nô nức hội Đền
Nhớ ngày Giỗ Tổ bốn nghìn năm nay
Dạo xem phong cảnh trời mây
Lô Đà, Tam Đảo cũng quay đầu về
Khắp nơi con cháu ba kỳ
Kẻ đi cầu phúc, người đi cầu tài
Sở cầu như ý ai ai
Xin rằng nhớ lấy mồng mười tháng ba.
Đến đây sum họp vui cười
Trước là lễ Tổ viếng nơi mộ phần
Sau là tài tử giai nhân
Hàn huyên kể nỗi kẻ gần người xa
Gần xa ta cũng một nhà
Cũng dòng Hồng Lạc, cũng là viêm bang
Chúc rằng: phú quý thọ khang
Tổ cho phúc trạch bình an muôn nhà.
Trong các lễ hội mùa Xuân của hệ thống Tứ
Pháp thường mang hình thức “rước nước cầu mưa”:
Ba bà trẩy hội chùa Un
Mưa gió ùn ùn lại dễ làm ăn.
Tục lệ rước tượng Tứ Pháp với những điệu múa
dân gian đầy màu sắc vào ngày mồng tám tháng tư
luôn luôn là một hình ảnh đầy sức quyến rũ:
37
Dù ai buôn bán đâu đâu
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về
Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.
Nước ta có nhiều sông ngòi. Do đó, có tục đua
thuyền vào các ngày lễ hội:
Cầu Quan vui lắm ai ơi
Trên thì chợ họp, dưới bơi thuyền rồng.
Quyển Sơn vui thú nhất đời
Dốc lòng trên giặm, dưới bơi ta về.
Kẻ Dầu có quán Đình Thanh
Kẻ Hạc ta có ba đình, ba voi
Mười tám cất thuyền xuống bơi
Mười chín giã bánh, hai mươi rước Thần.
Ai là con cháu Rồng Tiên
Tháng hai mở hội Trường Yên thì về
Về thăm đất cũ Đinh Lê
Non xanh, nước biếc bốn bề như xưa.
(Làng Trường Yên thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh
Ninh Bình là nơi có đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng.
Trong buổi diễn, họ cùng hát lại bài ca tương truyền
là đã có từ thời Đinh Bộ Lĩnh còn chăn trâu và tổ
chức tập trận bằng cờ lau).
Cỏ cây ấy, nước non này
Nước non quanh quất, cỏ cây xanh rì
Rừng hoang, cỏ rậm để chi
38
Phen này ta quyết dọn đi cho rồi
Này này chúng bạn ta ơi.
Trong các nhân vật huyền thoại được dân ta thờ
phụng như Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử,
Tản Viên Sơn Thần, Liễ...
Chñ tÞch Héi ®ång
pgs.TS. NguyÔn ThÕ kû
Phã Chñ tÞch Héi ®ång
TS. HOµNG PHONG Hµ
Thµnh viªn
trÇn quèc d©n
TS. NguyÔn §øC TµI
TS. NGUYÔN AN TI£M
NguyÔn Vò Thanh H¶o
M· sè:
2
KV5
CTQG - 2015
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Tục ngữ, ca dao luôn gắn liền với sinh hoạt, hoạt
động văn hóa, vui chơi truyền thống của người dân Việt
Nam. Nó có giá trị bổ trợ kiến thức, bồi dưỡng tình cảm
đạo đức và thẩm mỹ cho thanh thiếu niên, nhi đồng.
Không những thế, bất kể nơi đâu, trong tình huống nào
người ta cũng có thể sử dụng tục ngữ, ca dao để bày tỏ
tình cảm hay giãi bày một vấn đề nào đó khi cảm thấy
khó nói.
Thực hiện Đề án trang bị sách cho cơ sở xã, phường,
thị trấn của Ban Tuyên giáo Trung ương, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia - Sự thật phối hợp với Nhà xuất bản
Thanh niên xuất bản cuốn sách Tục ngữ, ca dao Việt Nam Tuyển chọn do ThS. Bùi Văn Vượng, Huy Linh (Sưu tầm,
biên soạn). Kho tàng tục ngữ, ca dao ở nước ta là vô vận,
nhưng trong giới hạn cuốn sách nhỏ này chúng tôi chỉ
giới thiệu một cách khái quát, với số lượng rất hạn hẹp
các câu tục ngữ, ca dao.
Nội dung cuốn sách gồm 2 phần:
1. Tục ngữ và giải nghĩa
2. Ca dao
Tục ngữ, ca dao phản ánh mọi mặt cuộc sống của
người dân Việt Nam qua quá trình lịch sử. Đó là một bức
tranh sinh động, phong phú, thể hiện một cách sâu sắc,
5
thế giới quan, nhân sinh quan của nhân dân Việt Nam từ
thời xa xưa cho đến sau này. Ca dao, tục ngữ là sự kết
tinh, lắng đọng vốn sống và những kinh nghiệm quý báu
trong dân gian được truyền miệng từ đời này qua đời
khác. Trải qua bao biến thiên cuộc sống, trong thời đại
ngày nay, ca dao, tục ngữ vẫn còn vẹn nguyên giá trị răn
dạy con người về cách đối nhân xử thế trong cuộc sống.
Tục ngữ, ca dao là một phần của kho tàng di sản văn
hóa quý giá của dân tộc ta, rất cần được bảo tồn, khai thác,
sử dụng lâu dài, vì vậy cuốn sách nhỏ này cũng là góp
phần bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống và xây dựng nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 11 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
6
LỜI SOẠN GIẢ
Trong vốn di sản văn hóa, văn học, nghệ thuật
dân gian rất đồ sộ, quý giá của dân tộc ta, có một bộ
phận đặc biệt quan trọng, được coi như những báu
vật vô giá, đó là tục ngữ, ca dao mà xưa nay vẫn
được truyền giữ như châu ngọc quý, được lưu
truyền qua nhiều thế hệ trong dòng chảy dân gian
truyền miệng lâu đời.
Tục ngữ, ca dao là loại hình văn hóa, nghệ thuật
và thơ ca dân gian Việt Nam có đặc điểm chung
nhất là cách diễn đạt có vần điệu, dễ thuộc, dễ nhớ,
có sức lan truyền nhanh chóng, rộng rãi. Bằng ngôn
ngữ trong sáng, giản dị, ngắn gọn mà súc tích, bình
dân, dễ đi vào lòng người ở nhiều độ tuổi không
phân biệt trình độ cao, thấp, những câu tục ngữ, ca
dao chứa đựng nội dung giáo dục đạo đức và tình
yêu quê hương đất nước, truyền bá kinh nghiệm,
phổ cập kiến thức, khuyến khích sáng tạo và ý chí
phấn đấu vươn lên của mỗi người ngay từ tuổi thơ.
Đây là loại hình văn hóa và thơ ca dân gian thuần
Việt, giàu trí tuệ và cảm xúc, dễ cảm thụ, đạt tới
đỉnh cao của ngôn ngữ Việt Nam, được phổ biến
7
sâu rộng trong nhân dân khắp mọi miền đất nước
xưa nay và sẽ còn lưu truyền mãi sau này.
Trước đây, ở Việt Nam hầu hết mọi người,
dường như đều thuộc lòng những câu tục ngữ, ca
dao. Trong điều kiện, hoàn cảnh lịch sử đương
thời, phần lớn cư dân không biết chữ, văn hóa và
thơ ca dân gian truyền miệng đã trở thành phương
tiện truyền tải tri thức chủ yếu thì loại hình nghệ
thuật này thực sự có sức sống mạnh mẽ trong sinh
hoạt hằng ngày, bồi dưỡng kiến thức bách khoa về
giáo dục - đào tạo ngoài nhà trường cho các tầng
lớp nhân dân, đặc biệt là đối với lứa tuổi thanh
thiếu niên, nhi đồng.
Ngày nay, nhu cầu sử dụng, học tập, tìm hiểu về
tục ngữ, ca dao vẫn rất lớn trong xã hội do ý nghĩa
văn hóa, giáo dục và thực hành của nó còn vẹn
nguyên giá trị. Nhưng đáng tiếc là không ít người,
nhất là thế hệ trẻ chưa hiểu rõ nghĩa những câu tục
ngữ, không thuộc nhiều ca dao.
Chúng tôi đã dành nhiều năm sưu tầm nghiên
cứu vốn tài sản văn hóa, văn học dân gian truyền
miệng thuộc chuyên đề này nhằm góp phần lưu giữ,
truyền bá những giá trị của tục ngữ, ca dao theo chủ
trương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Khối
lượng tư liệu sưu tập của chúng tôi khá lớn, song
chúng tôi cố gắng chọn lọc trong số đó những câu
tiêu biểu, giá trị để biên soạn thành cuốn sách Tục
ngữ, ca dao Việt Nam - Tuyển chọn.
Trong quá trình biên soạn chúng tôi có giải
8
nghĩa từng câu tục ngữ. Tuy nhiên, cuốn sách có thể
còn những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp
ý của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn
trong lần xuất bản sau.
Hy vọng rằng cuốn sách Tục ngữ, ca dao Việt
Nam - Tuyển chọn sẽ đem lại cho quý vị và các bạn
yêu quý nền văn hóa, văn học nghệ thuật dân gian
Việt Nam trong và ngoài nước nhiều điều bổ ích.
Xin trân trọng biết ơn các cơ quan và cá nhân:
Thư viện Quốc gia Việt Nam, một số thư viện tỉnh,
viện nghiên cứu, trường đại học, các bậc cao niên và
các tác giả tiền bối có uy tín, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia - Sự thật, Nhà xuất bản Thanh niên... đã
nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình
sưu tầm, biên soạn và xuất bản cuốn sách này.
Hà Nội, mùa Thu 2015
ThS. BÙI VĂN VƯỢNG
9
10
TỤC NGỮ VÀ GIẢI NGHĨA
I. Khái niệm
Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn,
ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh, đúc kết kinh
nghiệm của nhân dân về mọi mặt (Tự nhiên, lao
động sản xuất, xã hội, con người...), được nhân dân
ta vận dụng vào đời sống, suy nghĩ và lời ăn tiếng
nói hằng ngày. Đây là một thể loại văn học dân
gian. Khác với ca dao, tục ngữ có chức năng chủ
yếu là đúc kết kinh nghiệm sống trên rất nhiều lĩnh
vực của cuộc sống hằng ngày. Vì thế, tục ngữ được
xem là kho kinh nghiệm và tri thức thực tiễn vô
cùng phong phú.
Phần lớn các câu tục ngữ có hình thức ngắn, có
vần hoặc không vần:
- Tre già măng mọc.
- Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa.
- Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước.
- Gió heo may, chuồn chuồn bay thì bão.
Một số khác có hình thức câu dài, nhiều vế:
Của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của
phù vân để ngoài ngõ.
11
Có câu còn có hình thức của một câu ca dao, thể
lục bát:
Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm.
Hay
Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.
Dù dài hay ngắn, có vần hay không vần, nói
chung tục ngữ đều là những câu dễ nhớ, dễ thuộc.
Đặc điểm này của tục ngữ chủ yếu được tạo nên từ
vần điệu. Những câu tục ngữ không có vần tác
động đến người đọc, người nghe bởi kết cấu đối
lập hoặc những ấn tượng đặc biệt nào đó. Ví dụ:
Tre già măng mọc là quy luật kế thừa, Một mặt người
bằng mười mặt của lại dựa trên những yếu tố đối
lập,...
II. Phân loại
Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian vì
vậy nó có thể có rất nhiều dị bản và vô số đề tài,
không thể kể hết, có thể chia thành hai chủ đề cơ
bản như sau:
1. Tục ngữ về tự nhiên và lao động sản xuất
Chủ đề chung của những câu tục ngữ này là
những kinh nghiệm về thiên nhiên và lao động sản
xuất. Bởi lao động sản xuất luôn gắn với thiên nhiên
(thời tiết, khí hậu, đất đai...). Tuy nhiên, có thể chia
chủ đề này thành 2 nhóm:
12
a) Tục ngữ về thời tiết, khí hậu
Sấm động, gió tan.
Khi mưa có sấm nổi lên thì gió sẽ ngừng thổi
mạnh.
Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa.
Nếu phía đông có chớp nhiều thì đến gần sáng
có thể trời sẽ mưa.
Tháng ba mưa đám, tháng tám mưa cơn.
Kinh nghiệm dự đoán mưa trong năm. Tháng ba
thường mưa bóng mây, tháng tám mưa theo cơn,
hết cơn là hết mưa.
Gió heo may, chẳng mưa dầm thì bão giật.
Kinh nghiệm dự báo thời tiết. Khi có gió heo
may thì sẽ có mưa dầm hoặc bão to.
Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước.
Kinh nghiệm dự báo thời tiết. Ếch kêu nhiều sẽ
có mưa to.
Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão.
Kinh nghiệm dự báo thời tiết. Tháng bảy có heo
may và chuồn chuồn bay nhiều sẽ có bão.
Rét tháng tư, nắng dư tháng tám.
Năm nào tháng tư rét thì tháng tám vẫn nắng
dữ dội.
Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối.
Ngày tháng năm mùa hè, trời nhanh sáng,
ngày dài. Ngày tháng mười trời vào đông, mau
tối, ngày ngắn.
Đầu năm sương muối, cuối năm gió nồm.
13
Nói về hiện tượng trái quy luật tự nhiên, ảnh
hưởng tới sức khỏe và sản xuất.
Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét
nàng Bân.
Một quy luật thời tiết: tháng giêng rét đậm, vật
nuôi, cây trồng kém phát triển; tháng hai ẩm ướt
thuận lợi cho cây trồng phát triển sau ngày đông
giá; tháng ba rét lại cho nên ngắn ngày, với câu
chuyện nàng Bân may áo cho chồng.
Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa.
Nếu quanh mặt trăng có một quầng sáng thì trời
nắng nhiều, hạn hán; nếu có vùng sáng mờ tỏa ra
như cái tán thì trời sẽ mưa.
Ráng vàng thì gió, ráng đỏ thì mưa.
Mây có sắc vàng phía chân trời thì chuyển gió,
mây có sắc màu đỏ thì sắp mưa.
Tháng bảy kiến bò chỉ lo lại lụt.
Tháng bảy kiến tha trứng bò lên cao sẽ có thể
lụt lội.
Ráng mỡ gà ai có nhà thì chống.
(Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa).
Khi chân trời có màu vàng hoặc đỏ là sắp có mưa
to hoặc bão.
Mưa chẳng qua ngọ, gió chẳng qua mùi.
(Sáng ướt áo, trưa ráo thóc).
Một kinh nghiệm về thời tiết: Mưa không quá từ
11 giờ đến 13 giờ (giờ Ngọ); gió không quá từ 13 giờ
đến 15 giờ (giờ Mùi).
14
Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa.
Một kinh nghiệm dự báo thời tiết. Buổi tối thấy
trời nhiều sao thì hôm sau sẽ nắng, trời ít sao đề
phòng có mưa.
Tháng mười sấm rạp, tháng chạp sấm động.
Tháng mười thường không có sấm; tháng chạp
bắt đầu có sấm (sấm đầu mùa).
Mống cao gió táp, mống áp mưa rào.
Khi cầu vồng xuất hiện ở cao thì gió lớn, cầu
vồng xuất hiện thấp ở chân trời thì mưa to.
b) Tục ngữ về kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp
Bao giờ đom đóm bay ra
Hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng.
Một kinh nghiệm làm nông nghiệp. Khi thấy
đom đóm bay và hoa gạo rụng (tháng ba âm lịch) thì
bắt đầu gieo vừng.
Tháng mười có sấm, cấy trên nấm cũng được ăn.
Tháng mười mà có sấm thì mùa màng thuận lợi,
cấy lúa trên mô đất cao cũng cho năng suất.
Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.
Sấm và những trận mưa đầu mùa hè sẽ làm cho
lúa chiêm có nước để nhanh tốt và trổ bông đều.
Tua rua thì mặc tua rua
Mạ già, ruộng ngấu không thua bạn điền.
Dù có chùm sao tua rua xuất hiện, mà có mạ già,
có ruộng ngấu thì năng suất vẫn cao.
15
Gió đông là chồng lúa chiêm, gió may, gió bấc là
duyên lúa mùa.
Đây là thời tiết thích hợp cho sự phát triển của
cây lúa chiêm và lúa mùa.
Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.
Những yếu tố quyết định năng suất của đồng
ruộng.
Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn.
Nếu chỉ cấy xuống mà không làm cỏ, chăm sóc
cẩn thận thì lúa cũng không được thu hoạch.
Lúa trổ Cốc vũ, no đủ mọi bề.
Cốc vũ: là thời tiết ứng với ngày từ 19-21 tháng 4
âm lịch. Một kinh nghiệm cày cấy: lúa trổ vào thời
gian này sẽ tránh được các đợt gió rét cuối mùa và
gió nóng đầu mùa, sẽ cho năng suất cao.
Trồng khoai đất lạ, gieo mạ đất quen.
Một kinh nghiệm trồng trọt. Khoai trồng trên đất
mới, chưa trồng khoai bao giờ sẽ nhiều củ và củ to,
mạ gieo đất vụ trước đã gieo thì cây mạ sẽ cứng,
mập cây.
Trồng tre đất sỏi, trồng tỏi đất bồi.
Trồng tre đất sỏi cằn cỗi sẽ chắc, đặc thân; trồng
tỏi trên đất bồi phù sa củ sẽ to.
Thiếu tháng hai mất cà, thiếu tháng ba mất đỗ.
Năm nào tháng hai không đủ ngày (tháng thiếu)
thì mất mùa cà, tháng ba không đủ ngày (tháng
thiếu) thì mất mùa đỗ.
Làm ruộng ăn cơm nằm, chăn tằm ăn cơm đứng.
Sự khó nhọc vất vả của nghề chăn (nuôi) tằm.
16
Làm ruộng ba năm, không bằng chăn tằm một lứa.
Nói về hiệu quả kinh tế của việc trồng dâu
nuôi tằm.
Tháng giêng trồng trúc, tháng lục trồng tiêu.
Kinh nghiệm trồng trọt. Tháng giêng trồng tre,
trúc, tháng sáu trồng tiêu sẽ rất tốt.
Sấm trước cơm sấm no, sấm sau cơm sấm đói.
Sấm trước cơm là sấm vào buổi sáng, sẽ mưa, đủ
nước cày cấy. Sấm sau cơm là sấm về chiều, ít có
mưa, thiếu nước cày bừa, lúa không tốt.
Sâu muống thì đen, sâu dền thì trắng.
Kinh nghiệm trồng trọt giúp bà con phân biệt
từng loại sâu rau khác nhau.
Mít chặt cành, chanh chặt rễ.
Một kinh nghiệm trồng cây ăn quả. Cây mít chặt
đỡ cành, cây chanh tỉa bớt rễ phụ, sẽ ra nhiều quả.
c) Tục ngữ về các ngành nghề
Ruộng bề bề không bằng nghề trong tay.
Tiền của, ruộng vườn có nhiều bao nhiêu thì
cũng không bằng có nghề nghiệp ổn định.
Một nghề thì sống, đống nghề thì chết.
Nên chuyên sâu, thành thạo, tinh tường một
nghề, còn hơn biết nhiều nghề mà chẳng thông
thạo nghề nào và không thể kiếm sống bằng
những nghề đó.
Nghề năng trau, trâu năng cày.
17
Có nghề thì phải thường xuyên làm nghề, trau
dồi, nâng cao tay nghề thì mới giỏi nghề và tinh
thông, cũng như có trâu phải thường xuyên cho đi
cày mới không phá ách.
Mộc gia, nề giảm.
Thợ mộc khi cắt gỗ phải để dư ra, phòng khi đo
lại thừa thì cắt được; thợ nề phải xây giảm kích
thước vì còn phải trát thêm lớp vữa bên ngoài.
Con nít may ra, mụ già may vào.
Kinh nghiệm của nghề thợ may.
Nhất dáng, nhì men, ba chàm, bốn vẽ.
Kinh nghiệm làm nghề gốm.
Dâu non ngon miệng tằm.
Kinh nghiệm của những người làm nghề
chăn tằm.
Mắm mặn chết dòi.
Kinh nghiệm làm mắm. Khi làm mắm phải cho
già muối (nhiều muối) thì không sinh con dòi, mắm
mới ngon và để được lâu.
Mồm gầu dai, tai lá mít, đít lồng bàn.
Kinh nghiệm chọn trâu của người lái (buôn)
trâu. Những con trâu có đặc điểm này là những con
trâu tốt, hay ăn, cày khỏe, dai sức.
Tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông.
Kinh nghiệm của những người làm nghề
chài lưới.
Câu, cất vó tôm vào buổi chiều tối sẽ được nhiều
18
cũng như đi đánh cá vào buổi sáng sớm, đón được
luồng cá sẽ đánh được nhiều cá.
Tốt mốc ngon tương.
Kinh nghiệm của nghề làm tương.
Nếu mốc gạo ủ lên men vàng đều là tốt, tương sẽ
ngọt, có màu vàng sẫm, thơm ngon.
Bán rẻ còn hơn đẻ lãi.
Trong kinh doanh, nhiều khi cần phải bán rẻ để
thu hồi vốn ngay, còn hơn đợi giá cao mới bán, để
hàng tồn đọng, tiền vốn vay sẽ đẻ lãi, có khi lại lỗ.
Bán rẻ về tắt, bán đắt về trưa.
Kinh nghiệm của người buôn bán. Bán rẻ, lãi ít
thì nhanh hết hàng, được về sớm; bán đắt ít người
mua phải về muộn, có khi lại không hết hàng (ế) thì
lại thành ra bị lỗ.
Bán gà kiêng ngày gió, bán chó kiêng ngày mưa.
Kinh nghiệm của người bán chó, gà. Bán chó, gà
vào những ngày này nhìn bề ngoài của chúng không
đẹp, trông xấu mã, sẽ khó bán.
2. Tục ngữ về con người và đời sống xã hội
a) Tục ngữ về con người
Một mặt người bằng mười mặt của.
(Người là vàng của là ngãi).
Con người quý giá hơn gấp bội so với của cải vật
chất. Khẳng định giá trị của con người.
Cái răng, cái tóc là góc con người.
Hàm răng, mái tóc góp phần làm nên vẻ đẹp của
con người, hãy giữ gìn hình thức bên ngoài cho gọn
19
gàng, sạch sẽ, vì hình thức bên ngoài thể hiện phần
nào tính cách bên trong.
Trông mặt mà bắt hình dong.
(Người khôn dồn ra mặt).
Vẻ mặt biểu lộ tâm tính. Nhìn bề ngoài có thể
đoán được phẩm chất tốt, xấu của một người.
Người năm bảy đấng, của ba bảy loài.
Người cũng có người tốt người xấu, của cũng có
của tốt của xấu.
Mắt lá răm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
Chỉ người phụ nữ rất xinh đẹp.
Mắt phượng mày ngài.
Chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ. Mắt sáng như mắt
chim phượng, lông mày dài cong, thanh nhỏ.
Mặt hoa da phấn.
Chỉ người phụ nữ có vẻ ngoài xinh đẹp, tươi tắn,
nõn nà.
Mắt sắc như dao cau.
Ánh mắt tinh nhanh sắc sảo.
Mình đồng, da sắt.
Kiên cường, vững vàng trước mọi gian nan,
thử thách.
Mặt vuông chữ điền.
Khuôn mặt vuông vắn, thường chỉ người phúc hậu.
Mắt trắng, môi thâm.
Theo dân gian, những người có tướng này
thường bạc ác, bất nhân.
20
Mặt choắt bằng hai ngón tay chéo.
Chỉ những người mặt gầy, quắt. Thường nói
với ý xấu.
Dài lưng tốn vải.
Chỉ người lười biếng, vụng về, người vô dụng.
b) Tục ngữ về đời sống xã hội
Một giọt máu đào hơn ao nước lã.
Quan hệ cùng huyết thống, họ hàng dù rất xa
nhưng cũng quý hơn so với người ngoài, xa lạ.
Máu chảy ruột mềm.
Tình thương yêu, chia ngọt sẻ bùi giữa những
người ruột thịt, cùng giống nòi.
Cá chuối đắm đuối vì con.
Cha mẹ chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ, quên
mình vì con cái.
Cá không ăn muối cá ươn.
Con cái phải biết nghe lời cha mẹ răn dạy mới
nên người.
Thương người như thể thương thân.
Thương mình thế nào thì thương người thế ấy.
Hãy coi người khác như bản thân mình để từ đó có
sự quý trọng, thương yêu thật sự.
Bán anh em xa mua láng giềng gần.
Anh em họ hàng ở xa không thể giúp mình, chỉ
có hàng xóm bên cạnh mới là chỗ dựa, giúp đỡ
thường xuyên. Nên quan hệ đối xử tốt với những
người hàng xóm.
21
Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.
Một người trong cộng đồng bị tai họa, đau đớn
thì cả tập thể chia sẻ, buồn đau.
Sảy cha còn chú, sảy mẹ ấp vú dì.
Người em trai của bố và người em gái của mẹ là
những người gần gũi nhất khi không còn cha mẹ.
Không thầy đố mày làm nên.
Không có thầy không thể làm nên việc gì. Sự
thành đạt của mỗi học trò đều có công lao to lớn của
thầy. Vì vậy chúng ta phải biết tìm thầy mà học và
mãi mãi yêu quý, kính trọng, biết ơn thầy.
Học thầy không tày học bạn.
Chủ động học hỏi ở bạn bè những điều nên học
và tự học là cách học tốt nhất.
Nòi nào giống ấy.
(Giỏ nhà ai, quai nhà ấy).
Cha mẹ thế nào thì con cái như thế ấy; Vậy nên
sự giáo dục và nền nếp gia đình ảnh hưởng rất lớn
đến đạo đức và phẩm chất của con cái.
Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh.
Con cái thừa hưởng những điều tốt đẹp của cha
mẹ, ông bà.
Học ăn, học nói, học gói, học mở.
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta phải học
nhiều thứ kỹ càng, tỉ mỉ.
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
(Cây có cội, nước có nguồn.
Chim có tổ, người có tông).
22
Khi có đời sống sung sướng, đầy đủ, thành đạt
phải nhớ đến nguồn gốc, tổ tiên, người đã có công
gây dựng cho mình.
Giấy rách phải giữ lấy lề.
(Rựa cùn còn giữ lấy tông.
Trống thủng còn tang.
Đói cho sạch, rách cho thơm).
Dù nghèo khó, sa sút cũng phải giữ nền nếp,
đạo đức.
Áo năng may năng mới, người năng tới năng thân.
Người có quan hệ rộng, hay tiếp xúc, đi lại thì có
nhiều bạn và thành thân thiết.
Cháo nóng húp quanh, công nợ trả dần.
Làm việc gì cũng phải dần dần, kiên trì từng bước
một, chớ nên nóng vội, cũng như ăn cháo nóng, ăn
nhanh là bỏng, làm nhanh, làm ẩu là hỏng việc.
Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.
Cần có cư xử tế nhị, ý tứ trong sinh hoạt hằng ngày.
Lời chào cao hơn mâm cỗ.
Thái độ, tình cảm đón tiếp quý hơn ăn uống,
cỗ bàn.
Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.
(Gần lửa rát mặt, gần sông sạch mình).
Gần kẻ xấu mà không biết giữ mình thì sẽ bị ảnh
hưởng, tiêm nhiễm cái xấu, trở thành người xấu;
Gần người tốt mà biết học hỏi sẽ tiếp thu được cái
tốt, cái hay để hoàn thiện mình.
23
Thua thầy một vạn không bằng thua bạn một li.
Thua thầy bao nhiêu cũng được, nhưng kém
hiểu biết, không bằng bạn bè cùng trang lứa thì một
chút thôi cũng không nên. Đề cao tính tự trọng, ý
chí vươn lên.
Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già.
Trẻ có khôn đến mấy cũng không bằng người
lớn, người già có khỏe đến mấy cũng không thể
bằng thanh niên.
Cả lo cả nghĩ.
Chỉ người hay lo hay nghĩ quá mức bình thường.
Của biếu là của lo, của cho là của nợ.
Chịu ơn về vật chất không tự mình làm ra sẽ
không thanh thản, mà lúc nào cũng phải lo nghĩ để
đáp lại.
Cả giận mất khôn.
Nóng nảy quá, không bình tĩnh sẽ mất tỉnh táo,
dẫn đến hỏng việc.
Một người làm quan cả họ được nhờ.
Quan niệm dân gian cho rằng: một người có
quyền thế có thể thu xếp, bao bọc, thu vén cho
những người thân.
Lòng người như bể khôn dò.
Khó biết được lòng dạ con người.
Dâu hiền hơn con gái, rể hiền hơn con trai.
Khen những người dâu thảo, rể hiền.
Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng.
24
Dân gian thường quan niệm, bà cô bên chồng
(em gái của chồng) thường đanh đá, ỷ thế bắt nạt
chị dâu.
Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng.
Chỉ nàng dâu đanh đá, ghê gớm, ăn ở không tốt,
làm cho họ hàng xa lánh.
Miệng hùm gan sứa.
Ngoài miệng nói ra thì hùng hổ, ra vẻ bạo dạn
nhưng thực chất thì hèn nhát, sợ sệt.
Miệng nam mô, bụng một bồ dao găm.
(Miệng Bồ Tát, dạ ớt ngâm).
Kẻ giả dối, miệng thì nói từ bi, nhân nghĩa
nhưng trong lòng thì độc ác, nham hiểm.
Cốc mò cò xơi.
Chỉ sự uổng công vô ích, làm cho người khác
hưởng.
Cá lớn nuốt cá bé.
Kẻ mạnh hà hiếp người yếu, người trên áp bức
người dưới.
Cá mè đè cá chép.
Cùng đồng loại họ hàng mà chèn ép lẫn nhau.
Cảnh đời trớ trêu.
Cá nhảy ốc cũng nhảy.
Phê phán kẻ kém cỏi, học hành chẳng ra gì, cũng
học đòi bắt chước người tài giỏi.
Cả tiếng nhiều lời.
Những người ghê gớm, chua ngoa.
25
Công ai nấy hưởng, tội ai nấy chịu.
Làm điều tốt thì trước hết bản thân được hưởng,
làm điều xấu thì trước hết bản thân phải gánh chịu.
Tức nước vỡ bờ.
(Con giun xéo lắm cũng quằn).
Chèn ép quá khiến người ta phải vùng lên chống
đối, phản kháng lại.
26
CA DAO
I. Khái niệm
Ca dao là thơ ca dân gian Việt Nam, được truyền
miệng dưới dạng những câu hát không theo một
giai điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ
lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc.
Nội dung của ca dao thường phản ánh những
chủ đề sau đây:
- Lịch sử: Ca dao lịch sử không phản ánh hiện
tượng lịch sử trong quá trình diễn biến của nó, mà
chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan
điểm nhân dân.
- Phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền
thống.
- Phản ánh đời sống tình cảm nhân dân: tình
cảm gia đình; tình yêu lứa đôi; tình yêu quê hương
đất nước...
- Ca dao phản ánh cuộc sống lao động của người
dân Việt Nam.
- Ca dao còn chứa đựng tiếng cười trào phúng
vui vẻ của người dân lao động.
27
II. Phân loại
Người ta thường phân loại ca dao theo một số
đặc điểm và nội dung chủ yếu sau:
1. Ca dao về lao động sản xuất: Là phần lời cốt
lõi của dân ca lao động. Những bài ca lao động tồn
tại như là một bộ phận của quá trình lao động.
2. Ca dao ru con: Hát ru có từ lâu đời và rất
phổ biến, lời hát ru phần nhiều là những câu ca
dao có sẵn.
3. Ca dao phản ánh nghi lễ, phong tục của người
dân: Trong nhiều bài ca tế thần, các yếu tố trữ tình
cũng có mặt, cùng với yếu tố hiện thực, chúng biểu
hiện sức mạnh đời sống hiện thực trong các hình
thức sinh hoạt tôn giáo của nhân dân.
4. Ca dao phản ánh lịch sử.
5. Ca dao về tình cảm gia đình, tình yêu quê
hương đất nước; tình yêu lứa đôi.
6. Ca dao trào phúng, bông đùa.
III. Nội dung
1. Ca dao về lao động sản xuất
Mài dừa dưới ánh trăng vàng
Ép dầu mà chải tóc nàng tóc anh.
Nghé ơi ta bảo nghé này
Nghé ăn cho béo, nghé cày cho sâu
Ở đời khôn khéo chi đâu
Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.
28
Nhờ trời mưa gió thuận hòa
Nào cày, nào cấy, trẻ già đua nhau
Chim, gà, cá, nhện, cảnh, cau
Mùa nào thức nấy giữ màu quê hương.
Nhờ trời mưa gió thuận hòa
Lúa vàng dầy ruộng, lời ca vang đồng.
Những người đi biển làm nghề
Thấy dòng nước nóng thì về đừng đi
Sóng lừng, bụng biển ầm ì
Bão mưa ta tránh chớ hề ra khơi.
Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu.
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời trông đất trông mây
Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng.
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
29
Rủ nhau lên núi đốt than
Chồng mang đòn gánh, vợ mang quang giành
Củi than nhem nhuốc với tình
Ghi lời vàng đá xin mình chớ quên.
Gỗ kiền anh để đóng cày
Gỗ lim, gỗ sến anh nay đóng bừa
Răng bừa tám cái còn thưa
Lưỡi cày tám tấc đã vừa luống to
Muốn cho lúa mẩy bông to
Cày sâu, bừa kĩ phân gio cho nhiều.
Lập thu mới cấy lúa mùa
Khác nào hương khói lên chùa cầu con.
Tháng chạp thì mắc trồng khoai
Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà
Tháng ba cày bở ruộng ra
Tháng tư bắc mạ, thuận hoà mọi nơi
Tháng năm gặt hái vừa rồi
Bước sang tháng sáu, nước trôi đầy đồng
Nhà nhà vợ vợ chồng chồng
Đi làm ngoài đồng, sá kể sớm trưa
Tháng sáu, tháng bảy, khi vừa
Vun trồng giống lúa, bỏ chừa cỏ tranh
Tháng tám lúa giỗ đã đành
Tháng mười cắt hái cho nhanh kịp người
Khó khăn làm mấy tháng trời
Lại còn mưa nắng thất thời khổ trông
30
Cắt rồi nộp thuế nhà công
Từ rày mới được yên lòng ấm no.
Mồng chín tháng chín có mưa
Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn
Mồng chín tháng chín không mưa
Thì con bán cả cày bừa đi buôn.
Đêm trời tang, trăng sao không tỏ
Ấy là điềm mưa gió tới nơi
Đêm nào sao sáng xanh trời
Ấy là nắng ráo yên vui suốt ngày
Những ai chăm việc cấy cày
Điềm trời trông đó, liệu xoay việc làm
Nhiều chống càng tốt, nhiều cột càng bền.
Cơm ăn một bữa sao no
Ruộng cày một vụ sao cho đành lòng
Sâu cấy lúa cạn gieo bông
Chẳng ươm được đỗ thì trồng khoai ngô.
2. Ca dao hát ru
Cái bống đi chợ Cầu Canh
Con tôm đi trước, củ hành theo sau
Con cua lạch đạch theo hầu
Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cua.
Cái bống là cái bống bang
Con đi lấy sàng cho mẹ đổ khoai
Con ăn một, mẹ ăn hai
31
Con đi bốc muối thì khoai chẳng còn
Con ngồi con khóc nỉ non
Mẹ cầm cái vọt, con bon ra hè
Có đánh thì đánh vọt tre
Đừng đánh vọt nứa mà què chân con.
Cái bống là cái bống bình
Thổi cơm nấu nước một mình mà thôi
Rạng ngày có khách đến chơi
Cơm ăn rượu uống cho vui lòng chồng
Rạng ngày ăn uống vừa xong
Tay nhấc mâm đồng, tay trải chiếu hoa
Nhịn miệng đãi khách đàng xa
Ấy là của gởi chồng ta ăn đàng.
Cháu ơi cháu ngủ cho lâu
Mẹ cháu đi cấy đồng sâu chưa về
Bắt được con trắm con trê
Tròng cổ mang về bà cháu mình ăn.
Cái bống đi chợ Cầu Cần
Thấy ba ông bụt cởi trần nấu cơm
Ông thì xới xới, đơm đơm
Ông thì ứ hự, nồi cơm không còn.
Cái bống là cái bống bang
Ăn cơm bằng sàng, bốc muối bằng vung
Mẹ giận mẹ vứt (đẩy) xuống sông
Bơi ra cửa (Con ra đường) biển lấy chồng lái buôn
32
Khát nước thì uống nước nguồn
Lạc đường thì bảo lái buôn đưa về.
Ầu ơ, bồng bống bông bông
Lớn lên con phải cố công học hành
Học là học đạo làm người
Con đừng lêu lổng kẻ cười người chê.
Ầu ơ, mẹ ơi đừng đánh con đau
Để con bắt cá hái rau mẹ dùng.
Ầu ơ, mẹ ơi chớ đánh con hoài
Để con bắt ốc, hái xoài mẹ ăn.
Ầu ơ, ví dầu cá bống đánh đu
Tôm càng hát bội, cá thu cầm chầu.
Bồng em mà bỏ vô nôi
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Bát Nhị, mua trầu Hội An.
Cái bống mặc xống ngang chân
Lấy chồng Kẻ Chợ cho gần xem voi
Trèo lên trái núi mà coi
Thấy ông quản tượng cỡi voi đánh cồng
Túi vóc mà thêu chỉ hồng
Têm trầu cánh phượng cho chồng đi thi
Một mai chồng đỗ, vinh quy
33
Võng anh đi trước, em thì võng sau
Tàn quạt, hương án theo hầu
Vinh quy bái tổ, giết trâu ăn mừng.
Con cò lặn lội bờ sông
Mẹ đi tưới nước cho bông ra đài
Trông trời, trông đất, trông mây
Trông cho lúa chín hạt sai nặng nhành
Trông cho rau muống mau xanh
Để em cắt nấu bát canh mặn mà
Mát lòng sau bữa rau cà
Con ơi mau lớn nước nhà cậy trông.
Con tôi buồn ngủ buồn nghê
Buồn ăn cơm nếp, cháo kê thịt gà
Nhà còn có một quả cà
Làm sao đủ miếng cơm và cho con
Con tôi khóc héo, khóc hon
Khóc đòi quả thị méo trôn đầu mùa
Con thèm phẩm oản trên chùa
Thèm quả chuối ngự tiến vua của làng
Con thèm gạo cốm Làng Ngang
Con thèm ăn quả dưa gang Làng Quài
Con thèm cá mát canh khoai
Con thèm xơ mít, thèm tai quả hồng
Con thèm đuôi cá vây bông
Thèm râu tôm rảo, thèm lòng bí đao.
34
Mẹ bồng con lên ngồi cầu Ái Tử
Vợ (Gái) trông chồng đứng núi Vọng Phu
Biết răng chừ bóng xế trăng lu (Tây cù)
Giả như con ve ve nó kêu mùa hạ
Biết mấy thu mới gặp chàng.
Ru con con ngủ cho say
Để u dệt vải cho thầy nhuộm nâu
Cắt quần cắt áo u khâu
Để thầy con mặc cày bừa mùa chiêm.
Ru em, em hãy nín đi
Kẻo mà mẹ đánh em thì phải đau
Em đau chị cũng buồn rầu
Bé mồm bé miệng nín mau tức thì.
Ru hời ru hỡi là ru
Bên cạn thì chống bên su thì chèo
Hai tay vừa chống vừa chèo
Không ai tát nước đỡ nghèo một phen.
Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo ghập ghềnh khó đi
Ví dầu mẹ chẳng có chi
Chỉ con với mẹ chẳng khi nào rời.
Ru con con ngủ cho lâu
Để mẹ đi cấy ruộng sâu lâu về
Ru con con ngủ cho mê
35
Mẹ còn lo chuyện lê thê kéo cày
Ru con con ngủ cho say
Mẹ còn vất vả chân tay ngoài đồng
Ru con con ngủ cho nồng
Mẹ còn nhổ mạ trả công cho người.
Ru em buồn ngủ buồn nghê
Con tằm chín đỏ, con dê chín muồi
Con tằm chín để mà nuôi
Con dê chín muồi làm thịt mà ăn.
Ru em cho thét cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ, mua trầu Chợ Dinh
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.
3. Ca dao về nghi lễ, lễ hội, phong tục tập quán
Ai về Phú Thọ cùng ta
Vui ngày Giỗ Tổ tháng ba mồng mười
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm.
Trong thời gian từ ngày khai hội Đền Hùng
đến ngày mãn hội, có nhiều trò chơi dân gian
36
được tổ chức như trò đu tiên, leo dây, thả diều,
đánh còn:
Đu tiên mới dựng năm nay
Cô nào hay hát kỳ này hát lên
Tháng ba nô nức hội Đền
Nhớ ngày Giỗ Tổ bốn nghìn năm nay
Dạo xem phong cảnh trời mây
Lô Đà, Tam Đảo cũng quay đầu về
Khắp nơi con cháu ba kỳ
Kẻ đi cầu phúc, người đi cầu tài
Sở cầu như ý ai ai
Xin rằng nhớ lấy mồng mười tháng ba.
Đến đây sum họp vui cười
Trước là lễ Tổ viếng nơi mộ phần
Sau là tài tử giai nhân
Hàn huyên kể nỗi kẻ gần người xa
Gần xa ta cũng một nhà
Cũng dòng Hồng Lạc, cũng là viêm bang
Chúc rằng: phú quý thọ khang
Tổ cho phúc trạch bình an muôn nhà.
Trong các lễ hội mùa Xuân của hệ thống Tứ
Pháp thường mang hình thức “rước nước cầu mưa”:
Ba bà trẩy hội chùa Un
Mưa gió ùn ùn lại dễ làm ăn.
Tục lệ rước tượng Tứ Pháp với những điệu múa
dân gian đầy màu sắc vào ngày mồng tám tháng tư
luôn luôn là một hình ảnh đầy sức quyến rũ:
37
Dù ai buôn bán đâu đâu
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về
Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.
Nước ta có nhiều sông ngòi. Do đó, có tục đua
thuyền vào các ngày lễ hội:
Cầu Quan vui lắm ai ơi
Trên thì chợ họp, dưới bơi thuyền rồng.
Quyển Sơn vui thú nhất đời
Dốc lòng trên giặm, dưới bơi ta về.
Kẻ Dầu có quán Đình Thanh
Kẻ Hạc ta có ba đình, ba voi
Mười tám cất thuyền xuống bơi
Mười chín giã bánh, hai mươi rước Thần.
Ai là con cháu Rồng Tiên
Tháng hai mở hội Trường Yên thì về
Về thăm đất cũ Đinh Lê
Non xanh, nước biếc bốn bề như xưa.
(Làng Trường Yên thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh
Ninh Bình là nơi có đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng.
Trong buổi diễn, họ cùng hát lại bài ca tương truyền
là đã có từ thời Đinh Bộ Lĩnh còn chăn trâu và tổ
chức tập trận bằng cờ lau).
Cỏ cây ấy, nước non này
Nước non quanh quất, cỏ cây xanh rì
Rừng hoang, cỏ rậm để chi
38
Phen này ta quyết dọn đi cho rồi
Này này chúng bạn ta ơi.
Trong các nhân vật huyền thoại được dân ta thờ
phụng như Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử,
Tản Viên Sơn Thần, Liễ...
 








Các ý kiến mới nhất